Phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế với các cơ sở giáo dục hoa kỳ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC QUỐC TẾ
Chủ nhiệm đề tài
TS CAO MINH TRÍ
Thành viên tham gia
ThS HUỲNH THANH XUÂN
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2013
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Sử dụng phương pháp định tính bằng cách khảo sát, nghiên cứu ba chương trình hợp tác quốc tế giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam, đề tài đã đưa ra ba nhóm giải pháp nhằm phát triển mối quan hệ song phương: Chủ trương, chính sách hợp tác phù hợp sứ mạng và tầm nhìn; Lựa chọn đối tác và thời điểm hợp tác phù hợp; Xác định đúng mức độ tác động của các yếu tố
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng đã làm rõ một vấn đề so với các đề tài nghiên cứu trước đây: cho dù mỗi cơ sở giáo dục có thể có mục tiêu riêng, mỗi chương trình hợp tác có thể có bản chất riêng nhưng để đi đến thành công chung theo như mong đợi và sự gầy dựng của Chính phủ và nhân dân hai nước thì các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam nên bắt đầu các chương trình hợp tác từ bản chất giao lưu, trao đổi văn hóa và học thuật- bản chất chính và bền vững cho sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
Một hệ thống gồm mười yếu tố đã được xác định có tác động đến bản chất việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam Các yếu tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau nhưng có ba yếu tố đều được tất cả những người được phỏng vấn cho rằng mức độ ảnh hưởng hiện tại là cao và cũng nên có mức độ ảnh hưởng tối ưu là cao để đảm bảo bản chất của sự hợp tác là: sự cam kết, sự tin cậy và thông tin trao đổi
Từ khóa: cơ sở giáo dục, hợp tác, bản chất, yếu tố, Hoa Kỳ, Việt Nam
Trang 41.1 Các hình thức hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo 5 1.2 Giáo dục và kinh doanh quốc tế 5 1.3 Hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 7 1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hợp tác 9 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hợp tác 10
Chương 2 Thực trạng một số chương trình hợp tác giữa các cơ sở giáo dục
2.1 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 14 2.2 Một số chương trình hợp tác 18
Chương 3 Giải pháp phát triển mối quan hệ hợp tác với các cơ sở giáo dục
3.1 Chủ trương, chính sách hợp tác phù hợp sứ mạng và tầm nhìn 45 3.2 Lựa chọn đối tác và thời điểm hợp tác phù hợp 48 3.3 Xác định đúng mức độ tác động của các yếu tố 56
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Mô hình nghiên cứu Trang 12
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thông tin chung về các trường hợp nghiên cứu Trang 15 Bảng 2 Mục tiêu của các bên đối tác của Plus 3 Trang 23 Bảng 3 Đánh giá của những người được phỏng vấn của Plus 3 Trang 26
về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến bản chất hợp tác
Bảng 4 Mục tiêu của các bên đối tác của FETP Trang 33 Bảng 5 Đánh giá của những người được phỏng vấn của FETP Trang 34
về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến bản chất hợp tác
Bảng 6 Đánh giá của người được phỏng vấn của BBA UIS Trang 41
về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến bản chất hợp tác
Bảng 7 Tổng hợp đánh giá của những người được phỏng vấn Trang 49
về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến bản chất hợp tác
Bảng 8 Mối quan hệ giữa mức độ tác động của các yếu tố Trang 57
và sự thành công
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BBA UIS : Chương trình liên kết đào tạo Cử nhân Quản trị kinh doanh
ĐHQG : Đại học quốc gia
EU : Liên minh châu Âu
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FETP : Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
GATS : Hiệp định chung về Thương mại trong Dịch vụ
HCMUT : Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh
HKS : Trường Harvard Kennedy (Hoa Kỳ)
HRM : Quản trị nguồn nhân lực
MSCHE : Hội đồng giáo dục đại học vùng Trung Mỹ
Pitt : Trường Đại học Pittsburgh (Hoa Kỳ)
Plus 3 : Chương trình Plus 3 tại Việt Nam dành cho sinh viên ngành kinh
doanh và ngành kỹ thuật trường Pitt
TB : Trung bình
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UEF : Trường Đại học Kinh tế- Tài chính thành phố Hồ Chí Minh
UEH : Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
UIS : Trường Đại học Illinois tại Springfield (Hoa Kỳ)
VEF : Tổ chức Giáo dục Việt Nam
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài nghiên cứu:
Có nhiều quan điểm cho rằng nếu chúng ta muốn trở thành những công dân tốt hơn trong thế giới phẳng này, chúng ta phải học cách sống với nhau trong sự hiểu biết, tôn trọng và hợp tác Nghệ thuật và tính nhân văn mang con người và hành vi đa dạng tập hợp với nhau Khi đó có thể làm tăng sự sáng tạo, tạo nên cộng đồng biết quan tâm, chia sẻ và tăng hiểu biết văn hóa (Hodsoll, 2009)
Ngày nay, việc gia tăng hợp tác giáo dục, khoa học công nghệ và trao đổi văn hóa giữa các trường đại học trên thế giới đã trở thành một điểm nhấn quan trọng trong chiến lược phát triển giữa các quốc gia, đặc biệt là đối với các trường thuộc các nước có trình độ phát triển khác nhau, có truyền thống văn hóa và giáo dục khác nhau Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của chính phủ Việt Nam và nhân dân Việt Nam
Việt Nam bằng việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã gia tăng việc thâm nhập thị trường toàn cầu và tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi Các tổ chức quốc tế không những cam kết cho sự phát triển nền kinh tế Việt Nam mà cả với hệ thống giáo dục quốc dân Tiếp tục cải tiến hệ thống giáo dục Việt Nam là chìa khóa để khai thác tiềm năng của đất nước (Mccornac, 2008)
Quan điểm này đã được nhiều nước và trường đại học nhiệt tình ủng hộ, đặc biệt là Hoa Kỳ Các chương trình của Tổ chức Giáo dục Việt Nam (VEF), Fulbright, các chương trình hợp tác giữa các trường đại học và cao đẳng hai nước đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển nghề nghiệp chuyên môn trong nhiều ngành công nghiệp tại Việt Nam
Những năm qua đã chứng kiến sự tiến triển đáng kể trong hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ khi có 80 cơ sở giáo dục của Hoa Kỳ đã thiết lập các chương trình hợp tác tại Việt Nam Song song đó, ngày càng nhiều giáo sư và sinh viên Hoa Kỳ đã đến Việt Nam dạy và học, và khoảng 16.000 sinh viên Việt Nam hiện đang du học tại Hoa Kỳ
Trang 9Chúng ta đều công nhận tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và Hoa Kỳ nhằm giúp Việt Nam đáp ứng nhu cầu giáo dục trong xã hội Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, các cơ sở giáo dục tại Việt Nam đã đặt ra một vấn đề nan giải Đâu là bản chất chính của những sự hợp tác hiện tại và hướng hợp tác trong tương lai giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam? Các mối quan hệ hợp tác này mang bản chất kinh doanh quốc tế hay trao đổi văn hóa hay một bản chất nào khác? Sự khác nhau về bản chất hợp tác cùng với các yếu tố tác động khác nhau sẽ dẫn đến những chiến lược và chính sách khác nhau của các bên đối tác, và tất nhiên sẽ ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của việc hợp tác Các nghiên cứu trước đây hầu như không đề cập và giải quyết đến vấn đề này
Giải quyết được vấn đề nêu ra trong đề tài này sẽ giúp thúc đẩy sâu rộng mối liên kết giữa các cơ sở giáo dục hai nước theo đúng sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của các bên Điều đó cũng sẽ giúp đưa mục tiêu của chương trình Fulbright vào đúng hướng là "làm tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa con người ở các quốc gia với nhau thông qua trao đổi văn hóa và giáo dục" (Mulcahy, 1999; Friedman, 2006)
Vì vậy, kết quả nghiên cứu sẽ giúp các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam phát triển các mối quan hệ mới và củng cố những quan hệ hiện có Trường Đại học Kinh tế- Tài chính thành phố Hồ Chí Minh (UEF) là một thành viên trong hệ thống giáo dục này cũng sẽ được hưởng lợi ích đó cho sứ mạng và tầm nhìn của mình
Với một sứ mạng rõ ràng là “đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc các lĩnh vực kinh tế, quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin với nền tảng kiến thức sâu rộng, tư duy sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp nhạy bén bởi tiếp cận công nghệ đào tạo tiên tiến, đa dạng, đa loại hình các đại học quốc tế gắn kết với những điều kiện đặc thù của Việt Nam”, từ ngày thành lập đến nay, UEF nhận ra vị thế hàng đầu của Hoa Kỳ trong lĩnh vực giáo dục và đã cố gắng thiết lập, phát triển mối quan hệ hợp tác với các cơ sở giáo dục đã được kiểm định của Hoa Kỳ như: University of Missouri, St Louis; University of Houston, Victoria; University of Pittsburgh; Dominican University of California; California State University, Long Beach; New York Institute of Finance; University of the Incarnate Word, Texas1
Trang 102 Mục tiêu nghiên cứu:
Khảo sát sự hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam
Phân tích, xác định bản chất chính và các yếu tố tác động của sự hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam
Thu thập ý kiến và đề xuất nhằm phát triển mối quan hệ hợp tác song phương
đi đến thành công chung
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nhóm tác giả đã sử dụng những kết quả tìm kiếm từ các lý luận, các tài liệu nghiên cứu trước đây để làm cơ
sở xem xét và đánh giá một vài cơ sở giáo dục tại Việt Nam và đối tác tại Hoa Kỳ,
từ đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Các mối quan hệ hợp tác hiện tại giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam được nghiên cứu trong đề tài này có gì khác so với các đề tài nghiên cứu trước đây?
Có tồn tại một bản chất chung cho việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Hoa
Kỳ và Việt Nam hay các mô hình thành công sẽ có bản chất riêng?
Có tồn tại một hệ thống các yếu tố tác động đến bản chất việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam hay không?
Làm cách nào để chúng ta phát triển mối quan hệ hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam đi đến thành công chung?
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp được sử dụng để thu thập và tổng hợp các lý luận, các tài liệu nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) được sử dụng để phỏng vấn, khảo sát thực tiễn mối quan hệ hợp tác giữa một vài cơ sở giáo dục Hoa
Kỳ và Việt Nam
Trang 11 Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để kết hợp lý luận và thực tiễn trả lời các câu hỏi nghiên cứu
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ hợp tác
Phạm vi nghiên cứu: các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2011 đến tháng 01/2013
6 Nội dung đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu gồm bốn chương:
Chương 01 Cơ sở lý luận
Chương 02 Thực trạng một số chương trình hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và Hoa Kỳ
Chương 03 Giải pháp phát triển mối quan hệ hợp tác với các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ
7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng trong hoạt động quan hệ quốc tế của các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm phát triển hợp tác song phương Đề tài cũng có thể là nguồn tài liệu tham khảo rất tốt cho những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu các lĩnh vực có liên quan
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các hình thức hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo:
Từ thập niên 1990, các cơ sở giáo dục trên thế giới đã trở nên quốc tế hóa với nhiều đối tượng và hình thức đa dạng Đối tượng của hợp tác quốc tế trong giáo dục
và đào tạo liên quan đến cả sinh viên (chiếm đa số) và giảng viên Các chương trình hợp tác liên quan đến sinh viên là trao đổi sinh viên, liên kết đào tạo, thực tập-tuyển dụng… Các chương trình hợp tác liên quan đến giảng viên là nghiên cứu chung, liên kết giảng dạy, trao đổi giảng viên (Amin và Rami, 2006)
Có nhiều hình thức hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo Trong một nghiên cứu về sự hợp tác giữa các trường EU và Hoa Kỳ, Harper (1995) nhận thấy mục tiêu chính của việc hợp tác này là nhằm phát triển các dự án giáo dục đào tạo chung và một chương trình đào tạo cấp bằng chung trong lĩnh vực kinh doanh quốc
tế và marketing, bao gồm các chương trình trao đổi sinh viên, trao đổi giảng viên, trao đổi chương trình đào tạo, liên kết đào tạo và phát triển đào tạo từ xa Trong một nghiên cứu khác về các hoạt động hợp tác quốc tế của các trường tại Australia, Saffu and Mamman (2000) nhận thấy hoạt động du học và trao đổi sinh viên chiếm
tỷ trọng chính, tiếp theo là các hoạt động hợp tác trong nghiên cứu khoa học và tư vấn, trao đổi giảng viên và các chương trình ngoại khóa Smith (1985) cho rằng hợp tác giữa các trường được chia thành ba loại chính: sinh viên đi du học, giảng viên ra nước ngoài để giảng dạy và nghiên cứu khoa học, và cuối cùng là các hoạt động liên quan đến các cơ sở giáo dục cũng như việc chia sẻ nguồn lực và kinh nghiệm trong quản lý
1.2 Giáo dục và kinh doanh quốc tế:
Việc quốc tế hóa đại học đang trở thành một trào lưu quan trọng trong sự phát triển giáo dục đại học và sau đại học trên thế giới (Timothy and Geoffrey, 2008) Giáo dục là con đường chuyển giao nền văn hóa từ một quốc gia này sang một quốc gia khác Trong khi đó, giáo dục xuyên quốc gia đã và đang trở thành một
Trang 13nguồn thu nhập thêm quan trọng cho các tổ chức giáo dục tại các nước phát triển
Từ năm 1995, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), một tổ chức quốc tế mà trước đây rất ít quan tâm đến giáo dục, đã trở thành một nhân tố chính trong việc thúc đẩy giáo dục xuyên quốc gia WTO đã đưa giáo dục vào khung điều chỉnh thương mại trong dịch vụ, trở thành một hàng hóa thương mại Theo quy định của WTO tại Hiệp định chung về Thương mại trong Dịch vụ (GATS), các thành viên WTO phải
mở cửa thị trường dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ giáo dục) thông qua thương lượng (Jinwei, 2005) GATS cũng quy định thương mại trong giáo dục có bốn hình thức chính: a) cung cấp dịch vụ xuyên biên giới; b) tiêu thụ tại nước ngoài; c) hiện diện đại diện thương mại của nhà cung cấp tại một quốc gia khác; và d) hiện diện của nhân sự tại một quốc gia khác để cung cấp dịch vụ (Varghese, 2007)
Kinh doanh quốc tế bao gồm thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài (FDI) Thương mại quốc tế xuất hiện khi hàng hóa hoặc dịch vụ được xuất khẩu sang nước khác FDI xuất hiện khi các nguồn lực được đầu tư vào các hoạt động kinh doanh bên ngoài quốc gia chủ đầu tư (Hill, 2010) Thương mại hóa giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, dưới hình thức xuất khẩu đang là xu hướng chính của nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Canada, Australia, New Zealand… (Malaysian Business, 2005; Jeff, 2010) Hoa Kỳ hiện là nhà xuất khẩu chính lĩnh vực giáo dục đại học trên thế giới Nhiều công ty tại Việt Nam đã tính rất nhiều chi phí cho các thông tin
về việc du học tại Hoa Kỳ, trong khi các thông tin này hoàn toàn được tư vấn miễn phí tại các trường trung học Hoa Kỳ Những yếu tố thương mại này xuất hiện làm cho giáo dục quốc tế chính thức trở thành một dạng của kinh doanh quốc tế
Còn mục tiêu của các chương trình văn hóa và giáo dục quốc tế được chính phủ tài trợ là gì? Các chương trình văn hóa và giáo dục thường đi kèm với các quan
hệ chính trị và kinh tế như là một phần chính trị giữa các nước Giống như thương mại, du lịch, trao đổi văn hóa và giáo dục là những mối tương tác bình thường giữa các nước Trao đổi văn hóa bản thân nó thúc đẩy các mối quan hệ tốt hơn trong đại gia đình các nước mặc dù có thể không cần thiết cho chính sách đối ngoại của một nước (Lima, 2007) Đối với Hoa Kỳ, các chương trình trao đổi này cố gắng giúp cho mọi người hiểu hơn về xã hội Hoa Kỳ bằng cách giúp cho họ tiếp xúc với sự đa dạng văn hóa tại quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa này Do đó, các chương trình
Trang 14văn hóa (bao gồm trao đổi giảng viên và sinh viên, biểu diễn nghệ thuật, triển lãm sách, bảo tàng…) cần được quan tâm đặc biệt để thực hiện mục tiêu nêu trên
1.3 Hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ:
Việt Nam đã và đang xây dựng một môi trường tích cực cho sự phát triển Những nỗ lực cải cách đã giúp cho đất nước ta hòa nhập vào thị trường toàn cầu Một số sự kiện nổi bật đã thúc đẩy sự thay đổi này là việc đưa ra các chính sách mở cửa nền kinh tế năm 1986, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1994 và ký kết Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ năm 2001 Chính phủ Việt Nam càng ngày càng thúc đẩy tiến trình cải cách Điều này đang làm cải thiện tình hình quan hệ quốc tế và hướng đến việc trở thành một nhân tố chính của nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, cải cách giáo dục lại không theo kịp tốc độ phát triển kinh tế tại Việt Nam Vì vậy, cải tiến hệ thống giáo dục là rất cần thiết để duy trì sự phát triển ổn định và lâu dài của Việt Nam trên mọi lĩnh vực
Hợp tác và trao đổi giáo dục là con đường tốt nhất để xây dựng mối quan hệ tốt giữa người với người Trao đổi văn hóa và giáo dục là yếu tố cơ bản cho sự hợp tác mà chúng ta luôn tìm kiếm để hình thành khắp nơi trên thế giới Thông qua chương trình Fulbright, hơn 7.000 người đã được hỗ trợ hàng năm trên thế giới
Một ví dụ từ một nước ASEAN láng giềng của chúng ta, một nghiên cứu của
Ủy ban Giáo dục đại học Thái Lan năm 2000 cho thấy đã có hơn 400 thỏa thuận hợp tác giáo dục chính thức được ký giữa các cơ sở giáo dục Hoa Kỳ và Thái Lan,
kể cả khu vực công và tư thục Với mục tiêu xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau giữa công dân các nước thông qua giáo dục, việc tham gia vào đào tạo quốc tế sẽ khuyến khích thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và duy trì các mối quan hệ lâu dài (U.S Fed
News Service, 2005)
Một ví dụ khác đến từ Ấn Độ Việc tiếp thu tinh hoa của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã phát triển nguồn nhân lực Ấn Độ đi vào chiều sâu với nhiều nhà khoa học và nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới (Tillman, 2011; Anon, 2005) Cùng với các thành tựu kinh tế trong thời gian gần đây, Ấn Độ dần trở thành một địa chỉ đào tạo quốc tế tin cậy cho các học giả và sinh viên các nước (kể cả Hoa Kỳ) Một trong những nguyên nhân chính cho sự phát triển này là
Trang 15các chính sách “mở” của Chính phủ về giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác quốc tế
Là một trong những nước hàng đầu về giáo dục, Hoa Kỳ có các trường đại học và cao đẳng nhiều nhất trên thế giới và có hệ thống giáo dục đa dạng nhất thế giới Với nhiều trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ nằm trong tốp xếp hạng 100 trên thế giới, Hoa Kỳ có truyền thống quan tâm các chương trình văn hóa và giáo dục quốc tế Một phần lý do là những chương trình này đóng góp vào việc xây dựng
“thương hiệu” Hoa Kỳ và giúp cho chính sách chính trị của Hoa Kỳ thành công Ngoài ra, các nguồn lực văn hóa, giáo dục và trí thức Hoa Kỳ có thể đóng góp quan trọng vào sự giàu có và tận hưởng cuộc sống của mọi người trên thế giới Hơn nữa, Hoa Kỳ cũng có thể thu hút chất xám và các thành tựu nghệ thuật từ các quốc gia khác Trong bối cảnh này, các chương trình văn hóa và giáo dục quốc tế là công cụ cho chính sách quốc gia của Hoa Kỳ (Mulcahy, 1999) Theo báo cáo hàng năm của Viện Giáo dục quốc tế (Institute of International Education), 582.996 sinh viên quốc
tế đang theo học tại Hoa Kỳ và 154.168 sinh viên Hoa Kỳ đi du học trong hai năm 2001-2002 (Hamilton, 2003) Đến năm học 2011-2012 thì số sinh viên quốc tế đang theo học tại Hoa Kỳ đã lên đến 764.495 người, tăng 5,7% so với năm trước2
Chính quyền của Việt Nam và Hoa Kỳ luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đưa việc phát triển giáo dục tại Việt Nam vào ưu tiên hàng đầu, đặc biệt là khuyến khích gia tăng trao đổi giáo dục giữa hai quốc gia Giáo dục đã và đang trở thành nội dung hợp tác chính giữa hai nước dựa trên nền tảng bạn bè, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau (U.S Embassy Hanoi, 2010; Le, 2011)
Một trong những ví dụ điển hình cho nỗ lực thúc đẩy sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là việc thành lập Nhóm công tác đặc biệt về giáo dục của hai nước (Task Force) vào tháng 06 năm 2008 trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Hoa Kỳ Nhóm công tác đã nhận ra nhu cầu cấp thiết về việc đổi mới toàn diện và sâu rộng hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam, bao gồm những thay đổi cơ bản về cơ chế điều hành quản lý
Trang 16của Chính phủ, quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục, tài chính và quản trị… Điều này đã giúp hai nhân dân quốc gia hiểu nhau hơn và cùng nhau phát triển các thành tựu trong giáo dục (Khang, 2010)
Với dân số trên 86 triệu người, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng (khoảng 2.600 USD/năm), nhu cầu tuyển sinh hàng năm ngày càng tăng (khoảng 10%), khu vực tư nhân và hình thức hợp tác quốc tế ngày càng phát triển (Varghese, 2007) cũng như mối quan tâm lớn về giáo dục của người dân, Việt Nam tạo ra nhiều
cơ hội quý báu cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục của Hoa Kỳ
Năm học 2011-2012, Việt Nam có khoảng 20.000 sinh viên du học nước ngoài, chi phí học tập hơn 200 triệu USD mỗi năm; trong đó, 15.572 sinh viên đang
du học tại Hoa Kỳ Với mức tăng 4,6% năm ngoái, Việt Nam đứng hạng 8 trong số các nước có sinh viên du học và chiếm 2% tổng số sinh viên quốc tế tại Hoa Kỳ3 Đáng chú ý là Việt Nam đang xếp hạng thứ 3 trong số các nước có sinh viên du học tại các trường cao đẳng cộng đồng tại Hoa Kỳ (Commerce Department Documents and Publications, 2010) Điều này cũng tạo nên một thách thức lớn đối với Chính phủ Việt Nam trong việc đổi mới nền giáo dục Việt Nam để tạo môi trường cạnh tranh hấp dẫn, đảm bảo nguồn nhân lực được đào tạo chất lượng và bài bản này quay về phục vụ cho quê hương Việt Nam
Bên cạnh số lượng học bổng du học tại Hoa Kỳ ngày càng tăng, các cơ sở giáo dục của hai nước đã có nhiều chương trình hợp tác đa dạng và phong phú như trao đổi chương trình đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi giảng viên… Hiện tại có khoảng 20 trường đại học Hoa Kỳ triển khai 35 chương trình hợp tác với các trường tại Việt Nam và đạt nhiều kết quả ấn tượng (Trung, 2011) Cùng với các chính sách thúc đẩy mối quan hệ hợp tác song phương và các kết quả đã đạt được, mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã, đang và
sẽ có một triển vọng đầy tươi sáng trong thời gian sắp tới (Khang, 2010; Le, 2011)
1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hợp tác:
Hiệu quả hợp tác luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các bên tham gia đối tác Larimo (2003) đã cho rằng có nhiều tiêu chí đánh giá hiệu quả hợp tác dựa trên
sự thành công hay thất bại Nhóm tiêu chí đầu tiên liên quan đến các số liệu mang
Trang 17tính kinh doanh như doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất thu hồi vốn, thị phần… (Kauser
and Shaw, 2004; Robson et al., 2006) Tuy nhiên, nhóm tiêu chí này rất khó thực
hiện do các số liệu này hầu hết là bí mật kinh doanh, không được công khai
Nhóm tiêu chí tiếp theo đánh giá hiệu quả hợp tác là sự hài lòng của các bên tham gia đối tác Đương nhiên là do sự khác nhau về nền văn hóa, sứ mạng, tầm nhìn, giá trị mà mỗi bên đối tác sẽ có chiến lược khác nhau và có các lĩnh vực cũng như mức độ cần sự hài lòng khác nhau, ví dụ như hài lòng về các tiêu chí liên quan đến các số liệu mang tính kinh doanh (Al-Khalifa and Peterson, 2004); hài lòng về mức độ hoàn thành các mục tiêu riêng (Tiessen and Linton, 2000); hài lòng về mối quan hệ song phương (Kauser and Shaw, 2004); hài lòng về tài sản vô hình (Robson
et al., 2006) và nhiều nội dung khác (Cullen et al., 2000)
Quá trình đánh giá sự hài lòng của các bên hợp tác tương đối đơn giản nhưng
do bản chất chủ quan của việc đánh giá nên kết quả có thể mang tính phiến diện Tuy nhiên, việc đánh giá này cũng giúp ích được ít nhiều cho sự hợp tác của các bên Nếu quan điểm và mức độ hài lòng của các bên mâu thuẫn trực tiếp với nhau thì đó là dấu hiệu cảnh báo cho việc cần thiết thay đổi mục tiêu hợp tác chung Muốn hợp tác thành công thì mục tiêu chung phải tương thích với các bên đối tác
Rất nhiều tài liệu nghiên cứu vai trò của HRM trong các tổ chức nói chung
và các tổ chức mang tính hợp tác nói riêng (Buchel et al., 1998; Buckley et al., 2002; Adobor, 2004; Das, 2005; Neupert et al., 2005…)
Ngoài ra, một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc hợp tác quốc tế là: sự tin
cậy (Quang et al., 1998; Adobor, 2004); sự cam kết (Buchel et al., 1998; Cullen et
al., 2000); thông tin trao đổi (Quang et al., 1998; Adobor, 2004; Neupert et al.,
Trang 182005; Trafford and Proctor, 2006); sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau và lợi thế tương quan (Groot and Merchant, 2000;Yan and Child, 2004; Barden et al., 2005); khoảng cách
văn hóa (Quang et al., 1998; Groot and Merchant, 2000; Larimo, 2003; Neupert et
al., 2005); kỹ năng giải quyết mâu thuẫn (Adobor, 2004; Barden et al., 2005) và
mối quan hệ (Payne, 1993; Park, 2008; Le, 2009)
Nhìn chung, các hình thức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục rất đa dạng và phong phú Nó có thể là một dạng trao đổi học thuật đơn thuần, phi lợi nhuận hoặc cũng có thể là một hình thức của liên doanh liên kết quốc tế (với mục đích lợi nhuận) trong lĩnh vực dịch vụ giáo dục Việc xác định đúng bản chất hợp tác sẽ giúp cho việc điều hành hoạt động hợp tác đi đến thành công; và đương nhiên, có khá nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến từng bản chất hợp tác
Do hình thức đa dạng như trên nên có thể xem giáo dục là một lĩnh vực nhạy cảm khi đề cập đến bản chất Mặc dù cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục hoặc là về hình thức liên doanh liên kết quốc tế, hiện tại vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu bản chất của việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục cũng như các yếu tố tác động đến bản chất đó, bất chấp tầm quan trọng của nó trong thành công của sự hợp tác Như đã đề cập ở Phần mở đầu, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và thế giới phẳng hiện nay, các cơ sở giáo dục tại Việt Nam cần có những chiến lược và chính sách phù hợp cho việc hợp tác với các đối tác Hoa Kỳ, dựa trên bản chất tương ứng, nhằm đảm bảo kết quả hợp tác theo đúng sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của các bên Dựa trên các nghiên cứu lược qua ở phần Cơ sở lý luận này, nhóm tác giả chúng tôi rút ra một mô hình để làm cơ sở nghiên cứu tiếp theo:
Trang 19Hình 1 Mô hình nghiên cứu
BẢN CHẤT
KINH DOANH QUỐC TẾ
HIỆU QUẢ HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM - HOA KỲ
BẢN CHẤT KHÁC
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
1.6 Mô hình nghiên cứu:
BẢN CHẤT GIAO LƯU VĂN HÓA
Trang 20Tóm tắt chương 1:
Phần cơ sở lý luận đã khái quát lý thuyết và các đề tài nghiên cứu có liên quan đến mục tiêu phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế với giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và Hoa Kỳ qua năm tiểu mục:
Các hình thức hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo;
Giáo dục và kinh doanh quốc tế;
Hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ;
Tiêu chí đánh giá hiệu quả hợp tác;
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hợp tác
Dựa trên các tiểu mục này, một mô hình nghiên cứu đã được đúc kết để làm cơ
sở cho phương pháp nghiên cứu tiếp theo: phương pháp định tính bằng cách khảo sát, nghiên cứu thực trạng một số chương trình hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam
và Hoa Kỳ
Trang 21CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC
GIỮA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
2.1 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách khảo sát, nghiên cứu tình huống là một phương pháp được sử dụng khi người khảo sát không có nhiều thông tin và trọng tâm nghiên cứu là một hiện tượng đương thời Yin (1994) xác định có ít nhất bốn ứng dụng khả thi của phương pháp này Thứ nhất là giải thích các mối liên hệ thực tế hàng ngày mà quá phức tạp để khảo sát Thứ hai là mô tả tình hình thực tế đang xảy ra Thứ
ba nó có thể là một công cụ để đánh giá Cuối cùng, phương pháp này dùng để khảo sát các tình huống chưa rõ kết quả Ứng dụng cuối cùng này rất có ích cho việc hình thành một lý thuyết mới (giống như đề tài này) chứ không phải là kiểm định lý thuyết
Với mục tiêu nghiên cứu là đạt được kiến thức và thực tế về mối quan hệ hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và Hoa Kỳ, đề tài này sử dụng phương pháp định tính bằng cách khảo sát, nghiên cứu tình huống ba chương trình hợp tác của ba cơ sở giáo dục tại Việt Nam và các đối tác của họ tại Hoa Kỳ:
1 Chương trình Plus 3 tại Việt Nam dành cho sinh viên ngành kinh doanh và ngành
kỹ thuật trường Pitt (gọi tắt là Plus 3);
2 Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (gọi tắt là FETP);
3 Chương trình liên kết đào tạo Cử nhân Quản trị kinh doanh (gọi tắt là BBA UIS) Các chương trình hợp tác này (được gọi là các trường hợp nghiên cứu trong đề tài này- xem thông tin chung tại Bảng 1) đã được lựa chọn dựa trên các tiêu chí:
Có hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ;
Vừa có trường công lập vừa có trường tư thục;
Hình thức hợp tác không trùng lắp;
Sẵn sàng cho phỏng vấn
Trang 22Bảng 1 Thông tin chung về các trường hợp nghiên cứu
Hình thức hợp tác Môn học tự chọn Giảng dạy kinh tế Đào tạo 2+2
Tên đối tác bên
Việt Nam
Trường Đại học Kinh tế-Tài chính Tp.HCM (UEF)
Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM (UEH)
Trường Đại học Bách khoa Tp.HCM (HCMUT)
Hình thức đối tác
bên Việt Nam
Tư thục Công lập Công lập
Tên đối tác bên
Hoa Kỳ
Trường Đại học Pittsburgh (Pitt)
Trường Harvard Kennedy (HKS)
Trường Đại học Illinois tại Springfield (UIS) Hình thức đối tác
Đề tài kéo dài 15 tháng tại Việt Nam (từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 01 năm 2013) Đầu tiên, nhóm thực hiện đề tài sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp
để thu thập và tổng hợp các lý luận, các tài liệu nghiên cứu trước đây có liên quan đến
đề tài, rút ra mô hình nghiên cứu (Hình 1), từ đó xác định rõ hơn mối quan hệ hợp tác giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và Hoa Kỳ Điều này cũng đã giúp ích cho việc xây dựng bảng phỏng vấn và bộ câu hỏi bao gồm các câu hỏi mở để lấy thông tin và dữ liệu trong sáu lĩnh vực:
Thông tin chung,
Mục tiêu hợp tác,
Trang 23 Tiêu chí thành công và đánh giá,
Bình luận về vấn đề: kinh doanh quốc tế hay trao đổi văn hóa,
Kinh nghiệm và đề xuất,
Thông tin cá nhân của người được phỏng vấn
Nhằm chuẩn bị tốt, đại diện lãnh đạo (Ban Giám hiệu) các trường đã được liên
hệ bằng điện thoại, email hoặc gặp trực tiếp để giới thiệu mục đích đề tài Thư ngỏ (Phụ lục 1 hoặc Phụ lục 2) ghi rõ mục đích đề tài đã được gửi đến ít nhất hai tuần trước khi phỏng vấn kèm theo Bảng thông tin cần thiết cho phỏng vấn (Phụ lục 3 hoặc Phụ lục 4) Khi đó, đại diện lãnh đạo trường đã cho thông tin liên hệ trực tiếp với người phụ trách chương trình, chỉ đạo họ hỗ trợ hết mình và xác nhận thời gian phỏng vấn
Đề tài này có hai hình thức phỏng vấn để thu thập thông tin, số liệu: gặp mặt trực tiếp (7/9 người được phỏng vấn) và trao đổi qua email (2/9 người)
Đối với hình thức gặp mặt trực tiếp, số lượng câu hỏi phỏng vấn thay đổi tùy theo người được phỏng vấn Một số thông tin cá nhân của người được phỏng vấn đã được thu thập vào đầu mỗi buổi phỏng vấn như: họ tên, quốc tịch, chức vụ và bộ phận công tác Số lượng câu hỏi thực tế thay đổi tùy thuộc vào người được phỏng vấn: tập trung nhiều ở cấp quản lý và giảm dần ở cấp thấp hơn (nhân viên) Người phụ trách chính được hỏi tất cả các câu hỏi, đặc biệt là các câu hỏi liên quan đến tiêu chí đánh giá thành công của chương trình hợp tác cũng như mức độ hài lòng của các bên đối tác
vì chỉ họ mới có thẩm quyền và khả năng trả lời các câu hỏi đó Những người còn lại được hỏi các câu hỏi có liên quan
Các buổi phỏng vấn trực tiếp được thực hiện tại phòng làm việc của người được phỏng vấn trung bình từ 60 đến 90 phút bằng tiếng Việt (đối với người có quốc tịch Việt Nam) hoặc tiếng Anh (đối với người có quốc tịch Hoa Kỳ) Các thông tin thu thập được ghi biên bản chi tiết, một số buổi được ghi âm với sự đồng ý của người được phỏng vấn Việc quay phim hoặc ghi âm khi phỏng vấn tại Việt Nam ít khi được sử dụng vì nó không tạo sự thoải mái cho người được phỏng vấn và ảnh hưởng đến việc sẵn lòng cung cấp thông tin của họ Để loại bỏ khả năng diễn dịch sai ý do rào cản
Trang 24ngôn ngữ khi phỏng vấn bằng tiếng Anh, các câu hỏi khó đã được diễn giải dưới nhiều câu hỏi khác nhau để xác định đúng ý tưởng và thông tin ghi nhận Tất cả thông tin, dữ liệu được hỏi lại người được phỏng vấn để xác nhận vào cuối buổi phỏng vấn
Đối với hình thức trao đổi qua email do khoảng cách địa lý quá xa (họ đang ở Hoa Kỳ), những người được phỏng vấn trả lời các câu hỏi và thông tin yêu cầu trong Bảng thông tin cần thiết cho phỏng vấn, sau đó gửi email lại cho nhóm thực hiện đề tài Họ tiếp tục được liên hệ qua email từ một đến hai lần nữa để cập nhật, hoàn chỉnh
và xác nhận thông tin
Các câu hỏi liên tục được cập nhật từ các ý tưởng và thông tin ghi nhận từ các buổi phỏng vấn trước Mỗi khi phát sinh câu hỏi mới được cập nhật có liên quan thì những người được phỏng vấn trước đó sẽ được liên hệ qua điện thoại hoặc email để ghi nhận thông tin trả lời các câu hỏi mới
Tất cả các người được phỏng vấn đều đang công tác, hiểu biết rõ về chương trình hợp tác và có kinh nghiệm ít nhiều trong lĩnh vực hợp tác đào tạo quốc tế Giá trị của của các buổi phỏng vấn phụ thuộc vào sự sẵn lòng cung cấp quan điểm và thông tin, dữ liệu đầy đủ, rõ ràng và chính xác cũng như khả năng hiểu rõ vấn đề của người được phỏng vấn Thông tin thu thập được dùng để viết thành các trường hợp nghiên cứu Sau khi hoàn thành, từng trường hợp nghiên cứu được gửi cho người phụ trách chính chương trình hợp tác của các cơ sở giáo dục để đảm bảo thông tin được ghi nhận chính xác và cập nhật Sau đó, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để kết hợp lý luận và thực tiễn trả lời các câu hỏi nghiên cứu thực hiện đề tài này
Nhằm khẳng định sự tin cậy và giá trị của đề tài, hai hình thức đối chiếu đã được áp dụng: đối chiếu phương pháp và đối chiếu dữ liệu
Đối chiếu phương pháp sử dụng nhiều phương pháp thu thập dữ liệu như: phỏng vấn chi tiết, quan sát, phân tích tài liệu bên trong lẫn bên ngoài đơn vị Tài liệu bên trong bao gồm các báo cáo định kỳ, các văn bản chính sách, quy định Tài liệu bên ngoài là những tài liệu đã được công bố như tin tức, thông báo cũng như các số liệu và thông tin từ các cơ quan chính phủ, các website có
Trang 25liên quan Trụ sở chính và trụ sở tổ chức thực hiện chương trình hợp tác của các
cơ sở giáo dục cũng đã được tham quan để tiến hành phỏng vấn và quan sát
Đối chiếu dữ liệu sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, kéo dài trong 15 tháng (từ tháng 11/2011 đến tháng 01/2013) và có nhiều buổi phỏng vấn chi tiết qua gặp mặt trực tiếp hoặc email Thông tin đã được cập nhật liên tục và kiểm tra chéo từ nhiều nguồn trong mỗi trường hợp nghiên cứu như kết hợp phỏng vấn nhiều cá nhân, phỏng vấn đại diện cả hai bên Việt Nam và Hoa Kỳ
2.2 Một số chương trình hợp tác:
2.2.1 Chương trình Plus 3 tại Việt Nam dành cho sinh viên ngành kinh doanh
và ngành kỹ thuật trường Pitt (Plus 3)
A- Giới thiệu chung
Chương trình này là một môn học tự chọn 03 tín chỉ, với cơ hội đi học tại nước ngoài dành cho sinh viên năm thứ hai và thứ ba ngành kinh doanh (môn Quản trị trong môi trường phức hợp- Managing in Complex Environments) và ngành kỹ thuật (môn Nhập môn Phân tích kỹ thuật- Introduction to Engineering Analysis) của trường Đại học Pittsburgh- Hoa Kỳ (Pitt)4
Trường Đại học Pittsburgh (Pitt), tọa lạc tại thành phố Pittsburgh (bang Pennsylvania, Hoa Kỳ), là một đại học công lập có danh tiếng thuộc 100 trường đại học hàng đầu nước Mỹ Được xây dựng từ năm 1787, Pitt đã có 225 năm hoạt động với các thành tích về chất lượng giảng dạy và học tập hiện đại tại Hoa Kỳ, đào tạo tất cả các ngành nghề y, luật, kinh tế, công nghệ, và khoa học
xã hội Pitt được kiểm định bởi Hội đồng giáo dục đại học vùng Trung Mỹ (Middle States Commission of Higher Education, viết tắt là MSCHE), cùng nhiều tổ chức kiểm định chuyên ngành khác cho các ngành
Môn học bao gồm những buổi huấn luyện trước chuyến đi, một chuyến đi nước ngoài bắt buộc và một tiểu luận nghiên cứu Chương trình này được thiết kế nhằm phát
Trang 26triển kịp thời sở thích trong kinh doanh quốc tế, giúp ích cho sự nghiệp tương lai của sinh viên và định hướng cho việc lựa chọn các chương trình và môn học phù hợp
Sau khi kết hợp với sinh viên ngành kỹ thuật từ năm 2004, chương trình đã có hơn 200 sinh viên Pitt tham gia Sinh viên Pitt đã cùng với sinh viên tại một vài nước tiếp nhận thực hiện những dự án chung Các dự án này tập trung vào việc phân tích một doanh nghiệp và ngành công nghiệp toàn cầu mà doanh nghiệp đó đang hoạt động Khi quay về nước, các nhóm sinh viên phải viết tiểu luận nghiên cứu về dự án và trình bày trước các giảng viên và sinh viên của hai trường kinh doanh và kỹ thuật
Chương trình này được kết nối trực tiếp đến ba trong bốn Trung tâm Tài nguyên quốc gia của Pitt (Trung tâm nghiên cứu châu Âu, Trung tâm nghiên cứu châu Mỹ latinh và Trung tâm nghiên cứu châu Á) và sử dụng tối đa nguồn lực dồi dào hiện có của các trung tâm này
Bắt đầu từ năm 2002 với những chương trình đến với khu vực Đông và Tây Âu (Séc và Đức), chương trình đã được mở rộng sang khu vực Mỹ latinh năm 2003 (Chi Lê) và khu vực châu Á năm 2004 (Trung Quốc) Sau này, chương trình bổ sung thêm Pháp, Braxin và Việt Nam (năm 2009) Hiện nay, chương trình bao gồm 04 quốc gia: Chi Lê, Đức, Trung Quốc và Việt Nam
Từ năm 2009, Trường Đại học Kinh tế-Tài chính thành phố Hồ Chí Minh (UEF) đã trở thành đối tác hợp tác duy nhất của trường Đại học Pittsburgh tổ chức chương trình Plus 3 hàng năm tại Việt Nam5
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh (UEF) là một trường đại học tư thục của Việt Nam với sứ mạng đào tạo chất lượng cao, bắt đầu hoạt động vào năm 2008 UEF hướng đến các chuẩn mực quốc tế, phấn đấu trở thành một trường đại học hàng đầu Việt Nam, phát triển bền vững cùng tiến trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu của đất nước UEF là trường đại học đầu tiên tại Việt Nam là thành viên chính thức của AACSB6 Mục tiêu cao nhất của UEF là xây dựng một trường đại học tiên tiến, trong đó công tác đào tạo được hỗ trợ tích cực bởi các hoạt động khoa học công nghệ và quan hệ quốc tế, nhằm đóng góp
Trang 27vào việc đào tạo nhân lực và chuyển giao các thành quả nghiên cứu khoa học ứng dụng vào các hoạt động thực tiễn của thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước Tầm nhìn đến năm 2020 của UEF là trở thành một trung tâm giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học kinh tế hiện đại, cung cấp những sản phẩm trí tuệ đáp ứng mong mỏi ngày càng cao của xã hội trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế
Chương trình Plus 3 tại Việt Nam thường diễn ra trong hai tuần vào tháng 5 hàng năm với sự tham gia của 10-15 sinh viên, 01 giáo sư và 01 trợ lý từ Pitt Mục tiêu chính là giới thiệu cho sinh viên ngành kinh doanh và ngành kỹ thuật của Pitt biết đến nền văn hóa và nền kinh tế của Việt Nam; tăng cường nhận thức và sự hiểu biết văn hóa lẫn nhau giữa sinh viên Hoa Kỳ và sinh viên Việt Nam thông qua các hoạt động ngoại giao và thương mại quốc tế giữa hai nước Plus 3 còn là cơ hội nâng cao khả năng hội nhập quốc tế cho UEF nói chung và sinh viên UEF nói riêng
Thực hiện mục tiêu này, UEF hỗ trợ Pitt xây dựng nội dung giảng dạy về ngôn ngữ tiếng Việt, lịch sử, văn hóa Việt Nam, kết hợp với các hoạt động giao lưu ngoại khóa khác, như tham quan các công ty, tập đoàn có những hoạt động nổi bật trong nhiều lĩnh vực tại Việt Nam, tham quan các di tích lịch sử cũng như các địa điểm du lịch của thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) và các tỉnh lân cận
Năm 2012, ngoài việc tổ chức các lớp học tiếng Việt và lịch sử, văn hóa như các năm trước, chương trình Plus 3 lần thứ 4 đã tổ chức cho sinh viên Pitt tham quan,
dự những buổi hội thảo giới thiệu tại công ty cổ phần cảng Cát Lái thuộc tổng công ty Tân cảng Sài Gòn, khu công nghiệp VSIP, công ty TMA Solutions, tập đoàn Phú Mỹ Hưng, đi tham quan Tây Ninh, Củ Chi, Vũng Tàu Bên cạnh đó, sinh viên Pitt có một chuyến đi tham quan và được giới thiệu về các địa điểm đóng vai trò quan trọng đối với văn hóa và sự phát triển của TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung như: Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Dinh Độc lập, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện thành phố, chợ Bến Thành, chùa Vĩnh Nghiêm Quy mô Plus 3 ngày càng được mở rộng qua các năm với sự tham gia của sinh viên UEF trong suốt chương trình cùng với các buổi giao lưu văn nghệ và thể thao với sinh viên UEF được tổ chức bài bản hơn
Trang 28B- Tiêu chí đánh giá kết quả và sự hài lòng của việc hợp tác
Plus 3 là một môn học nên kết quả học tập của sinh viên là tiêu chí đánh giá hàng đầu của sự thành công chương trình Giáo sư David Berman, Giám đốc chương trình Plus 3 Việt Nam trong suốt bốn năm tổ chức, đánh giá kết quả học tập của sinh viên Pitt thông qua các bài nhật ký trong hai tuần ở Việt Nam và các bài tập tiểu luận khác Chương trình cũng có bản thu thập ý kiến phản hồi sự hài lòng của sinh viên Pitt
và UEF về chất lượng chuyên môn cũng như công tác tổ chức
Thông tin phản hồi từ sinh viên tham gia chương trình qua các năm cho thấy, Plus 3 đã giúp cho sinh viên Pitt một cái nhìn tổng quát về văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ Việt Nam cũng như giúp sinh viên hiểu biết về hoạt động chung của các doanh nghiệp Việt Nam Một sinh viên Pitt tham gia Plus 3 năm 2011 đã tâm sự7: “Tôi chưa bao giờ được học hỏi nhiều như thế trong thời gian hai tuần tôi tham gia Plus 3 tại Việt Nam Tôi đã gặp những con người thú vị, học một ngôn ngữ mới và thấy nhiều điều chưa từng trải qua Việt Nam là một kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời tôi” Hailee Kulich, sinh viên Pitt tham gia Plus 3 năm 2012, cũng chia sẻ: “Tôi nghĩ một trong những kết quả tốt đẹp nhất của chương trình này là sự hiểu biết về con người sống tại Việt Nam Tôi bắt đầu nhận ra rằng mặc dù chúng ta sống xa nhau gần 9,000 dặm và
từ hai nền văn hóa khác nhau hoàn toàn nhưng sinh viên UEF và Pitt không hoàn toàn khác nhau.”
Đối với UEF, tiêu chí đánh giá thành công là khả năng duy trì hợp tác lâu dài, đối tác không than phiền và sự phản hồi tích cực từ sinh viên hai phía Xét theo tiêu chí này thì Plus 3 đã được triển khai thành công, đạt được sự hài lòng từ hai phía tham gia và có thể duy trì sự hợp tác này trong tương lai sau khi đã duy trì trong 04 năm với những kết quả khả quan và sẽ còn tiếp tục được phát triển Ý kiến phản hồi từ tất cả sinh viên Pitt và UEF tham gia chương trình đều rất tích cực và có nguyện vọng duy trì chương trình
Nhìn chung, lãnh đạo Pitt và UEF đều rất hài lòng với sự hợp tác này và hy vọng chương trình sẽ tiếp tục duy trì trong những năm sắp tới Ngoài ra, họ còn đang
Trang 29xem xét khả năng mở rộng sự hợp tác lên một tầm cao mới, trong đó có chương trình trao đổi sinh viên trong một học kỳ
C- Bản chất của việc hợp tác và các yếu tố tác động
i Bản chất chính của việc hợp tác hiện tại và lâu dài:
Đối với Pitt, do mục tiêu chính là giới thiệu cho sinh viên ngành kinh doanh và ngành kỹ thuật của Pitt biết đến nền văn hóa và nền kinh tế của Việt Nam; tăng cường nhận thức và sự hiểu biết văn hóa lẫn nhau giữa sinh viên Hoa Kỳ và sinh viên Việt Nam thông qua các hoạt động ngoại giao và thương mại quốc tế giữa hai nước nên đại diện Pitt khẳng định bản chất chính của việc hợp tác này là giao lưu, trao đổi văn hóa Ngoài việc được tham quan một số doanh nghiệp và di tích văn hóa nổi tiếng của một đất nước xinh đẹp, Pitt đã phối hợp với UEF tạo điều kiện cho sinh viên hai trường phát triển tình hữu nghị và giao lưu văn hóa một cách trực tiếp- giữa những người cùng lứa tuổi và cùng chí hướng Đó là những trải nghiệm tuyệt vời cho sinh viên hai trường Sau khi kết thúc chương trình, nhiều sinh viên vẫn còn tiếp tục duy trì tình bạn thông qua Skype, Facebook và các mạng xã hội khác
Sinh viên Pitt chỉ phải chi trả các chi phí tối thiểu để tham gia chương trình Trung bình hàng năm, mỗi sinh viên Pitt đóng 3.500 USD, trong đó một phần được chuyển cho UEF chi trả các khoản dịch vụ ăn, ở, đi lại, thuê mướn giảng viên… Cho nên, Plus 3 không mang tính kinh doanh, không đem lại lợi nhuận kinh tế cho Pitt và UEF Đây thật sự là điều tốt cho sự hợp tác này vì đó chính là mục tiêu của Plus 3
Trong khi đó, đối với UEF, Plus 3 còn là cơ hội nâng cao khả năng hội nhập quốc tế cho UEF nói chung và sinh viên UEF nói riêng Vì vậy, UEF đã chủ động tự túc kinh phí trong các khoản tổ chức giao lưu văn hóa-thể thao cho sinh viên hai trường và chi phí đội ngũ nhân viên điều hành, phục vụ nhằm hỗ trợ Plus 3 đi đến thành công cao nhất cũng như giúp cho sinh viên UEF tham gia miễn phí chương trình.Tất cả những hoạt động diễn ra xuyên suốt chương trình đều không vì mục đích kinh doanh, tuân thủ đúng với quan điểm xây dựng và phát triển của UEF: “Chất lượng- Hiệu quả- Hội nhập- Không vụ lợi”
Trang 30Bảng 2 Mục tiêu của các bên đối tác của Plus 3
Chung 1 Tăng cường nhận thức và sự hiểu biết văn hóa lẫn nhau giữa sinh
viên Hoa Kỳ và sinh viên Việt Nam thông qua các hoạt động ngoại giao và thương mại quốc tế giữa hai nước;
2 Phát triển tình hữu nghị và giao lưu văn hóa một cách trực tiếp giữa những người cùng lứa tuổi và cùng chí hướng;
3 Khai thác và học hỏi thế mạnh của đối tác -> Học hỏi để hợp tác
và hợp tác để học hỏi8
Riêng Giới thiệu cho sinh viên ngành
kinh doanh và ngành kỹ thuật của Pitt biết đến nền văn hóa và nền kinh tế của Việt Nam
Cơ hội nâng cao khả năng hội nhập quốc tế cho UEF nói chung và sinh viên UEF nói riêng
Về lâu dài, đại diện hai bên cho rằng, sự hợp tác giữa Pitt và UEF vẫn nên duy trì bản chất giao lưu văn hóa Mặc dù mang tên là “văn hóa” nhưng thật ra bản chất này đã tạo nên sự cân bằng giữa việc dẫn dắt sinh viên vào thế giới kinh doanh và việc tạo cơ hội khám phá một nền văn hóa Họ tin rằng việc giao lưu, trao đổi các quan điểm và suy nghĩ về văn hóa là thật sự cần thiết trong nền kinh tế năng động toàn cầu ngày nay Nếu không có sự hiểu biết về những đối tác kinh doanh thì hai bên sẽ không thể đạt được kết quả cùng nhau có lợi Thông qua giao tiếp văn hóa, họ tin rằng sinh viên không những học tập được trong môi trường học thuật thuần túy mà còn học hỏi được thực tế thông qua những trải nghiệm cuộc sống tại các nước khác Một ý kiến khác cho rằng, nhằm duy trì chương trình dài lâu và nâng cao giá trị lợi ích cho cả hai bên hợp tác tổ chức thì cần phải tạo lợi nhuận kinh tế từ chương trình Tuy nhiên, không vì thế mà thương mại hóa chương trình, các khoản lợi nhuận này phải được dùng để đầu tư nâng cao chất lượng, tăng cường quảng bá chương trình, xây dựng quỹ
dự phòng hỗ trợ cho các sinh viên có hoàn cảnh tài chính khó khăn muốn tham gia
Trang 31chương trình… Tất cả đều vì mục đích “không vụ lợi”, giúp cho nhiều sinh viên Pitt chọn Việt Nam (và UEF) làm điểm đến cho Plus 3 và cũng như tạo cơ hội cho sinh viên UEF được tham gia chương trình tương tự tại Pitt
ii Các yếu tố tác động đến hiệu quả của bản chất hợp tác:
Có khá nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả của bản chất hợp tác chương trình Plus 3 Việt Nam Nhóm yếu tố được những người trả lời phỏng vấn cho rằng mức độ ảnh hưởng hiện tại là cao và cũng nên có mức độ ảnh hưởng tối ưu là cao để đảm bảo hiệu quả của sự hợp tác; bao gồm năm yếu tố: Khoảng cách văn hóa, Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, Sự cam kết, Sự tin cậy và Thông tin trao đổi
Yếu tố đầu tiên là khoảng cách văn hóa (cultural distance) Như đã giới thiệu ở phần trên, bản chất chính của việc hợp tác này là giao lưu, trao đổi văn hóa; cho nên, điều vô cùng quan trọng đối với sinh viên, những chủ thể của chương trình, là phải trải nghiệm một nền văn hóa có những khái niệm và lý luận khác biệt với Hoa Kỳ Việt Nam chính là một điểm đến lý tưởng cho sinh viên Hoa Kỳ có cơ hội khám phá những
sự khác biệt về văn hóa một cách rõ nét Khi giới trẻ đã có nhiều kinh nghiệm sống và học tập trong môi trường quốc tế thì họ sẽ dễ dàng thành công hơn khi bước vào giai đoạn làm việc cạnh tranh đầy khốc liệt và đa văn hóa sau này
Đối với những sự hợp tác có khoảng cách văn hóa như vậy, một trong những yếu tố cần lưu ý chính là kỹ năng và phương pháp giải quyết mâu thuẫn (conflict resolution techniques) Mặc dù hiện nay các đối tác của chương trình Plus 3 Việt Nam không có mâu thuẫn với nhau nhưng các nhân sự tham gia trực tiếp điều hành chương trình lúc nào cũng tập trung cao độ để phòng ngừa mâu thuẫn và giải quyết dứt điểm ngay khi có vấn đề phát sinh với nhiều ý kiến khác biệt Một người được phỏng vấn cho rằng có sự khác biệt phương pháp giải quyết mâu thuẫn giữa các nước phương Tây
và Việt Nam Ở các nước phương Tây, giải quyết mâu thuẫn dựa trên công việc bất chấp mối quan hệ cá nhân; trong khi ở Việt Nam giải quyết mâu thuẫn dựa trên mối quan hệ cá nhân là chính, làm cho hiệu quả công việc không cao
Theo các chuyên gia được phỏng vấn, ba yếu tố cần thiết nhất quyết định thành công của bất cứ chương trình hợp tác nào; đó là: Sự cam kết, Sự tin cậy và Thông tin
Trang 32trao đổi Tuy là ba yếu tố khác nhau nhưng ba yếu tố này có sự liên hệ mật thiết, phụ thuộc và tác động lẫn nhau
Đầu tiên là sự tin tưởng (trust) Các chương trình hợp tác nên được xây dựng, phát triển từ niềm tin của hai bên đối tác Trong quá trình hợp tác, không tránh khỏi những bất đồng và vì trở ngại về văn hóa, địa lý, hai bên cần xây dựng sự tin tưởng để
có thể giải quyết các vấn đề nảy sinh khi không thể bàn bạc, thảo luận trực tiếp Plus 3 Việt Nam được hình thành dựa trên yếu tố tin tưởng này và đây cũng là đặc thù của chương trình Đại diện Pitt khẳng định rằng: “Một yếu tố quan trọng của sự hợp tác này là chúng tôi tin tưởng UEF có thể quản lý tốt công tác chuẩn bị và hỗ trợ cho chương trình đào tạo của chúng tôi Đây là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của Plus 3 Việt Nam” Một sự thật không thể chối cãi là nếu Pitt không tin tưởng vào UEF thì Pitt hoàn toàn có thể hợp tác thực hiện Plus 3 Việt Nam với một đơn vị, tổ chức khác thay vì UEF Ngược lại, chính tinh thần trách nhiệm cao và sự tin tưởng của UEF vào Pitt đã khiến cho UEF cố gắng hết sức mình để không làm phụ lòng tin tưởng của Pitt, đưa Plus 3 Việt Nam đến thành công chung
Sự cam kết (commitment) cũng là yếu tố quyết định việc duy trì chương trình
Sự cam kết càng vững chắc, chương trình hợp tác sẽ được duy trì lâu hơn, chất lượng hơn Plus 3 Việt Nam không cần phải có một hợp đồng hay thỏa thuận bằng văn bản chính thức được ký kết bởi hai bên- điều mang nặng tính pháp lý sẽ khiến cho các bên không hoàn toàn thoải mái khi hợp tác Pitt và UEF đã cử ra những người quản lý và chuyên viên tốt nhất cũng như rất quan tâm đến kết quả thực hiện chương trình Đó chính là sự cam kết thực tế nhất của hai bên đối tác
Việc xây dựng một chương trình hợp tác cho hai trường cần có thông tin (information) cập nhật chính xác và chính thức từ hai bên đối tác nhằm cho ra đời một chương trình mang tính hiệu quả cao Việc hai bên đề cao trao đổi thông tin cũng là minh chứng cho một mối quan hệ tốt Họ đã thường xuyên trao đổi thông tin qua email hoặc thông qua những chuyến công du sang Việt Nam của Giáo sư David Berman, Giám đốc chương trình Plus 3 Việt Nam trong suốt bốn năm tổ chức
Trang 33Bảng 3 Đánh giá của những người được phỏng vấn của Plus 3
X : Mức độ ảnh hưởng tối ưu của yếu tố
Trang 34Nhóm yếu tố được những người trả lời phỏng vấn cho rằng mức độ ảnh hưởng hiện tại là trung bình; tuy nhiên, các bên đối tác cần cố gắng đạt mức độ ảnh hưởng tối
ưu là cao để đảm bảo hiệu quả của sự hợp tác; bao gồm bốn yếu tố: Sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau; Quản trị nhân sự thực hiện; Mối quan hệ; và Kỹ năng giao tiếp
Do khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia rất xa nhau cũng như những khác biệt
về văn hóa, các phía đối tác cần có sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau (interdependence) Các quyết định phải đưa ra chính xác đúng thời điểm và khai thác, phát huy triệt để lợi thế của các bên để có thể hoàn thành tốt các kế hoạch hợp tác, tránh để xảy ra những thiếu sót do không có phối hợp kịp thời Pitt đã nhận định đúng và sử dụng hiệu quả lợi thế của UEF để cùng phối hợp xây dựng chương trình hợp lý và vận hành công tác tổ chức đúng mục tiêu, đảm bảo an toàn và sức khỏe của sinh viên Pitt ở nước ngoài Tuy nhiên, sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau trong Plus 3 Việt Nam vẫn còn ở mức trung bình do chỉ mang tính một chiều UEF vẫn còn phụ thuộc vào đối tác, vẫn còn bị động trong việc phối hợp tổ chức Có ý kiến cho rằng sẽ là lý tưởng hơn nếu sinh viên UEF có thể đến Pitt tham gia một chương trình Plus 3 tương tự Khi đó, sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau giữa hai đối tác sẽ đạt được mức cao
Quản trị nhân sự thực hiện (human resource management), mối quan hệ (relationship) và kỹ năng giao tiếp (communication skill) có mối liên hệ mật thiết với nhau và cùng ảnh hưởng đến hiệu quả hợp tác của Plus 3 Việt Nam Xuất phát từ mối quan hệ cá nhân của Giáo sư David Berman và Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh (Trưởng Phòng Quản lý khoa học và Quan hệ quốc tế UEF), Pitt và UEF đã xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp cùng nhau hợp tác thực hiện Plus 3 Việt Nam Từ đó, hai bên đã hình thành đội ngũ nhân sự thực hiện chương trình dưới sự lãnh đạo trực tiếp của GS Berman và
TS Phương Anh Một trong những kỹ năng thiết yếu trong quản trị nhân sự thực hiện chính là kỹ năng giao tiếp Từng nhân sự phải thật sự chú trọng kỹ năng giao tiếp, tránh làm hỏng mối quan hệ tốt đẹp của hai bên, vì khi mối quan hệ xấu đi cũng đồng nghĩa với việc phối hợp tổ chức thực hiện chương trình có khả năng không đạt như mong muốn; khi đó, hai bên sẽ xem xét khả năng duy trì và phát triển hợp tác
Đối với Plus 3 Việt Nam, các yếu tố này hiện tại đang có mức trung bình và do tầm quan trọng của chúng nên cần được cải thiện đến mức cao hơn trong tương lai
Trang 35Muốn có quan hệ quốc tế cho tổ chức thì cần phải có mối quan hệ cá nhân sẵn có với nước ngoài Điều gì sẽ xảy ra nếu GS Berman hoặc/và TS Phương Anh không tiếp tục tham gia chương trình các năm sau? Liệu Pitt và UEF có thể xây dựng một hoặc vài mối quan hệ cá nhân khác để làm nền tảng cho việc duy trì và phát triển mối quan
hệ của hai bên không? Trong khi đó, cần có nhiều thời gian mới có thể phát triển được trình độ nhân sự thực hiện và rất khó để tuyển dụng được ngay từ đầu những người có trình độ cao, kinh nghiệm dày dạn và kỹ năng giao tiếp tuyệt vời Plus 3 Việt Nam vẫn còn một vài trục trặc nhỏ trong quá trình thực hiện bốn năm vừa qua do nhân sự trực tiếp thực hiện chương trình mặc dù rất nhiệt tình nhưng còn trẻ, chưa có kinh nghiệm
và kỹ năng giao tiếp tốt; đặc biệt là thường xuyên thay đổi do phân công công tác của lãnh đạo hoặc nghỉ việc theo nguyện vọng cá nhân
Do mối quan hệ tốt đẹp với nhau và hai bên đều xác định Plus 3 Việt Nam không mang tính kinh doanh, không đem lại cho Pitt và UEF lợi nhuận kinh tế cũng như các tranh chấp khác cho nên yếu tố lợi thế tương quan (bargaining power) chỉ có mức ảnh hưởng thấp trong sự hợp tác của hai bên Các ý kiến đều cho rằng, trong tương lai, lợi thế tương quan cũng chỉ cần ở mức độ trung bình trong quan hệ hợp tác giữa hai bên
D- Một số vấn đề cần lưu ý khác
Từ bài học thành công của Plus 3 Việt Nam như đã nêu trên, để đưa sự hợp tác
đi đến thành công chung, theo các chuyên gia được phỏng vấn, các cơ sở giáo dục Hoa
Kỳ và Việt Nam cần chú ý thêm một số vấn đề chính khác như sau:
Các nước Hoa Kỳ, Australia, Canada đều có chính sách lớn giống nhau: đưa sinh viên ra quốc tế là một phần trong chương trình đào tạo Tuy nhiên chính sách này được đưa ra với mục đích nâng cao khả năng hội nhập, tìm hiểu thị trường chứ không phải gửi một sinh viên đi để thu hút nhiều sinh viên khác về Hoa Kỳ có chiến lược tầm xa hơn dựa trên ngành học và các học bổng nhằm thu hút chất xám của các nước nghèo Tuy nhiên, một chương trình hợp tác quốc tế chỉ tập trung vào trao đổi văn hóa thì vẫn chưa tốt, hoạt động cần phải có giá trị
Trang 36thặng dư và nếu mục tiêu chỉ vì kinh doanh cũng không nên, kinh doanh phải có đạo đức và phải có tầm nhìn xa
Sự thành công của các chương trình hợp tác thường được xây dựng dựa trên mối quan hệ tốt đẹp lâu dài giữa các cá nhân là giảng viên, cán bộ quản lý của các trường tham gia hợp tác
Từ công tác chuẩn bị đến công tác xúc tiến thực hiện đều phải rõ ràng, minh bạch từng chi tiết và phải thông báo nhanh chóng, kịp thời các tiến độ, các thay đổi, cập nhật cho phía đối tác Hai bên phải thống nhất ý kiến trong mọi hoạt động liên quan đến chương trình
Nhân sự làm công tác quan hệ quốc tế phải có trình độ tiếng Anh tốt và có kỹ năng giao tiếp, kinh nghiệm quốc tế (sống, học tập, làm việc, tham gia tổ chức hội nghị, dự án… trong môi trường học thuật)
2.2.2 Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP)
A- Giới thiệu chung
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (Fulbright Economics Teaching Program- FETP) được thành lập năm 1994 từ sự phối hợp giữa Hội đồng các Tổ chức Học thuật Hoa Kỳ (ACLS), Chương trình Việt Nam thuộc Viện Phát triển Quốc tế Harvard (HIID) và Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) như
là một công trình tiên phong về hợp tác giáo dục ở Việt Nam Vào tháng 7 năm 2000, sau khi Viện Phát triển Quốc tế Harvard giải thể, Chương trình Việt Nam chuyển sang Trung tâm Doanh nghiệp và Chính phủ (CBG) thuộc Trường Harvard Kennedy (Hoa Kỳ)9
Trường Harvard Kennedy (HKS)10
là trường chuyên đào tạo chính sách công trực thuộc trường Đại học Harvard (Hoa Kỳ) Ý tưởng thành lập một trường đào tạo chính sách công tại Harvard được thực hiện từ giữa cuộc Đại suy thoái và ngay trước Thế chiến thứ hai Sau hơn bảy thập kỷ hoạt động, HKS đã khẳng định vị thế của mình, trở thành
Trang 37một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội lớn nhất thế giới với 15 viện, trung tâm nghiên cứu và hơn 30 chương trình đào tạo cử nhân và tại chức trên toàn thế giới Hơn 46,000 người tốt nghiệp HKS đang làm việc ở khắp các khu vực công, tư và phi lợi nhuận tại 200 quốc gia và vùng lãnh thổ
Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (UEH)11 được thành lập vào năm 1996 trên cơ sở hợp nhất Trường Đại học Kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính- Kế toán thành phố Hồ Chí Minh và Khoa Kinh tế thuộc Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh UEH là một trường đại học công lập, đa ngành, với nhiều bậc, hệ đào tạo đa dạng, có số lượng người học thuộc các bậc, hệ đào tạo, từ Cử nhân đến Thạc sĩ, Tiến sĩ được coi là lớn nhất nước (hàng năm khoảng trên 50.000) Mục tiêu của UEH là đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp cho xã hội các nhà hoạch định chính sách kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp và các chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực kinh tế - quản trị kinh doanh; nghiên cứu khoa học nhằm tham gia giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước; đồng thời bổ sung, phát triển lý luận về kinh tế trong điều kiện Việt Nam Hiện nay, UEH là một trong 14 trường đại học trọng điểm của quốc gia
Sứ mạng bao quát những hoạt động của FETP là giúp ươm dưỡng chính sách và
sự cải cách kinh tế vững chắc ở Việt Nam thông qua nâng cao chất lượng hiểu biết và phân tích chính sách công Sứ mạng này được hoàn thành thông qua ba sáng kiến giáo dục hàng đầu:
Chương trình Thạc sĩ hai năm về chính sách công (MPP) Mục tiêu của chương trình là xây dựng nền tảng tư duy vững mạnh về năng lực phân tích chính sách, quản lý và lãnh đạo cho các nhà chuyên môn ở Việt Nam
Các khóa đào tạo cao cấp dành cho các nhà hoạch định chính sách cấp cao về quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu theo góc độ kinh tế và pháp lý
Các khóa chuyên ngành ngắn hạn tập trung vào những lĩnh vực chủ chốt phù hợp với sự phát triển của Việt Nam như kinh tế, tài chính và luật
Trang 38Tất cả những sáng kiến này phụ thuộc vào hoạt động nghiên cứu liên tục với chất lượng cao nhằm đảm bảo đề cương giảng dạy luôn phù hợp với điều kiện kinh tế không ngừng biến chuyển của Việt Nam Nỗ lực phát triển đề cương giảng dạy không phải là đặc tính duy nhất của chương trình; tình huống nghiên cứu được soạn thảo cho một khóa đào tạo đặc biệt dành cho các cán bộ cấp cao hiện là nền tảng của một môn nghiên cứu mới trong chương trình chính khóa một năm về kinh tế ứng dụng và chính sách công Hình thức bổ trợ chéo này rất quan trọng đối với sự thành công trong các chương trình đào tạo
Ngân sách hoạt động chính của chương trình do Vụ Văn hóa và Giáo dục, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ Chương trình hoạt động theo những nguyên tắc quản trị làm tiền đề cho sự ưu việt, đó là tính tự chủ, chân giá trị, trách nhiệm giải trình và chuẩn mực cao Đội ngũ giảng viên Việt Nam và quốc tế của Trường vừa hiểu biết sâu sắc về Việt Nam vừa kết nối sự hiểu biết này với các xu thế toàn cầu và khu vực Thông qua Quỹ Rajawali Institute dành cho châu Á của Trường Harvard Kennedy, Chương trình được liên kết với Trung tâm Ash, một tổ chức hàng đầu về nghiên cứu
và thúc đẩy hoạt động đổi mới cách tân trong chính phủ và lãnh đạo công Các giảng viên của FETP dựa vào những nghiên cứu chính sách mới nhất và mạng lưới lãnh đạo toàn cầu của Trung tâm Ash để đưa ra những kinh nghiệm so sánh với các vấn đề chính sách của Việt Nam
B- Tiêu chí đánh giá kết quả và sự hài lòng của việc hợp tác
Khi Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới, số người tiếp cận với kinh tế học chưa nhiều nên Chính phủ Việt Nam có chủ trương tìm kiếm các mối quan hệ quốc tế nhằm hợp tác hữu hiệu lĩnh vực kinh tế học, hỗ trợ sự phát triển của ngành kinh tế học tại Việt Nam và hỗ trợ quá trình đổi mới, phát triển của Việt Nam
Vì vậy đối với UEH, tiêu chí đánh giá thành công là sự hài lòng của người học;
sự hài lòng của các cơ quan tuyển dụng (chính quyền địa phương) và đáp ứng được nhu cầu của người học Căn cứ các tiêu chí trên, đại diện UEH nhận thấy Chương trình thành công vì Chương trình tạo được uy tín, tác động đến các tỉnh thành của Việt Nam
và các tỉnh thành đều có nhu cầu mở rộng chương trình; người học có cách nhìn khác,
Trang 39tư duy khác, đặc biệt phát triển tư duy phê phán; giảng viên của Chương trình được đánh giá cao và được mời tư vấn cho Quốc hội Việt Nam
HKS đánh giá sự thành công thông qua mối liên hệ với các học viên (tuy không nhiều) và kết quả điều tra khảo sát công việc của họ sau khi tốt nghiệp Theo dõi những gì các cựu học viên làm khi họ tốt nghiệp và quay về cơ quan công tác, đại đa
số vẫn tiếp tục đóng góp trong ngành, khu vực công (có một phần làm việc cho khu vực tư), tất cả đều thành đạt và khẳng định vị trí
Ngoài ra, đánh giá chương trình này còn có sự tham gia của chính phủ Chính phủ hai nước rất quan tâm chương trình này và trong một thông cáo chung năm 2008
có đánh giá cao chất lượng Chương trình Fulbright và xem là dự án hợp tác điển hình giữa hai nước Nhìn chung, Chương trình đang rất thành công những vẫn luôn cần nỗ lực hơn nữa để tốt hơn và làm được nhiều hơn nữa (nỗ lực tuyển học viên từ các tỉnh, các vùng sâu, vùng xa, nâng cao tỉ lệ nữ học viên…)
C- Bản chất của việc hợp tác và các yếu tố tác động
i Bản chất chính của việc hợp tác hiện tại và lâu dài:
Như đã giới thiệu, ngân sách hoạt động chính của Chương trình do Vụ Văn hóa
và Giáo dục, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ hàng năm (tối đa 02 triệu USD/năm) thông qua HKS Cho nên, việc hợp tác này không mang bản chất kinh doanh mà là bản chất trao đổi học thuật thuần túy dựa trên nền tảng trao đổi văn hóa Việc tìm hiểu, trao đổi văn hóa nên là bước đầu tiên để tiến hành trao đổi học thuật Với FETP, các học viên tham gia đều không đóng học phí mà có học bổng toàn phần
Về lâu dài, Chương trình đang nghiên cứu xu hướng thu một phần học phí để đảm bảo tính bền vững, thu hút sự ủng hộ từ phía các học viên và cơ quan tuyển dụng Tuy nhiên đây không phải bản chất kinh doanh mà chỉ thu phí để tái đầu tư vào hoạt động, đảm bảo chất lượng của chương trình và giúp đỡ học viên vùng sâu, vùng xa do
cả hai trường đối tác đều hoạt động dựa trên cơ sở không vì lợi nhuận Ngoài ra, để xây dựng sự hợp tác lâu dài dựa trên bản chất trao đổi học thuật, Chương trình nên có các hoạt động hợp tác cụ thể với sự tham gia của các học giả có quan tâm và đam mê thật sự
Trang 40Bảng 4 Mục tiêu của các bên đối tác của FETP
Chung 1 Phát triển hợp tác, trao đổi học thuật giữa hai cơ sở đào tạo hàng
đầu của hai quốc gia;
2 Khai thác và học hỏi thế mạnh của đối tác -> Học hỏi để hợp tác
và hợp tác để học hỏi
Riêng 1 Khẳng định chất lượng đào tạo
2 Các học giả Hoa Kỳ xem Việt Nam là điểm đến thú vị để nghiên cứu kinh tế phát triển
Tiếp thu được những kỹ thuật, phương pháp, chính sách mới, ứng dụng kinh tế học vào việc phân tích và đề xuất chính sách
ii Các yếu tố tác động đến hiệu quả của bản chất hợp tác:
Có khá nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả của bản chất hợp tác của FETP Nhóm yếu tố được những người trả lời phỏng vấn cho rằng mức độ ảnh hưởng hiện tại
là cao và cũng nên có mức độ ảnh hưởng tối ưu là cao để đảm bảo hiệu quả của bản chất sự hợp tác; bao gồm sáu yếu tố: Sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau; Lợi thế tương quan;
Sự cam kết; Sự tin cậy; Thông tin trao đổi; Quản trị nhân sự thực hiện
Yếu tố đầu tiên là sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau (interdependence) HKS chọn UEH làm đối tác vì UEH là trường trọng điểm về đào tạo lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là bộ môn kinh tế phát triển, nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm năng động nhất của Việt Nam Ngoài đội ngũ giảng viên và nhân viên có chất lượng, UEH còn có một hệ thống cơ sở vật chất phù hợp cho sự hợp tác của hai bên Trong khi đó HKS có khá nhiều giáo sư chuyên ngành kinh tế phát triển tham gia Chương trình rất tốt, nhất là khi Việt Nam có lịch sử nổi tiếng nên càng tăng sức hút với các giáo sư Hoa Kỳ (một số người đã từng là cựu chiến binh tại Việt Nam trước năm 1975) Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng sự phụ thuộc, hỗ trợ nhau còn tương đối lỏng lẻo, cần cải thiện hơn trong thời gian tới Hiện tại bên UEH chỉ tạo điều kiện về cơ sở vật chất, tuyển sinh, tốt nghiệp