Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến màlợn nhiễm với tỷ lệ và cường độ cao như: bệnh sán lá, bệnh giun tròn, bệnhghẻ.. Ý nghĩa khoa học Những thông tin khoa học thu được sau k
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Nước ta có hơn 75% dân số làm nông nghiệp, trong đó ngành chănnuôi chiếm một vị trí quan trọng Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống củangười nông dân Từ việc chỉ chăn nuôi nhỏ, lẻ để tận dụng các phế phụphẩm nông nghiệp, hiện nay đã có nhiều phương thức chăn nuôi đa dạng,góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc
ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta Nghề nuôi lợn luôn được chú ýphát triển, ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng đặc biệt trong đờisống nhân dân Con lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trườngtrong nước và xuất khẩu, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành côngnghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt Để đáp ứng được nhu cầuthị trường, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã có những bước pháttriển vượt bậc, tăng nhanh cả về chất lượng và số lượng Ngoài những điềukiện thuận lợi, chúng ta còn có nhiều khó khăn, hạn chế trong việc phát triểnchăn nuôi lợn, nhất là các tổn thất do dịch bệnh gây ra
Thực tiễn ngành chăn nuôi lợn cho thấy, có nhiều loại dịch bệnh gâytổn thất đáng kể cho người chăn nuôi Ngoài những bệnh truyền nhiễmthường gặp như: dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn… còn phải kể đếncác bệnh ký sinh trùng Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến màlợn nhiễm với tỷ lệ và cường độ cao như: bệnh sán lá, bệnh giun tròn, bệnhghẻ Những bệnh trên đã gây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn,đặc biệt là tiêu tốn thức ăn tăng, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợnkhông bị bệnh
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có nghề chănnuôi lợn khá phát triển Tuy nhiên, các bệnh do giun tròn gây nên vẫn chưađược chú ý và nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện Trong những bệnh
giun tròn ở lợn, bệnh Oesophagostomosis rất phổ biến, tuy không gây ra thể bệnh cấp tính làm chết lợn hàng loạt, nhưng bệnh Oesophagostomosis làm
cho lợn gầy yếu, giảm tăng trọng gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho chănnuôi lợn
Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, đảm bảo sức khỏecho đàn lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên,
tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp trên lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị”
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh, đặc điểm sinh học và biện
pháp phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp gây ra ở lợn.
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Những thông tin khoa học thu được sau khi thực hiện đề tài về một số
đặc điểm dịch tễ bệnh và đặc điểm sinh học giun tròn Oesophagostomum spp ở lợn, sẽ góp phần quan trọng cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng
và điều trị bệnh Oesophagostomosis ở lợn Từ đó, đề xuất các biện pháp
phòng, trị bệnh cho lợn
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi
về bệnh giun Oesophagostomum spp ở lợn để từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Oesophagostomum spp cho lợn Nhằm hạn chế tác hại
đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận.
2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp.
2.1.1.1 Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum
Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt ở lợn.
Theo S.krjabin, Petrov A.M (1977) [30] giun kết hạt
Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] về vị trí của giun
Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật như sau :
Trang 42.1.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của Oesophagostomum
S.krjabin, Petrov A.M (1977) [30] cho biết:
Loài Oesophagostomum dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới
hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu Bao miệng dài tới thực quản hìnhđinh ghim Con đưc có túi đuôi, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94
mm Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 –0,265 mm
Loài Oesophagostomum logicaudum: Con đực dài 8,8 – 9,5 mm; con
cái dài 8 - 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn Hậu môn nằm cách mút đuôi0,453m – 0,543 mm Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất
nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, córãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai
cổ, giun đực có túi đuôi và một gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ởgần hậu môn
Loài Oesophagostomum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn
nhỏ, không có cánh đầu, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ởhai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 – 9 mm rộng 0,14 – 0,37
mm, có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 – 1,14 mm Giun cái dài 8 – 11,2
mm, âm đạo dài 0,1 – 0,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lê (1998) [17], Trương Lăng, XuânGiao (2002) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phan Lục (2006) [19]:
Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già lợn, không có cánh
đầu Túi miệng rộng, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở haibên chỗ phình to của thực quản Con đực dài 8 – 9 mm x 0,37 mm có túiđuôi Sườn bụng song song nhau, đầu mút của sườn này gắn liền với rìa mépcủa túi đuôi Ba sườn hông bắt nguồn ở cùng một gốc, sườn hông trước táchrời hai sườn kia, còn sườn hông giữa và sau song song với nhau, sườn lưngchia thàng sườn lưng ngoài và sườn lưng trong, sườn lưng trong lại chiathành hai nhánh, có hai gai giao hợp dài 1 – 1,14 mm
Trang 5Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết thêm:
Giun cái dài 8 – 11,3 mm, đuôi dài 0,117 – 0,374 mm Âm hộ ở trướchậu môn, cách hậu môn 0,208 – 0,388 mm Âm đạo rộng về trước, dài 0,1 –1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng
Giun Oesophagostomum dentatum là loài giun tròn nhỏ không có
cánh đầu Giun đực có kích thước (7,6 – 8,8) x (0,35 – 0,38) mm có túi đuôi,
có hai gai giao hợp dài 0,792 – 1,037 mm
Giun cái dài (7,8 – 12,5) x (0,38 – 0,43) mm, đuôi dài 0,405 – 0,430
mm, dài 0,1 – 1,15, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng Trứng có hình ovan,kích thước (0,036 – 0,071) x (0,032 – 0,045) mm
Trang 6Hình 1.1 Loài O dentatum
1, 2 Phần đầu cơ thể, 3 Phần đuôi cá
thể, 4 Mút và gốc gai giao phối, 5 Cơ
quan điều chỉnh, 6 Túi đuôi cá thể đực,
7 Nón sinh dục
Hình 1.2 Loài O longicaudum
1 Đầu, 2 Đuôi của con cái, 3 Đuôi của con đực, 4 Phần cuối gai giao hợp, 5 Lái, 6 Nón sinh dục của con đực
2.1.1.3 Vòng đời giun kết hạt lợn.
Những nghiên cứu của Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm
Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết:
Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian
Trứng 70 – 74 μ x 40 – 42 μ Gồm 8 – 16 hạt trong vỏ trứng khi mới
nở nhiệt độ 25 – 27ºC sau 10 – 17 giờ trứng nở thành ấu trùng (theoShoulsby cần 24 giờ) Ấu trùng I đo được 304 – 307 μ, lúc mới nở, sau pháttriển đo được 425 – 433 μ Ấu trùng I sau 24h ở nhiệt độ 22 - 24ºC phát dụcthành ấu trung II dài 440 - 645 μ Ấu trùng II phát triển được 2 ngày thì ấutrùng gây nhiễm III, dài 515 – 532 μ kể cả vỏ dài 660 – 720 μ
Trang 7Hình 1.3.Sơ đồ vòng đời giun kết hạt.
Thời gian hoàn thành vòng đời là 24 – 43 ngày
Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 – 27ºC, sau 10 – 17 giờ nởthành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 – 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm.Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạothành những u kén, lột xác lần thứ 3 tới 6 – 8 ngày thì thành ấu trùng kỳ IV,sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa tạo thànhgiun trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng, 1997) [9]
2.1.1.4 Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh.
Theo S.krjabin và cs (1977) [30]: Ở nhiệt độ thích hợp (30ºC), trongtrứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 – 18 giờ mới nở ra và vào môitrường bên ngoài Ở nhiệt độ cao 45 – 50ºC trứng bị chết, còn ở nhiệt độthấp 3ºC trứng không phát triển
Archie (2000) [28] nhận xét: Sự phát triển, khả năng sống của ấutrùng cảm nhiễm môi trường trước hết phụ thuộc vào khí hậu Gặp nhiệt độ
10-17 giờTrứng
Ấu trùng cósức gây nhiễm
Ruột
Lột xác lần 3
Ấu trùng
kỳ IVLột xác lần 4
Ký chủnuốt phải
Trang 8và độ ẩm thích hợp, sau 5 – 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng cảmnhiễm Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn.
Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [14], Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm(2000) [18], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7]: Trứng giun kết hạt theophân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 – 17 giờ nở thành ấutrùng
2.1.1.5 Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh.
Alicata (1935) cho biết ấu trùng Oesophagostomum dentatum có sức
đề kháng tốt với nhiệt độ để ở -19ºC đến -29ºC qua 10 ngày vẫn sống vàchết cũng để ở -19ºC đến -29ºC đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bìnhthường ấu trùng có thể sống 1 năm Ấu trùng rất nhạy cảm với khô ráo Ấutrùng này lẫn vào thức ăn nước uống mà vào ký chủ Khi tới mật chui vàoniêm mạc ruột tạo thành những u kén (trích theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2005)[11]
S.krjabin, Petrov A.M (1977) [30] cho biết: Ấu trùng cảm nhiễm
Oesophagostomum sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm bệnh
này chủ yếu trên đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏcũng như máng nước lâu ngày không cọ rửa Những ấu trùng cảm nhiễm cósức đề kháng với nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tácđộng của các nhân tố hóa học tốt hơn so với ấu trùng các giai đoạn trước
Nhiệt độ cao sẽ tác động bất lợi đến sự phát triển của ấu trùng và ấutrùng có thể bị chết Mưa có ảnh hưởng quan trọng đến sự phân tán của ấutrùng, làm ấu trùng cảm nhiễm di chuyển xa 90 cm so với vị trí ban đầu và
di chuyển vào trong đất ở độ sâu 15 cm Có lẽ khả năng này giúp cho ấutrùng sống sót được trong những điều kiện bất lợi và tránh được sức nóngmôi trường (Strom berg B.E, 1997 [36])
Nghiên cứu về ấu trùng cảm nhiễm của giun kết hạt, người ta thấy sức
đề kháng của nó với nhiệt độ khá cao: Ở - 15ºC, 93% ấu trùng cảm nhiễmsau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đưa về nhiệt độ môi trườngxung quanh Các ấu trùng này cũng có thể sống sót trong môi trường axit
Trang 9được tổng hợp nhân tạo tương tự như môi trường axit trong dạ dày (PitD.S.S và cs, 2000) [35].
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Ấu trùng có sức đề khángtốt với nhiệt độ thấp, để ở - 19ºC đến - 29ºC qua 10 ngày ấu trùng vẫn sống,
để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm
2.1.2 Bệnh do giun kết hạt gây ra ở lợn.
2.1.2.1 Những thiệt haị kinh tế do giun kết hạt gây ra:
Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
ở đường tiêu hóa của lợn nói riêng không tạo thành các ổ dịch lớn như bệnhtruyền nhiễm do virut, vi khuẩn gây ra, nhưng bệnh thường kéo dài âm ỉ, ảnhhưởng đến tình trạng và sức khỏe vật chủ, làm hạn chế sự ảnh hưởng và pháttriển của lợn, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác như thuốc điều trị,thuốc sát trùng, công chăm sóc, nuôi dưỡng và đặc biệt là mở đường cho cácbệnh khác xâm nhập
2.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [23], Phan Thế Việt và cs (1977) [27],Phan Lục (2006) và cs [20], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12]: Bệnh giun kếthạt là một trong các bệnh giun tròn phổ biến gây hại cho lợn, phổ biến rộngtrên toàn thế giới Ở Việt Nam, bệnh có ở tất cả các vùng sinh thái từ Bắcđến Nam
- Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo tuổi gia súc:
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun kếthạt theo tuổi lợn như sau: Lợn con có tỷ lệ nhiễm giun kết hạt nhỏ và cường
độ nhẹ, ở lợn con bị nhiễm bệnh không có nhiều u kén ở ruột Ở lợn lớn tỷ
lệ nhiễm cao và cường độ nhiễm nặng Khi lợn lớn bị bệnh có rất nhiều ukén ở ruột
Lợn càng lớn, tỷ lệ nhiễm càng cao (lợn <2 tháng tuổi nhiễm: 46,9%,lợn >8 tháng tuổi: 73,3%) (Chu Thị Thơm và cs, 2006 [25])
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phan Địch Lân và cs (2005) [15]nhận xét: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn <2 tháng tuổi, 3 - 4 tháng tuổi, 5 - 7tháng tuổi và >8 tháng tuổi lần lượt như sau: 46,9%, 67,4%, 72,1%, 73,3%
Trang 10Các tác giả cũng cho biết thêm: Vì lợn có sức đề kháng đối với giun kết hạtnên tỷ lệ nhiễm thấp, tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưng không gây
ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễmvào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Ngoài ra do thời
gian sống của Oesophagostomum dentatum ở cơ thể lợn tương đối dài từ 8 –
10 tháng
Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Tỷ lệnhiễm đối với lợn < 2 tháng tuổi, 3 – 7 tháng tuổi và >8 tháng tuổi lần lượtlà: 46,9%, 72,4% và 73,3%
- Tỷ lệ nhiễm theo mùa vụ:
Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [14]: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giunkết hạt phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt lợncao ở vụ hè – thu và giảm đi ở vụ đông – xuân
- Tỷ lệ nhiễm theo phương thức chăn nuôi:
Lợn nuôi theo phương pháp truyền thống (tận dụng) có tỷ lệ và cường
độ nhiễm cao hơn nhiều so với lợn nuôi theo phương thức công nghiệp(Nguyễn Thị Bích Ngà và cs, 2011 [21])
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh.
- Tác động mang trùng: Giun kết hạt ký sinh gây tổn thương, tạo điềukiện cho các nhân tố khác xâm nhập, là nhân tố gây kế phát các bệnh ký sinhtrùng khác
- Tác động độc tố: Giun kết hạt ký sinh, các độc tố do giun bài tiết ralàm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa
2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng
Trang 11Bệnh lý do Oesophagostomum phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của giun Ở giai đoạn ấu trùng, Oesophagostomum là nguyên nhân gây “bệnh hạt ruột”, còn giai đoạn trưởng thành chúng gây Oesophagostomosis đường
ruột
Theo nghiên cứu của Trương lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm SỹLăng và cs (2005) [11], Phan Địch Lân và cs (2005) [15]: Vì lợn có sức đềkháng với giun kết hạt nên tỷ lệ nhiễm thấp, tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợncon nhưng không gây ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn saukhi ấu trùng gây nhiễm vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều
u kén
Giai đoạn hạt được coi là giai đoạn nguy hiểm hơn cả Ấu trùng chuivào ruột tạo thành những hạt mà mắt thường có thể nhìn thấy được Trongthời gian phát triển hạt, con vật đau bụng, gầy còm, bỏ ăn, ỉa chảy Giai đoạntrưởng thành sức gây bệnh ít hơn, ruột viêm cata, phủ chất nhày đặc và giunkết hạt Con vật thỉnh thoảng bị ỉa chảy (Soulsby E.J.L và cs, 1982 [31];Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [24])
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7], Phan Lục (2006) [19],lợn bị bệnh giun kết hạt thể hiện hai giai đoạn:
- Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính: Ỉachảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ tăngcao, bỏ ăn, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làmcon vật gầy dần rồi chết
- Giai đoạn giun trưởng thành gây triệu chứng mạn tính, có từng thời kỳcon vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm Các triệu chứng khác không rõ lắm
2.1.3.3 Bệnh tích
Theo Phan Lục (2006) [19]: Ở ruột có những u kén nhỏ bằng đầu đinhghim hay hạt đậu, có điểm màu vàng, bên trong có ấu trùng giun Kết tràngthường bị viêm và đôi khi thấy vài nghìn u kén ở ruột Có khi u kén bị hoại
tử, bên trong có mủ Có những u kén đã thành chấm sẹo Niêm mạc ruột giàsung huyết, xuất huyết, trong xoang ruột có nhiều giun kết hạt trưởng thành
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Sau khi nhiễm giun 5 ngày,
ở niêm mạc ruột già lợn thấy những u kén nhỏ Ở giữa kén này có điểm màu
Trang 12vàng, bên trong có ấu trùng giun Tới ngày thứ 7 – 8 thì kết tràng bị viêm có
mủ Có khi có tới vài nghìn u kén ở trong một đoạn ruột, u kén to bằng hạtđậu, có khi chỉ dài 0,1 cm
2.1.4 Chẩn đoán bệnh:
* Với gia súc sống:
Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâmsàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Chẩnđoán trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu địnhlượng Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun
Oesophagostomum ký sinh Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun Oesophagostomum ở lợn Nghiên cứu định lượng nhằm xác
định số lượng trứng trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một
số thuốc tẩy giun
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Nhữngtriệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉachảy…
Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tìnhtrạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên đểchẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có nhữngtriệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lôngxù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét nghiệm phân tìm
trứng giun Oesophagostomum (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5].
Phương pháp xét nghiệm phân:
- Phương pháp phù nổi (Fulleborn):
Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muốiNaCl bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun Trứng sẽ nổi lên trên, ta cóthể tìm thấy trứng giun dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 hoặc 400
Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lítnước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bềmặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn
Trang 13Cách xét nghiệm phân: Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân khoảng 5 - 10gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán Để phân vào cốc (nên dùng cốcnhựa) cho tiếp nước muối bão hòa vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khốilượng phân Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua phễu lọc vào lọ tiêubản Cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được giữ lại.
Sau khi đã để yên từ 15 - 20 phút, dùng vòng vớt lớp váng phía trênmặt dung dịch để lên phiến kính sạch, đậy lá kính và kiểm tra dưới kính hiển
ml dung dịch NaCl bão hòa khuấy đều, dùng pipet bơm dung dịch vàobuồng đếm Mc Master, để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi Đếmtất cả trứng giun trong buồng đếm, rồi tính theo công thức:
Số trứng có trong 1 gam phân = số trứng có trong 1 buồng đếm*2*15
* Với lợn chết:
Việc chẩn đoán bệnh giun Oesophagostomum được tiến hành qua
phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở ruột già và tìm giun
Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: Lợn rất mẫn cảm vớibệnh ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định
Trang 14kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn, nước uống phải luôn luônsạch.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16] cho biết: Biện pháp hữu hiệu đểphòng chống bệnh giụn sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp.Nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biệnpháp có hiệu quả đối với các giai đoạn phát triển của giun sán, ở môi trườngcũng như trong cơ thể vật chủ
Thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việcphá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết Và điều này phụ thuộc trước hết vào
sự ô nhiễm nơi đó Mức độ ô nhiễm cao là những nơi nuôi lợn trong tìnhtrạng vệ sinh thú y kém, ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn(Hagsten Dr., 2000) [29]
Công tác phòng bệnh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tiêu diệtbệnh giun sán nói chung và bệnh giun kết hạt nói riêng Theo Phan Địch Lân
và cs (2005) [15] việc phòng bệnh giun kết hạt cũng như phòng các bệnh ởgiun tròn, gồm các bước sau:
* Diệt trùng ở động vật:
- Chẩn đoán bệnh chính xác để dùng thuốc điều trị
- Xác định quy mô diệt trùng: Nơi nào nhiễm thấp, diệt trùng hẹp, nơinào tỷ lệ nhiễm cao diệt trùng toàn đàn
- Định kỳ diệt trùng: Căn cứ vào vòng đời của giun, căn cứ vào vụ mùa
để có thể chăm sóc, chăn thả gia súc phù hợp
- Dự tính hiệu quả diệt trùng: Tính tỷ lệ tẩy giun toàn đàn và tỷ lệ tẩysạch trùng (nếu có điều kiện mổ) để dự đoán hiệu quả của biện pháp kỹthuật
* Diệt trùng phân bằng ủ nóng sinh vật học:
Hàng năm số lượng phân chuồng rất lớn và là loại phân bón quýnhưng trong quá trình thải phân trứng giun được mang theo rất nhiều, do đó
xử lý phân đảm bảo diệt được ấu trùng giun nhưng vẫn giữ được chất lượngcủa phân
Trang 15Người ta đã lợi dụng hoạt động của vi sinh vật để tiêu độc phân tựnhiên gọi là phương pháp ủ nóng sinh vật học Cách ủ phân như sau: Phânđược chuyển đến chỗ chứa, lúc đầu thành từng đống nhỏ 1m2 , trộn rác lácho phân xốp để không khí lưu thông trong đống phân Qua 3 - 7 ngày nhiệt
độ trong đống phân tăng đến 55 - 70ºC khiến sinh vật đại bộ phận bị tiêudiệt Nén chặt đống phân lại lúc đó lượng vi sinh vật còn sống giảm đến90% Ở nhiệt độ này trứng giun bị ung, hỏng trong 15 - 25 ngày ủ
* Tổ chức vệ sinh nơi ăn uống:
Nước uống, máng uống cho lợn phải sạch, sau một ngày uống nướcphải được quét rửa Các nguồn nước không bị nhiễm hóa chất, xăng dầu độchại
Các biện pháp vệ sinh khu chăn nuôi như sau:
- Vệ sinh bên ngoài: Vệ sinh nền chuồng, sân chơi không để nước tiểu,nước rửa chuồng, nước phân chảy vào theo thức ăn xanh của lợn, phân lợnphải được ủ trước khi mang đi sử dụng, xung quanh chuồng lợn nên trồngnhiều cây xanh, thức ăn xanh cho lợn ăn phải được rửa nhiều lần
- Định kỳ tẩy giun theo quy định: 2 tháng tuổi tẩy giun lần thứ nhất,lợn 5 - 6 tháng tuổi tẩy giun lần thứ 2
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trên thế giới là sử dụng vacxinchế tạo theo phương pháp phóng xạ để phòng bệnh giun tròn cho lợn
- Tăng cường bồi dưỡng chăm sóc cho lợn là biện pháp tăng cường sứcchống bệnh của con vật, hạn chế tác hại do giun chiếm đoạt chất dinh dưỡngcủa vật nuôi
- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong một khu vực.Nếu có lợn ốm phải được cách ly
Phan Lục và cs (2006) [20], Chu Thị Thơm và cs (2006) [25] cho biết:
Để phòng bệnh giun kết hạt phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụchăn nuôi Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để giệt trứng giun Định kỳ tẩy giun.Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnhtật
* Dùng thuốc:
Trang 16Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [8] chữa bệnh ký sinh trùng phảinhằm đạt ba yêu cầu sau:
Trước hết phải diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho con vật(diệt ký sinh trùng hay tẩy ký sinh trùng còn sống ra ngoài) Phải dùng thuốchướng ký sinh trùng, tức là phải độc với nó nhưng không độc với ký chủ Hệ
số giữa liều lượng độc với con vật và liều lượng chữa bệnh cho nó phải trên
3 Nên chọn thuốc nào có hiệu lực nhất với ký sinh trùng, đồng thời ít nguyhiểm nhất với ký chủ, rẻ tiền nhất và dễ dùng nhất (dễ dàng dùng cho toàndân) Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc cóhiệu lực chống được nhiều loại ký sinh trùng
Phải ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm: Đưa ngay con vật rakhỏi nơi có bệnh, tiêu độc nơi đó trước khi đưa con vật vào lại
Phải làm cho con vật hồi sức: Cho ăn nhiều, đủ dinh dưỡng, vitamin
và muối Có thể dùng thuốc bổ, thuốc kích thích, tiếp máu Giữ vệ sinh tốt,chữa các triệu chứng
Có rất nhiều loại thuốc có tác dụng phòng trị giun tròn đường tiêuhóa Thuốc có tác dụng làm giun bị tê liệt Làm tăng co bóp ruột, làm ngừng
sự phát triển của trứng và ấu trùng, làm ký sinh trùng bị tê liệt, cộng với tácđộng kích thích nhu động ruột của thuốc, từ đó tẩy giun ra ngoài
Phạm Đức Chương và cs (2003) [1] cho biết, các thuốc thường đượcdùng để điều trị bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá là:
Levamisole: Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởngthành Hiệu lực tẩy giun kết hạt là 72 - 99%
Ivermectin: tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn Tiêmdưới da liều 0,3 mg/kg TT cho lợn có tác dụng làm giảm 94 – 100% các giaiđoạn chưa trưởng thành của giun kết hạt
Dipterex 0,15g/ kg trộn thức ăn đạt hiệu quả 100% Có thể dùngPhenothiazin 0,2 – 0,5g/ kg Nhưng hiệu quả kém Dipterex (Phạm Sỹ Lăng
và cs (2005) [10])
Trang 17Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [3] có thể sử dụng: Levamisole: 5mg/
kg TT hay Ivemectin dạng premix: 100μg/ kg TT/ ngày Trộn vào thức ănliên tục 7 ngày
Ngoài ra, theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] có thể điều trị bằngmột trong các thuốc sau:
- Levamisole: Dùng liều 12 – 15mg/ kg TT lợn, cho uống hoặc tiêm
- Phenothiazin: Dùng liều 0,2 – 0,3g/ kg TT lợn, cho uống 2 lần vào 2buổi sáng
- Ivermectin (Hanmectin): Dùng liều 0,2mg/ kg TT cũng cho kết quảkhả quan và an toàn, cần tiêm thuốc cho lợn 2 lần với liều trên, cách nhau 1ngày Tiêm Hanmectin với liều 1ml/ 10kg TT
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước.
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước.
Tuổi lợn nhiễm các loài giun tròn nặng nhất là từ 2 – 4 tháng tuổi trênmột tỷ lệ nhiễm chung là 49 – 65,9% Qua mổ khám thấy các loại giun sán
chính ở lợn có sự xuất hiện của Oesophagostomum (Trịnh Văn Thịnh, Đỗ
Dương Thái 1978 [24])
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [6] cho biết: lợn bình thườngnhiễm giun kết hạt là 20,86%, tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là27,02% Mật độ nhiễm giun kết hạt ở lợn tiêu chảy nặng hơn so với lợn bìnhthường
Bùi Lập (1978) [13] cho biết, lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 7 loài giunsán trong đó có giun kết hạt Các loài nhiễm tăng theo tuổi lợn là:
Fasciolopsis buski, Stephanurus dentatus và O dentatum
Nghiên cứu hiệu lực của các thuốc tẩy giun tròn trên lợn, Phan Lục,Nguyễn Đức Tâm (2000) [18] đánh giá: Thuốc Levamisole, Pyrantel,Dichlorvos, Febendazole, Ivermectin có hiệu quả rất mạnh (++++) đối vớigiun kết hạt; thuốc Piperazine có hiệu quả một phần (+) và thuốcThiabendazole không có hiệu quả trong điều trị bệnh giun kết hạt lợn (-)
Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2010) [26] cho biết: Tỷ lệ lợn nhiễm giun kếthạt ở Cần Thơ là 53,33% với cường độ nhiễm nhẹ và trung bình Thuốc
Trang 18Albendazole với liều 5 mg/kg TT và thuốc Ivermectin 0,3 mg/kg TT chohiệu quả tẩy giun kết hạt lợn là 100% sau một lần tẩy duy nhất.
Theo Nguyễn Thị Bích Ngà và cs (2011) [21], lợn ở tỉnh Thái Nguyênnhiễm giun kết hạt là 33,76%, cường độ nhiễm nặng chiếm 13,69% trong sốlợn nhiễm
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
Klexov N.D và Xkulikoe N (1931) đã chữa bệnh giun kết hạt và chorằng, phương pháp hiệu lực hơn cả là dùng dung dịch pha loãng 0,8 – 1g Iodtrong 100ml nước (dẫn theo K.I Skrjabin, Petrov A.M, 1977) [30]
Theo Miax E.A – Nikova (1937) có thể tẩy giun kết hạt cho lợn bằngcách thụt 0,5 formalin với liều 2000ml cho 1 lợn nặng 124 – 140kg chữabằng formalin nên tiến hành ở nền chuồng nghiêng 30 - 40ºC để đầu thấphơn phía sau, làm như vậy thì thuốc ngấm nhiều nhất trong ruột già tức làngấm nhiều ở chỗ giun sán ký sinh (dẫn theo K.I Skrjabin, Petrov A.M,1977) [30]
Johanes Kafuman (1996) [32] cho biết: Sự nhiễm giun tròn cho lợncon có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ.Bezimidazole, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sựlây nhiễm Ivermectin (300μg/kg TT) dùng cho lợn trưởng thành, dùng trước
đẻ 1 – 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau khi sinh
Lai M.và cs (2010) [34] cho biết: Trong tổng số 2971 mẫu phân lợnlấy từ các trang trại lợn ở Trùng Khánh – Trung Quốc được xét nghiệm có:
362 mẫu (12,18%) nhiễm Ascaris suum, 301 mẫu (10,13%) nhiễm Trichuris suis, 301 mẫu (10,13%) nhiễm Oesophagostomum spp., 491 mẫu (16,53%) nhiễm Eimeria spp., 149 mẫu (5,02%) nhiễm Isopora suis, 677 mẫu (22,79%) nhiễm Balantidium coli và 196 mẫu (6,60%) nhiễm Cryptosporidium spp.
Kagira J.M và cs (2010) [33] đã xét nghiệm phân của 360 lợn từ 135
trang trại ở Kenya cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun Oesophagostomum spp là 75%, Strongyloides ransomi là 37% và Ascris suum là 18%.
Trang 19PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu.
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Lợn các lứa tuổi nuôi tại một số xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnhThái Nguyên
- Bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp ở lợn.
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu.
Trang 20- Mẫu phân tươi của lợn nuôi ở các lứa tuổi tại một số xã tại huyệnPhú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Kính hiển vi quang học
- Buồng đếm Mc Master và các dụng cụ thí nghiệm khác
- Dung dịch muối NaCl bão hòa
- Thuốc tẩy giun tròn Oesophagostomum cho lợn.
- Các hóa chất và dụng cụ thí nghiệm khác
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu.
- Địa điểm triển khai đề tài: Đề tài được thực hiện ở các hộ gia đình vàcác trang trại chăn nuôi lợn với quy mô khác nhau ở một số xã tại huyện PhúLương, tỉnh Thái Nguyên
- Địa điểm xét nghiệm, phân tích và xử lý mẫu:
Phòng thí nghiệm - Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu.
Từ ngày 9 tháng 12 năm 2013 đến ngày 31 tháng 5 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu.
3.3.1 Nghiên cứu về tình hình nhiễm Oesophagostomum spp.
- Điều tra về thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùngcho lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp ở lợn tại một số xã
của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp theo tuổi lợn.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp theo giống lợn.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp theo tháng trong
Trang 213.3.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng Oesophagostomum ở ngoại cảnh.
- Sự ô nhiễm trứng Oesophagostomum spp ở ngoại cảnh.
- Khả năng tồn tại của trứng ở ngoại cảnh
- Khả năng nở của trứng ở ngoại cảnh
- Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh
3.3.3 Biện pháp phòng trị bệnh.
- Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun Oesophagostomum spp.
- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh Oesophagostomum spp cho lợn.
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1 Phương pháp điều tra công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh Oesophagostomosis nói riêng cho lợn ở địa phương.
- Trực tiếp quan sát
- Phát phiếu điều tra
3.4.2 Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu.
Bố trí thu thập mẫu: Bố trí thu thập mẫu theo phương pháp lấy mẫuphân tầng Mẫu được thu thập ngẫu nhiên tại các hộ, trang trại chăn nuôi lợn
ở các xã tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Mẫu phân sau khi lấyđược xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theoquy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng học
Phương pháp thu thập các loại mẫu:
- Mẫu phân: Lấy phân mới thải của lợn ở các lứa tuổi Để riêng mỗi mẫuphân vào 1 túi nilon nhỏ và mỗi túi đều có nhãn ghi: Thời gian (ngày, tháng,năm), địa điểm, tuổi, tính biệt và biểu hiện lâm sàng của lợn (nếu có)
- Mẫu cặn nền chuồng: Tại mỗi ô chuồng lấy mẫu cặn ở 4 góc và ở giữa ô
chuồng, trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khoảng 80 – 100 g/mẫu) Mỗimẫu được để riêng trong túi nilon có ghi nhãn: tên chủ hộ, địa điểm, thờigian lấy mẫu Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày
- Mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi: Trong khoảng bán kính 5 m
xung quanh chuồng lợn, cứ 10 – 15 m2 lấy một mẫu đất bề mặt Một mẫu cókhối lượng từ 80 – 100 g, được trộn đều bởi 4 mẫu ở 4 góc và 1 mẫu ở giữa.Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có ghi nhãn: Tên chủ hộ, địa điểm,thời gian lấy mẫu
Trang 22- Mẫu đất ở vườn, bãi trồng cây thức ăn cho lợn: Cứ 10 – 15 m2 lấy mộtmẫu đất bề mặt Một mẫu có khối lượng từ 80 – 100 g, được phối hợp bởi 4mẫu ở 4 góc và 1 mẫu ở giữa Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có ghinhãn: tên chủ hộ, địa điểm, thời gian lấy mẫu.
Phương pháp xét nghiệm các loại mẫu:
- Dùng phương pháp Fulleborn để xác định tỷ lệ nhiễm
- Dùng phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc Master để xácđịnh cường độ nhiễm
- Dùng phương pháp Bearman để kiểm tra ấu trùng
3.4.3 Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo lứa tuổi lợn.
Tuổi lợn được phân ra theo 4 lứa tuổi:
Lợn dưới 2 tháng tuổi
Lợn > 2 – 4 tháng tuổi
Lợn > 4 – 6 tháng tuổi
Lợn trên 6 tháng tuổi
3.4.4 Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo các tháng trong năm.
Các tháng được theo dõi gồm: Tháng 12/2013; tháng 1, 2, 3, 4, 5(2014)
3.4.5 Tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum theo giống lợn.
Xác định tỷ lệ nhiễm của các giống lợn: Lợn địa phương, lợn lai, lợn ngoại
3.4.6.Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum theo phương thức chăn nuôi.
Phương thức chăn nuôi: Chúng tôi quy định 3 hình thức chăn nuôi như sau :
+ Nuôi theo phương thức truyền thống (tận dụng): Hộ gia đình chăn nuôi lợn với số lượng ít, thức ăn cho lợn chủ yếu tận dụng phế phụ phẩm ngành trồng trọt (cám xát, bột ngô, khoai, sắn, rau xanh)
+ Nuôi theo phương thức bán công nghiệp: Hộ gia đình chăn nuôi lợn,cho lợn ăn rau, cám nấu và bổ sung thêm thức ăn tổng hợp hàng ngày
+ Nuôi theo phương thức công nghiệp: Chăn nuôi với số lượng lớn, thức ăn cho lợn hàng ngày là thức ăn tổng hợp
3.4.7 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum.
Trang 23Mẫu phân được xét nghiệm tại phòng thí nghiệm bằng phương phápfulleborn dùng dung dịch muối NaCl bão hòa, tìm trứng giun
Oesophagostomum dưới kính hiển vi (độ phóng đại 100) Những mẫu có
trứng giun đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm
3.4.8 Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun Oesophagostomum.
Cường độ nhiễm được xác định bằng phương pháp Mc Master: đếm
số trứng giun Oesophagostomum trong một gam phân bằng buồng đếm Mc.
Nuôi trứng giun Oesophagostomum trong những mẫu phân ở phòng
thí nghiệm Mỗi mẫu để trong một khay nhựa kích thước 30 × 20 cm Mỗingày lấy 5g phân/ mẫu, xét nghiệm bằng phương pháp fullerborn để kiểm tratrứng, xét nghiệm bằng phương pháp Baerman để kiểm tra ấu trùng Từ đóxác dịnh được thời gian trứng nở thành ấu trùng, thời gian ấu trùng pháttriển thành ấu trùng có sức gây bệnh, thời gian sống của ấu trùng có sức gâybệnh
3.4.10 Phương pháp xác định độ an toàn và hiệu lực của thuốc trị Oesophagostomum.
- Xác định khối lượng lợn để xác định liều thuốc sử dụng
Khối lượng lợn được xác định bằng cách cân (đối với lợn nhỏ) hoặc
đo (đối với lợn lớn) và tính khối lượng theo công thức:
Pkg = 87,5 × VN2 × DT
Trong đó: P: Khối lượng lợn (kg)
VN: Vòng ngực đo bằng thước dây (cm)
DT: Dài thân đo bằng thước dây (cm)
Trang 24- Xác định hiệu lực của thuốc:
Trước khi dùng thuốc, xác định cường độ nhiễm bằng cách đếm sốtrứng/ g phân Sau khi dùng thuốc, xét nghiệm phân ở 15 ngày sau tẩy bằngcách đếm số trứng/ g phân để xác định hiệu lực của thuốc Nếu không tìm
thấy trứng giun Oesophagostomum trong phân thì xác định thuốc có hiệu lực triệt để Nếu vẫn thấy trứng giun Oesophagostomum nhưng số lượng trứng giảm rõ rệt thì xác định thuốc có hiệu lực với giun Oesophagostomum nhưng
chưa triệt để
- Xác định độ an toàn của thuốc trị Oesophagostomum: Độ an toàn
của thuốc được xác định thông qua theo dõi phản ứng của lợn sau khi dùngthuốc (trạng thái cơ thể, sự vận động, ăn uống )
3.4.11 Đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh do Oesophagostomum gây ra cho lợn.
Từ đặc điểm dịch tễ đề xuất biện pháp phòng bệnh cho lợn
Trang 25X X
+ Sai số của số trung bình (mx):
4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh Oesophagostomois ở lợn.
Trong thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điểu tra tìnhhình thực hiện vệ sinh thú y phòng chống bệnh ký sinh trùng cho lợn ở địaphương Khảo sát được thực hiện trên 4 địa bàn là xã Phấn Mễ, Cổ Lũng,Sơn Cẩm và Vô Tranh
Hiệu lực tẩy của thuốc (%) =
Số lợn (-) sau khi tẩy
Số lợn được tẩy
x 100
Trang 26Bảng 4.1 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung
và bệnh Oesophagostomosis cho lợn ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái
Nguyên
Địa phương
(xã)
Biện pháp sử dụng Không
có chuồng trại
Chuồng trại hợp
vệ sinh
về xây dựng
Vệ sinh tốt chuồng nuôi
Thu gom phân ủ
Tẩy giun tròn
Kết quả 4.1 cho thấy:
- Lợn thả rông (không có chuồng nuôi) chiếm 0%
- Trong số 235 hộ điều tra tại xã Phấn Mễ, 110 hộ tại Cổ Lũng, 132 hộtại Sơn Cẩm và 255 hộ tại Vô Tranh, số hộ có chuồng nuôi hợp vệ sinh lầnlượt là: 103, 57, 70, 117 hộ, tương ứng tỷ lệ là: 43,8%, 51,8%, 53,03% và45,8%
- So với chuồng nuôi hợp vệ sinh, chuồng nuôi được vệ sinh tốt chiếm
tỷ lệ thấp hơn Tỷ lệ chuồng nuôi được vệ sinh tốt ở các địa phương có sựchênh lệch không đáng kể Cụ thể, tỷ lệ chuồng nuôi được vệ sinh tốt ở Phấn
Trang 27Mễ, Cổ Lũng, Sơn Cẩm và Vô Tranh lần lượt là: 21,9%, 25,51%, 23,47% và21,55%.
- Khảo sát 267 hộ có 36 hộ thu gom phân ủ chiếm 13,48% (Phấn Mễ)
Ở Cổ Lũng trong 155 hộ có 28 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 18,06% Điều tra 186
hộ tại Sơn Cẩm có 32 hộ tiến hành ủ phân, chiếm 17,2% ; 285 hộ tại VôTranh có 37 hộ chiếm 12,98% Một số hộ chăn nuôi cho biết thay vì ủ phânnhư các năm trước, hiện nay đã sử dụng phân làm biogas
- Nhìn chung việc thực hiện tẩy giun phòng bệnh ký sinh trùng chovật nuôi chưa được chú ý Tỷ lệ áp dụng khá thấp Cụ thể: tỷ lệ tẩy giun ởPhấn Mễ, Cổ Lũng, Sơn Cẩm và Vô Tranh lần lượt là: 14,13%, 17,51, 18,8
và 15,29
Qua kết quả trên chúng tôi có thể khuyến cáo với người chăn nuôi cầnphải chú ý công tác vệ sinh chuồng trại, xử lý phân và nước thải chăn nuôitrước khi thải ra môi trường, khơi thông cống rãnh thường xuyên, chú ý đếnviệc tẩy giun định kỳ cho đàn lợn, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuậtvào chăn nuôi để hạn chế sự phát triển của giun Oesophagostomum nói riêng
và các loài giun đường tiêu hóa lợn nói chung