Bảo hộ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật việt nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trong quá trình phát triển của xã hội, khi bắt đầu xuất hiện nền sảnxuất hàng hoá và kinh doanh trở thành một nghề độc lập, các thương nhâncũng bắt đầu tích luỹ cho mình những kỹ năng, kinh nghiệm trong sản xuất,kinh doanh (know – how) đồng thời cũng tìm tòi, sáng tạo những bí quyết,những kỹ năng mới để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa mình Tính cạnh tranh trong sản xuất và thương mại đòi hỏi mỗi thươngnhân phải có những ưu thế nhất định để cạnh tranh với các thương nhân khác.Yêu cầu này đã dẫn đến việc các thương nhân phải giữ bí mật những kỹ năng,kinh nghiệm đã tích luỹ được cũng như những bí quyết, kỹ năng mới mà họsáng tạo ra và chỉ truyền cho con cháu họ Những kỹ năng, kinh nghiệm, bíquyết được giữ bí mật này chính là bí mật kinh doanh mà chúng ta đang bàntới ngày nay
Trong nền kinh tế hiện đại, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh ngàycàng khốc liệt Lợi thế cạnh tranh ngày nay không còn nằm chủ yếu ở tàinguyên thiên nhiên hoặc lao động rẻ, mà nghiêng về tiềm lực tri thức và côngnghệ Xu hướng này làm cho các nhà sản xuất ngày càng quan tâm đến việcsản xuất ra các sản phẩm có hàm lượng khoa học – công nghệ cao và đòi hỏinhà nước phải có những định hướng, tác động và bảo hộ nhất định cho nhữngnhà sản xuất kinh doanh đầu tư, nghiên cứu, sáng tạo ra khoa học – côngnghệ
Trên thế giới, các sản phẩm trí tuệ đã được bảo hộ từ lâu Cùng với sựphát triển của xã hội và tri thức, các nhà nước đã sử dụng nhiều hình thứckhác nhau để bảo hộ cho các sản phẩm trí tuệ khác nhau Các sản phẩm trí tuệ
có liên quan đến kinh doanh và hoạt động kinh doanh có thể được bảo hộbằng cách cấp patent cho sáng chế, cho giải pháp hữu Ých trong sản xuấthoặc cấp patent cho kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá Tuy nhiên,bên cạnh việc nhờ đến các hình thức bảo hộ của pháp luật để bảo vệ các sản
Trang 2phẩm trí tuệ và lợi Ých của mình, các chủ thể kinh doanh cũng tự mình giữ bímật các sản phẩm trí tuệ khác bởi họ nhận thấy trong một số trường hợp việcgiữ bí mật này tạo ra lợi thế cạnh tranh cho họ Chính vì vậy, để đảm bảo chocác doanh nghiệp được cạnh tranh trong một môi trường lành mạnh, đảm bảocho các doanh nghiệp tự mình tìm tòi sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ có vị thếcạnh tranh xứng đáng với những đầu tư tài sản trí tuệ mà họ đã bỏ ra, các nhànước cũng bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thểkinh doanh và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được coi là một trongnhững hành vi có tính chất cạnh tranh không lành mạnh Ở cấp độ quốc tế,bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh cho các chủ thể kinh doanhtrong đó bao hàm cả hành bảo hộ bí mật kinh doanh cho các chủ thể kinhdoanh được ghi nhận từ năm 1900 Cho đến 1994, khi các nước ký kết Hiệpđịnh TRIPs để bảo hộ các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ thìthông tin bí mật trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã được bảo hộ như làmột đối tượng riêng biệt của quyền sở hữu trí tuệ.
Ở Việt Nam, trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam –Hoa Kỳ đã ghi nhận cam kết việc bảo hộ thông tin bí mật cho các chủ thểkinh doanh và phía Hoa Kỳ cũng đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng hoànthiện pháp luật để thực thi cam kết này
Đáp ứng yêu cầu đó và cũng để phù hợp với pháp luật quốc tế, Chínhphủ Việt Nam đã ban hành Nghị Định 54/2000/NĐ - CP trong đó ghi nhận sựbảo hộ đối với bí mật kinh doanh với tư cách là một đối tượng của quyền sởhữu công nghiệp
Nh vậy, ở pháp luật của các quốc gia còng nh luật quốc tế, bí mật kinhdoanh đã được thừa nhận với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu trítuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng Tuy vậy, ở Việt Nam, đốitượng này còn khá xa lạ cả trong lý luận lẫn thực tiễn Chính vì vậy, tiếp cậndưới góc độ khoa học pháp lý về đối tượng này nhằm nâng cao nhận thức về
Trang 3pháp luật thực định cũng như lý luận khoa học về đối tượng này là nhu cầu cótính cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Cho tới hiện nay, ở nước ta chưa có một công trình khoa học nàonghiên cứu một cách đồng bộ và toàn diện về bí mật kinh doanh với tư cách làmột đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Các nghiên cứu về bí mật kinhdoanh mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài khía cạnh riêng lẻ của nóđang trên các báo và tạp chí trong nước và trình bày trong hội thảo khoa học
về bí mật kinh doanh do Cục sở hữu trí tuệ tổ chức, bao gồm nghiên cứu củacác tác giả sau:
- Tác giả Nguyễn Thị Quế Anh có bài “Một số vấn đề về bảo hộ bí mậtkinh doanh và hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam”đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế –Luật số 3 năm 2004 Trong bài viết này tác giả đã giới thiệu sơ lược về hệthống pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh trên thế giới và chỉ ra được các đặctrưng của quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong mốitương quan so sánh với các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp.Trong bài viết này, tác giả cũng chỉ ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện vànâng cao hiệu quả của việc bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam
- Tác giả Kiều Thị Thanh và Nguyễn Thị Hằng có bài viết “Quyền sởhữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh đăng trên Tạp chí luật học số3/2002 Trong bài viết này hai tác giả đã căn cứ trên các quy định của phápluật về bí mật kinh doanh được quy định trong Nghị Định 54/2000/NĐ - CP
để phân tích và chỉ ra được một số hạn chế của pháp luật về bí mật kinhdoanh của Việt Nam theo quy định của trong Nghị định 54/2000/NĐ - CP
- Nghiên cứu bí mật kinh doanh cùng với các đối tượng khác của nhiềutác giả được thể hiện trong cuốn sách “Bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam –một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Hồng Hạnh chủbiên Trong sách này các tác giả đã chỉ ra được sự không tương thích trong
Trang 4pháp luật Việt Nam về bảo hộ bí mật kinh doanh với Hiệp định TRIPs vàHiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.
Như vậy, có thể thấy khoa học pháp lý về bảo hộ bí mật kinh doanh ởViệt Nam mới đang phát triển ở những bước đầu tiên Nghiên cứu của các tácgiả nói trên đã đóng góp vào khoa học pháp lý Việt Nam một số khía cạnhnhất định Nhưng xét một cách toàn diện thì các nghiên cứu đó vẫn chưa đápứng được nhu cầu nhận thức của xã hội nói chung về đối tượng này Nghĩa làtrên thực tế có rất nhiều khía cạnh liên quan đến bí mật kinh doanh chưa được
xem xét đến Đây là lý do thứ hai khiến tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Bảo
hộ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam” trong khoá
luận tốt nghiệp thạc sĩ của mình
3 Phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về
bí mật kinh doanh, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành nhằmchỉ ra các thiếu sót, khiếm khuyết và kiến nghị các phương hướng và các giảipháp hoàn thiện
Với mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bí mật kinh doanh và bảo hộ bímật kinh doanh ở Việt Nam và trên thế giới
- Nghiên cứu pháp luật thực định, so sánh pháp luật thực định của ViệtNam với pháp luật của các nước trên thế giới và các Điều ước quốc tế về bảo
hộ bí mật kinh doanh
- So sánh, đánh giá phân tích để chỉ ra các thiếu sót, khiếm khuyết và
đề ra kiến nghị và giải pháp hoàn thiện
Với đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cũngnhư pháp luật thực định về bí mật kinh doanh, cụ thể bao gồm các vấn đề sau:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về bí mật kinh doanh như : Cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh; khái niệm bí mật kinh doanh
Trang 5và quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh; mối quan hệ giữa bímật kinh doanh với các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ;
- Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền sở hữucông nghiệp đối với bí mật kinh doanh trên cơ sở đó đề ra phương hướng vàgiải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về bảo hộ bí mật kinh doanh
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đi sâu nghiên cứu về các vấn đề lýluận về bí mật kinh doanh và các phương thức bảo vệ bí mật kinh doanh bằngbiện pháp dân sự, hành chính, hình sự theo quy định của pháp luật Việt Namnhằm giải quyết một số vấn đề lý luận cũng như thực trạng của pháp luậtViệt Nam trong việc bảo hộ đối tượng này
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đứng trên thế giới quan và phươngpháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử củaMác - Lênin Trong quá trình nghiên cứu, đối với từng vấn đề cụ thể của đềtài, tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, so sánh, diễn dịch,quy nạp để đạt được kết quả nghiên cứu
5 Bố cục luận văn:
Ngoài phần Lời nói đầu, phần Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương và có kết cấu chi tiếtnhư sau:
Chương I: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh
1.2 Khái niệm bí mật kinh doanh, quyền sở hữu công nghiệp đối với bímật kinh doanh
1.3 So sánh bí mật kinh doanh với các đối tượng khác của quyền sởhữu trí tuệ
Trang 6Chương II: Những quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
2.1 Các điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh
2.2 Căn cứ phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bímật kinh doanh
2.3 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh2.4 Bảo vệ bí mật kinh doanh theo quy định pháp luật Việt Nam
Chương III: Định hướng và những giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.
3.1 Định hướng chung
3.2 Giải pháp hoàn thiện
Trang 7Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH.
1.1.1 Khuyến khích hoạt động nghiên cứu và sáng tạo.
Mét trong những quan điểm lý luận làm cơ sở, nền tảng cho việc bảo
hộ bí mật kinh doanh là luận điểm cho rằng bảo hộ bí mật kinh doanh sẽkhuyến khích được hoạt động nghiên cứu và sáng tạo Paul Romer, trong một
nổ lực nhằm chứng minh rằng các nước đang phát triển hoàn toàn có khảnăng sử dụng ưu điểm của tiến bộ công nghệ đang có, Romer giả định rằngtiến bộ công nghiệp đòi hỏi hoạt động phối hợp, hướng tới lợi nhuận tạo rahai bộ phận riêng biệt: (a)những đặc trưng kỹ thuật cụ thể được sáp nhập vàonhững sản phẩm có khả năng nhận bằng độc quyền sáng chế và đưa vào sảnxuất, trong khi loại trừ hoạt động của các hãng khác ra khỏi hoạt động đó; (b)
sự giác ngộ rằng các đặc trưng nói trên về cơ bản là sản phẩm công cộng Đểkhuyến khích mọi người và tổ chức tham gia tạo ra tri thức truyền thống,nguyên tắc về sự loại trừ phải được viện dẫn Ông lập luận rằng có hai cách
để loại trừ những người khác: thứ nhất là giữ bí mật tri thức và thứ hai là việndẫn pháp luật có hiệu lực về sở hữu trí tuệ [2, tr 30]
Có rất nhiều ý kiến phản bác lại quan điểm này, cho rằng dường nh sùbảo hộ bí mật kinh doanh kìm hãm chứ không phải là thúc đẩy hoạt độngnghiên cứu và sáng tạo Những người phản bác lại quan điểm này cho rằng:
để thúc đẩy hoạt động sáng tạo trong kinh doanh thương mại đòi hỏi phảI thúcđẩy tự do cạnh tranh bằng việc cho phép sử dụng không hạn chế các ý tưởngtrong khu vực công cộng Trong khi đó, việc bảo hộ bí mật kinh doanh (kể cả
Trang 8đối với bảo hộ sáng chế) lại cho phép chủ sở hữu độc quyền ở mức độ nhấtđịnh đối với các ý tưởng (các sản phẩm trí tuệ) của mình Riêng đối với bímật kinh doanh việc bảo hộ vô thời hạn sẽ làm cho chủ sở hữu trì hoãn sự đầu
tư để nghiên cứu và sáng tạo, đồng thời làm cho các chủ thể khác tốn thờigian và tiền bạc để nghiên cứu một vấn đề đã được nghiên cứu rồi
Tuy nhiên, những người ủng hộ quan điểm trên cho rằng: sự độc quyền
ở một mức độ nhất định không thể kìm hãm sự nghiên cứu và sáng tạo Bởi
lẽ, việc cho phép độc quyền sẽ tạo ra cho chủ sở hữu, chủ thể đã đầu tư sángtạo ra ý tưởng những lợi Ých vật chất nhất định, đủ để bù đắp và trả côngxứng đáng cho việc đầu tư và sáng tạo của họ, từ đó khuyến khích họ tiếp tụcnghiên cứu, sáng tạo để tạo ra các sản phẩm có giá trị cho xã hội, thúc đẩy sựphát triển của xã hội Mặt khác, sự độc quyền của chủ sở hữu đối với bí mậtkinh doanh không phải là sự độc quyền tuyệt đối, không có nghĩa là chủ sởhữu bí mật kinh doanh là chủ thể duy nhất sử dụng bí mật kinh doanh Nhữngngười khác không phải là chủ sở hữu có thể sử dụng bí mật kinh doanh trên
cơ sở thiết lập các mối quan hệ tin cậy trên cơ sở hợp đồng với chủ sở hữu.Việc bảo hộ bí mật kinh doanh là đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu, người
đã đầu tư tài sản hoặc trí tuệ để tạo ra hoặc có được bí mật kinh doanh, đồngthời chống lại các hành vi bất hợp pháp của chủ thể khác xâm phạm quyền lợicủa chủ sở hữu
Còng có quan điểm cho rằng để khuyến khích sự nghiên cứu và sángtạo, pháp luật bảo hộ sáng chế có tính ưu việt hơn Bởi lẽ, pháp luật bảo hộsáng chế không chỉ đảm bảo sự độc quyền cho chủ sở hữu mà còn buộc chủ
sở hữu phải công khai thông tin trong khu vực công cộng nhằm thúc đẩy sự tự
do cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh Tuy nhiên thực tế chứng minhrằng, không phải bất kỳ sản phẩm nào của trí tuệ cũng có thể được bảo hộtheo pháp luật bảo hộ sáng chế Truớc hết, bằng độc quyền sáng chế chỉ cấpcho các sáng chế trong lĩnh vực công nghệ chứ không cấp cho những thànhtựu trong hoạt động thương mại, cung ứng dịch vụ hoặc quản lý kinh doanh…
Trang 9Hơn nữa, một số phát minh hay thông tin kỹ thuật trong khi tạo ra một lợi thếthương mại giá trị cho mét doanh nhân nào đó thì có thể lại thiếu tính mớihoặc tính sáng tạo theo yêu cầu để có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế,chõng nào mà thông tin chưa được tiết lé cho công chúng thì, chủ sở hữuthông tin được cấp bằng độc quyền sáng chế phải được cấp bằng để chống lạibất kể việc người nào tiết lé thông tin sai trái, bất kể cuối cùng đơn xin cấpbằng sáng chế có được chấp nhận hay không Mặt khác, sự tồn tại của phápluật bảo hộ sáng chế cũng không thể triệt tiêu sự tồn tại của các hình thức bảo
hộ khác của pháp luật nhằm khuyến khích sự sáng tạo
1.1.2 Duy trì và nuôi dưỡng sự trung thực trong kinh doanh – thương mại.
Trong hoạt động kinh doanh – thương mại, lợi nhuận là vấn đề hàngđầu mà các thương nhân quan tâm Tuy nhiên, yêu cầu của xã hội là cácthương nhân có thể quan tâm đến lợi nhuận, có thể làm thế nào đó để thuđược lợi nhuận cao nhất nhưng không được xâm phạm đến lợi Ých xã hội vàlợi Ých của nhà kinh doanh khác Để đảm bảo được điều đó, pháp luật phảiđiều chỉnh hoạt động kinh doanh
Giả sử, đến một ngày nào đó, trong xã hội không tồn tại pháp luật vàtrong xã hội đó, không ai có nhiệm vụ phải cạnh tranh công bằng và trungthực với người khác Trong xã hội đó pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệcũng không tồn tại Khi đó, chắc chắn rằng thương trường sẽ nảy sinh rấtnhiều vấn đề Việc ăn cắp và sử dụng ý tưởng có giá trị của người khác sẽ trởnên phổ biến Các thương vụ sẽ được thực hiện trong sự sợ hãi và nghi ngờ.Bất cứ một ý tưởng có giá trị nào của doanh nghiệp cũng sẽ có thể bị bánhoặc mua bởi các nhân viên của chính doanh nghiệp đó Tại sao các thươngnhân phải đầu tư thời gian và tiền bạc để nghiên cứu hoặc phát triển một sảnphẩm hay quy trình mới khi tất cả những gì cần làm là tìm một nhân viên củacông ty khác để thu thập những kiến thức, ý tưởng, thông tin mới nhất Tạisao phải đầu tư một khoản tiền lớn để nghiên cứu trong khi kết quả nghiên
Trang 10cứu có thể bị bán bất cứ lúc nào bởi một nhân viên của công ty cho đối thủcạnh tranh của mình hoặc cho người nào trả giá cao nhất.
Sù suy luận từ giả định trên là một minh chứng cho luận điểm phải bảo
hộ bí mật kinh doanh Pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh tạo ra sự ổn địnhcho môi trường kinh doanh, duy trì các mối quan hệ tốt đẹp trong kinh doanhbằng việc cung cấp và buộc các thương nhân phải tuân thủ các nguyên tắckinh doanh công bằng và trung thực, ngay cả khi các nguyên tắc này khôngđược xác lập trong hợp đồng Đi xa hơn nữa, việc bảo hộ bí mật kinh doanhcòn tạo ra mét khung pháp lý nhằm khuyến khích việc trao đổi thông tin tù dogiữa các chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động của các chủ thể này.[14]
Lịch sử phát triển của pháp luật cũng chỉ ra rằng nhiều xã hội đã quantâm tới việc duy trì và nuôi dưỡng đạo đức kinh doanh bằng việc bảo hộ bímật kinh doanh trong nhiều tình huống và mối quan hệ khác nhau Chẳng
hạn, trong thời kỳ La Mã cổ đại ghi nhận nguyên tắc servi corrupti [5, tr 195]
– một nguyên tắc cho phép chủ nô kiện người thứ ba về sự bất trung của nô
lệ Nếu một người thứ ba xui khiến nô lệ bất trung bất trung gây thiệt hại chochủ nô thì chủ nô có quyền kiện yêu cầu người thứ ba bồi thường thiệt hại vì
sự bất trung của nô lệ Mức bồi thường là gấp đôi thiệt hại thực tế đã đượcgây ra do việc sử dụng hoặc tiết lé thông tin bí mật Thiệt hại cũng bao gồm
sự bồi hoàn của người thứ ba cho chủ sở hữu về giảm sút giá trị của nô lệ(trong sù so sánh với một nô lệ trung thành)
Khi cách mạng công nghiệp thay thế cho sản xuất nông nghiệp với máymóc và sự gia tăng người lao động lưu động Sự thay đổi này đã tạo ra khảnăng các nhà kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh bằng cách lợi dụng sựbất trung của công nhân đối với chủ cũ của mình hoặc bằng cách đánh cắp cáctài liệu, giấy tờ liên quan đến bí mật trong sản xuất và kinh doanh của các nhàkinh doanh khác.Vì vậy, các nhà nước ở Châu Âu bắt đầu quan tâm đến việcduy trì và nuôi dưỡng sự trung thực trong kinh doanh Từ giữa thế kỷ XIX,
Trang 11Pháp và Bỉ đã có ghi nhận trong Luật hình sự các tội phạm về tiết lé bí mậtcủa các nhà máy Tương tự, các chế tài dân sự cho người xâm phạm bí mậtkinh doanh cũng được quy định trong Luật cạnh tranh không lành mạnh 1909
ở Đức
Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ cũng bảo hộ bí mật kinh doanh để tăngcường sự trung thực trong thương mại ở Anh, tuy không có văn bản luật để
áp dụng đối với bí mật nhưng trong hệ thống pháp luật đã xem xét việc bảo hộ
bí mật kinh doanh từ rất sớm, từ những năm đầu của thể kỷ XIX Cho đếnnăm 1820, Toà án tối cao của Anh đã ban hành một sắc lệnh chống lại việc sửdụng và bộc lé bí mật kinh doanh do vi phạm hợp đồng bảo mật
Quan điểm về bảo hộ bí mật kinh doanh để tăng cường sự trung thựctrong thương mại ở Mỹ chịu sự ảnh hưởng của Anh và bắt đầu vào khoảngnăm 1837 và trung thành với quan điểm đó cho tới ngày nay Hiện nay, Mỹ làmột trong sè Ýt các quốc gia có một đạo luật riêng để bảo hộ bí mật kinhdoanh Đa số các quốc gia khác chỉ bảo hộ bí mật kinh doanh trong các vănbản pháp luật chung cho các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ
Nh vậy, bảo hộ bí mật kinh doanh để duy trì và nuôi dưỡng sự trungthực trong thương mại và đạo đức kinh doanh là cơ sở lý luận còng nh thựctiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh ở đa số các nước trên thế giới Hệthống pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh trong hệ thống pháp luật quốcgia và quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ là một minh chứng cho tínhđúng đắn của cơ sở lý luận nói trên và thực tiễn kinh doanh trên toàn thế giới
1.1.1.1.Bảo vệ quyền dân sự cơ bản của cá nhân.
Có một nguyên tắc đã trở thành chân lý khi xã hội loài người bước rakhỏi thời kỳ công xã nguyên thủy, đó là, bất kỳ ai cũng có quyền sở hữu đốivới thành quả lao động do mình tạo ra hoặc do mình đầu tư công sức, tài sảnhoặc trí tuệ mà có Đó là quyền dân sự cơ bản của cá nhân Lúc đầu, nguyêntắc này chủ yếu được áp dụng đối với các thành quả lao động mang tính hữuhình Dần dần, cùng với sự phát triển của xã hội, nguyên tắc này còn được áp
Trang 12dụng đối với các thành quả lao động được tạo ra từ hoạt động trí não của conngười Trên cơ sở nguyên tắc này mà ngày nay pháp luật bảo hộ quyền sở hữunói chung trong đó có quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ nói riêng.
Việc bảo hộ bí mật kinh doanh cũng xuất phát từ nguyên tắc nói trên.Mặt khác, tài sản trí tuệ là loại tài sản có đặc điểm khác với các loại tài sảnhữu hình Chủ sở hữu các loại tài sản hữu hình nhìn chung có thể quản lý,kiểm soát và ngăn cản người khác sử dụng tài sản của mình khi thực hiện việcchiếm hữu tài sản đó Đặc tính vô hình của tài sản trí tuệ nói chung không chophép các chủ thể có thể chiếm hữu tài sản trí tuệ theo cách thức thông thường.Chủ sở hữu các tài sản trí tuệ rất khó quản lý, kiểm soát hay ngăn cản ngườikhác sử dụng tài sản trí tuệ của mình vào nhiều mục đích khác nhau khi họ đãbiết đến nó Đặc trưng này của tài sản trí tuệ nói chung đòi hỏi pháp luật phảIđảm bảo cho chủ sở hữu trí tuệ quyền được công bố công khai hay khôngcông bố công khai tài sản trí tuệ do mình tạo ra hoặc do mình đầu tư để tạo ra.Cho dù chưa xét đến khía cạnh thương mại của sự bảo hộ này thì việc giữ bímật tài sản trí tuệ do mình tạo ra hoặc do mình đầu tư tà sản để tạo ra vẫn làmột quyền dân sự cơ bản của cá nhân nhằm đảm bảo cho cá nhân được quyềnquản lý và kiểm soát tài sản trí tuệ của mình tránh các hành động chiếm đoạthoặc lợi dụng tài sản trí tuệ đó.[14]
1.1.4 Ý nghĩa thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh.
Ngoài các quan điểm lý luận trên đây, việc bảo hộ bí mật kinh doanhcòn bắt nguồn từ những ý nghĩa thực tiễn của việc bảo hộ
Ngày nay, hàm lượng chất xám cần có trong hoạt động kinh doanh là
vô cùng lớn Để có được hàm lượng chất xám trong hoạt động kinh doanh củamình, các chủ thể kinh doanh phải không ngừng đầu tư nghiên cứu và sángtạo Chính vì vậy, tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp rất đa dạng về loạihình và mức độ giá trị Cho nên, cần phải phát triển nhiều hình thức và cơ chếbảo hộ nhằm tối đa hoá sự bảo hộ của nhà nước đối với các loại tài sản trí tuệcủa doanh nghiệp
Trang 13Ở một khía cạnh khác, sự bảo hộ tài sản trí tuệ trên thực tế rất phù hợpvới doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự hạn chế về vốn dẫn đến sự hạn chế về pháttriển công nghệ dẫn đến việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể đủ sức
để tạo ra một tài sản trí tuệ được cấp bằng sáng chế cũng như khó có thể có đủtiền để trả chi phí cho việc nép đơn cấp bằng sáng chế Cơ chế bảo hộ bí mậtkinh doanh tạo ra sự dễ dàng và Ýt tốn kém trong việc xác lập và kiểm soátquyền vì vậy nó thích hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bảo vệ tài sản trítuệ của mình [7]
1.2 KHÁI NIỆM VÀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH.
1.2 Khái niệm bí mật kinh doanh.
Thuật ngữ “bí mật kinh doanh” (còn gọi là “bí mật thương mại” hay “bímật sản xuất hoặc thương mại”) là một thuật ngữ không xa lạ đối với ngườikinh doanh Hoạt động kinh doanh và thương mại còng nh các hoạt động xãhội khác, nếu muốn thành thạo, muốn đạt hiệu quả tối ưu thì con người cầnphải có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng trong hoạt động Kiến thức, kinhnghiệm, kỹ năng của con người thường được hình thành dần dần và được tíchluỹ từ đời này sang đời khác Quyền tư hữu đối với sản phẩm lao động domình tạo ra đã dẫn đến việc con người thường chỉ truyền lại kiến thức, kỹnăng, kinh nghiệm cho con cháu mình hoặc những người thân thuộc vớimình Trong kinh doanh, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng đó người ta gọi
là là bí quyết hoặc know – how Mặt khác, nhằm đạt lợi nhuận tối đa trongkinh doanh, thương mại con người cũng luôn phải tìm tòi, sáng tạo ra nhữngcách thức, những phương pháp sản xuất hoặc kinh doanh mới hoặc tạo ra cácthông tin có Ých khác Vì lợi Ých của mình những cách thức, phương phápnày cũng được các thương nhân giữ bí mật để sử dụng riêng Đó là cội nguồncủa bí mật kinh doanh
Trên thực tế kinh doanh hiện nay, các thương nhân có thể coi nhiều loạithông tin khác nhau là bí mật kinh doanh[7]:
Trang 14Đó có thể là các thông tin khoa học nh: Hướng nghiên cứu phát triểnkhoa học của doanh nghiệp; các kết quả nghiên cứu khoa học ; các báo cáophóc trình về hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của doanh nghiệp…
Đó cũng có thể là thông tin công nghệ, kỹ thuật như: các công thứchoặc thành phần phối liệu, tỷ lệ hàm lượng vật liệu; các phương pháp, quytrình sản xuất; cấu trúc của sản phẩm; mã nguồn và các chương trình máytính; tài liệu thiết kế, thông số kỹ thuật, sơ đồ kiến trúc…
Đó cũng có thể là các thông tin thương mại, như: danh sách các nhàcung cấp, danh sách khách hàng; nhu cầu, ước muốn, thái độ, cơ cấu tiêudùng của khách hàng; đặc điểm của khách hàng thân thiết; phương án cungứng, lưu trữ chăm sóc khách hàng; kế hoạch, chiến lược kinh doanh, tiếp thị,quảng cáo; ý tưởng kinh doanh; kết quả nghiên cứu, khảo sát thị trường…
Đó cũng có thể là các thông tin tài chính: cấu trúc giá thành, phương ánđầu tư, chính sách hoa hồng, chi phí…
Ngoài ra, các bí mật về sơ suất hay thất bại của doanh nghiệp cũngđược coi là bí mật kinh doanh: nguyên nhân thất bại trong giải pháp khắcphục kỹ thuật, nguyên nhân thất bại trong sản xuất một sản phẩm mới, kinhnghiệm sai sót trong marketing, các khiếu nại, tranh chấp được xử lý kín…
Mặc dù rất đa dạng về loại hình nhưng các thông tin mà các nhà kinhdoanh coi là bí mật kinh doanh đều có các đặc điểm sau:
a) Đặc điểm về tính thông tin của bí mật kinh doanh.
Tính thông tin của bí mật kinh doanh thể hiện ở chỗ bí mật kinh doanhphải mang đến cho những người có khả năng tiếp cận nó những nhận thức,những hiểu biết nhất định về một sự vật, một hiện tượng nào đó trong thế giớikhách quan Thông tin là bí mật kinh doanh có thể tồn tại hoặc được thể hiệndưới những dạng vật chất hữu hình, cụ thể như tài liệu, sách vở chứa đựngthông tin, mô hình, mẫu vật… nhưng bí mật kinh doanh không đồng nhất vớinhững vật chất đó Bí mật kinh doanh, một mặt, là kết quả của hoạt động nhận
Trang 15thức, trí tuệ của con người được thể hiện, tái tạo lại thông qua các vật chấthữu hình nói trên, mặt khác, con người muốn biết, muốn nhận thức được bímật kinh doanh thì phải thông qua hoạt động nhận thức của trí tuệ Chính vìvậy, bí mật kinh doanh là một loại tài sản trí tuệ của người kinh doanh
b) Đặc điểm về tính bí mật của thông tin.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất và có tính chất quyết định của bí mật kinhdoanh Nếu một loại thông tin mà không có tính bí mật thì không thể đượcxem là bí mật kinh doanh được cho dù nó có thể có chức năng thông tin, cóthể có giá trị đối với hoạt động kinh doanh
Thông tin có tính chất bí mật nghĩa là phạm vi những người biết đếnthông tin rất hạn chế Mặt khác, những người quan tâm đến thông tin cũngkhông thể dễ dàng lấy thông tin ở những nguồn thông tin công cộng
Khi nói đến đặc điểm này của bí mật kinh doanh, có học giả cho rằng:
“Đặc điểm chủ yếu nhất của bí mật thương mại là phải thực sự bí mật Thôngtin trong khu vực công cộng hoặc hiểu biết cơ bản trong một ngành côngnghiệp không thể là bí mật của một cá nhân Thông tin mà hoàn toàn đượcbéc lé từ hàng hoá được bán trên thị trờng cũng không thể là bí mật của nhàsản xuất hàng hoá đó.” [14]
Điểm a – Khoản 2 – Hiệp Định TRIPS giải thích về tính bí mật như
sau: “có tính chất bí mật với nghĩa là nó không được biết đến nói chung trên nguyên tắc, đối với nội dung hoặc trong hình thể chính xác hoặc sự kết hợp của các thành phần thông tin, trong số hoặc bởi những người thường xuyên tiếp cận hoặc thường xuyên xử lý loại thông tin đó.”
Tuy nhiên, tính bí mật không có nghĩa là phải hoàn toàn bí mật Bí mậtkinh doanh cũng có thể được biết bởi các nhân viên, người lao động trongcông ty, những người có liên quan đến việc sử dụng thông tin hoặc nhữngngười khác có cam kết bảo mật Về điểm này, The fist Restatement of Unfairkết luận: “Một vài yếu tố cần thiết của sự bí mật phải tồn tại nhằm loại trừ
Trang 16việc sử dụng bất hợp pháp hoặc tạo ra sự khó khăn trong việc thu thập, chiếmđoạt thông tin.”
c) Đặc điểm về tính giá trị của thông tin
Thông tin bí mật được người kinh doanh coi là bí mật kinh doanh phải
là thông tin có giá trị [4] Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của hoạt độngkinh doanh Trong quá trình hoạt động của mình, các chủ thể kinh doanh phảithu thập, lưu giữ rất nhiều loại thông tin nhằm đưa ra các quyết định kinhdoanh có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận Trong vô số các thông tin màcác chủ thể kinh doanh thu thập được, họ chỉ giữ lại những thông tin có giátrị
Tính giá trị cuả thông tin thể hiện trên nhiều khía cạnh Giá trị củathông tin có thể thể hiện ở khoản tiền, vốn mà người có được thông tin đã đầu
tư để tạo ra hoặc có được thông tin đó Giá trị của thông tin cũng có thể thểhiện ở mức độ đầu tư thời gian, công sức để tạo ra hoặc thu thập thông tin.Giá trị của thông tin cũng có thể thể hiện ở những khoản lợi mà chủ sở hữuthu được khi biết và sử dụng thông tin Đôi khi, giá trị của thông tin là bí mậtkinh doanh còn thể hiện ở sự mất mát, thiệt hại mà chủ sở hữu phải gánh chịuhoặc khoản lợi mà người không phải là chủ sở hữu được hưởng nếu thông tin
đó bị tiết lé, bị người khác biết hoặc sử dụng
d) Đặc điểm về khả năng sử dụng của thông tin.
Thông tin là bí mật kinh doanh phải là thông tin có khả năng được sửdụng bởi chủ sở hữu hoặc người khác Một thông tin được thu thập, lưu giữnhưng không có khả năng được sử dụng bởi chính chủ sở hữu hoặc ngườikhác thì không được coi là bí mật kinh doanh và cũng không được chủ sở hữugiữ bí mật
Nh vậy, trên thực tế, bí mật kinh doanh là loại thông tin có tính chất bí mật, có giá trị và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.
Trang 17Ở nước ta, sự bảo hộ chính thức của pháp luật đối với bí mật kinhdoanh bắt đầu từ năm 2000, trong Nghị Định 54/2000/NĐ - CP Tại Nghị
định này ghi nhận “bí mật kinh doanh là thành quả đầu tư dưới dạng thông tin” và phải thoả mãn các điều kiện mà pháp luật qui định Với cách quy định
này thì thực chất pháp luật chưa đưa ra được khái niệm của bí mật kinh doanh
mà chỉ mới đề cập đến các điều kiện để một thông tin được bảo hộ như là một
bí mật kinh doanh
Luật SHTT ra đời đánh dấu một sự phát triển mới trong khoa học pháp
lý về bí mật kinh doanh ở Việt Nam Luật SHTT đã đưa ra khái niệm đầu tiên
về bí mật kinh doanh Theo khoản 23 - Điều 5 – Luật SHTT thì : “bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư, tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lé và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.
Khái niệm bí mật kinh doanh nói trên đã phản ánh được những đặcđiểm mang tính bản chất của bí mật kinh doanh nh tính thông tin, tính bí mật
và khả năng được sử dông
Trên thực tế, ngoài ba đặc điểm này, bí mật kinh doanh còn mang tínhgiá trị Khi tìm hiểu khái niệm “bí mật thương mại” (trade secret) trong phápluật của Mỹ, tính giá trị cũng được thể hiện Chẳng hạn, theo khái niệm đượcquy định tại Điều 39 – The Restatement of Unfair Competition (Third) của
Mỹ thì “bí mật thương mại là bất kỳ thông tin nào có thể được sử dụng trong hoạt động kinh doanh của một chủ thể, có giá trị và có tính bí mật đủ để tạo
ra một sự thuận lợi trong kinh doanh cho chủ thể đó so với các chủ thể khác” Hoặc theo điều 10 – Quy định số 240/96 ngày 31/01/1996 của Pháp thì
“thông tin bí mật được bảo hộ là tổng thể những thông tin mang tính chất kỹ thuật, công nghiệp hoặc thương mại có tính chất bí mật, hữu Ých và người nắm giữ thông tin đó phải bảo mật bằng các biện pháp cần thiết, phù hợp”.
[1,tr 78] Trong Hiệp định TRIPs, tính giá trị của thông tin cũng được ghinhận
Trang 18Có người lập luận rằng tính giá trị của thông tin được bao hàm trongkhả năng sử dụng trong kinh doanh của thông tin Tuy nhiên, theo tác giả, khảnăng được sử dụng trong kinh doanh của thông tin không thể bao hàm tính giátrị của thông tin được Giá trị của thông tin thể hiện trên nhiều khía cạnh khácnhau Đôi khi, vì giá trị của thông tin mà thông tin được sử dụng không chỉtrong hoạt động kinh doanh mà còn trong các hoạt động khác
Nh vậy, khái niệm bí mật kinh doanh trong Luật SHTT hiện hành chưathể hiện được tính giá trị bí mật kinh doanh Đây là điểm hạn chế của kháiniệm bí mật kinh doanh trong pháp luật Việt Nam
1.2.2 Đặc trưng của bí mật kinh doanh với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh là quyền của tổchức, cá nhân đối với một tài sản trí tuệ Vì thế nó có những đặc trưng giốngvới quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng khác của sở hữu trí tuệ nh: tínhchất vô hình của đối tượng, phạm vi và mức độ bảo hộ ngày càng được mởrộng và có tính lãnh thổ.v.v… Tuy nhiên, bí mật kinh doanh có những đặcđiểm riêng biệt, khác với các đối tượng khác, cho nên, quyền sở hữu côngnghiệp đối với bí mật kinh doanh cũng có những đặc trưng riêng[11]:
Thứ nhất, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh là một quyền có tính thực tế của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh Cơ sở của quyền này là sự độc quyền thực tế của chủ thể quyền
đối với một tập hợp thông tin nhất định Mặt khác, sự bảo vệ quyền chủ thểgần như phụ thuộc vào sự toàn diện và hiệu quả của các biện pháp mà chủ thểquyền áp dụng để bảo vệ sự độc quyền của mình Sự bảo vệ quyền có tínhpháp lý thông thường chỉ được áp dụng khi có sự xâm phạm của chủ thể khác
Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh không bị hạn chế về thời hạn bảo hộ Quyền của chủ thể đối với bí mật kinh doanh
được bảo hộ khi độc quyền thực tế của chủ thể đối với thông tin còn tồn tại vàthông tin đó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu do pháp luật quy định Đặc điểm này
Trang 19làm cho việc lùa chọn phương thức bảo hộ đối tượng với bí mật kinh doanhtrở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà kinh doanh, đặc biệt là khi mà nguyên tắcbảo hộ có thời hạn không làm thoả mãn lợi Ých kinh doanh của họ.
Thứ ba, với tư cách là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ – quyền sở hữu trí tuệ với bí mật kinh doanh không đòi hỏi sự công nhận chính thức khả năng được bảo hộ, không đòi hỏi việc đăng ký thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không đòi hỏi việc thực hiện bất cứ một thủ tục mang tính chất hình thức hay việc trả lệ phí Điều này cũng có ý nghĩa đối vơí việc lùa chọn
phương thức bảo hộ bí mật kinh doanh cho đối tượng là kết quả của hoạt độngsáng tạo của con người
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA BÍ MẬT KINH DOANH VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG KHÁC CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ.
Khi chóng ta phân tách một cách rõ ràng các loại tài sản trí tuệ để bảo
hộ và và từ đó thiết lập từng cơ chế bảo hộ riêng rẽ cho mỗi đối tượng thì sẽphát sinh vấn đề là thực tế có những tài sản trí tuệ có thể là các đối tượngkhác nhau của quyền sở hữu trí tuệ hoặc một tài sản trí tuệ nhưng có thể đượcbảo hộ bằng các hình thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ khác nhau Đặt trongphạm vi nghiên cứu của luận văn về bí mật kinh doanh, phần này sẽ tập trunglàm rõ mối tương quan giữa bí mật kinh doanh với các đối tượng sở hữu trítuệ khác
1.3.1 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với bảo hộ sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp.
Theo cách hiểu được quy định tại Khoản 12 - Điều 4 – Luật SHTT thì:
“Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”
“Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn”.
Trong mối quan hệ với sáng chế và thiết kế bố trí, bí mật kinh doanh cóphạm vi rộng hơn vì nó có thể bao gồm cả các sáng chế và thiết kế bố trí bí
Trang 20mật Hơn nữa, nếu nh sáng chế và thiết kế bố trí chỉ có trong những lĩnh vực
kỹ thuật cao thì bí mật kinh doanh tồn tại cả trong hoạt động thương mạitruyền thống
Trong trường hợp bí mật kinh doanh có đủ điều kiện để bảo hộ sángchế hoặc bảo hộ thiết kế bố trí thì chủ sở hữu có quyền lùa chọn để bảo hộtheo cơ chế bảo hộ sáng chế hoặc bảo hộ thiết kế bố trí hay theo cơ chế bảo
hộ bí mật kinh doanh Cả hai cơ chế bảo hộ này trong mối tương quan so sánhvới nhau thì phương thức bảo hộ nào cũng có những ưu và nhược điểm riêngcủa nó Nếu bảo hộ theo cơ chế bảo hộ sáng chế hay thiết kế bố trí, chủ sởhữu có thể độc quyền chiếm hữu sáng chế hay thiết kế bố trí đó Mọi hành vi
sử dụng sáng chế hay thiết kế bố trí sau ngày được cấp Bằng bảo hộ (trừtrường hợp đã có quyền sử dụng trước)đều được coi là xâm phạm sáng chếhay thiết kế bố trí Nhược điểm của cơ chế bảo hộ này là chủ sở hữu chỉ đượcđộc quyền sử dụng sáng chế có thời hạn, sau thời hạn đó, sáng chế hoặc thiết
kế bố trí không còn thuộc độc quyền của chủ sở hữu Nếu chủ sở hữu lùachọn bảo hộ theo cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh thì chủ sở hữu có thể độcquyền sở hữu sáng chế hay thiết kế bố trí đó cho đến khi nào vẫn còn giữđược bí mật Nhược điểm của phương thức bảo hộ này là tính bí mật rất khóđảm bảo Và chủ sở hữu cũng không thể ngăn cấm người khác thu thập hoặc
sử dụng sáng chế hoặc thiết kế bố trí trong trường hợp họ độc lập sáng tạo rasáng chế kể cả trong trường hợp người khác tìm ra sáng chế, thiết kế bố trí từviệc phân tích các sản phẩm được bán hợp pháp trên thị trường
Đối với sáng chế hoặc bố trí thiết kế đang trong quá trình nép đơn xincấp văn bằng bảo hộ mà bị xâm phạm thì được bảo hộ theo cơ chế bảo hộ bímật kinh doanh
Nh vậy, theo pháp luật hiện hành mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh
và sáng chế hoặc thiết kế bố trí đã khá rõ ràng và đã có cơ chế để giải quyết
sự giao thoa giữa chúng
Trang 211.3.2 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp.
Theo quy định tại Điều 4 - Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng
để phân biệt hàng hoá dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
“Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.”
Cả nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp đều là yếu tố bên ngoài sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ nhưng nó đều thể hiện sự sáng tạo của trí tuệ conngười nhằm làm nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
Nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp muốn được bảo hộ đều phải đáp ứngnhững điều kiện nhất định và phải được cấp bằng bảo hộ Kể từ khi được bảo
hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp phải mô tả công khaicác thông tin liên quan đến nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp đã được bảo
hộ và được bảo hộ bằng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp
Hiện nay luật thực định và thực tiễn pháp lý Việt Nam chưa có quyđịnh còng nh án lệ để về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp đang trong quátrình nghiên cứu thử nghiệm Theo tác giả, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệpđang trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm có thể được coi là bí mật kinhdoanh của doanh nghiệp nếu được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện phápcần thiết Trong trường hợp có hành vi thu thập, bộc lé hoặc sử dụng nhãnhiệu, hoặc kiểu dáng công nghiệp của chủ thể khác một cách hợp pháp thì cóthể coi đó là hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh và được áp dụng pháp luậtbảo hộ bí mật kinh doanh để giải quyết
Đối với kiểu dáng công nghiệp, trong trường hợp chủ sở hữu kiểu dángcông nghiệp đã nép đơn đơn đăng ký sáng chế, thì mọi thông tin trong đơnđăng ký sáng chế được coi là thông tin bí mật và cơ quan nhà nước có thẩmquyền và người có thẩm quyền có nghĩa vụ bảo mật thông tin trong đơn đăng
ký sáng chế điều này có nghĩa là pháp luật đã thừa nhận đơn đăng ký kiểu
Trang 22dáng công nghiệp là một bí mật kinh doanh Trong trường hợp cán bộ, côngchức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm lé bí mật thông tin trong đơn
mà gây thiệt hại cho người nép đơn thì phảI bồi thường thiệt hại theo quyđịnh của pháp luật
1.3.3 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Theo các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ cũng như Luật SHTT ViệtNam hiện hành, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lànhmạnh được bảo hộ với tư cách là hai đối tượng độc lập, riêng biệt của quyền
sở hữu công nghiệp
Với tư cách là một loại tài sản trí tuệ và mang lại nhiều lợi Ých cho cácchủ thể kinh doanh, bí mật kinh doanh đuợc bảo hộ nhằm thừa nhận cho chủ
sở hữu sự độc quyền khai thác, sử dụng bí mật kinh doanh và chống lại tất cảcác hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệthại cho chủ sở hữu
Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo cho môi trường kinh doanh lành mạnh,khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh bình đẳng, công bằng trong mọi hoạt độngsản xuất, kinh doanh trên thị trường, bảo đảm lợi Ých và quyền cạnh tranhhợp pháp của các nhà sản xuất, kinh doanh cũng như bảo vệ quyền và lợiÝch pháp của người tiêu dùng, của Nhà nước và xã hội pháp luật phải bảo hộquyền chống cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể kinh doanh Sự bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh cho phép chủ thể có thể chốnglại mọi hành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đứckinh doanh trên tất cả các lĩnh vực Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanhđược coi là hành vi trái với chuẩn mực thông thường về đạo đực kinh doanh
Vì vậy, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh cũng cho phép các chủ thểchống lại hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhằm mục đích cạnh tranhkhông lành mạnh
Như vậy, có thể nói, cả quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinhdoanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạng đều ghi nhận cho chủ sở
Trang 23hữu quyền chống lại hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhằm mục đíchcạnh tranh không lành mạng Sự bảo hộ như vậy có thể dẫn đến một vướngmắc: trong trường hợp có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh và nhằm mụcđích cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng cơ chế bảo hộ nào để giải quyết:theo Luật SHTT hay theo Luật cạnh tranh.
Pháp luật thực định Việt Nam chưa giải quyết vấn đề này một cách rõràng, thống nhất Điều 130 – Luật SHTT khi quy định về các hành vi cạnhtranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp đã không liệt kêhành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhưng trong Luật cạnh tranh lại ghinhận hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh là hành vi cạnh tranh không lànhmạnh Cả hai văn bản này đều là văn bản luật nên có giá trị pháp lý ngangnhau, vì vậy, người áp dụng sẽ lúng túng không biết áp dụng theo luật nào
Theo tác giả, về mặt lý thuyết, một hành vi xâm phạm bí mật kinhdoanh nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh (hành vi xâm phạm bí mậtkinh doanh của đối thủ cạnh tranh) có thể bị áp dụng cả cơ chế xử lý của LuậtSHTT và Luật cạnh tranh
1.3.4 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với các đối tượng của quyền tác giả.
Quyền tác giả theo nghĩa rộng bảo gồm cả quyền tác giả và quyền liênquan đến quyền tác giả Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối vớitác phẩm do mình tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm cả chương trình máy tính và
cơ sở dữ liệu Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cánhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tínhiệu vệ tinh mang chương trình mã hoá
Trong mối quan hệ với bí mật kinh doanh, bí mật kinh doanh có thể baogồm cả những chương trình máy tính hoặc cơ sở dữ liệu hoặc các kết quảnghiên cứu khoa học đang được chủ sở hữu giữ bí mật Trường hợp này, việc
áp dụng luật về bí mật kinh doanh để bảo hộ không làm triệt tiêu sự bảo hộcủa pháp luật về quyền tác giả
Trang 24Nếu bí mật kinh doanh là chương trình máy tính hoặc cơ sở dữ liệuhoặc kết quả nghiên cứu khoa học…do người làm thuê, người thực hiệnnhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc thì bí mật kinhdoanh đó thuộc sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, vì vậy sẽ được ápdụng pháp luật bí mật kinh doanh để bảo hộ cho bên thuê hoặc bên giao việctrừ trường hợp các bên có thoả thuận khác; trong trường hợp quyền tác cũng
bị xâm phạm thì người làm thuê, người thực hiện nhiệm vụ có thể áp dụngluật quyền tác giả để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm do mình tạo ra
Chương 2 Những quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với bí mật kinh doanh
2.1 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ BÍ MẬT KINH DOANH ĐƯỢC BẢO HỘ
2.1.1 Điều kiện chung để bí mật kinh doanh được bảo hộ.
Trong thời đại ngày nay, những thông tin là sản phẩm của hoạt động trítuệ con người được pháp luật bảo hộ Tuy nhiên không phải bất kỳ thông tinnào cũng được bảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh Sản phẩm trí tuệchỉ được bảo hộ với tư cách là bí mật kinh doanh khi nó đáp ứng các điềukiện do pháp luật quy định Việc tìm hiểu các điều kiện bảo hộ bí mật kinhdoanh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn
Theo quy định tại Điều 87 – Luật SHTT một thông tin được bảo hộ vớidanh nghĩa là một bí mật kinh doanh nếu thông tin đó đáp ứng các điều kiệnsau:
2.1.1.1 Thông tin là bí mật kinh doanh không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể tíchluỹ cho mình nhiều loại thông tin (kể cả thông tin thu được trên thị trường và
Trang 25thông tin do mình tạo ra) nhằm đảm bảo cho công việc kinh doanh đạt hiệuquả cao nhất Các thông tin mà các thương nhân tích luỹ được có thể có giá trịhoặc không có giá trị đối với công việc kinh doanh của họ Tuy nhiên, lẽthường là các thương nhân chỉ giữ lại những thông tin có lợi cho công việccủa mình Sự tích luỹ thông tin này có thể có hoặc không đi kèm với sự bảomật thông tin Tuy nhiên, không phải thông tin nào có giá trị, có Ých đối vớicông việc kinh doanh của chủ sở hữu cũng được bảo hộ với tư cách là bí mậtkinh doanh
Với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bí mật kinhdoanh chỉ được bảo hộ khi nó là sản phẩm của hoạt động trí tuệ Hơn nữa, sảnphẩm trí tuệ này không phải là hiểu biết thông thường, có nghĩa là biết màmột người có kiến thức trung bình trong lĩnh vực đó không thể biết được Mặtkhác, để biết được thông tin đó con người phải đầu tư về thời gian, nổ lực,kinh nghiệm và cả tiền bạc mới có thể tạo ra thông tin
Với nghĩa nh vậy kiến thức chung và kiến thức phổ thông có trong cácsách giáo khoa, giáo trình hoặc các sách báo có bán rộng rãi trên thị trườngkhông phải là bí mật kinh doanh
Kiến thức mà bất kỳ một người nào quan tâm đến kiến thức đó cũng cóthể dễ dàng tìm thấy trong các nguồn thông tin, tư liệu công cộng cũng khôngphải là bí mật kinh doanh
Tuy nhiên, một kiến thức mới được tạo ra từ những kiến thức chunghoặc kiến thức phổ thông hoặc tạo ra từ nhiều nguồn thông tin, tư liệu côngcộng thể hiện sự nổ lực, công sức và trí tuệ của người tạo ra nó cũng có thểđược bảo hộ với tư cách là bí mật kinh doanh
Trên thực tế, điều kiện này là một điều kiện rất khó áp dụng để xem xétmột thông tin có phải là hiểu biết thông thường hay không hoặc có dễ dàng cóđược hay không Có nhiều lý do dẫn đến sự khó khăn này Trước hết, đây làmột điều kiện có tính chất định tính, nó khá chung chung và mơ hồ nên sẽ gây
ra sự khó khăn cho việc áp dụng Hai là, điều kiện này cho phép các thẩm
Trang 26phán hoặc những người áp dụng pháp luật xem xét theo ý chí chủ quan củamình về khả năng có phải là kiến thức thông thường hay không và về sự dễdàng hay khó khăn để có được nó Thực tế, các thẩm phán không phải làngười có kiến thức sâu rộng trong mọi lĩnh vực để có thể dễ dàng đánh giámột tập hợp kiến thức có phải là hiểu biết thông thường hay không Hơn nữa,trình độ các thẩm phán ở nước ta chưa đồng đều giữa các vùng miền khácnhau Vì vậy, khi xem xét điều kiện này dễ gây ra sự không thống nhất trong
Lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại có thể là lợi thế trực tiếp hoặcgián tiếp, có thể thấy ngay trước mắt nhưng cũng có thể lợi thế mang tầmchiến lược lâu dài Một bí mật kinh doanh về công thức pha chế nước giảikhát, nước hoa, rượu, bia có thể mang lại một lợi thế trực tiếp trên cơ sở chấtlượng vượt trội của sản phẩm Chẳng hạn công thức pha chế nước hoa Chanel
5 của Pháp hay công thức pha chế rượu vang Pháp là những ví dụ điển hình
về chất lượng vượt trội nhờ bí mật kinh doanh trong công thức pha chế sảnphẩm Một bí mật kinh doanh về nhu cầu, ước muốn, thãi quen tiêu dùng củakhách hàng trên thị trường có thể làm cho doanh nghiệp bán được nhiều hànghơn và thu được lợi nhuận cao hơn Một bí mật kinh doanh trong việc
Trang 27khuyếch trương thương hiệu có thể tạo ra một dấu Ên của doanh nghiệp đốivới khách hàng, từ đó nâng cao được thị phần của doanh nghiệp Một bí mậtkinh doanh trong chiến lược kinh doanh có thể tạo ra thãi quen, tập quán tiêudùng của khách hàng đối với hàng hoá, sản phẩm, thậm chí có thể tác độngđến cả chính sách, pháp luật của nhà nước.
Nh vậy, trên thực tế, mỗi bí mật kinh doanh có thể tạo cho chủ sở hữuhoặc những người sử dụng nó một hoặc nhiều lợi thế khác nhau Nhưng nhìnchung, bí mật kinh doanh có thể tạo ra các loại lợi thế sau:
- Lợi thế về chất lượng của sản phẩm,chất lượng của dịch vụ so với cácsản phẩm, dịch vụ cùng loại;
- Lợi thế về giá thành của sản phẩm, dịch vụ;
- Lợi thế về giá cả của nguyên, nhiên vật liệu đầu vào;
- Lợi thế về thị phần của sản phẩm, dịch vụ;
- Lợi thế về thương hiệu
- Lợi thế về Ên tượng của doanh nghiệp trên thương trường
- Lợi thế trong chiến lược, chính sách đầu tư, sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
- Lợi thế về cơ hội kinh doanh
- Các lợi thế khác
Cả Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Hiệp định TRIPs khi
đề cập đến những lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại đều sử dụng thuậtngữ “giá trị thương mại” Thuật ngữ “giá trị thương mại” bao gồm trong nó cảgiá trị vốn, tài sản, thời gian mà chủ sở hữu đầu tư để có được bí mật kinhdoanh một cách hợp pháp Vì thế nó rộng hơn và đúng bản chất của bí mậtkinh doanh kinh doanh hơn là sử dụng thuật ngữ “mang lại lợi thế…”
2.1.1.3 Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết.
Trang 28Một điều kiện khác để bí mật kinh doanh được bảo hộ đó là chủ sở hữu
bí mật kinh doanh phải tiến hành các biện pháp bảo mật cần thiết để cho bímật kinh doanh đó không bị tiết lé và không dễ dàng bị xâm hại
Trên thực tế, các chủ sở hữu bí mật kinh doanh là người áp dụng cácbiện pháp bảo mật nhằm đảm bảo quyền sở hữu của mình đối với bí mật kinhdoanh và tránh sự xâm phạm Tuy nhiên, các biện pháp bảo mật mà chủ sởhữu áp dụng phải đủ cần thiết nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh của mình Tínhcần thiết của các biện pháp bảo mật cần được xem xét trong từng trường hợp
cụ thể Một vấn đề cần lưu ý để có thể xem xét tính cần thiết của các biệnpháp bảo mật đã được áp dụng đó là mối tương quan giữa giá trị của bí mậtkinh doanh và những lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại cho chủ sở hữuvới các biện pháp đã áp dụng Lẽ dĩ nhiên giá trị và lợi thế mà bí mật kinhdoanh càng cao thì bí mật kinh doanh càng quan trọng và cần phảI có nhữngbiện pháp bảo mật đủ chắc chắn để đảm bảo Trong trường hợp có sự khácnhau giữa giá trị của bí mật kinh doanh và các biện pháp bảo mật thì hoặc làchủ sở hữu đã không nhận thức được giá trị và tầm quan trọng của bí mật kinhdoanh hoặc là cố ý đánh lừa các đối thủ cạnh tranh
2.1.2 Các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh.
Đồng thời với việc quy định các điều kiện chung để một bí mật kinhdoanh được bảo hộ thì pháp luật cũng quy định những đối tượng không đượcbảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh cho dù trên thực tế những đốitượng này có thể đáp ứng được những điều kiện bảo hộ nói trên Các thông tinkhông được bảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh bao gồm:
Trang 29Đây là một sự giới hạn phạm vi cần thiết nhằm tránh tạo ra sự trùng lặpchồng chéo trong hệ thống pháp luật đồng thời cũng đảm bảo mục đích lớnnhất của bảo hộ bí mật kinh doanh là bảo hộ các sản phẩm trí tuệ.
Mặt khác, theo tinh thần của Điều 8 – Luật SHTT thì bí mật kinh doanhnếu xâm phạm lợi Ých nhà nước, lợi Ých công cộng, quyền và lợi Ých hợppháp của tổ chức cá nhân khác hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật
có liên quan cũng không được bảo hộ [1, tr77]
2.2 CĂN CỨ PHÁT SINH VÀ CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH.
2.2.1.Căn cứ phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.
Mét trong những nguyên tắc tối cao của pháp luật là quyền chủ thể chỉđược bảo hộ nếu quyền chủ thể đó được phát sinh, được xác lập trên các căn
cứ hợp pháp Không nằm ngoài nguyên tắc đó, quyền sở hữu công nghiệp đốivới bí mật kinh doanh cũng chỉ được bảo hộ nếu nó được xác lập trên cơ sởcác căn cứ hợp pháp
Theo quy định tại điểm c - khoản 2 - Điều 6 Luật SHTT thì “quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ bảo mật bí mật kinh doanh” Hoặc Khoản 1 - Điều 753 – Bộ Luật Dân sự quy định: “Quyền
sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, quyền đối với giống cây trồng có thể được chuyển giao toàn bộ hoặc một phần theo hợp đồng hoặc để thừa kế, kế thừa”.
Ngoài ra, tại khoản 3 - Điều 121 - Luật SHTT còng quy định “chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh đó một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh”.
Như vậy việc xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh bao gồm haimặt: một mặt, quyền đó phải được xác lập trên các căn cứ hợp pháp; mặt
Trang 30khác, ngay tại thời điểm có được bí mật kinh doanh đó chủ sở hữu phải tiếnhành các biện pháp bảo mật.
Trên cơ sở quy định của pháp luật và thực tiễn xác lập quyền đối với bímật kinh doanh ở nước ta còng nh các nước trên thế giới, quyền chủ sở hữuđối với bí mật kinh doanh được phát sinh trên cơ sở các căn cứ sau:
a) Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trên cơ
sở sự kiện sáng tạo.
Cũng giống như việc xác lập quyền sở hữu đối với các loại tài sản hữuhình khác, quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ nói chung và bí mật kinhdoanh nói riêng được xác lập trước hết dùa trên căn cứ “tạo ra tài sản” ở thời
kỳ cộng sản nguyên thủy, do hoàn cảnh lịch sử, sản phẩm lao động do cá nhânlàm ra nhưng thuộc sở hữu chung của cả cộng đồng Khi xã hội phát triểnđến một mức độ nhất định, con người bắt đầu thừa nhận một nguyên tắc bất
cứ tài sản gì là sản phẩm lao động của người nào thì người đó làm chủ sở hữu.Người lao động có toàn quyền trong việc bán, tặng cho, trao đổi, hay sử dụngtài sản của mình Nguyên tắc này đúng cho cả tài sản hữu hình và vô hình.Người lao động trong quá trình lao động sáng tạo của mình nếu thu được cáctri thức, kinh nghiệm hay kỹ năng thì cũng có quyền đối với các sản phẩm trítuệ đó Người lao động tri óc cũng phải được sở hữu thành quả từ hoạt độngtrí óc của mình
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh là loại hoạt động có những đặc thùnhất định Chỉ có những chủ chủ thể thoả mãn những điều kiện do pháp luậtquy định mới được thực hiện hoạt động kinh doanh, gọi là chủ thể kinhdoanh Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Cá nhân hoặcpháp nhân kinh doanh này có thể thuê mướn người lao động hoặc một chủ thểkinh doanh khác để thực hiện các hoạt động của mình Trong quá trình thựchiện nhiệm vụ do cá nhân hoặc pháp nhân giao hoặc thuê, người lao độnghoặc chủ thể kinh doanh được thuê mướn có thể tạo ra bí mật kinh doanh
Trong trường hợp này, Luật SHTT quy định “Bí mật kinh doanh mà bên làm
Trang 31thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.”
Trên thực tế, một bí mật kinh doanh có thể do nhiều chủ thể tạo cùngtạo ra Bởi vì đặc thù của hoạt động lao động và hoạt động kinh doanh là cóthể có sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau Trong trường hợp nhiềungười cùng lao động hoặc nhiều chủ thể kinh doanh cùng tham gia một hoạtđộng kinh doanh và mỗi chủ thể đều có những đóng góp nhất định trong việctạo ra hoặc sử dụng bí mật kinh doanh thì về nguyên tắc là các chủ thể đều cóquyền xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó Pháp luật ViệtNam chưa có quy định về đồng sở hữu đối với bí mật kinh doanh Nhằm đảmbảo quyền chủ sở hữu, thực tiễn Việt Nam và thế giới, các chủ thể này thường
ký kết các thoả thuận bảo mật để đảm bảo quyền chủ sở hữu của mình Trongtrường hợp các bên không có thoả thuận bảo mật thì nếu một bên bộc lé bímật kinh doanh đó sẽ không có căn cứ pháp lý để áp dụng các biện pháp chếtài mặc dù việc bộc lé đó có thể gây thiệt hại cho các chủ thể khác để khắcphục sự thiếu hụt này pháp luật Việt Nam cần có quy định về việc đồng sởhữu bí mật kinh doanh và giới hạn quyền của các đồng sở hữu đối với bí mậtkinh doanh
b) Xác lập quyền sở hữu bí mật kinh doanh được chuyển nhượng thông qua hợp đồng chuyển nhượng bí mật kinh doanh.
Mét trong những đặc tính cơ bản của bí mật kinh doanh là có giá trịthương mại, mang lại lợi thế cạnh tranh cho người biết được hoặc sử dụng nó.Chính vì vậy, trong hoạt động kinh doanh chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng
có thể chuyển nhượng bí mật kinh doanh mà mình sở hữu cho người khác.Điều này vừa mang lại lợi Ých kinh tế cho chủ sở hữu vừa mang lại Ých chongười nhận chuyển nhượng
Trang 32Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinhdoanh làm chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển nhượng và làm phát sinhquyền sở hữu đối với bên nhận chuyển nhượng.
c) Xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh được thừa kế.
Trong trường hợp cá nhân là chủ sở hữu của bí mật kinh doanh chết,quyền sở hữu bí mật kinh doanh được dịch chuyển cho người thừa kế Việcdịch chuyển này có thể theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Trongtrường hợp được dịch chuyển theo di chúc, người được chỉ định trong di chúcđược xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh kể từ thời điểm mở thừa
kế Trong trường hợp cá nhân là chủ sở hữu bí mật kinh doanh chết mà không
để lại thừa kế thì về nguyên tắc, tất cả những người có quyền hưởng thừa kếtheo pháp luật của người chết đều có quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh
đó Các chủ sở hữu có quyền thoả thuận để cùng sử dụng bí mật kinh doanhhoặc được hưởng thừa kế bằng cách nhận một phần giá trị của bí mật kinhdoanh quy thành tiền Người được xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinhdoanh có quyền có nghĩa vụ phải trả tiền cho người thừa kế khác
d) Xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh trong trường hợp kế thừa.
Trong quá trình kinh doanh, các pháp nhân kinh doanh có thể thực hiệnviệc tổ chức lại pháp nhân nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệuquả hơn Việc tổ chức lại pháp nhân được thực hiện bằng các hình thức như:chia, tách, sáp nhập, hợp nhất pháp nhân
Trong trường hợp một pháp nhân đang hoạt động chia thành hai hoặcnhiều pháp nhân cùng loại, thì các pháp nhân mới được chia có quyền xác lậpquyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh của pháp nhân bị chia theo quyếtđịnh chia pháp nhân (theo quyết định của Hội đồng thành viên nếu pháp nhân
bị chia là công ty TNHH; theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông nếu phápnhân bị chia là công ty Cổ Phần…) Nếu hợp theo quyết định chia pháp nhân,
Trang 33các pháp nhân mới đều được kế thừa bí mật kinh doanh của pháp nhân bị chiathì các pháp nhân mới là đồng chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó.
Trong trường hợp một pháp nhân mới được tách ra khỏi một pháp nhânđang hoạt động, thì pháp nhân mới này có quyền xác lập quyền sở hữu đối với
bí mật kinh doanh do pháp nhân đang hoạt động sở hữu theo quyết định táchpháp nhân
Trong trường hợp một pháp nhân đang hoạt động sáp nhập vào mộtpháp nhân đang hoạt động khác, thì pháp nhân được sáp nhập có quyền xáclập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh mà pháp nhân bị sáp nhập sở hữu
Trong trường hợp hai hoặc nhiều pháp nhân đang tồn tại hợp nhấtthành một pháp nhân mới thì pháp nhân mới này có quyền xác lập quyền sởhữu đối với bí mật kinh doanh của các pháp nhân bị hợp nhất
e) Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong các trường hợp khác.
Ngoài các căn cứ nói trên quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mậtkinh doanh cũng còn được xác lập cho các tổ chức hoặc cá nhân nếu việc tìm
ra bí mật kinh doanh bằng các cách thức hợp pháp khác:
(i) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh có thể được
xác lập cho các cá nhân hoặc pháp nhân nếu cá nhân hoặc pháp nhân đó biếtđược bí mật kinh doanh được từ việc phân tích ngược các sản phẩm được sảnxuất bằng cách áp dụng bí mật kinh doanh và được bán hợp pháp trên thịtrường với điều kiện người phân tích ngược không có thoả thuận khác với chủ
sở hữu hoặc người bán hàng
(ii) Mét pháp nhân hoặc cá nhân có thể xác lập quyền sở hữu đối với
một bí mật kinh doanh từ một bên thứ ba nếu pháp nhân hoặc cá nhân đókhông biết và pháp luật cũng không bắt buộc phải biết đó là bí mật kinhdoanh của người khác
Trang 34(iii) Trong trường hợp một cá nhân hoặc pháp nhân biết được một bí
mật kinh doanh thông qua các hợp đồng kinh doanh hợp pháp với chủ sở hữu
bí mật kinh doanh thì cũng được xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinhdoanh do mình biết được
Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theocách (ii) và (iii) hoàn toàn phù hợp với Hiệp định TRIPs và pháp luật một sốnước khác Theo Hiệp định TRIPs việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đốivới bí mật kinh doanh nói trên hoàn toàn không “trái với hoạt động thươngmại trung thực” Hoặc theo pháp luật của Nhật một cá nhân hoặc pháp nhânthu thập được bí mật kinh doanh thông qua hợp đồng kinh doanh hợp pháp thìkhông phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi thu thập đó (Một pháp nhânhoặc cá nhân cũng có thể xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh mà
cá nhân hoặc pháp nhân đó thu thập được từ việc phân tích ngược các sảnphẩm được sản xuất bằng cách áp dụng bí mật kinh doanh và được bán hợppháp trên thị trường
2.2.2 Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.
Pháp luật Việt Nam không quy định căn cứ chấm dứt quyền sở hữucông nghiệp đối với bí mật kinh doanh Trên cơ sở các quy định pháp luậthiện hành, pháp luật Việt Nam thừa nhận có ba căn cứ để làm chấm dứt quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh:
Mét là, chủ sở hữu chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp bí mậtkinh doanh cho chủ thể khác Khi bí mật kinh doanh được chuyển nhượngmột cách hợp pháp, thì quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanhđược chuyển từ người chuyển nhượng sang người nhận chuyển nhượng Việcxác lập quyền sở hữu ở người nhận chuyển nhượng sẽ làm chấm dứt quyền sởhữu của bên chuyển nhượng
Hai là, bí mật kinh doanh không còn tính bí mật Bí mật kinh doanh chỉđược bảo hộ khi nó còn tính bí mật Trong trường hợp bí mật kinh doanh đã
Trang 35được chủ sở hữu hoặc người thứ ba bộc lé công khai ra khu vực công cộng thì
nó không còn được coi là của riêng ai Vì vậy, quyền sở hữu công nghiệp đốivới bí mật kinh doanh đó của chủ sở hữu cũng chấm dứt Có học giả cho rằng:cái gì thuộc về công cộng thì không thể là độc quyền sở hữu của bất kỳ ai.[14]
Ba là, bí mật kinh doanh không còn lợi thế kinh doanh nữa Bí mật kinhdoanh chỉ được bảo hộ khi nã mang lại một lợi thế nhất định cho chủ sở hữu.Trong trường hợp bí mật kinh doanh không còn lợi thế kinh doanh thì quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh cũng chấm dứt
2.3 NỘI DUNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH
Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng quyền sởhữu công nghiệp nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng là vấn đề đặc biệtquan trọng của pháp luật về sở hữu trí tuệ Thông qua quy định pháp luật vềnội dung quyền sở hữu đối với các sản phẩm trí tuệ đó mà các chủ sở hữu cóthể xác định được phạm vi, giới hạn các xử sự được phép của chủ sở hữu Đốivới người không phảI là chủ sở hữu thì thông qua nội dung quyền sở hữu cóthể xác định được nghĩa vụ phải tôn trọng quyền của chủ sở hữu, giới hạn xử
sự của mình để không xâm phạm quyền của chủ sở hữu
Trước khi có luật SHTT 2005, nội dung quyền sở hữu công nghiệpđược xác định cho từng đối tượng riêng lẻ Nội dung quyền sở hữu côngnghiệp đối với bí mật kinh doanh được quy định tại Khoản 1- Điều 8 – Nghị
Định 54/2000/NĐ-CP theo đó: “ Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật”
Theo quy định trên, chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bímật kinh doanh có các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt nh là quyền đốvới tài sản hữu hình Điều này không đúng cả về mặt lý luận và thực tiễn Bởi
vì bí mật kinh doanh là một sản phẩm của hoạt động trí tuệ Sản phẩm trí tuệ
Trang 36này có thể được thể hiện dưới các dạng vật chất hữu hình như thể hiện bằngchữ viết, ký hiệu trên các giấy tờ tài liệu, thể hiện bằng các công thức, ảnhchụp, bản vẽ, nguyên liệu vật liệu v.v…bí mật kinh doanh cũng có thể tồn tạiđược ở dạng phi vật thể Ví dụ nó thể hiện dưới dạng kỹ năng và kinh nghiệm
và trí tuệ của một kỹ sư [3, tr 174] Chính vì thế quyền chiếm hữu bí mật kinhdoanh không thể thực hiện được ở đây, nhà làm luật đã đồng nhất việc chiếmhữu bí mật kinh doanh với việc chiếm hữu những hình thức hữu hình chứađụng bí mật kinh doanh bí mật kinh doanh là những thông tin, kiến thức, kỹnăng, kinh nghiêm, là trí tuệ chứ không phải là các phương tiện để thể hiện trítuệ đó
Để khắc phục hạn chế trên và để tạo ra sự phù hợp giữa nội dung quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệpđối với các đối tượng khác, Luật SHTT đã quy định nội dung quyền sở hữu trítuệ chung cho các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
Theo Khoản 1 - Điều 123 – Luật SHTT, chủ sở hữu đối tượng sở hữucông nghiệp nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng có các quyền tài sảnsau:
2.3.1 Quyền sử dụng và cho phép sử dụng bí mật kinh doanh
Quyền sử dụng bí mật kinh doanh là một quyền quan trọng đối với chủ
sở hữu Bỡi lẽ, quyền sử dụng bí mật kinh doanh sẽ mang lại lợi Ých mộtcách trực tiếp cho chủ sở hữu, bù đắp lại các chi phí, sự đầu tư về vốn hoặcthời gian mà chủ sở hữu phải bỏ ra tạo ra hoặc có được bí mật kinh doanh
Theo khoản 4 - Điều 124 – Luật SHTT thì chủ sở hữu được quyền sửdông bí mật kinh doanh thông qua việc thực hiện một, một số hoặc tất cả cáchành vi sau đây:
“a) áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch
vụ, thương mại hàng hoá;
Trang 37b) Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu các sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh.”
Nh vậy, quyền sử dụng của chủ sở hữu bí mật kinh doanh bao gồm việc
áp dụng bí mật kinh doanh và quyền thực hiện các hành vi thương mại liênquan đến việc cung ứng sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinhdoanh ra thị trường
Chủ sở hữu bí mật kinh doanh có toàn quyền trong việc áp dụng bí mậtkinh doanh Chủ sở hữu có quyền lùa chọn áp dụng bí mật kinh doanh để sảnxuất loại sản phẩm nào, nhiều hay Ýt, bán ở đâu; cung ứng dịch vụ ở đâu, cho
ai v.v… Đồng thời chủ sở hữu cũng có quyền quảng cáo về việc đã áp dụng bímật kinh doanh trong việc sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằmthúc đẩy việc bán sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ do mình sản xuất hoặccung ứng nếu hàng hoá hoặc dịch vụ đó được sản xuất hoặc cung ứng có ápdụng bí mật kinh doanh
Người không phải là chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng có quyền sửdụng bí mật kinh doanh kinh doanh trên cơ sở ý chí của chủ sở hữu Việc chophép chủ thể khác sử dụng bí mật kinh doanh phải được thực hiện thông quahợp đồng chuyển quyền sử dụng bí mật kinh doanh (li – xăng bí mật kinhdoanh) Thông qua li – xăng bí mật kinh doanh chủ sở hữu có thể cho phépchủ thể khác sử dụng bí mật kinh doanh của mình Chủ sở hữu có thể chophép chủ thể khác thực hiện một, hay một số hành vi hoặc toàn bộ các hành vinhư : áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ, bán,quảng cáo để bán, nhập khẩu để bán, tàng trữ để bán sản phẩm được sản xuất
do áp dụng bí mật kinh doanh
Li – xăng bí mật kinh doanh phải là hợp đồng bằng văn bản (theokhoản 2 - Điều 141 – Luật SHTT), có thể là li – xăng độc quyền hoặc li –xăng không độc quyền Nội dung của li – xăng phải có các điều khoản chủyếu như: tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển quyền và bên được chuyểnquyền; căn cứ chuyển giao quyền sử dụng; dạng dạng li – xăng; phạm vi