1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh

178 408 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1. MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TIMMẠCHNhiều công trình của các tác giả trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc đã sử dụng các chỉ số tim mạch để đánh giá trạng thái căng thẳng chức năng vì sự thay đổi nhịp tim là phản ứng tổng hợp của toàn bộ cơ thể đối với bất kỳ tác động nào của môi trƣờng bên ngoài. Những năm gần đây, ngoài phƣơng pháp sử dụng những chỉ số đơn giản của hệ tim mạch nhƣ tần số nhịp tim (TSNT) và huyết áp (HA), một số tác giả đã sử dụng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) của Baevski và cs 133 để đánh giá chức năng tim. Một số nghiên cứu 18, 19, 20, 132, 133, 134 cho thấy căng thẳng trí tuệ và stress cấp tính gây tăng chỉ số căng thẳng và giảm sự dao động nhịp tim.

Trang 1

häc viÖn qu©n y

nguyÔn thÞ hiªn

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG

TIM - MẠCH, TÂM - THẦN KINH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC

Y THÁI BÌNH Ở TRẠNG THÁI TĨNH VÀ SAU KHI THI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

häc viÖn qu©n y

nguyÔn thÞ hiªn

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG

TIM - MẠCH, TÂM - THẦN KINH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC

Y THÁI BÌNH Ở TRẠNG THÁI TĨNH VÀ SAU KHI THI

Chuyªn ngµnh: Sinh lý häc M· sè: 62 72 01 07

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe không chỉ là vốn quí của mỗi cá nhân mà còn là nhân tố quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Trong đó sinh viên là lực lượng lao động chất lượng cao trong tương lai của xã hội, là “nguyên khí” của mỗi quốc gia, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay Chăm sóc sức khỏe cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của nhà trường mà là của toàn xã hội Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ tri thức, đòi hỏi không chỉ tăng trưởng số lượng tri thức mà yêu cầu phải có sự thay đổi căn bản cách chiếm lĩnh và sử dụng tri thức của người được đào tạo

Thời đại ngày nay, thời đại của sự hội nhập, toàn cầu hóa với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, cùng với ô nhiễm môi trường và yếu tố nội tại trong cơ thể con người đã trở thành những tác nhân gây nên stress Năm 1992, Tổ chức Liên Hợp Quốc đã đưa ra một bản báo cáo mang tên

“Bệnh tật trong thế kỷ XX”, trong đó có việc cảnh báo stress có thể mang

nhiều nguy cơ gây hại cho cuộc sống của con người ở thế kỷ XXI [108]

Stress tác động tới mọi tầng lớp trong xã hội, trong đó có sinh viên Cuộc sống của sinh viên ở các trường đại học có nhiều yếu tố gây căng thẳng (stressor) thần kinh - tâm lý, đặc biệt là đối với sinh viên các trường đại học

Y Ngoài các stressor chung ở mọi sinh viên (điều kiện sinh hoạt, học tập ), sinh viên các trường đại học Y là những người có thời gian học tập tại trường dài nhất với khối lượng kiến thức lý thuyết và thực hành rất lớn cùng với nhiều kỳ thi, do đó chịu nhiều áp lực gây căng thẳng chức năng tâm lý cao và trường diễn [60], [81], [84], [85] Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các stressor có thể làm thay đổi chức năng hệ thống miễn dịch, thần kinh, tim mạch và nội tiết của con người [58], [93], [94], [99], [103], [114], [119], [131] Tuy nhiên các tác động đó không phải tất cả là tiêu cực, nhiều nghiên cứu xác nhận trạng thái stress có mức độ nhất định lại làm tăng khả năng tự

Trang 4

xoay xở với đòi hỏi thích nghi môi trường, nhờ thế tạo điều kiện phát triển tâm lý Cuộc sống không có stress sẽ không có thách thức đòi hỏi phải vượt qua, nên hạn chế việc nâng cao năng lực và trau dồi trí tuệ

Stress là hiện thực của cuộc sống, vì vậy chúng ta cần phải hiểu sự đáp ứng của cơ thể trong từng trạng thái căng thẳng Muốn vậy phải lượng hóa được mức độ stress bằng các chỉ số đo lường khách quan Ở Việt nam đã có một số công trình nghiên cứu về stress nghề nghiệp của các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, Viện Y học lao động và Vệ sinh dịch tễ, các nhà khoa học một số trường đại học [6], [10], [18], [23] Vấn đề stress ở học sinh, sinh viên cũng đang được một số nhà khoa học quan tâm bởi những

hệ quả do stress gây ra như trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện, có hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự sát Căng thẳng mạn tính ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề cần đòi hỏi phải tư duy linh hoạt [84] Tuy nhiên còn rất ít nghiên cứu về đáp ứng của hệ thống nội tiết, tim mạch và thần kinh của cá thể với trạng thái căng thẳng, trong đó có đối tượng là sinh viên Xuất phát từ lý

do nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu một số chỉ số chức năng

tim - mạch , tâm - thần kinh của sinh viên Đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi" nhằm góp phần xây dựng một số chỉ số sinh học người Việt

Nam hiện nay, làm cơ sở khoa học giúp các nhà giáo dục và y tế tìm các giải pháp giảm bớt căng thẳng, duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần và học tập tốt hơn cho sinh viên

Đề tài được tiến hành với các mục tiêu sau:

1 Xác định một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh ở trạng thái tĩnh của sinh viên Đại học Y Thái Bình

2 Đánh giá một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh và nội tiết tố sau hoạt động trí tuệ (sau buổi thi) của sinh viên Đại học Y Thái Bình

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TIM-MẠCH

Nhiều công trình của các tác giả trên thế giới cũng như trong nước đã sử dụng các chỉ số tim mạch để đánh giá trạng thái căng thẳng chức năng vì sự thay đổi nhịp tim là phản ứng tổng hợp của toàn bộ cơ thể đối với bất kỳ tác động nào của môi trường bên ngoài Những năm gần đây, ngoài phương pháp

sử dụng những chỉ số đơn giản của hệ tim mạch như tần số nhịp tim (TSNT)

và huyết áp (HA), một số tác giả đã sử dụng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) của Baevski và cs [133] để đánh giá chức năng tim Một số nghiên cứu [18], [19], [20], [132], [133], [134] cho thấy căng thẳng trí tuệ và stress cấp tính gây tăng chỉ số căng thẳng và giảm sự dao động nhịp tim

1.1.1 Tần số mạch và huyết áp

*Tần số mạch

Tần số mạch hay tần số tim là số lần tim đập trong một phút Bình thường tần số tim ở người trưởng thành là 70 - 80 lần/phút, thông số này ở nữ cao hơn so với ở nam trong cùng một độ tuổi

Tần số tim thay đổi dưới tác động của nhiều yếu tố Làm việc căng thẳng gây tăng nhịp tim là do kích thích hệ thần kinh giao cảm, đồng thời gây ức chế các tín hiệu của dây X tới tim Lao động trí óc chịu tác động của nhiều yếu tố stress dễ dẫn đến tăng nhịp tim, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch [79], [80] Hoạt động của tim luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu của cơ thể Tim

có tính thích nghi và đáp ứng với căng thẳng là nhờ có cơ chế tự điều hòa và

cơ chế thần kinh - thể dịch Trong điều hòa theo cơ chế thần kinh thì hệ thần

kinh tự chủ có vai trò quan trọng

Trang 6

Hệ thần kinh phó giao cảm có trung tâm điều hòa hoạt động tim nằm ở hành não, đó là nhân của dây thần kinh số X Các sợi trước hạch của dây X đi tới hạch phó giao cảm nằm ngay trong cơ tim, các sợi sau hạch phó giao cảm chi phối hoạt động của nút xoang và nút nhĩ - thất Tác dụng của hệ phó giao cảm đối với hoạt động của tim là giảm tần số tim, giảm lực co bóp cơ tim, giảm trương lực cơ tim, giảm tốc độ dẫn truyền xung động trong tim và giảm tính hưng phấn của cơ tim Hệ thần kinh phó giao cảm tác dụng lên tim thông qua hóa chất trung gian là acetycholin

Hệ thần kinh giao cảm có trung tâm điều hòa hoạt động tim nằm ở sừng bên chất xám tủy sống đoạn lưng 1-3, từ đây có các sợi thần kinh đi tới hạch giao cảm nằm gần cột sống Cũng có một số sợi xuất phát từ sừng bên chất xám tủy sống đoạn các đốt sống cổ 1-7 đi đến hạch giao cảm Các sợi sau hạch đi tới nút xoang, nút nhĩ - thất và bó His Kích thích của dây giao cảm đến tim gây ra các tác dụng ngược với tác dụng của dây X, cụ thể là tăng tần

số, tăng lực co bóp, tăng trương lực cơ tim, tăng tốc độ dẫn truyền xung động trong tim, tăng tính hưng phấn và tăng dinh dưỡng cơ tim Hệ thần kinh giao cảm tác dụng lên hoạt động tim thông qua hóa chất trung gian là noradrenalin Ngoài hệ thần kinh thực vật còn có các phản xạ điều hòa hoạt động tim xuất phát từ vỏ não cùng một số trung tâm thần kinh khác Dưới ảnh hưởng của các yếu tố lên vỏ não thường tạo các cảm xúc mạnh, gây hồi hộp, sợ hãi

và làm biến đổi nhịp tim Khi hồi hộp thường làm cho tim đập nhanh, khi quá

sợ hãi hoặc quá xúc động nhịp tim có thể tăng lên, nhưng cũng có khi tim đập chậm, thậm chí ngừng đập

Hoạt động tim còn được điều hòa bằng cơ chế thể dịch Hormon T3, T4của tuyến giáp, adrenalin của tuyến tủy thượng thận có tác dụng làm tim đập nhanh Nồng độ khí oxy giảm, CO2 tăng trong máu động mạch cũng làm tim đập nhanh Nồng độ ion Ca2+

trong máu tăng làm tăng trương lực cơ tim

Trang 7

Nồng độ K+ trong máu tăng làm giảm trương lực cơ tim pH của máu giảm làm tim đập nhanh Nhiệt độ cơ thể tăng làm tim đập nhanh Ngược lại nhịp tim giảm trong hạ nhiệt nhân tạo (trong mổ tim phải hạ nhiệt nhân tạo xuống còn 250

C - 300C để cơ thể có thể chịu đựng được với sự thiếu oxy) [38]

*Huyết áp

Động lực chính làm máu lưu thông trong động mạch là huyết áp Huyết

áp là áp lực của máu trong một đoạn mạch nhất định

Huyết áp động mạch được tạo ra bởi hai lực: áp lực do tâm thất thu tống máu ra khỏi tim và phản lực do tính đàn hồi của thành động mạch Đây là hai lực ngược chiều nhau và cân bằng nhau, cùng có tác dụng đẩy máu đi

Huyết áp tâm thu là trị số huyết áp cao nhất trong chu kỳ hoạt động của tim, đo được trong lúc tâm thu Thông số này đánh giá lực co của tâm thất là chính Trị số bình thường là 110 mmHg, giới hạn từ 90 - <140 mmHg Huyết

áp tâm trương là trị số huyết áp thấp nhất trong chu kỳ hoạt động của tim, đo được trong lúc tâm trương Thông số này phản ánh trương lực của động mạch Trị số bình thường là 70 mmHg, giới hạn từ 60 - <90 mmHg Đó là các mốc đánh giá huyết áp thấp hay tăng huyết áp [16], [38]

Nhiều tác giả đã ứng dụng phương pháp đánh giá chức năng tim mạch thông qua tần số nhịp tim và huyết áp trong nghiên cứu trên các đối tượng thuộc các ngành nghề khác nhau

Theo Pickering [105], huyết áp động mạch được xem là chỉ số khá tin cậy để đánh giá stress cấp tính trong điều kiện tự nhiên Nghiên cứu của tác giả cho thấy đi bộ làm tăng huyết áp tâm thu khoảng 12 mmHg, trong cuộc họp huyết áp tâm thu tăng 20 mmHg, nói chuyện điện thoại huyết áp có thể tăng 10 mmHg và khi ngủ huyết áp tâm thu có thể giảm 10 mmHg Vrijkotte T.G [125] đã ghi Holter điện tim 2 ngày làm việc và 1 ngày không làm việc cho 109 nam lao động trí óc Kết quả cho thấy nhịp tim khi làm việc tăng cao

Trang 8

hơn so với sau khi làm việc và gánh nặng công việc làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch Munataka M [100] nghiên cứu trên 18 y tá, tuổi trung bình là 29±2 cho thấy huyết áp tâm thu và nhịp tim trong thời gian làm ca đêm thấp hơn so với làm ca ngày, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05

Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy kiểm tra, thi cử gây căng thẳng chức năng tâm lý, làm thay đổi một số chức năng của cơ thể, trong đó có chức năng tim mạch của con người [73], [92], [99], [125], [130], [131]

Nghiên cứu của Droogleever [70] trên các nghiên cứu sinh Hà Lan cho thấy mặc dù huyết áp thay đổi không đáng kể do căng thẳng trong lúc thi, nhưng mật độ thụ thể benzodiazepine ngoại vi, allopregnanolon và nồng độ cortisol ở các nghiên cứu sinh tăng lên đáng kể Makarenco và cs [95] nghiên cứu tính nhịp điệu của tim trên sinh viên theo các đặc tính cá nhân và các loại hình thần kinh trong suốt quá trình kiểm tra căng thẳng cho thấy giảm ảnh hưởng của thần kinh phó giao cảm trên nhịp tim, kích thích chuyển hóa và tăng hoạt động của thần kinh giao cảm Nghiên cứu chỉ ra rằng sức chịu đựng

và loại phản ứng thần kinh thực vật của sinh viên đối với căng thẳng kỳ thi được quyết định bởi đặc tính cá nhân và các loại hình thần kinh cùng với trạng thái tâm lý ban đầu

Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá chức năng tim mạch thông qua tần số nhịp tim và huyết áp trong các dạng lao động có căng thẳng thần kinh tâm lý cao như lao động của phi công, bộ đội, cảnh sát, nhân viên y tế, điều độ viên chỉ huy chạy tàu, nhân viên vận hành các máy móc tự động, điều phối viên không lưu… [6], [18], [20], [22], [23]

Như vậy phương pháp đo tần số nhịp tim (tần số mạch) và huyết áp được nhiều tác giả trong và ngoài nước ứng dụng trong các nghiên cứu ở các dạng lao động khác nhau để đánh giá chức năng tim mạch cho người lao động

Trang 9

1.1.2 Chỉ số thống kê toán học nhịp tim và các nghiên cứu

Những năm gần đây các nhà y học và sinh lý học đã và đang cố gắng nghiên cứu tìm ra các thông số tim mạch có giá trị để đánh giá, phân loại khả năng lao động (KNLĐ) cá thể, từ đó tuyển chọn đối tượng có khả năng thích nghi (KNTN) với một số nghề nghiệp đặc biệt Hiện nay các nhà nghiên cứu thường sử dụng phương pháp thống kê toán học nhịp tim để phân tích sự dao động của các khoảng RR của nhịp tim theo thời gian

Nghiên cứu trên thế giới về dao động nhịp tim

Năm 1966, tại Moskva đã tổ chức hội nghị chuyên đề về vấn đề "Ứng dụng các phương pháp toán học để phân tích nhịp tim" Tại đây nhiều báo cáo

về ứng dụng các phương pháp phân tích toán học nhịp tim (THNT) để tiếp tục hoàn thiện các phương pháp chẩn đoán và để dự báo trạng thái chức năng hệ tim mạch cũng như trạng thái chức năng chung của cơ thể, đặc biệt cho các nhà du hành vũ trụ trong chuyến đi dài ngày Theo Baevski [132] thì chức năng hệ tim mạch thay đổi được coi là chỉ tiêu đánh giá phản ứng thích nghi của toàn bộ cơ thể, còn nhịp tim là hiệu quả của sự điều khiển của thần kinh nội tiết Phương pháp phân tích THNT là phương pháp định lượng của phản ứng thích nghi mà các nhà y học và sinh lý học rất quan tâm

Baevski và cs [133] đã đưa ra nguyên lý chung để nghiên cứu biến động nhịp tim và các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) Một số chỉ số TKTHNT đặc trưng cho dao động của 100 khoảng RR liên tiếp của nhịp tim hay được sử dụng là:

- Tần số tim (TST) trung bình của 100 khoảng RR liên tiếp, tính bằng nhịp /phút là chỉ số đặc trưng cho hoạt động của hệ tim mạch Đây là thông

số cân bằng nội môi của cơ thể Sự biến đổi của TSNT so với tiêu chuẩn của

cá thể nói lên sự tăng gánh nặng đối với bộ máy tuần hoàn hoặc có thay đổi

Trang 10

bệnh lý TSNT= 60/RRtb (RRtb là thời gian trung bình của 1 khoảng RR tính bằng giây, RRtb = tổng số RR/100)

- Độ lệch chuẩn của 100 khoảng RR liên tiếp (SD), tính bằng giây là một trong những chỉ số chính của dao động nhịp tim, đặc trưng cho trạng thái cơ chế điều khiển Nó chỉ ra ảnh hưởng tổng hợp của hệ thần kinh thực vật đến nút xoang của tim Tăng hay giảm chỉ số này nói lên sự dịch chuyển của cân bằng nội môi hướng về thần kinh phó giao cảm hay thần kinh giao cảm

- Hệ số biến thiên của 100 khoảng RR (V= SD /RRtb), tính bằng giây Ý nghĩa sinh lý của thông số này giống chỉ số SD và là chỉ số được tiêu chuẩn hóa theo TSNT

- Mod của 100 khoảng RR liên tiếp (Mo), tính bằng giây là giá trị khoảng RR gặp nhiều nhất trong 100 khoảng RR Mo chỉ ra khả năng hoạt động của hệ tuần hoàn (chính xác hơn là của nút xoang) và trong quá trình tương đối tĩnh tại, nó trùng với X trung bình

- Biên độ của Mod (AMo), tính bằng % là số lượng khoảng RR có giá trị gặp nhiều nhất (Mo) trong 100RR Chỉ số này biếu thị hiệu quả ổn định điều khiển nhịp tim mức trung ương

- Khoảng dao động của RR tối đa và tối thiểu (X= RR tối đa - RR tối thiểu) tính bằng giây, chỉ ra mức độ dao động tối đa của khoảng RR Đối với quá trình tĩnh tại, chỉ số X tương tự như chỉ số SD

- Chỉ số căng thẳng (CSCT) - đơn vị điều kiện là chỉ số bậc 2 được tính

từ các chỉ số trên, nó đặc trưng cho mức độ của điều khiển nhịp tim từ trung ương CSCT = AMo/2 X.Mo

Các chỉ số X, AMo, SD,V, CSCT đặc trưng cho trạng thái của hệ thần kinh thực vật (hay còn gọi là điều khiển tự động)

Phương pháp phân tích thống kê toán học đánh giá dao động nhịp tim được ứng dụng rộng rãi nhằm xác định trạng thái cân bằng hệ thần kinh thực

Trang 11

vật; quan hệ hoạt động tương hỗ giữa thần kinh giao cảm và phó giao cảm; mức điều khiển tự động và mức điều khiển trung ương của hệ thần kinh thực vật,

cụ thể là: AMo, CSCT cao và X, SD ,V thấp là biểu hiện điều khiển nhịp tim mức trung ương, ngược lại, AMo, CSCT thấp và X, SD,V cao là biểu hiện điều khiển nhịp tim mức tự động [120]

Nhiều nghiên cứu cho thấy các chỉ số thống kê toán học nhịp tim cho nhiều thông tin tốt để đánh giá trạng thái chức năng của cơ thể Chúng là chỉ

số dự báo khả năng thích nghi nghề nghiệp, năng lực và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp để từ đó tuyển chọn đối tượng có khả năng thích nghi tốt với một

số điều kiện lao động, đặc biệt là những nghề nghiệp có trạng thái căng thẳng

cảm xúc cao [132], [134], [135], [136], [137], [138]

Baevski [132] đã áp dụng phương pháp phân tích toán học nhịp tim để nghiên cứu diễn biến nhịp tim của các nhà du hành vũ trụ với mục đích dự báo những khả năng biến đổi trạng thái cơ thể của họ Kết quả bước đầu cho thấy những đối tượng có biểu hiện KNTN kém hơn trong điều kiện thử nghiệm dưới mặt đất (biểu hiện trội điều khiển giao cảm hơn) thì sau 3 ngày, trong chuyến bay thật có rối loạn điều khiển nhịp tim nhiều hơn so với đối tượng

có biểu hiện thích nghi tốt hơn (điều khiển trội phó giao cảm hơn)

Zemaichiche [134] cho rằng con người tăng KNTN phụ thuộc vào mức

độ tăng điều khiển phó giao cảm trong quá trình rèn luyện Giảm ảnh hưởng của điều khiển phó giao cảm đồng thời tăng điều khiển giao cảm khi lao động thể lực và căng thẳng về cảm xúc dẫn tới giảm KNTN được biểu hiện ở sự thay đổi các chỉ số TKTHNT

Zatsiorxki [135] đã sử dụng đặc điểm TKTHNT để đánh giá ảnh hưởng của điều kiện môi trường (nhiệt độ cao, tiếng ồn cao) lên chức năng điều khiển nhịp tim Tác giả thấy rằng có mối liên quan giữa yếu tố stress nghề nghiệp, tác hại nghề nghiệp với giảm dao động nhịp tim thể hiện qua các chỉ

Trang 12

số thống kê toán học nhịp tim như giảm độ lệch chuẩn của 100RR (SD), tăng chỉ số căng thẳng (CSCT)

Gevorkian E và cộng sự [75] nghiên cứu ảnh hưởng của căng thẳng thần kinh cảm xúc trước thi của sinh viên đối với chức năng điều khiển nhịp tim theo phương pháp của Baevski cho thấy những sinh viên có điểm căng thẳng cảm xúc Spielberger càng cao thì chỉ số căng thẳng tim mạch càng cao Các phản ứng này phụ thuộc vào đặc tính của từng cá nhân và hoạt động của hệ thống thần kinh tự chủ

Nghiên cứu tại Việt Nam về dao động nhịp tim

Ở nước ta trong những năm gần đây, phương pháp nghiên cứu dao động nhịp tim bằng các chỉ số TKTHNT bước đầu đã được ứng dụng để đánh giá mức căng thẳng chức năng và căng thẳng hệ tim mạch trong quá trình lao động [18], [19], [20], [21], [22], [23], [45]

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà [18] về sự căng thẳng tim mạch trên nhân viên y tế cho thấy có mức căng thẳng cao (mức 3/4) với chỉ số căng thẳng là 239 và khả năng thích nghi kém với độ lệch chuẩn là 0,038 Trần Thanh Hà [20] đã áp dụng phương pháp phân tích TKTHNT để nghiên cứu

dự báo khả năng lao động của bộ đội tiêu binh Kết quả cho thấy nhóm tiêu binh có khả năng thích nghi kém nhất với nghề nghiệp thì có chỉ số TKTHNT

ở trạng thái tĩnh đạt mức CSCT cao nhất, X thấp nhất, SD ở mức quá căng thẳng (mức 3/4) Đặc biệt tất cả các đối tượng đã bị ngất trong lúc làm nhiệm

vụ đều có chỉ số dao động nhịp tim ở mức quá căng thẳng (SD<0,04 và V<0,056 theo phân loại của Baevski) và có biểu hiện rối loạn điều hoà nhịp tim dạng trội giao cảm

Như vậy, nghiên cứu dao động nhịp tim dựa trên các chỉ số TKTHNT cho phép đánh giá mức căng thẳng chức năng của cơ thể và hệ tim mạch do

Trang 13

các yếu tố stress trong cuộc sống và trong lao động gây ra, đồng thời có thể

dự báo khả năng thích nghi nghề nghiệp của đối tượng

1.1.3 Stress và nguy cơ các bệnh tim mạch

Nhiều năm qua các nhà khoa học luôn cho rằng stress có thể sẽ dẫn đến bệnh tim, tuy nhiên có rất ít chứng cứ y học có thể chứng minh được điều này Gần đây các nhà khoa học Anh đã tiến hành nghiên cứu trên 514 đối tượng cả nam lẫn nữ ở độ tuổi trung bình 62, trước khi nghiên cứu những đối tượng này đều không mắc các chứng bệnh về tim Các đối tượng nghiên cứu được làm trắc nghiệm stress, đồng thời được xét nghiệm nồng độ cortisol và chụp cắt lớp vi tính động mạch Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng xác suất mắc chứng bệnh tích tụ mỡ trong động mạch của những đối tượng bị stress cao gấp 2 lần so với những đối tượng không bị stress Nghiên cứu trên đã gợi

ý căng thẳng tâm lý có thể là yếu tố nguy cơ dẫn đến các chứng bệnh về động mạch vành [79] Trên cơ cở nghiên cứu ngang này, Hamer và cộng sự [80] đã tiến hành một nghiên cứu dọc trên 466 đối tượng nam và nữ có độ tuổi trung bình 62,7 ±5,6, không có tiền sử tim mạch Sau 3 năm theo dõi tác giả đã phát hiện có mối liên quan giữa phản ứng cao của cortisol với căng thẳng và tiến triển của vôi hóa động mạch vành (OR= 1,27, 95% CI, 1,02-1,60) Những dữ liệu này ủng hộ quan điểm cho rằng căng thẳng tâm lý gây tăng cortisol (một hormon stress) có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh mạch vành và rối loạn nhịp tim Cơ chế mà HPA hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến xơ vữa động mạch vẫn còn chưa được hiểu rõ, mặc dù có một số bằng chứng cho thấy tăng mức cortisol máu có thể thúc đẩy viêm quanh mạch [126]

Ngày càng có nhiều nghiên cứu thử nghiệm xem liệu các đáp ứng mạnh

mẽ của tim mạch với căng thẳng tinh thần có thể dự đoán các bệnh tim mạch trong tương lai hay không, nhưng kết quả của các nghiên cứu rất đa dạng [67], [69], [79], [80], [111] Nghiên cứu của Roemmmich [111] trên thanh, thiếu niên cho thấy căng thẳng gây phản ứng tim mạch, đặc biệt là phản ứng

Trang 14

của huyết áp tâm thu, liên quan đến độ dày động mạch cảnh và là nguy cơ phát sinh sớm các bệnh tim mạch Chida Y và Steptoe A [67] đã tổng hợp các nghiên cứu thuần tập tương lai về đáp ứng của tim mạch với stress và các yếu tố nguy cơ tim mạch từ các dữ liệu ở các thư mục của PsycINFO, Web of Science và PubMed Kết quả nghiên cứu độc lập của hai nhà nghiên cứu cho thấy có 169 sự kết hợp trong 36 bài báo về phản ứng căng thẳng và 30 sự kết hợp (5 bài báo) về hồi phục sau căng thẳng có quan hệ với nguy cơ tim mạch trong tương lai, bao gồm tăng huyết áp, dày thất trái, xơ vữa động mạch và các triệu chứng về tim Phân tích tổng hợp toàn diện cho thấy phản ứng mạnh hơn với căng thẳng và hồi phục sau căng thẳng kém hơn có liên quan theo chiều dọc với nguy cơ xấu về bệnh tim mạch (r=0,091) [95%CI: 0,05-0,132], p<0,01 và r=0,096 [95%CI: 0,058-0,134], p<0,01) Những kết quả này được xác định bằng những phân tích phân nhóm kỹ lưỡng về các hiệu ứng kết hợp Như vậy stress là một yếu tố gây bệnh vữa xơ động mạch quan trọng Những người hiểu biết về stress, có sức khỏe và tâm lý vững vàng sẽ dễ dàng vượt qua được những tác động của stress Ngược lại, những người có cơ thể ốm yếu, suy sụp, không thích ứng nổi thì dễ phát sinh bệnh tật và có thể bị ảnh hưởng lớn bởi stress, dẫn đến đột tử khi gặp những cú sốc quá lớn trong cuộc đời Đột tử là nguyên nhân gây tử vong phổ biến của các bệnh nhân bị vữa xơ động mạch, đặc biệt là vữa xơ động mạch vành Có giả thuyết cho rằng, khi bị căng thẳng về tâm lý cấp tính có thể gây rung thất và đột tử, do kích hoạt hệ thống bảo vệ dẫn đến làm giảm đột ngột trương lực phó giao cảm Thông qua

cơ chế thần kinh phó giao cảm trung ương làm mất sự ổn định về điện học của tim Trong khi đồng thời làm tăng trương lực thần kinh giao cảm ở tim dẫn đến làm tăng tần số tim, tăng co bóp cơ tim, tăng huyết áp tâm thu và gây thiếu máu cơ tim ở các bệnh nhân có vữa xơ động mạch vành, làm tăng nguy

cơ bị rung thất và đột tử Vì vậy các phương pháp quản lý stress có giá trị có

Trang 15

thể phòng ngừa và điều trị các bệnh tim mạch, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người [67], [69]

Căng thẳng không những gây biến động về tim mạch mà còn gây rất nhiều các biến động về chức năng tâm - thần kinh của con người

1.2 MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TÂM - THẦN KINH

1.2.1 Hoạt động trí tuệ

1.2.1.1 Các quan điểm về trí tuệ

Trí tuệ là hoạt động tâm lý phức tạp bao gồm khả năng nhận thức, ngôn ngữ vận động và khả năng thích ứng với xã hội Trí tuệ là một trong những đặc tính tâm lý và tư duy chỉ có ở con người, vì vậy nghiên cứu về năng lực trí tuệ là vấn đề luôn được quan tâm đặc biệt trong giới khoa học Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về trí tuệ, Fredman tập hợp các quan điểm thành 3 khuynh hướng chính:

Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân Theo Huarte J thì trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo J.P Ducanson [71] coi trí thông minh là năng lực học tập Philipvecnon định nghĩa năng lực trí tuệ thông qua hệ số thông minh Ushinski K.D cho rằng trí tuệ là một hệ thống tri thức có tổ chức tốt, luôn luôn được điều chỉnh và làm phong phú thêm, không phải chỉ trong những biểu hiện cụ thể về những sự vật hoặc sự kiện riêng biệt mà còn được khái quát thành khái niệm [55] Năng lực trí tuệ trước hết phải là sản phẩm của trí tuệ, biểu hiện năng lực nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn của con người

Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng Người đại diện cho khuynh hướng này là Terman L Ông cho rằng chức năng của trí tuệ là sử dụng hiệu quả các khái niệm Quan niệm này có phần hạn chế về khái niệm và phạm vi thể hiện của trí thông minh Theo Menchinskaia M.N.,

Trang 16

đặc trưng của trí tuệ là sự tích lũy vốn tri thức và các thao tác trí tuệ Rubinstein S.L coi hạt nhân của trí tuệ là các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và trừu tượng hóa (theo [40])

Khuynh hướng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích nghi của con người đối với thế giới xung quanh Đại diện cho khuynh hướng này là Stern V., tác giả coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người đối với điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống Theo David Wechsler, trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện trong hoạt động có mục đích và làm cho cơ thể thích nghi với các điều kiện môi trường [127]

Sở dĩ có nhiều định nghĩa khác nhau vì năng lực trí tuệ được biểu hiện dưới nhiều dạng và liên quan đến nhiều hiện tượng tâm lý khác nhau Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về năng lực trí tuệ được đa số các nhà tâm lý học thừa nhận Tuy nhiên, chúng ta có thể thống nhất với quan điểm của N.X.Leytex coi năng lực trí tuệ là khả năng nhận thức và hoạt động thực hành của con người [37]

1.2.1.2 Nghiên cứu trên thế giới về phương pháp đánh giá năng lực trí tuệ

Lịch sử về phát triển test đánh giá trí tuệ

Người đầu tiên đề xuất tư tưởng trắc nghiệm và đưa ra thuật ngữ "trắc nghiệm tâm lý" là Francis Galton (1822-1911), nhà nhân chủng học và tâm lý học người Anh Nhưng người có công trong việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ này là học trò của ông - nhà tâm lý học Mỹ, J.Mc.Cattell (1860-1944), tác giả cuốn trắc nghiệm và đo lường trí tuệ (1890) Tuy nhiên phải đến sau năm 1905, khi công trình nghiên cứu năng lực trí tuệ trẻ em từ 3 đến 15 tuổi của Alfred Binet và T Simon được công bố, cùng với hệ thống các trắc nghiệm để xác định mức độ trí tuệ, thì việc sử dụng trắc nghiệm mới được sử dụng rộng rãi trên thế giới (theo [50] Từ đây hàng loạt các trắc nghiệm trí tuệ khác đã ra đời, bao gồm

Trang 17

thang điểm Binet- Simon (1905), trắc nghiệm Stanford-Binet (1916), thang điểm Wechsler (1939), test Gille (1944), test Raven (1960)

Cho đến nay nhiều loại test trí tuệ (ví dụ test Raven) đã được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như Nga, Mỹ, Ba Lan, Đức, Pháp…

Trắc nghiệm Raven

Test Raven hay trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn do J.C.Raven (Anh) xây dựng và công bố năm 1936 Đây là loại trắc nghiệm phi ngôn ngữ về trí tuệ Sau hai lần chuẩn hóa vào các năm 1945, 1956, đến năm 1960 test Raven được UNESCO chính thức sử dụng để chẩn đoán trí tuệ của con người Đến nay test này đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới

Khi thực hiện các bài trắc nghiệm này, các quá trình tâm lý cơ bản được thể hiện là chú ý, tri giác và tư duy

Test Raven được dùng để đo năng lực tư duy trên bình diện rộng nhất và được sử dụng rộng rãi cho cá nhân cũng như cho nhóm người có độ tuổi từ 6 đến 60 Toàn bộ test gồm 60 bài tập, chia làm 5 bộ A,B,C,D,E, mỗi bộ gồm 12 bài tập (khuôn hình) được đánh dấu như sau: A1- A12; B1- B12; C1- C12; D1- D12; E1- E12 Các bài tập từ 1-12, từ A - E được xây dựng theo mức độ phức tạp dần Do đó trong bộ test Raven, bài dễ nhất là bài 1 của bộ A, tức là khuôn hình A, bài khó nhất là bài E12 Trật tự này được xem như một phương thức hướng dẫn làm việc Các bộ A-E được xây dựng theo các nguyên tắc sau: + Bộ A: thể hiện tính liên tục, toàn vẹn của cấu trúc

+ Bộ B: thể hiện sự giống nhau giữa các cặp hình

+ Bộ C: thể hiện sự thay đổi tiếp diễn trong các cấu trúc

+ Bộ D: thể hiện sự thay đổi logic vị trí các hình

+ Bộ E: thể hiện sự phân tích cấu trúc các bộ phận trắc nghiệm

Trang 18

Năm bộ bài tập là 5 cách đánh giá về năng lực trí tuệ của cá nhân Tổng điểm số của từng cá nhân là một chỉ số về năng lực trí tuệ

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, sự vắng mặt của các bài tập ngôn ngữ trong test Raven cho phép loại trừ, trong một mức độ nào đó, ảnh hưởng của trình độ học vấn, kinh nghiệm sống và những khác biệt về văn hóa xã hội của đối tượng nghiên cứu Do vậy, test này có thể sử dụng rộng rãi trên nhiều loại đối tượng Một ưu điểm nữa của test Raven là kỹ thuật tiến hành và xử lý test tương đối đơn giản, đòi hỏi ít thời gian và có thể nghiên cứu trên nhiều đối tượng cùng một lúc Nhược điểm của test Raven là chỉ cho biết kết quả cuối cùng mà không cho biết quá trình đi đến kết quả Do đó, để đánh giá một cách chính xác về năng lực trí tuệ chung cần phải sử dụng bổ sung các phương pháp khác [1], [55]

1.2.1.3 Sơ lược về tình hình sử dụng test nghiên cứu trí tuệ tại Việt Nam

Cùng với xu hướng phát triển chung của thế giới, một số test trí tuệ đã và đang được sử dụng ở Việt Nam Trước những năm 80, vấn đề test trí tuệ rất ít được đề cập tới Tuy nhiên trong thời kỳ này, bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Nhi Thụy Điển đã sử dụng một vài loại test (WAIS, Denver) để chẩn đoán tình trạng trí lực của bệnh nhân tâm thần Trường đại học Sư phạm Hà Nội cũng đã có một số công trình nghiên cứu ứng dụng test trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên như công trình của Trần Bá Hoành (1971), Nguyễn Long (1978) (theo [1])

Từ những năm 80 đến nay, test trí tuệ đã được ứng dụng nhiều ở Việt Nam Hai cơ sở có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này là Viện Tâm-Sinh

lý lứa tuổi, thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và trung tâm nghiên cứu trẻ em Hà Nội Các cán bộ của 2 cơ sở này đã tiến hành nhiều công trình thích nghi hóa test WISC (1987), test Gille (1989) và test Raven (1991) ở Việt Nam

và sử dụng để nghiên cứu trí tuệ của học sinh Trong những năm gần đây, cán

bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên khoa Sinh - Kỹ

Trang 19

thuật nông nghiệp và khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã sử dụng test Raven và test Gille để nghiên cứu trí tuệ của học sinh, sinh viên Việt Nam Đó là các công trình nghiên cứu bằng test Raven của Nguyễn Thạc và Lê Văn Hồng [47], Trần Thị Loan [40], Ngô Thị Kim Thoa [49], Mai Văn Hưng [33] và các công trình nghiên cứu bằng test Gille của Nguyễn Thạc [47] Một số trường phổ thông cũng đã sử dụng test trí tuệ trong việc tuyển chọn học sinh như trường dân lập Mari-Curi (sử dụng test Raven), trường dân lập Đông Đô (sử dụng test Gille)…Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như công trình nghiên cứu trí tuệ của học sinh cấp

I II, III và của sinh viên đại học [25], [28], [33], [40], [49], [36] Như vậy, trong số các test trí tuệ, test Raven là một trong những test được sử dụng rộng rãi nhất (theo [1])

1.2.1.4 Một số yếu tố di truyền, môi trường ảnh hưởng đến hoạt động trí tuệ

Di truyền tác động lên trí thông minh

Vai trò của di truyền và môi trường tác động lên trí thông minh là một đề tài nghiên cứu từ rất lâu Khả năng thừa kế của một gene lên thế hệ sau được biểu diễn bằng một số trong khoảng từ 0 đến 1, gọi là hệ số di truyền Một số nghiên cứu cho thấy hệ số di truyền trung bình ở trẻ em là 0,5, hệ số di truyền

ở người có thể lên đến 0,8 Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kì vào năm 1995 trong công trình "Intelligence: Knowns and Unknowns" (Trí thông minh: những điều đã biết và chưa biết) kết luận rằng hệ số di truyền là "khoảng 0,75"[102]

Môi trường

Yếu tố môi trường đóng vai trò rất lớn trong việc xác định trí thông minh Một số nghiên cứu về yếu tố môi trường cho rằng thời kỳ thai phụ hay lúc cho con bú nếu tiếp xúc với những loại độc tố hay thiếu các vitamin và muối khoáng quan trọng có thể ảnh hưởng đến chỉ số IQ của đứa bé Trong xã

Trang 20

hội đã phát triển, môi trường trong gia đình có thể tạo ra 25% sự khác biệt về chỉ số IQ Tuy nhiên, khi lớn lên, điều này hầu như biến mất [128]

Sự chậm phát triển trí não

Khoảng 75-80% số trẻ chậm phát triển trí não là do di truyền và 20-25% còn lại là do những nguyên nhân bên trong cơ thể như sự bất thường ở các nhiễm sắc thể hay chấn thương ở não [128]

Nghiên cứu của Trung tâm Điều khiển và Phòng chống Dịch bệnh (CDC) cho thấy tỉ lệ mắc chứng kém phát triển trí tuệ ở nam cao hơn ở nữ Đối với chủng tộc, tỉ lệ chung về mắc chứng kém phát triển trí tuệ là 1,66% cho người da đen và 0,68% cho người da trắng Đối với nam người da đen có

tỉ lệ cao nhất, gấp 1,7 lần so với nữ da đen; 2,4 lần so với nam da trắng và 3,1 lần so với nữ da trắng Ở Hoa Kì những người có chỉ số IQ dưới 70 sẽ được miễn tội tử hình từ năm 2002 [128]

Sự quay lại

Sự di truyền chỉ số IQ của một đứa trẻ bị ảnh hưởng từ IQ của cha mẹ

Hệ số di truyền của chỉ số IQ luôn nhỏ hơn 1 nên chỉ số IQ của đứa trẻ sẽ có

xu hướng quay lại về chỉ số IQ chuẩn của dân số chung Hiệu ứng trên có thể được biểu diễn bởi công thức:

 : chỉ số IQ dự đoán của đứa trẻ

 : h2: hệ số di truyền của chỉ số IQ

Vì vậy, nếu hệ số di truyền là 50%, một cặp vợ chồng có IQ trung bình

là 120 và sống trong xã hội có IQ trung bình là 100 thì con của họ có nhiều khả năng có IQ là 110 [128]

Trang 21

Hiệu ứng Flynn

Trên toàn thế giới, chỉ số IQ tăng một cách chậm chạp, được gọi là hiệu ứng Flynn (1999) Hiệu ứng Flynn được quan sát từ lâu nhưng rất khó giải thích

Sự liên quan giữa chỉ số IQ và chủng tộc

Chỉ số IQ của các chủng tộc khác nhau trên thế giới được nghiên cứu vào năm 1981 Người Do Thái và Đông Á có phân bố thang IQ cao hơn người Châu Âu, trong khi những người Latin và ở vùng hạ Sahara lại có thang IQ thấp hơn Một số nhà khoa học cho rằng đó là do sự khác nhau trong những điều kiện kinh tế xã hội, nhưng giả thiết trên vẫn chưa được chấp nhận hoàn toàn [102]

Sức khỏe và chỉ số IQ

Một người có trí thông minh cao thường ít bị bệnh hơn và sống lâu hơn Điều

đó có thể là do họ có khả năng né tránh những chấn thương tốt hơn và chăm sóc sức khỏe của mình tốt hơn, mặt khác họ thường có đời sống kinh tế khá giả hơn [109] Nghiên cứu ở Scotland cho thấy những người có chỉ số IQ thấp hơn bình thường 15 điểm thì họ sẽ mất đi một phần năm cơ hội mừng sinh nhật thứ 76 của mình Những người có chỉ số IQ thấp hơn 30 điểm thì tỉ lệ đó lên đến 37% [90]

Sự phát triển kinh tế và chỉ số IQ

Một cuốn sách gây tranh cãi “IQ and the Wealth of Nations” (IQ và sự thịnh vượng của quốc gia) cho rằng sự giàu có của một quốc gia, phần lớn có thể giải thích bằng cách nhìn vào chỉ số IQ trung bình của nước đó Thông tin này đang được đặt câu hỏi để nghiên cứu thêm [128]

1.2.2 Trí nhớ

Bản chất của trí nhớ (memory) là quá trình hoạt động thần kinh lặp lại trên một mạch neuron Mạch neuron này dẫn truyền xung động cảm giác do kích thích từ bên ngoài vào trung tâm thần kinh (dẫn truyền hướng tâm) Mạch xung động đó là con đường mới (new pathways) hay còn gọi là con

Trang 22

đường mòn dấu vết nhớ Sau đó nếu không có kích thích bên ngoài, nhưng nếu tâm trí ta nghĩ tới thì có thể hoạt hóa con đường mòn đó và nhớ lại được [39] Trí nhớ là khả năng lưu giữ thông tin từ môi trường bên ngoài tác động lên cơ thể, cũng như các phản ứng xảy ra trong cơ thể và tái hiện lại những thông tin đã được lưu giữ hoặc những kinh nghiệm cũ và sử dụng chúng trong lĩnh vực ý thức hoặc tập tính Nơi lưu giữ thông tin chủ yếu là các cấu trúc của vỏ não hoặc dưới vỏ Trí nhớ liên quan đến quá trình học tập, nhờ đó mà chúng ta có được kỹ năng học tập, kỹ năng lao động và tiếp thu được các kiến thức khoa học Trí nhớ ngắn hạn là nhớ kéo dài được từ vài ngày đến vài tuần,

đó là những thông tin cần thiết cho nhu cầu cơ thể trong một giai đoạn nhất định, sau đó mất đi hoặc chuyển thành trí nhớ dài hạn Trí nhớ ngắn hạn liên quan với

sự tuần hoàn của các luồng xung động thần kinh trong các vòng neuron Các luồng xung động này dễ bị mất do thuốc gây mê, shock, chấn động cơ học Cơ chế của trí nhớ ngắn hạn là kết quả của sự tăng giải phóng chất truyền đạt thần kinh và kéo dài thời gian dẫn truyền xung động qua synap Cơ chế này không

gây biến đổi cấu trúc thần kinh [32], [39]

Trí nhớ ngắn hạn là một trong những chỉ số thần kinh thường được dùng

để đánh giá trí lực

Các công trình nghiên cứu thực nghiệm và các quan sát lâm sàng cho thấy có nhiều cấu trúc thần kinh trong não liên quan với trí nhớ, trong đó quan trọng nhất là hệ limbic và vỏ não mới Các vùng trong hệ limbic đáng chú ý là hồi hải mã, hồi đai, phức hợp hạnh nhân và thể vú, còn các vùng vỏ não mới

có liên quan với trí nhớ là vùng trán và vùng thái dương

Mỗi vùng nói trên có chức năng khác nhau đối với việc ghi nhớ các thông tin nhận được Ví dụ, các tài liệu lâm sàng cho thấy, ở người nếu bị tổn thương hồi đai thì quá trình phục hồi trí nhớ sẽ bị rối loạn; tổn thương thể vú thì quá trình hình thành các dấu vết (trí nhớ) sẽ bị chậm lại và bị suy giảm trí

Trang 23

nhớ logic; tổn thương thể hạnh nhân thì thời gian duy trì trí nhớ ngắn hạn bị rút ngắn; tổn thương hippocamp (nếu bị tổn thương ở cả hai phía) sẽ bị mất trí nhớ ngắn hạn, không nhớ được những sự kiện, hiện tượng vừa mới xảy ra, trí nhớ logic cũng bị giảm Trên hình 1.1 thấy rõ các vùng có liên quan với trí nhớ thuộc hippocamp Cụ thể là vùng CA3 có tác dụng làm giảm trí nhớ, còn vùng CA2 và CA1 có tác dụng làm tăng trí nhớ trong hippocamp

Hình 1.1 Các vùng trong hippocamp (CA1, CA2, CA3) có liên quan đến trí nhớ

* Nguồn: Đỗ Công Huỳnh, Trần Hải Anh, Tạp chí Sinh lý học Việt Nam (2005) [31]

Do trí nhớ liên quan với nhiều vùng khác nhau của não bộ, cho nên trong các thí nghiệm cắt bỏ nhiều vùng rộng lớn trong não vẫn không làm cho trí nhớ mất hoàn toàn [31]

Trí nhớ của con người là một quá trình hoạt động tích cực và phức tạp Trí nhớ có vai trò quan trọng trong học tập cũng như trong xử lý thông tin trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Ở các độ tuổi khác nhau thì trí nhớ cũng khác nhau Nghiên cứu về khả năng nhớ của Trần Thị Loan [40] trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi cho thấy khả năng nhớ ngắn hạn của học sinh tăng theo tuổi nhưng không đều, từ 6 đến 11 tuổi tăng nhanh, đặc biệt là từ 9 đến

11, từ 11đến 17 tuổi tăng chậm hơn Nghiên cứu của Mai Văn Hưng [33] trên sinh viên đại học sư phạm Hà Nội cho thấy trí nhớ ở các sinh viên này chủ yếu thuộc loại khá và giỏi Nghiên cứu của Lại Thế Luyện về biểu hiện stress

Trang 24

trên sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có biểu hiện giảm trí nhớ cao thứ hai sau khó tập trung chú ý [41]

Theo J Lazaus, stress làm tổn thương trí nhớ, gây ra sự bất ổn về tinh thần, không có khả năng tập trung, do dự, thiếu quyết đoán, thiếu chú ý, đầu

óc trống rỗng…là những triệu chứng thường xuất hiện Nhiều nghiên cứu cho thấy khi bị căng thẳng lúc làm việc, các thông số tâm lý như trí nhớ, tư duy và chú ý đều giảm một cách đáng kể [5]

Tác động của căng thẳng lên quá trình học tập và trí nhớ là những khía cạnh thiết yếu của chức năng não của con người Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện stress Trong điều kiện căng thẳng, chúng ta có khả năng tìm hiểu

và giải thích ý nghĩa dự đoán các kích thích môi trường Điều này rất quan trọng cho việc lựa chọn các chiến lược đối phó thích hợp đối với các tác nhân

đe dọa [82] Nhiều nghiên cứu [41], [110] đã chỉ ra rằng stress ảnh hưởng đến học tập, trí nhớ và nhiều bằng chứng cho thấy các glucocorticoid và catecholamine là những chất chính phản ứng lại những kích thích gây căng thẳng, tác động lên quá trình nhận thức [82], [87], [96] Ví dụ, các glucocorticoid điều chỉnh học tập không gian ở chuột, cũng như củng cố trí nhớ và phục hồi trí nhớ ở người Tuy nhiên, tác dụng của các chất trung gian căng thẳng lên học tập và trí nhớ rất phức tạp Căng thẳng đôi khi tạo điều kiện thuận lợi nhưng có khi gây bất lợi cho quá trình học tập và ghi nhớ Các yếu tố như thời điểm điều hòa hoạt động căng thẳng, thời gian tác dụng của thần kinh tự chủ hay khuấy động tình cảm và loại căng thẳng ảnh hưởng đến kết quả này Các câu hỏi ảnh hưởng lâu dài của stress đến học tập và trí nhớ vẫn cần được trả lời [82], [112] Các nghiên cứu gần đây cho thấy các kích thích gây trạng thái căng thẳng xảy ra trong hoặc ngay sau khi học tập, chủ yếu làm tăng trí nhớ sau này Ngược lại, căng thẳng được gây ra một thời gian nhất định trước hoặc sau khi học tập làm giảm tác dụng của căng thẳng trong việc

Trang 25

phục hồi trí nhớ Hiện nay có hai mô hình chính giải thích cho điều này [87], [112], [116], [117]

Mô hình thứ nhất cho rằng tác động ngược của stress về học tập và trí nhớ phụ thuộc chủ yếu vào trải nghiệm căng thẳng về học tập, thời gian của các sự kiện cũng như thời gian giải phóng catecholamine và glucocorticoid khác nhau Dựa trên những phát hiện của Joels và các đồng nghiệp [87] kết luận rằng thời điểm khởi phát căng thẳng là quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình học tập và ghi nhớ Các nhà khoa học cho rằng các tác động phụ thuộc vào thời gian căng thẳng được giải thích bằng hoạt động khác nhau của stress trên các tế bào não và hệ thống chức năng liên quan đến các chất truyền đạt thần kinh và hormon Theo thuyết này, hệ thần kinh tự chủ được khởi động đầu tiên khi cơ thể bị tác động của kích thích gây stress (hoạt động của hệ này thông qua catecholamin) Catecholamin tác dụng nhanh chóng và hiệu ứng tương đối ngắn Hoạt động của glucocorticoid chủ yếu hoạt hóa hệ gen trong

tế bào, tức là chậm và lâu dài Ngoài các tác động thông qua hoạt hóa hệ gen, glucocorticoid có tác dụng nhanh chóng, không qua hoạt hóa hệ gen mà tác dụng gián tiếp lên các receptor màng tế bào [76] Tác dụng nhanh của catecholamin và các glucocorticoid không thông qua hoạt hóa hệ gen trong tế bào, tạo điều kiện cho việc hình thành những ký ức mới, hình dạng nhận thức

và sự quan tâm đối với các căng thẳng Ngược lại, tác dụng chậm của các glucocorticoid thông qua hoạt hóa hệ gen trong tế bào phải mất hàng chục phút sau khi tiếp xúc căng thẳng, ngăn chặn thông tin không liên quan đến stressor và tăng cường củng cố nhớ các thông tin liên quan đến stressor Nếu căng thẳng là như vậy, kinh nghiệm trong quá trình học tập, những tác động ban đầu của hoạt động điều hòa căng thẳng và tác động muộn của các glucocorticoid lên củng cố trí nhớ sẽ tăng cường hiệu suất hoạt động của bộ nhớ sau này Tuy nhiên, nếu sự xuất hiện của các kích thích gây căng thẳng xảy

ra tại một thời gian dài trước khi học hoặc một thời gian ngắn trước khi phục

Trang 26

hồi trí nhớ, hoạt động của glucocorticoid thông qua hoạt hóa hệ gen trong tế bào có thể ngăn chặn quá trình xử lý thông tin mới, làm giảm trí nhớ sẽ ảnh hưởng xấu tới việc học tập mới và phục hồi các thông tin cũ [82], [116], [117]

Mô hình của thuyết này được biểu hiện trên hình 1.2

(a) Nếu căng thẳng xảy ra xung quanh khoảng thời gian trải nghiệm học tập, hoạt động của catecholamin và glucocorticoid không thông qua hoạt hóa

hệ gen trong tế bào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình mã hóa và do đó tăng cường trí nhớ tiếp theo

(b) Nếu căng thẳng xảy ra tại một thời gian đáng kể trước khi học tập, hoạt động của glucocorticoid thông qua hoạt hóa hệ gen trong tế bào có thể ức chế xử lý thông tin và làm giảm trí nhớ, không liên quan đến sự giải phóng hormon stress

Hình 1.2 Tác động ngược của stress về học tập và trí nhớ

*Nguồn: Theo Lars Schwabea, Stress effects on memory, 2012 [117]

Tạo đk thuận lợi

Trang 27

Mô hình thứ hai cho rằng kinh nghiệm học tập cùng với sự khuấy động cảm xúc (stress) có tác dụng trên cả hai yếu tố củng cố và phục hồi trí nhớ, kích thích đồng thời glucocorticoid và các sợi adrenergic hoạt động ở phần đáy bên của hạch hạnh nhân [112], [117] Glucocorticoid được giải phóng trong giai đoạn căng thẳng có thể dễ dàng vượt qua hàng rào máu - não và liên kết với thụ thể mineralocorticoid và thụ thể glucocorticoid trong vùng não limbic Ngược lại, catecholamine không thể vượt qua hàng rào máu - não, chúng kích hoạt các sợi adrenergic thuộc dây hướng tâm của thần kinh số X, sau đó dừng lại trong bó thần kinh đơn độc Sợi adrenergic trong bó thần kinh đơn độc kích thích các hạch hạnh nhân đáy bên trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua locus ceruleus Trong hạch hạnh nhân đáy bên, β adrenoceptor gắn trực tiếp với adenylcyclase để kích thích hình thành AMP vòng Glucocorticoid tương tác với hệ thống noradrenergic tại màng trước synap và màng sau synap gây ảnh hưởng đến quá trình ghi nhớ Bằng chứng gần đây cho thấy những hiệu ứng nhanh chóng của glucocorticoid trên hệ thống noradrenergic có thể

là do tác dụng với các receptor màng, hoạt hóa protein- G kép Proteinkinase

G kích thích một chuỗi enzym theo kiểu dòng thác gây biến đổi nhanh trong

tế bào thần kinh dễ bị kích thích [63], [117] Cuối cùng, glucocorticoid và catecholamin do kích hoạt của hạch hạnh nhân đáy bên có thể điều chỉnh quá trình ghi nhớ trong các vùng não khác như vùng đồi thị và vỏ não trước trán (hình 1.3)

Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy hiệu ứng căng thẳng tác động vào bộ nhớ giảm sau khi glucocorticoid bị phong tỏa hoặc sau khi giảm kích thích các sợi adrenergic và khi tổn thương hoặc ngừng hoạt động của hạch hạnh nhân đáy bên [117]

Trang 28

Hình 1.3 Glucocorticoid tương tác với hệ thống noradrenergic gây

ảnh hưởng đến quá trình ghi nhớ

*Nguồn: Theo Lars Schwabea, Stress effects on memory, 2012 [117]

1.2.3 Khả năng chú ý

Chú ý là sự định hướng tích cực của ý thức con người vào một số hiện tượng và đối tượng nhất định, đồng thời tách chúng ra khỏi các hiện tượng và đối tượng khác M.Miler, nhà tâm - sinh lý cho rằng khi một phức hợp các kích thích gây ra phản ứng và loại trừ tác dụng của tất cả các tín hiệu còn lại được gọi là sự chọn lọc và chọn lọc này chính là sự chú ý Các nhà sinh lý học cho rằng chú ý là phản xạ “cái gì đó” hay là phản xạ định hướng, phản xạ tìm tòi Tùy thuộc vào mức độ chú ý, trong tâm lý học chia chú ý làm ba loại

Bắt đầu củng cố trí nhớ Kinh nghiệm

NA noadrenalin

Trang 29

- Chú ý không chủ định là chú ý không có mục đích trước cho nên không

có sự cố gắng, khắc phục khó khăn để tập trung chú ý, mà do đối tượng có những đặc điểm khác biệt nổi bật, hấp dẫn và lôi cuốn về màu sắc, hình dáng,

âm thanh, mùi vị, khối lượng, tốc độ Đây là cơ sở của các ''mốt'' và sự quảng cáo, thu hút sự chú ý không chủ định của con người

- Chú ý có chủ định là chú ý có mục đích trước, cho nên có kế hoạch trước

để khắc phục khó khăn, tập trung chú ý, như sự chú ý trong học tập và làm việc Hai loại chú ý này dễ chuyển hoá lẫn nhau, từ chú ý không chủ định sang chú ý có chủ định và ngược lại

- Chú ý sau chủ định nảy sinh từ chú ý có chủ định Lúc đầu người ta phải nỗ lực ý chí để buộc mình tập trung vào một việc gì đó, nhưng về sau ý thức được tập trung vào đối tượng sẽ hoạt động một cách tự nhiên

Ngoài ra còn có chú ý cảm xúc là chú ý xảy ra sau một chấn thương tinh thần do sự qua đời của người thân hay sự phản bội của bạn bè Chấn thương tinh thần ấy để lại một dấu ấn trong tâm trí con người, dù muốn hay không muốn, nó

cứ tồn tại lâu trong tâm trí, kéo dài hàng tháng hay hàng năm [32], [29]

Chú ý là một hoạt động tâm lý phức tạp liên quan đến các quá trình sinh

lý thần kinh Tại Việt Nam, khi nghiên cứu trên đối tượng là học sinh, Trần Thị Loan nhận thấy sự tăng nhanh khả năng chú ý của nam, nữ học sinh cũng nằm trong khoảng thời gian tăng nhanh khả năng nhớ và thời gian phát triển, hoàn thiện về mặt cấu trúc, chức năng của não bộ [40] Nghiên cứu của một

số tác giả cho thấy biểu hiện stress rõ nhất và chiếm thứ bậc cao nhất trên sinh viên đó là khó tập trung chú ý [41]

1.2.4 Thời gian phản xạ thị giác - vận động, tốc độ xử lý thông tin

Phản xạ là đáp ứng của cơ thể đối với các kích thích từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể thông qua hệ thần kinh trung ương Phản xạ có nhiều loại: phản xạ đơn giản, phản xạ phức tạp, phản xạ có điều kiện, phản xạ không điều kiện, phản xạ định hướng

Trang 30

Cung phản xạ là đường đi của xung thần kinh từ cơ quan được kích thích tới cơ quan đáp ứng Một cung phản xạ cơ bản gồm 5 bộ phận đó là cơ quan cảm giác, đường dẫn truyền hướng tâm, trung khu thần kinh, đường dẫn truyền ly tâm và cơ quan đáp ứng Cung phản xạ chỉ hoạt động khi toàn vẹn

về cấu trúc và chức năng Cung phản xạ phức tạp, ngoài 5 bộ phận trên còn có một số bộ phận khác Ví dụ có sự tham gia của nhiều trung khu thần kinh nằm

ở các tầng khác nhau trong hệ thần kinh trung ương, có sự tham gia của các yếu tố thể dịch (các hormon, các sản phẩm chuyển hóa) và có đường thông báo ngược [44]

Thông tin đến với con người rất đa dạng, qua nhiều kênh khác nhau: thị giác (ánh sáng) chiếm tới 90%, thính giác (âm thanh), xúc giác (tiếp xúc) Để đánh giá chức năng phản xạ đối với cơ thể, ví dụ phản xạ thị giác - vận động, người ta có nhiều phương pháp đo khác nhau, trong đó có chương trình nghiên cứu của nhóm Z1, Học viện Quân y [11] dựa trên kỹ thuật xử lý trên máy vi tính, đã khắc phục được rất nhiều nhược điểm của phương pháp thô sơ trước đây Từ thời gian đo phản xạ thị giác - vận động có thể tính được tốc độ

xử lý thông tin Đây là một chỉ số được các nhà khoa học đánh giá cao trong việc nghiên cứu khả năng lao động trí óc Tốc độ xử lý thông tin phụ thuộc vào hoạt động của não bộ thông qua hai quá trình hưng phấn và ức chế Kết quả nghiên cứu của Đỗ Công Huỳnh và cs [30] cho thấy thời gian phản xạ cảm giác- vận động giảm dần theo tuổi, tuổi càng lớn (không quá 18), thời gian phản xạ càng ngắn Điều này chứng tỏ quá trình xử lý thông tin ngày càng tốt hơn theo lớp tuổi Các nghiên cứu của Tạ Thúy Lan và cộng sự, Trần Thị Loan, Mai Văn Hưng cũng cho kết quả tương tự và thời gian phản xạ của

nữ chậm hơn so với ở nam [36], [40], [33]

Trang 31

1.2.5 Nghiên cứu về mối liên quan giữa điện não đồ và hoạt động trí tuệ

Sự căng thẳng thần kinh - cảm xúc do môi trường học tập, sau các hoạt động trí tuệ là nguyên nhân gây những biến đổi về trạng thái chức năng của các tế bào thần kinh thuộc các cấu trúc khác nhau của não Những biến đổi này xuất hiện sớm và có thể nhận thấy trên hình ảnh điện não đồ Những yếu

tố bất lợi tác động lên hệ thần kinh trung ương và mức độ ảnh hưởng của chúng được thể hiện qua hình ảnh điện não đồ cho phép đánh giá trạng thái căng thẳng của hệ thần kinh giao cảm - tủy thượng thận (do tăng tiết catecholamin) làm giãn mạch não dẫn đến những biến đổi sớm trên hình ảnh lưu huyết não Hiện nay nhiều labo thăm dò chức năng đã và đang sử dụng các kỹ thuật điện sinh lý để thăm dò chức năng của hệ thần kinh, trong đó có

kỹ thuật ghi điện não đồ (electroencephalogram, EEG) ghi lại điện thế hoạt động của các tế bào thần kinh

Gottlober ghi EEG ở nhóm sinh viên bình thường, đã tìm ra được mối liên quan giữa sóng alpha và cá tính (Theo[65]) Cũng với mục đích trên Mundy - Castle cho thấy ở những cá thể phản ứng nhanh, linh hoạt có tần số sóng alpha cao hơn so với những người có phản ứng chậm chạp và tương đối cẩn thận Walter cho rằng ở những người lớn thông minh, sự biến đổi EEG rõ hơn so với những người ít thông minh Netchine cho rằng khi IQ tăng thì EEG cũng trở nên phức tạp hơn Theo Rappelsberger, khi thực hiện phép tính số học, biên độ của các sóng alpha giảm trên toàn bộ phần não sau, ở vùng trung tâm và vùng trán phải (theo [8])

Các tác giả ở Việt Nam cho thấy năng lực trí tuệ của học sinh phụ thuộc vào mức độ hoàn chỉnh các phần của não bộ, thể hiện qua hình ảnh điện não

đồ Ở các giai đoạn phát triển cá thể khác nhau sự thay đổi các chỉ số điện não

đồ theo năng lực trí tuệ không giống nhau [46] Theo Vũ Đăng Nguyên [42],

sự thay đổi các chỉ số EEG phụ thuộc vào nhiều yếu tố gây căng thẳng thần

Trang 32

kinh Nguyễn Thị Ty và Hoàng Ánh Tuyết [54] cho thấy biên độ và chỉ số alpha

ở đạo trình đỉnh chẩm tăng lên sau khi luyện tập khí công thư giãn Nghiên cứu của Trần Thị Cúc về EEG cho thấy khi suy nghĩ, biên độ và chỉ số sóng alpha giảm, còn tần số và chỉ số sóng beta tăng tỷ lệ thuận với năng lực trí tuệ [8] Như vậy việc nghiên cứu sự thay đổi EEG lúc bình thường và sau lao động trí óc là vấn đề cần thiết, cho phép xác định khả năng hoạt động trí tuệ của từng cá thể 1.3 TRẠNG THÁI CĂNG THẲNG CẢM XÚC

1.3.1 Khái niệm cơ bản về trạng thái căng thẳng cảm xúc

Trạng thái căng thẳng cảm xúc là một quá trình phức tạp liên quan đến

xã hội, yếu tố tâm lý và sinh lý

Khái niệm stress đầu tiên do Hans Sélye, chuyên gia nội tiết Canada gốc Áo đưa ra năm 1936 Theo tác giả, stress là trạng thái của cơ thể phát sinh khi bị tác động mạnh của các yếu tố từ bên ngoài hoặc bên trong cơ thể

Trong đó, cơ thể phải thay đổi đột ngột chương trình hoạt động sinh học,

nhằm đảm bảo cân bằng nội môi Những phản ứng của cơ thể trong trạng thái

stress được coi là hội chứng thích ứng chung (GAS - general adaptation

syndrome) Các kích thích gây trạng thái stress được gọi là các stressor, có thể

là các yếu tố hóa học, lý học, sinh học, mất máu, những cảm xúc mạnh đột ngột

Sự thay đổi chế độ làm việc, thay đổi chỗ ở đều có thể gây ra trạng thái stress [17], [32]

Trong khi Sélye lần đầu tiên đưa ra khái niệm về stress, Cannon là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách khái quát một phản ứng đối với sự đe dọa

mà ông gọi là phản ứng “Chống hoặc chạy” (fight or flight) Cannon cho

rằng khi một sinh vật đương đầu với một sự đe dọa sự sống còn của mình, thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ra theo một mô hình đã được “cài đặt” sẵn do sự kích thích hệ giao cảm tủy thượng thận làm tăng tiết catecholamin, giúp cho

cơ thể chống lại hoặc thoát khỏi sự kích thích đe dọa đó

Trang 33

Theo thuyết tâm lý, stress xuất hiện khi cá nhân nhận thấy rằng họ không thể ứng phó/ đáp ứng được với những yêu cầu đối với họ hoặc đe dọa sự tồn tại sức khỏe của họ Stress là kết quả của sự mất cân bằng giữa nhu cầu nhận thức từ môi trường và nguồn lực của cá nhân được nhận thức để đáp ứng với những yêu cầu đó [74] Một định nghĩa đơn giản về stress có thể được sử dụng là stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường của bạn

để ứng phó Theo các định nghĩa này, stress được hiểu dưới góc độ một hiện tượng nhận thức của cá nhân, trong mối quan hệ giữa con người và môi trường bên ngoài Tuy nhiên yếu tố môi trường không quyết định mức độ của stress

mà chính việc nhìn nhận của con người về kích thích từ môi trường mới quyết định mức độ căng thẳng của sự kiện đó

giữa yêu cầu nghề nghiệp và khả năng cá nhân để hoàn thành công việc

Nghiên cứu gần đây của Ursin và cs [124] về lý thuyết hoạt động nhận thức của stress (cognitive activation theory of stress - CATS) đã nhấn mạnh các quá trình nhận thức và kích hoạt các quá trình sinh lý thần kinh Theo tác giả thuật ngữ “stress” bao gồm bốn khía cạnh, đó là sự kích thích căng thẳng, kinh nghiệm của các căng thẳng, các phản ứng sinh lý không đặc hiệu với căng thẳng và kinh nghiệm của các phản ứng căng thẳng Đáp ứng sinh lý stress phụ thuộc vào thẩm định của cá nhân về trạng thái căng thẳng Thẩm định gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu liên quan đến việc xác định các yếu tố kích thích và những hệ quả của nó, ví dụ như yếu tố kích thích là có hại, đe dọa hoặc thách thức Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thẩm định liên quan đến việc làm thế nào dung hòa được các yếu tố kích thích gây stress và xác định chiến lược đối phó Nếu các biện pháp đối phó không có hiệu quả, stress kéo dài có thể xuất hiện và gây ảnh hưởng đến chức năng Theo CATS bệnh chỉ xảy ra khi không có sự đáp ứng đối phó thích hợp, điều đó có thể dẫn đến cảm giác bất lực và tuyệt vọng

Trang 34

Những yếu tố gây stress có thể chia thành nhiều nhóm theo đặc trưng của

nó, đó là yếu tố thực thể hay xã hội hoặc tâm lý, theo thời gian (cấp tính hoặc mạn tính) và cường độ Trong cuộc sống thực tế, nhiều yếu tố gây stress được trộn lẫn và phối hợp với nhau [97] Các yếu tố gây stress điển hình và thường xuyên xảy ra như áp lực thời gian, tiếng ồn, nhiệm vụ khó khăn, phải thực hiện kéo dài, tốc độ làm việc cao và xung đột xã hội

Ngày nay, phần lớn các tác nhân gây stress đều có bản chất tâm lý - xã hội,

vì thế không còn tuân theo các giải pháp “chống hoặc chạy” nữa, tuy nhiên sự hoạt hóa sinh lý vẫn xảy ra Khi đối đầu với một mối đe dọa về thể chất, sự hoạt hóa này tương đối ngắn Chúng ta hoặc sẽ giải quyết thành công mối đe dọa này hoặc là sẽ bị giết chết Nhưng đối với những tác nhân gây stress về tâm

lý - xã hội, sự hoạt hóa sẽ xảy ra thường xuyên và trong một thời gian dài Muốn quản lý được căng thẳng và có chiến lược đối phó thích hợp cần phải xác định được các yếu tố qui định mức độ và khả năng thích ứng với căng thẳng

Các yếu tố qui định mức độ căng thẳng:

- Cường độ của kích thích mạnh, bất ngờ gây stress cấp tính như đối tượng nhìn thấy đám cháy, đám nổ lớn, hoặc trực tiếp bị đe doạ tính mạng hay người thân bị chết đột ngột Một sự tàn khốc quá sức chịu đựng như chứng kiến sự tàn bạo đẫm máu do giao tranh, khủng bố Stress mạn tính: người bệnh bị ngược đãi, học sinh tâm lý bị dồn nén trong thi cử - học hành, những người làm việc quá khả năng của mình kéo dài, những cặp vợ chồng hôn nhân không hạnh phúc

- Thời gian và tần số của kích thích cùng với sự xuất hiện chắc chắn của stress ảnh hưởng lên sự nhận định của đối tượng Khi một sự kiện trở nên chắc chắn sẽ xảy đến, đối tượng sẽ nhận thấy nó càng lúc càng có tính thách thức và đe dọa Ví dụ những thí sinh chuẩn bị thi sẽ càng bị lo âu hơn khi kỳ thi đến gần Một khi kỳ thi thực sự bắt đầu, sẽ có sự giảm nhẹ đáng kể về cảm xúc Thời gian hiện diện của các tác nhân gây stress cũng thay đổi từ những

sự kiện có giới hạn về thời gian như thi cử đến những sự kiện kéo dài như

Trang 35

mâu thuẫn vợ chồng, tham gia chiến đấu hoặc mắc bệnh ung thư Thời gian

và tần số xuất hiện các tác nhân gây stress (tập cộng nhỏ thành lớn) cũng được xem là có vai trò trung tâm trong việc xác định những hậu quả tiêu cực của stress đối với sức khỏe Nghiên cứu về tương quan dịch tễ và thực nghiệm thấy rằng có một mối liên quan rõ rệt, tuy vừa phải, giữa tần số, cường độ và thời gian xảy ra stress với sức khỏe [51]

Khi tần số, cường độ và thời gian xảy ra sự hoạt hóa sinh lý đi kèm theo stress trở nên quá mức, nó có thể gây nên những tác dụng tai hại Điều này còn tùy thuộc vào sự nhận định của cá nhân về môi trường sống và những kỹ năng ứng phó của họ Sự hoạt hóa quá mức có thể xảy ra khi cá nhân nhận định sai lầm một sự kiện vô hại thành một sự kiện thật sự đe dọa hoặc có hại và khi họ không có đủ những kỹ năng ứng phó hiệu quả với các tác nhân gây stress

- Khả năng thích ứng của cơ thể với stress: quyết định mức độ stress

Các yếu tố qui định khả năng thích ứng của cơ thể

- Khả năng nhận biết và tiên đoán stress Việc đầu tiên là chúng ta cần nhận ra các dấu hiệu của stress Các dấu hiệu stress bao gồm những biểu hiện

về tâm thần, thể chất và các mối quan hệ xã hội Cụ thể là sự mệt mỏi, tự nhiên thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ hoặc là ngủ quên Ngoài ra, tìm đến rượu, thuốc, hoặc những biểu hiện khó chịu khác cũng là những dấu hiệu của căng thẳng Căng thẳng còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi Khả năng tiên đoán là sự biết trước khi nào sự kiện sẽ xảy ra Nói chung, những sự kiện có thể tiên đoán được thì ít gây stress hơn những sự kiện không tiên đoán được Sẽ rất có lợi nếu ta biết trước được những sự kiện ngoài ý muốn có xảy ra hay không và nếu có thì xảy ra khi nào Khả năng tiên đoán làm giảm mức độ đe dọa, nguy hại và thách thức, bằng cách cho phép ta chuẩn bị ứng phó sự kiện và biết được khi nào chúng ta được an toàn Như vậy đáp ứng sinh lý với stress không chỉ có tính không đặc hiệu (giống nhau trong mọi điều kiện có hại) mà các biến đổi sinh lý còn tùy thuộc vào cách thức phản ứng của đối tượng về hành vi và cảm xúc [51]

Trang 36

- Khả năng tiếp nhận stress Những cá nhân có khả năng tiếp nhận stress

và giải quyết vấn đề theo hướng tích cực có mức độ suy giảm tâm lý ít hơn [115] Hãy thử để "sử dụng" stress nếu bạn không thể khắc phục, cũng không thoát khỏi những gì đang làm phiền bạn, cố gắng sử dụng nó trong cuộc sống

- Sự từng trải của cơ thể với stress ảnh hưởng đến đáp ứng cortisol Ở những đối tượng có kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ thì mức cortisol không tăng so với trước khi làm nhiệm vụ, trong khi những đối tượng có ít kinh nghiệm, mức cortisol tăng cao [113] Kinh nghiệm học tập khởi xướng quá trình củng cố trí nhớ Thêm vào đó, sự khuấy động cảm xúc (stress) liên quan đến kinh nghiệm học tập kích thích sự giải phóng catecholamin và glucocorticoid từ tuyến thượng thận, hai hormon này tương tác với nhau tại phần đáy bên của hạch hạnh nhân có thể điều chỉnh quá trình ghi nhớ trong các vùng não khác như vùng đồi thị và vỏ não trước trán, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành những ký ức mới, hình dạng nhận thức và sự quan tâm đối với các căng thẳng, giúp cơ thể chống lại căng thẳng tốt hơn [117]

- Khả năng chịu đựng stress và sức đề kháng của cơ thể cũng là những yếu tố quan trọng qui định sự thích ứng của cơ thể với stress Khi tiếp xúc với căng thẳng không phải người nào cũng phản ứng như nhau Có những tình huống gây căng thẳng cho người này nhưng lại không có vấn đề gì với người khác Điều đó còn phụ thuộc vào sự mạnh, yếu về tâm lí và thể trạng của đối tượng Ví dụ: đối tượng luôn lo lắng một cách quá mức cho người thân hoặc bất cứ một công việc gì, thời gian kéo dài gây phản ứng với stress [51]

- Khả năng biến đổi stress bằng cách tương kế tựu kế, lợi dụng stress để hoàn thiện Khi đối đầu với một sự kiện gây stress, con người sẽ cố gắng "hoá giải" sự nguy hại và phòng tránh sự đe doạ bằng những hành động thuộc về nhận thức và hành vi nhằm chế ngự những đòi hỏi của sự kiện được nhận định là có tính gây stress Mỗi người sẽ lựa chọn hoặc thích nghi để phù hợp tốt hơn với môi trường hoặc thay đổi môi trường để thích hợp với nhu cầu bản thân của mình Một kiểu cách đáp ứng cũng phải có sẵn trong "vốn sống" của mỗi người, đó chính là bản lĩnh được sử dụng để ứng phó với các tác nhân gây stress [51]

Trang 37

1.3.2 Biểu hiện và cơ chế của trạng thái stress (hội chứng thích ứng chung)

Tùy theo cường độ và đặc điểm tác động của các kích thích gây stress và tùy đặc điểm của cá thể, mà biểu hiện của hội chứng thích ứng chung trong cơ thể có khác nhau Ở mức độ nhẹ các stressor thường gây rối loạn từ từ trong hoạt động của hệ thần kinh, gây mất ngủ và kèm theo là rối loạn chức năng Ở mức độ nặng, kích thích có cường độ lớn, tác động đột ngột, các tác nhân gây stress trước hết tác động lên hệ giao cảm tủy thượng thận (SAM) và hệ thống dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận (HPA) Sự kích hoạt HPA cùng với SAM sẽ dẫn đến tăng cường các hoạt động bảo vệ cơ thể, nghĩa là năng lượng được huy động để giúp

cơ thể đáp ứng lại những kích thích gây stress (hình 1.4) Sự huy động năng lượng này dẫn đến tăng hàm lượng đường và các lipid tự do trong máu, đồng thời quá trình đồng hóa bị giảm xuống Việc giảm quá trình đồng hóa liên quan đến stress kéo dài sẽ là yếu tố quan trọng gây xuất hiện bệnh tật Trong đó biến động có ý nghĩa cần theo dõi sớm là những biến đổi chức năng hệ tim mạch [121] Hội chứng thích ứng chung gồm ba giai đoạn: giai đoạn báo động, giai đoạn thích nghi

và giai đoạn suy kiệt Khi cơ thể bị stress, giai đoạn báo động sẽ bắt đầu Giai

đoạn này có những biến đổi về thể chất (soma) Biểu hiện như tim đập nhanh, huyết áp hơi tăng, hồi hộp…sau đó cơ thể lâm vào trạng thái shock: giảm huyết

áp, giảm thân nhiệt, tăng tính thấm thành mạch, rối loạn điện giải Tùy theo cường độ của kích thích gây stress, mà giai đoạn báo động có thể ngắn hoặc kéo

dài vài ngày Nếu stress kéo dài thì giai đoạn báo động sẽ chuyển sang giai đoạn

ổn định (thích nghi hay kháng cự) Trong giai đoạn này mọi cơ chế thích ứng

chung được huy động để chống đỡ, nhằm điều hòa các rối loạn diễn ra trong giai đoạn báo động, lập lại và duy trì trạng thái cân bằng nội môi Nếu sức đề kháng của cơ thể trong giai đoạn này tốt, thì các chức năng của cơ thể sẽ được phục hồi Nếu kích thích gây stress quá mạnh và tác động kéo dài, thì sự thích nghi của cơ

thể giảm dần và mất đi, cơ thể chuyển sang giai đoạn thứ ba - giai đoạn suy kiệt Ở

giai đoạn này, khả năng thích ứng của cơ thể giảm dần và chấm dứt [32]

Trang 38

Hình 1.4 Sơ đồ về cơ chế thần kinh- nội tiết điều hòa trạng thái stresss

Nguồn: Đỗ Công Huỳnh, Giáo trình Sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao(2007) [32]

HỆ THẦN KINH TRUNG ƢƠNG

Giải phóng năng lƣợng

Tổng hợp các protein điều hòa

Tổng hợp các protein enzym

- Các peptid nội sinh

Các HM giải phóng ADH

Tăng huyết áp

sau 10-15 min

Kích thích gây stress

Trang 39

1.3.3 Vai trò của các yếu tố thần kinh và thể dịch chủ yếu tham gia điều hòa trạng thái stress

Stress bao gồm những đáp ứng thuộc về cảm xúc, hành vi và sinh lý của

cơ thể thông qua sự tương tác với môi trường Đáp ứng sinh lý đối với stress được điều hòa thông qua hệ thần kinh, nội tiết và hệ miễn dịch

1.3.3.1 Vai trò của hệ thần kinh tự chủ trong hội chứng thích ứng chung

Hệ thần kinh tự chủ (autonomic nervous system - ANS) hay hệ thần kinh thực vật gồm hai phần: hệ giao cảm (sympathetic) và hệ phó giao cảm (parasympathetic) Hệ giao cảm chuẩn bị cho cơ thể thực hiện những hành động; tác dụng chung của nó trên các mô đích là gây “khởi động” (arousal)

Hệ phó giao cảm liên quan đến việc duy trì những nhu cầu cơ bản của cơ thể

Hệ giao cảm - tủy thượng thận là hệ được khởi động đầu tiên khi cơ thể bị tác động của kích thích gây stress Hoạt động của hệ này được thông qua adrenalin

Adrenalin (epinephrine) gây ra các thay đổi chức năng tim - mạch và

chuyển hóa [93], [99] Chất này trước hết tác động lên thành mạch ngoại vi gây co thành mạch, tác động lên tim gây tăng hưng phấn và co bóp của cơ tim Hiệu quả của hai tác dụng này là làm tăng huyết áp, duy trì dòng máu tuần hoàn trong cơ thể Adrenalin gây giãn mạch vành, mạch não, mạch cơ vân để tăng cung cấp máu cho các cơ quan đặc biệt quan trọng này nhằm duy trì hoạt động sống của cơ thể Đồng thời adrelanin làm giảm dòng máu đến các cơ quan như đến ống tiêu hóa, thận và các cơ quan không cần thiết cho sự hoạt động nhanh chóng của cơ Adrenalin làm tăng chuyển hóa tế bào toàn thân, tăng lực co cơ, tăng hoạt động tâm thần, tăng đường huyết do tăng phân giải glycogen thành glucose ở gan Đây là tác dụng rất quan trọng của adrenalin - cung cấp nguồn nhiên liệu cho tế bào để giải phóng năng lượng cần cho hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là trong điều kiện cơ thể bị rơi vào trạng thái stress [32]

Trang 40

1.3.3.2 Vai trò của các hormon tủy tuyến thượng thận trong phản ứng stress

Đáp ứng của các hormon tủy tuyến thượng thận trong phản ứng stress xảy ra chậm hơn, nhưng kéo dài hơn so với adrenalin do thần kinh giao cảm tiết ra vì nó liên quan đến cả hai con đường thần kinh và thể dịch Nói chung, cần khoảng 20 - 30 phút để các tác dụng sinh lý của epinephrin (E) và noepinephrin (NE) được thể hiện Những tác dụng này kéo dài khoảng một giờ hoặc hơn, vì E và NE được thải chậm khỏi hệ tuần hoàn Thời gian tác dụng của E và NE từ tuyến tủy thượng thận lâu gấp 10 lần so với đáp ứng giao cảm (theo [51]) Nồng độ của E và NE thay đổi theo tuổi và giới, cao nhất là ở nam giới độ tuổi trung niên Ở người bình thường nồng độ adrenalin máu thấp hơn 100pg/ml

Nghiên cứu về catecholamin và stress đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong những năm gần đây Vai trò của hai hệ thống thần kinh - nội tiết được chứng minh trong các nghiên cứu về stress đó là hệ thống giao cảm tủy thượng thận (sympathetic adrenalmedullary - SAM) tiết ra catecholamin và hệ thống dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận (hypothalamic - pituitary - adrenocortical HPA)tiết ra cortisol [58], [74], [83], [93], [94], [103], [114]

Theo nghiên cứu của Lundberg và Johanson năm 2000 [93] về đáp ứng của catecholamine cho thấy công nhân văn phòng khi làm việc căng thẳng tăng bài tiết epinephrine khoảng 50% so với khi nghỉ ngơi, trong khi bài tiết norepinephrine tăng rất ít hoặc không tăng Trong số các công nhân, như công nhân lắp ráp, thủ quỹ, mức epinephrine tăng lên khoảng 100% và norepinephrine khoảng 50% [59]

Học tập căng thẳng có thể được xem là một mô hình nghiên cứu tốt của trạng thái căng thẳng tự nhiên của con người [58], [78], [114] Một số nghiên cứu đã tập trung vào huyết học, miễn dịch và nội tiết của sự căng thẳng trong học tập Jammot cho thấy giảm globulin miễn dịch (IgA) trong nước bọt trước khi kiểm tra ở 64 sinh viên nha khoa Dorian và cộng sự đã chứng minh suy giảm đáp ứng mitogen trong tế bào lympho và giảm hoạt động tế bào NK

Ngày đăng: 19/12/2014, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hồng Anh (1991), “Tình hình dùng test tâm lý ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 10/1991, tr. 44-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dùng test tâm lý ở Việt Nam”, "Tạp chí nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Đỗ Hồng Anh
Năm: 1991
2. Trần Trí Bảo (2000), "Áp dụng lý thuyết thông tin trong nghiên cứu tâm- sinh lý ở người”, Tạp chí Sinh lý học, 4(1), tr. 37-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng lý thuyết thông tin trong nghiên cứu tâm- sinh lý ở người
Tác giả: Trần Trí Bảo
Năm: 2000
3. Tạ Tuyết Bình (2002), Điều tra thực trạng điều kiện lao động và sức khoẻ của người lao động thuộc nghề và công việc trên cao, Viện YHLĐ&amp;VSMT, đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng điều kiện lao động và sức khoẻ của người lao động thuộc nghề và công việc trên cao
Tác giả: Tạ Tuyết Bình
Năm: 2002
4. Bộ y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2003
5. Thùy Chi, Ngọc Mai (2001), Cách giảm stress tốt nhất (Biên dịch theo Judith Lazarus), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.28 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách giảm stress tốt nhất
Tác giả: Thùy Chi, Ngọc Mai
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
6. Phạm Hà Châu, Nguyễn Tùng Linh (2009), “Nghiên cứu một số chỉ số tim mạch của phi công trước và sau nghiệm pháp gắng sức”, Tạp chí Sinh lý học, 13 (1), tr.21- 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số tim mạch của phi công trước và sau nghiệm pháp gắng sức”, "Tạp chí Sinh lý học
Tác giả: Phạm Hà Châu, Nguyễn Tùng Linh
Năm: 2009
8. Trần Thị Cúc (2002), Nghiên cứu một số đặc điểm điện não và năng lực trí tuệ của học sinh và sinh viên thành phố Huế, Luận án tiến sỹ sinh học, trường ĐHSP Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm điện não và năng lực trí tuệ của học sinh và sinh viên thành phố Huế
Tác giả: Trần Thị Cúc
Năm: 2002
9. Daxiorski B.M. (1998), Các tố chất thể lực của vận động viên, Nxb TDTT, tr. 5-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực của vận động viên
Tác giả: Daxiorski B.M
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1998
10. Nguyễn Bích Diệp, Lê Gia Khải, Tạ Tuyết Bình (2002), “Gánh nặng tâm thần”, Tâm sinh lý lao động và ecgonomi, Nxb Y học, Hà Nội, tr.257 - 282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng tâm thần”, "Tâm sinh lý lao động và ecgonomi
Tác giả: Nguyễn Bích Diệp, Lê Gia Khải, Tạ Tuyết Bình
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
11. Ngô Tiến Dũng, Đỗ Công Huỳnh và cộng sự (2001), "Chương trình hóa các test tâm lý", Tạp chí Sinh lý học, 5(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hóa các test tâm lý
Tác giả: Ngô Tiến Dũng, Đỗ Công Huỳnh và cộng sự
Năm: 2001
12. Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà (1996), “Một số vấn đề chung về phương pháp luận trong nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học” Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 13 -18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về phương pháp luận trong nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học” "Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1996
13. Trịnh Bỉnh Dy (1998), Sinh lý tuần hoàn, Sinh lý học - tập I, Nxb Y học, tr. 176 - 275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý tuần hoàn
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1998
14. Dương Tự Đam (1999), Những phương pháp tiếp cận thanh niên hiện nay, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương pháp tiếp cận thanh niên hiện nay
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 1999
15. Trần Văn Đại, Tạ Tuyết Bình (2009), “Biến đổi điện não đồ của điều độ viên chỉ huy chạy tàu trước và sau ca lao động”, Tạp chí Y học quân sự, 4, tr. 8 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi điện não đồ của điều độ viên chỉ huy chạy tàu trước và sau ca lao động”, "Tạp chí Y học quân sự
Tác giả: Trần Văn Đại, Tạ Tuyết Bình
Năm: 2009
16. Phạm Thị Minh Đức (1997), “Huyết áp động mạch”, Chuyên đề Sinh lý học - tập I, NxbY học, tr. 51 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyết áp động mạch”, "Chuyên đề Sinh lý học - tập I
Tác giả: Phạm Thị Minh Đức
Nhà XB: NxbY học
Năm: 1997
17. Phạm Thị Minh Đức (2007), “Sinh lý nội tiết”, Sinh lý học, Nxb Y học, tr. 287- 339 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý nội tiết”," Sinh lý học
Tác giả: Phạm Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
18. Nguyễn Thu Hà, Tạ Tuyết Bình (2006), “Sự căng thẳng hệ tim mạch ở nhân viên y tế”, Tạp chí Sinh lý học, 10 (3), tr.61 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự căng thẳng hệ tim mạch ở nhân viên y tế”, "Tạp chí Sinh lý học
Tác giả: Nguyễn Thu Hà, Tạ Tuyết Bình
Năm: 2006
19. Nguyễn Thu Hà, Tạ Tuyết Bình, Trần Thanh Hà (2008), “Đánh giá stress nghề nghiệp và biến thiên nhịp tim trong lao động qua ghi holter điện tâm đồ 24 giờ ở điều độ viên”, Tạp chí Sinh lý học, 3 (12), tr.63 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá stress nghề nghiệp và biến thiên nhịp tim trong lao động qua ghi holter điện tâm đồ 24 giờ ở điều độ viên”, "Tạp chí Sinh lý học
Tác giả: Nguyễn Thu Hà, Tạ Tuyết Bình, Trần Thanh Hà
Năm: 2008
20. Trần Thanh Hà (1998), Nghiên cứu dự báo khả năng lao động của bộ đội tiêu binh, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dự báo khả năng lao động của bộ đội tiêu binh
Tác giả: Trần Thanh Hà
Năm: 1998
21. Trần Thanh Hà, Nguyễn Bạch Ngọc (2003), “Phân loại khả năng thích nghi với điều kiện lao động khắc nghiệt bằng phương pháp phân tích toán học nhịp tim”, Tạp chí Y học dự phòng, 1 (13), tr. 82 - 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại khả năng thích nghi với điều kiện lao động khắc nghiệt bằng phương pháp phân tích toán học nhịp tim”, "Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Trần Thanh Hà, Nguyễn Bạch Ngọc
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các vùng trong hippocamp (CA1, CA2, CA3) có liên quan đến trí nhớ - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 1.1. Các vùng trong hippocamp (CA1, CA2, CA3) có liên quan đến trí nhớ (Trang 23)
Hình 1.2. Tác động ngược của stress về học tập và trí nhớ - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 1.2. Tác động ngược của stress về học tập và trí nhớ (Trang 26)
Hình 1.3. Glucocorticoid tương tác với hệ thống noradrenergic gây - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 1.3. Glucocorticoid tương tác với hệ thống noradrenergic gây (Trang 28)
Hình 1.4. Sơ đồ về cơ chế thần kinh- nội tiết điều hòa trạng thái stresss  Nguồn: Đỗ Công Huỳnh, Giáo trình Sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao(2007) [32] - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 1.4. Sơ đồ về cơ chế thần kinh- nội tiết điều hòa trạng thái stresss Nguồn: Đỗ Công Huỳnh, Giáo trình Sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao(2007) [32] (Trang 38)
Bảng 2.4. Bảng đánh giá khả năng tư duy - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Bảng 2.4. Bảng đánh giá khả năng tư duy (Trang 57)
Bảng 2.5. Bảng đánh giá trí nhớ ngắn hạn - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Bảng 2.5. Bảng đánh giá trí nhớ ngắn hạn (Trang 57)
Hình 2.3. Mô hình nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 2.3. Mô hình nội dung nghiên cứu (Trang 64)
Hình 3.1. Biểu đồ trạng thái thần kinh thực vật  của sinh viên - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 3.1. Biểu đồ trạng thái thần kinh thực vật của sinh viên (Trang 66)
Bảng 3.5. Tốc độ xử lý thông tin (bit/s) của sinh viên từng khối, theo giới,( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Bảng 3.5. Tốc độ xử lý thông tin (bit/s) của sinh viên từng khối, theo giới,( X ± SD) (Trang 69)
Hình 3.2. Tốc độ xử lý thông tin chung của sinh viên, theo khối - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 3.2. Tốc độ xử lý thông tin chung của sinh viên, theo khối (Trang 70)
Bảng 3.8. Phân loại mức trí tuệ theo các khối và theo giới của sinh viên - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Bảng 3.8. Phân loại mức trí tuệ theo các khối và theo giới của sinh viên (Trang 72)
Hình 3.4. Phân loại mức trí tuệ tính theo chỉ số IQ và theo giới của sinh viên - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 3.4. Phân loại mức trí tuệ tính theo chỉ số IQ và theo giới của sinh viên (Trang 74)
Hình 3.5.  Đồ thị tương quan giữa chỉ số IQ và điểm học tập trung bình - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 3.5. Đồ thị tương quan giữa chỉ số IQ và điểm học tập trung bình (Trang 76)
Hình 3.6. Biểu đồ số dãy số xác định đúng của sinh viên từng khối - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 3.6. Biểu đồ số dãy số xác định đúng của sinh viên từng khối (Trang 78)
Hình 3.7. Biểu đồ phân loại khả năng tư duy chung của sinh viên (n=600) - Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh
Hình 3.7. Biểu đồ phân loại khả năng tư duy chung của sinh viên (n=600) (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w