1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex

91 562 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trước những biến đổi to lớn của nền kinh tế thế giới theo xu hướng khu

vực hoá và toàn cầu hoá, đã đưa nền kinh tế Việt Nam đứng trước những thách

thức lớn lao cũng như mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển Nếu biết nắm

bắt lấy những cơ hội ấy thì có thể coi đây là động lực để thúc đẩy nội lực của đất

nước phát triển Đồng thời nó cũng có thể trở thành tác động ngược lại nếu như

nắm bắt các cơ hội ấy không kịp thời hoặc không đúng cách Vì vậy, trong nền

kinh tế mở hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có thể hội tụ cả hai tác động

trên Nếu như xuất khẩu góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước thì nhập khẩu

giúp cho quá trình tái sản xuất được mở rộng và hiệu quả, đồng thời nhập khẩu

cho phép bổ xung những sản phẩm hàng hoá trong nước chưa sản xuất được

hoặc sản xuất không có hiệu quả, đem lại lợi ích cho các bên tham gia Đặc biệt

đối với Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đang tiến trên con đường

công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước trong khi sản xuất công nghiệp chưa

phát triển thì nhu cầu về hàng nhập khâủ vẫn còn cao Là một doanh nghiệp Nhà

nước trực thuộc Bộ xây dựng, Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam

VINACONEX đã sớm khẳng định được vai trò của mình trong công cuộc xây

dựng đất nước Hoạt động nhập khẩu của Tổng công ty không những mang lại

lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế cả nước

Để khai thác triệt để lợi thế của việc nhập khẩu hàng hoá trong lĩnh vực

xây dựng nhằm từng bước nâng cao cơ sở hạ tầng trong nước, việc đánh giá hoạt

động nhập khẩu nguyên vât liệu xây dựng và đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện

hoạt động này có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa thiết thực Do đó em xin

chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên

vật liệu tại Tổng công ty VINACONEX” Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn

đề liên quan đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu nguyên vật liệu của Tổng

công ty VINACONEX trong nền kinh tế mở cửa Việt Nam trong giai đoạn hiện

nay Trên cơ sở phân tích thực trạng, các mặt ưu nhược điểm của hoạt động kinh

doanh nhập khẩu nguyên vật liệu của Tổng công ty trong những năm vừa qua để

Trang 2

đề xuất các quan điểm, những giải pháp mới nhằm hoàn thiện hoạt động kinh

doanh nhập khẩu nguyên vật liệu tại Tổng công ty theo yêu cầu của nền kinh tế

mở hiện nay

Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận bao gồm 3

chương

Ch ương I: Cơ sở lý luận

Ch ương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại Tổng

công ty VINACONEX

Ch ương III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu

nguyên v ật liệu tại Tổng công ty VINACONEX

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NHẬP KHẨU

I - THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1-Thương mại quốc tế:

Thương mại quốc tế là quá trình phân phối và lưu thông hàng hoá và dịch

vụ với nước ngoài hoặc giữa các nước với nhau thông qua quan hệ hàng hoá - tiền tệ Quan hệ tiền tệ dưới hình thức buôn bán nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách hàng và người tiêu dùng nhằm mục đích kinh tế và thu lợi nhuận

2-Một số lý thyết về thương mại quốc tế:

a- Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối:

Theo quan niệm về lợi thế tuyệt đối do A.Smith phát hiện, một nước chỉ sản xuất các loại hàng hoá sử dụng tốt nhất các loại tài nguyên của nó Đây là cách giải thích đơn giản nhất về nguyên nhân của thương mại quốc tế Rõ ràng, việc tiến hành trao đổi giữa các quốc gia phải tạo ra lợi ích cho cả hai bên Nếu một quốc gia có lợi còn quốc gia khác bị thiệt thì họ sẽ từ chối tham gia vào thương mại quốc tế

Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai hàng hoá giống nhau A và B Quốc gia thứ nhất có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá A, còn quốc gia thứ hai có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng B Nếu mỗi quốc gia đều tiến hành chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng có lợi thế tuyệt đối, sau đó tiến hành trao đổi thì cả hai quốc gia đều có lợi Trong quá trình này, các nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả nhất, do đó tổng sản phẩm của hai quốc gia sẽ tăng lên Sự tăng thêm số sản phẩm này là nhờ vào chuyên môn hoá và sẽ được phân bổ giữa hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi ngoại thương

Tuy vậy, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần nhỏ của thương mại quốc tế là thương mại giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Hiện

Trang 4

nay, phần lớn thương mại quốc tế diễn ra giữa các quốc gia phát triển với nhau,

không thể giải thích được bằng lý thuyết lợi thế tuyệt đốí

b- Lý thuyết lợi thế so sánh:

*- L ợi thế so sánh - quy luật cơ bản của thương mại quốc tế:

Theo quy luật lợi thế so sánh do D.Ricardo phát hiện, nếu một quốc gia

có hiệu quả thấp hơn so với quốc gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản

phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi

ích Khi tham gia vào thương mại quốc tế, quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản

xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất (đó là

những hàng hoá có lợi thế tương đối) và nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc

sản xuất chúng bất lợi nhất (đó là những hàng hoá không có lợi thế tương đối)

Mô hình đơn giản của D.Ricardo dựa trên 5 giả thiết sau đây:

+Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất hai loại mặt hàng,

mỗi quốc gia có lợi thế về một mặt hàng

+Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có thể di chuyển trong mỗi

nước, nhưng không di chuyển giữa các nước

+Công nghệ sản xuất ở hai nước là cố định

+Chi phí sản xuất cố định, không có chi phí vận tải

+Thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước

*- Lợi thế tương đối xét dưới góc độ chi phí cơ hội:

Có thể giải thích lợi thế so sánh theo quan điểm về chi phí cơ hội

Theo cách tiếp cận này, chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng các hàng

hoá khác phải cắt giảm để nhường lại đủ các nguồn tài nguyên sản xuất thêm

một đơn vị hàng hoá thứ nhất như vậy quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp hơn

trong sản xuất một loại hàng hoá thì họ có lợi thế tương đối trong việc sản xuất

hàng hoá đó và không có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá thứ hai

Trang 5

b- Lý thuyết của Heckscher-Ohlin về lợi thế tương đối:

*Các gi ả thiết của Heckscher-Olin:

+ Thế giới chỉ có hai quốc gia chỉ có hai loại hàng hoá(X và Y) và

chỉ có hai yếu tố là lao động và tư bản

+ Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hoá giống nhau

và thị hiếu của các dân tộc như nhau

+ Hàng hoá X chứa đựng nhiều lao động, còn hàng hoá Y chứa

đựng nhiều tư bản

+ Tỷ lệ giữa đầu tư và sản lượng của hai loại hàng hoá trong 2

quốc gia là một hằng số Cả 2 quốc gia đều chuyên môn hoá sản xuất ở mức

không hoàn toàn

+ Cạnh tranh hoàn hảo trong thị trường hàng hoá và thị trường các

yếu tố đầu vào ở cả 2 quốc gia

+ Các yếu tố đầu vào tự do di chuyển trong từng quốc gia nhưng

bị cản trở trong phạm vi quốc tế

+ Không có chi phí vận tải, không có hàng rào thuế quan và các

trở ngại khác trong thương mại giữa 2 nước

* Hàm l ượng các yếu tố sản xuất trong các hàng hoá và đường giới

h ạn khả năng sản xuất:

Chúng ta nói rằng hàng hoá Y là hàng hoá chứa đựng nhiều tư

bản nếu tỷ số tư bản/lao động (K/L) được sử dụng để sản xuất hàng hoá Y lớn

hơn hàng hoá X trong cả 2 quốc gia

Chúng ta cũng nói rằng quốc gia thứ hai là quốc gia có sẵn tư

bản so với quốc gia thứ nhất nếu tỷ giá giữa tiền thuê tư bản trên tiền lương

(r/w) ở quốc gia này thấp hơn so với quốc gia thứ nhất Như vậy, đường giới hạn

Trang 6

khả năng sản xuất của quốc gia thứ hai sẽ nghiêng về OY và của quốc gia thứ

nhất nghiêng về phía OX

3-Vai trò của thương mại quốc tế :

Có thể nói, sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với sự phát

triển của thương mại nói chung và của thương mại quốc tế nói riêng Từ khi xuất

hiện nền kinh tế sản xuất hàng hoá, loài người đã thấy được lợi ích của trao đổi

hàng hoá giữa các nước

Thương mại quốc tế góp phần mở rộng thị trường của mỗi quốc gia Mỗi

quốc gia có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, có thể sử dụng công nghệ tiên

tiến có năng suất lao động cao hơn, có thể phát huy tính kinh tế quy mô để giảm

giá thành của mỗi đơn vị sản phẩm, tức là thúc đẩy khả năng phát triển sản xuất

trong nước

Thương mại quốc tế phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của mọi

người, tổ chức, mọi đơn vị tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế Khả

năng phát hiện chính xác mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu có ý nghĩa rất

quan trọng vì qua đó các luồng thông tin được khai thông, các mối quan hệ được

sử dụng tích cực

Thương mại quốc tế trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt

Nam hiện nay tất yếu dẫn đến cạnh tranh theo dõi kiểm soát lẫn nhau rất chặt

chẽ giữa các chủ thể kinh doanh thương mại quốc tế Chính nhờ sự cạnh tranh

này làm cho nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây có sự thay đổi đáng

kể theo chiều hướng tích cực, việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới được thường

xuyên và có ý thức, đồng thời đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải được đào tạo nghiêm

túc

Thương mại quốc tế đưa đến việc xoá bỏ nhanh chóng các chủ thể kinh

doanh hàng hoá lạc hậu, góp phần làm hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu

của Nhà nước và các địa phương thông qua các đòi hỏi hợp lý của các chủ thể

tham gia kinh doanh thương mại quốc tế trong quá trình thực hiện

Trang 7

II- NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH

TẾ NƯỚC TA:

1-Nhập khẩu:

Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế.Nó

không phải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là một hệ thống các quan hệ mua bán

trong một nền kinh tế có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài một quốc gia

Vậy thực chất ở đây, nhập khẩu hàng hoá là việc mua bán hàng hoá từ

các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hoá nhập

khẩu tại thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩuvới mục đích thu lợi nhuận và nối

liền sản xuất và tiêu dùng cùng với nhau

Mục tiêu của hoạt động nhập khẩu là việc sử dụng có hiệu quả ngoại

tệ tiết kiệm để nhập khẩu vật tư hàng hoá phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở

rộng và đời sống nhân dân trong nước, đồng thời bảo đảm cho việc phát triển

nhịp nhàng và nâng cao năng suất lao động, bảo vệ các ngành sản xuất trong

nước,giải quyết sự khan hiếm của thị trường nội địa

Hoạt động nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều khâu nghiệp

vụ khác nhau, từ khâu nghiên cứu điều tra, tiếp cận thị trường nước ngoài, lựa

chọn bạn hàng, hàng hoá nhập khẩu, tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp

đồng, tổ chức thực hiện hợp đồng cho tới khi hoàn thành thủ tục thanh toán Mỗi

khâu nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện đầy đủ, kỹ càng và đặt trong

mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt được lợi thế

2-Vai trò của nhập khẩu:

*- Đối với nền kinh tế quốc gia:

Nhập khẩu là một trong hai hoạt động quan trọng của hoạt động

ngoại thương nên nó tác động trực tiếp tới sản xuất và đời sống của mỗi quốc

gia Mỗi quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế cần phải có 4 điều kiện

là: nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ Nhưng không phải

quốc gia nào cũng có đủ 4 điều kiện trên Bởi vậy, nhập khẩu là con đường ngắn

Trang 8

nhất giúp các nước có được các điều kiện còn thiếu của nền kinh tế và nâng cao

hiệu quả hoạt động kinh tế Nhập khẩu cho phép khai thác tiềm năng thế mạnh

của các nước trên thế giới, bổ xung những hàng hoá mà trong nước không sản

xuất được, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu hoặc thay thế những hàng hoá

mà trong nước có thể sản xuất được nhưng không hiệu quả, làm cho thị trường

hàng hoá trong nước phong phú về chủng loại, quy cách và đáp ứng tốt hơn nhu

cầu tiêu dùng của xã hội Nhập khẩu cũng tạo điều kiện cho phân công lao động

và hợp tác quốc tế, phát huy lợi thế so sánh của mỗi quốc gia trên cơ sở chuyên

môn hoá sản xuất

Đối với Việt Nam, một nước mà trình độphát triển còn thấp thì vai trò

của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau:

+Nhập khẩu vốn, thiết bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến thúc đẩy quá

trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Nguồn vốn được nhập khẩu

có thể được hình thành từ các nguồn: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vay nợ,

các nguồn viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước

+Nhập khẩu vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, vừa đáp ứng cho

các nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của nhân dân, giúp giải quyết công

ăn việc làm cho người lao động, cải thiện và nâng cao khả năng tiêu dùng, mức

sống của nhân dân

+Nhập khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy phát triển các mối

quan hệ đối ngoại Nhập khẩu thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần nâng cao

chất lượng hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng Việt

Nam ra nước ngoài, cũng như góp phần hoàn thiện các cơ chế quản lý, chính

sách xuất nhập khẩu của Nhà nước và của mỗi địa phương thông qua các đòi hỏi

hợp lý của các chủ thể tham gia nhập khẩu trong quá trình thực hiện

*-Đối với doanh nghiệp:

Vai trò của nhập khẩu được khẳng định cùng với sự phát triển của

nền kinh tế cũng như đối với các doanh nghiệp đó là:

Trang 9

+ Nhập khẩu giúp doanh nghiệp có được công nghệ sản xuất hiện

đại để tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như tăng

năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

+ Thông qua nhập khẩu, doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ

buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài, dẫn đến việc hình thành các

liên doanh, liên kết giữa các chủ thể trong và ngoài nước, từ đó giúp doanh

nghiệp có kinh nghiệm trong công tác quản lý cũng như trong việc hoạch định

các chiến lược kinh doanh

+ Nhập khẩu giúp doanh nghiệp tăng doanh thu và lợi nhuận thông

qua việc đáp ứng các nhu cầu của xã hội từ đó tăng vốn kinh doanh cho doanh

nghiệp cũng như tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho cán bộ công nhân

viên của doanh nghiệp

Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, việc xuất nhập khẩu

mang lại nhiều lợi ích cũng như những bất lợi cho mỗi quốc gia do nó phải đôí

đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham

gia không dễ dàng khống chế được Vì vậy, để phát huy được vai trò của mình,

hoạt động nhập khẩu phải đảm bảo một số yêu cầu nhất định, tức là các doanh

nghiệp phải thực hiện đúng các nguyên tắc trong hoạt động nhập khẩu sao cho

phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích cuả toàn xã hội:

+ Thứ nhất: nhập khẩu phải đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong sử

dụng vốn Là một nước đang phát triển, vốn là một trong những nhân tố mà Việt

Nam đang còn thiếu, bởi vậy yêu cầu tiết kiệm là một vấn đề cơ bản của quốc

gia cũng như của doanh nghiệp

+ Thứ hai: chỉ nhập khẩu những thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại, tránh

nhập khẩu những công nghệ lạc hậu mà các nước đang tìm cách thải ra hay

không phù hợi với điều kiện nước ta

+ Thứ ba: nhập khẩu nhằm bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát

triển, tăng xuất khẩu Nhập khẩu cần đi đôi với tranh thủ lợi thế của đất nước

trong từng thời kỳ để thoả mãn nhu cầu trong nước, vừa bảo hộ và mở rộng sản

Trang 10

xuất trong nước đồng thời tạo ra nguồn hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường

ngoài nước và thúc đẩy xuất khẩu phát triển

3-Một số hình thức nhập khẩu chủ yếu

Trong hoạt động nhập khẩu,có nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau

để doanh nghiệp có thể lựa chọn Mỗi hình thức nhập khẩu có những ưu điểm và

nhược điểm riêng, bởi vậy doanh nghiệp cần phải tuỳ từng trường hợp mà áp

dụng hình thức nào cho có hiệu quả nhất Sau đây là một số hình thức nhập khẩu

cơ bản và phổ biến nhất:

a- Nhập khẩu tự doanh:

Nhập khẩu tự doanh là hình thức nhập khẩu mà trong đó doanh

nghiệp thực hiện toàn bộ quá trình nhập khẩu từ nghiên cứu thị trường để mua

hàng hoá đến bán được hàng hoá và có doanh thu từ vốn của mình

Hình thức nhập khẩu này có ưu điểm là nó đảm bảo tính tự chủ

trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp chủ động trong

việc nhập hàng và tiêu thụ hàng hoá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh Bên

cạnh đó, hình thức này cũng còn bộc lộ một số nhược điểm như: dễ xảy ra rủi ro,

sai lầm trong kinh doanh do một số công việc trong quá trình nhập khẩu không

được chuẩn bị tốt như: nghiên cứu thị trường hàng hoá trong nước, về thị trường

nước ngoài, về bạn hàng, về mặt hàng kinh doanh

b- Nhập khẩu uỷ thác:

Nhập khẩu uỷ thác là hình thức nhập khẩu mà trong đó công ty

đóng vai trò là người trung gian và tiến hành các nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá

theo yêu cầu của người trong nước uỷ thác Trong hoạt động nhập khẩu này

công ty không phải sử dụng vốn của mình và sau khi hoàn thành công việc theo

thoả thuận thì được hưởng phí uỷ thác

Hình thức nhập khẩu này trước đây đóng vai trò quan trọng trong

hoạt động nhập khẩu của đa số công ty xuất nhập khẩu do nhu cầu nhập khẩu

của các đơn vị trong nước rất lớn, trong khi đó không phải đơn vị nào cũng có

Trang 11

thể thực hiện nhập khẩu do họ không có chức năng hay do sự hạn chế về trình

độ cán bộ, tổ chức bởi vậy một số công ty xuất nhập khẩu đã thực hiện nhập

khẩu uỷ thác cho các đơn vị khác, góp phần vào việc giải quyết những vướng

mắc đó cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nhâpj khẩu

Tuy nhiên hiện nay tình trạng chung ở các doanh nghiệp xuất nhập

khẩu là kim ngạch nhập khẩu uỷ thác đang giảm xuống do một số nguyên nhân

sau đây: sau khi nghị định 57/CP ra đời năm 1998 và có hiệu lực thì nhiều doanh

nghiệp đã có quyền nhập khẩu trực tiếp đa số các loại mặt hàng, trong khi đó

nghiệp vụ trong hoạt động nhập khẩu trực tiếp ở các công ty ngày càng được

hoàn thiện Mặt khác, do phí uỷ thác cao cũng như một số nguyên nhân khác

cũng làm cho hình thức nhập khẩu này khônh còn là hình thức nhập khẩu quan

trọng trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

c-Nhập khẩu đổi hàng:

Nhập khẩu đổi hàng là hình thức nhập khẩu mà trong đó nhập khẩu

kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng

trao đổi có giá trị tương đương, ở đây mục đích không chỉ là nhập khẩu được

hàng hoá cần thiết mà còn là để tiêu thụ hàng xuất khẩu và đỡ phải vay vốn

ngoại tệ

Khi dùng hình thức nhập khẩu này, doanh nghiệp được tính cả kim

ngạch nhập khẩu và kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên, để đảm bảo hợp đồng

được thực hiện, người ta đề ra một số biện pháp sau để đảm bảo thực hiện hợp

đồng như sau:

+ Dùng thư tín dụng thương mại đối ứng

+ Dùng người thứ ba để khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá

+ Dùng một tài khoản đặc biệt ở ngân hàng để theo dõi việc giao

hàng của hai bên và được kiểm tra, đánh giá lại ở cuối một kỳ nhất định

+ Phạt về việc giao hàng thiếu hoặc giao hàng chậm

Trang 12

c- Nhập khẩu tái xuất:

Nhập khẩu tái xuất là hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những

hàng hoá trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất

Hình thức nhập khẩu này bao gồm cả hai hoạt động nhập khẩu và

xuất khẩu, với mục đích thu về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu Hình

thức nhập khẩu này có ưu điểm là nước nhập khẩu sẽ được phần lời do chênh

lệch giữa giá bán với nước nhập khẩu và nước xuất khẩu, đồng thời nhận được

lãi suất tiền gửi trong thời gian hàng hoá lưu chuyển giữa hai nước xuất khâủ và

nhập khẩu

Nhưng hình thức này cũng có hạn chế, đây là hình thức nhập khẩu

rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự

chính xác và chặt chẽ trong hợp đồng mua bán, ngoài ra có những quy định rất

chặt chẽ của Nhà nước về hoạt động này

Ngoài các hình thức nhập khẩu trên đây, hoạt động nhập khẩu còn

có một số hình thức khác như gia công quốc tế, nhập khẩu liên doanh III-

NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH

HƯỞNG:

1-Nội dung của hoạt động nhập khẩu:

Xuất nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài nhằm

phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả trong

hoạt động kinh doanh nhập khẩu, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện đúng và

đầy đủ các khâu nghiệp vụ trong quá trình kinh doanh

a- Nghiên cứu thị trường:

Nghiên cứu thị trường là hoạt động đầu tiên cần thiết đối với bất kỳ

doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thị trường Đối với doanh nghiệp thương

mại nhập khẩu để bán lại kiếm lời thì thị trường nghiên cứu bao gồm cả thị

trường trong nước và thị trường quốc tế

Trang 13

* Nghiên c ứu thị trường trong nước xác định mặt hàng nhập khẩu:

Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin số liệu về thị

trường, so sánh và phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận Từ đó giúp

doanh nghiệp xác định được nhu cầu cụ thể về:

+ Mặt hàng mà thị trường trong nước cần

+ Quy cách, chủng loại

+ Số lượng

+ Thời hạn tiêu dùng

+ Giá cả

+ Đường biểu diễn chu kỳ sống của mặt hàng

Việc thu thập đầy đủ thông tin về thị trường trong nước có ý nghĩa

rất quan trọng cho việc ra quyết định trong kinh doanh vì đây là thị trường đầu

ra của doanh nghiệp

* Nghiên c ứu thị trường quốc tế;

Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế có rất nhiều ý nghĩa trong

việc phát triển và nâng cao hiệu quả các quan hệ kinh tế, đặc biệt là trong công

tác nhập khẩu hàng hoá của mỗi doanh nghiệp Mục đích của công việc này là

lựa chọn được nguồn hàng nhập khẩu và đối tác giao dịch một cách tốt nhất Vì

đây là thị trường nước ngoài nên việc nghiên cứu gặp phải một số khó khăn và

không được kỹ lưỡng như thị trường trong nước Doanh nghiệp cần phải biết các

Trang 14

+ Điều kiện về kinh tế: sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển

của ngoại thương

+ Điều kiện về vị trí địa lý: yếu tố này cho phép doanh nghiệp

giảm các chi phí vận tải, bảo hiểm

+ Điều kiện về con người và tâm lý, tập quán thương mại

+ Điều kiện về kỹ thuật và công nghệ

Các điều kiện trên là những nhân tố “không thể kiểm soát được” đối với doanh

nghiệp nhưng nó có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu của

doanh nghiệp Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải điều khiển và đáp ứng các nhân

tố đó

- Đối tác kinh doanh: trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay

khách hàng nói chung là những người có quan hệ giao dịch với doanh nghiệp

nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động

hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật liên quan đến cung cấp hàng hoá Việc lựa

chọn đối tác để giao dịch dựa trên cơ sở nghiên cứu:

+ Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi

kinh doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên, khả năng đặt

hàng và liên doanh liên kết

+ Sức mạnh về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của đối tác cho

phép thấy được những ưu thế trong thoả thuận giá cả, điều kiện thanh toán

+ Thái độ và quan điểm kinh doanh, uy tín trong quan hệ kinh

doanh của đối tác

Ngoài ra việc lựa chọn đối tác còn dựa vào kinh nghiệm của

người nghiên cứu và truyền thống mua bán của doanh nghiệp

- Xác định và dự báo các biến động của quan hệ cung cầu hàng

hoá trên thị trường thế giới:

Trang 15

Đây thực chất là việc nghiên cứu dung lượng thị trường hàng hoá

Nghiên cứu dung lượng thị trường hàng hoá cần xác định nhu cầu và nguồn

hàng một cách thực tế, xác định toàn bộ lượng hàng hoá bán ra trên thị trường

đôi với sản phẩm kể cả dự trữ, xu hướng biến động trong từng thời điểm, từng

vùng và từng lĩnh vực sản xuất tiêu dùng Cùng với việc nắm bắt nhu cầu là việc

nắm bắt khả năng cung cấp của thị trường (bao gồm việc xem xét đặc điểm, tính

chất, khả năng của sản xuất hàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán) và tính

chất thời vụ của sản xuất, tiêu dùng hàng hoá đó trên thị trường thế giới để có

biện pháp thích hợp cho từng giai đoạn, đảm bảo cho việc nhập khẩu có hiệu

quả

Dung lượng thị trường không ổn định, nó chịu tác động của nhiều

nhân tố khác nhau trong những giai đoạn nhất định đó là: các nhân tố làm dung

lượng thị trường biến động có tính chất chu kỳ như sự vận động của nền kinh tế,

tính thời vụ của sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá Các nhân tố ảnh

hưởng lâu dài như tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp, chính sách của Nhà

nước, thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay

thế.Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường như hiện

tượng đầu cơ, các yếu tố tự nhiên: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, , các yếu tố về

chính trị-xã hội

- Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu: xu hướng biến

động giá cả của hàng hoá trên thị trường thế giới rất phức tạp Trong cùng một

thời gian, giá cả hàng hoá có thể biến động theo những hướng trái ngược nhau

với những mức độ nhiều ít khác nhau Thêm vào đó là việc nắm bắt tình hình và

xu hướng biến động của giá cả thị trường thế giới là hết sức khó khăn, đặc biệt

là đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Giá cả tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vậy, các doanh nghiệp cần phải luôn

luôn theo dõi sự biến động của giá cả, đồng thời phải có biện pháp để tính toán,

xác định một cách chính xác, khoa học mức giá để nâng cao hiệu quả kinh

doanh Để có thể dự đoán được xu hướng biến động giá cả của mỗi loại hàng

Trang 16

hoá trên thị trường thế giới cần phải dựa vào kết quả nghiên cứu và dự đoán tình

hình thị trường hàng hoá cũng như các nhân tố tác động đến giá

Ngoài việc xác định tính toán giá nhập khẩu hợp lý, doanh nghiệp

cần phải quan tâm đến tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu Nếu tỷ suất ngoại tệ

hàng nhập khẩu lớn hơn tỷ giá hối đoái thì việc lựa chọn mặt hàng nhập khẩu là

có hiệu quả

Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới trong thương mại quốc tế

nói chung và nhập khẩu nói riêng là hết sức cần thiết và quan trọng trong hoạt

động kinh doanh Đó là bước chuẩn bị, bước tiền đề để xuất nhập khẩu hàng hoá

được thực hiện có hiệu quả do nó giúp doanh nghiệp lựa chọn được thị trường,

mặt hàng kinh doanh, đối tác, giá cả, phương phức thanh toán và tín dụng, luật

áp dụng

Để nghiên cứu thị trường , doanh nghiệp có thể thu thập thông tin

trong và ngoài nước và có thể áp dụng một trong hai phương pháp sau để nghiên

cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tại văn phòng:

Thực chất đây là việc thu thập thông tin từ các nguồn tư

liệu, cả xuất bản và không xuất bản Đây là phương pháp nghiên cứu phổ thông,

bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường đều phải sử dụng phương

pháp này vì nó ít tốn kém về thời gian, chi phí và cho phép doanh nghiệp có thể

nhìn được khái quát thị trường mặt hàng cần nghiên cứu Tuy nhiên nó cũng có

nhược điểm đó là thông tin không cập nhật, mức độ tin cậy có hạn và phương

pháp mang tính lý thuyết

- Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường:

Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc quan

sát tiếp xúc với mọi người trên thương trường Phương pháp này khắc phục

được các nhược điểm của phương pháp trên nhưng đây là phương pháp nghiên

cứu phức tạp và rất tốn kém, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thực hiện

Trang 17

được do nó phụ thuộc vào khả năng tài chính cũng như trình độ cán bộ nghiên

cứu của doanh nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu thị trường, cần phải kết hợp cả

hai phương pháp trên để hạn chế thiếu sót và phát huy được điểm mạnh của mỗi

phương pháp, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu thị trường

b- Lập phương án kinh doanh:

Căn cứ vào những thông tin thu được trong việc nghiên cứu thị

trường, lựa chọn đối tác và các quyết định, mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra

để lập phương án kinh doanh

Nội dung của nó bao gồm nhiều công việc bao gồm:

+ Xác định mặt hàng nhập khẩu

+ Xác định số lượng hàng nhập khẩu

+ Lựa chọn thị trường, bạn hàng, phương thức giao dịch,

+ Đề ra các phương pháp để đạt được mục tiêu kinh doanh

+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nhập khẩu

c- Giao dịch và ký kết hợp đồng

* Giao d ịch, đàm phán trước khi ký kết:

Để có thể soạn thảo và đi đến ký kết hợp đồng, trước hết hai bên

phải đạt được những thoả thuận chung trong buôn bán Trong quá trình đàm

phán, hai bên sẽ đưa ra những yêu cầu, ý muốn của mình để cùng xem xét, thảo

luận để cùng thống nhất làm căn cứ để soạn thảo một hợp đồng

Trang 18

Thông thường có ba hình thức đàm phán là:

- Đàm phán qua thư tín: hai bên tiến hành giao dịch trao

đổi thông qua thư từ, điện tín

- Đàm phán qua điện thoại

- Đàm phán bằng gặp gỡ trực tiếp: hai bên tiến hành trực

tiếp gặp gỡ, trao đổi, bàn bạc, thống nhất và ký kết hợp đồng

Hình thức đàm phán qua thư tín, điện thoại chỉ được sử dụng

trong trường hợp đối tác là bạn hàng lâu năm, quan hệ tốt Gặp gỡ trực tiếp để

đàm phán thường áp dụng đối với những hợp đồng có giá trị lớn, nội dung phức

tạp, có nhiều khoản phải giải thích cặn kẽ

Mỗi hình thức giao dịch đều có những ưu điểm và hạn chế khác

nhau, tuỳ theo từng trường hợp mà doanh nghiệp sử dụng các hình thức trên sao

cho có được hiệu quả cao nhất

Trong buôn bán quốc tế, những bước giao dịch chủ yếu thường

diễn ra như sau:

- Hỏi giá: đây là việc người mua đề nghị người bán báo cho

mình giá cả và các điều kiện để mua hàng

Nội dung của hỏi giá có thể gồm: tên hàng, quy cách,

phẩm chất, số lượng, thời gian giao hàng mong muốn Giá cả mà người mua có

thể trả cho mặt hàng đó thường được giữ kín, nhưng để tránh mất thời gian hỏi

đi hỏi lại, người mua nên nêu rõ điều kiện mà mình mong muốn để làm cơ sở

cho việc định giá như: loại tiền thanh toán, phương thức thanh toán, điều kiện cơ

sở giao hàng

Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của người hỏi giá

song không nên hỏi quá nhiều nơi vì như vậy sẽ tạo ra cơn sốt ảo về mặt hàng

đó mà diều này không có lợi cho người mua

Trang 19

- Phát giá hay còn gọi là chào hàng: là việc người bán thể

hiện rõ ý định bán hàng của mình Trong chào hàng người bán nêu rõ: tên hàng,

quy cách, phẩm chất, số lượng, giá cả, điều kiện cơ sở giao hàng, thời hạn giao

hàng, thể thức giao nhận hàng, điều kiện thanh toán

Có hai loại chào hàng là

+ Chào hàng cố định: là việc chào bán một loại hàng nhất định cho

một người mua nhất định Nếu người mua chấp nhận chào hàng đó thì hợp đồng

coi như được giao kết Người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm vào lời đề

nghị của mình

+ Chào hàng tự do: là việc chào bán một lô hàng cho nhiều khách

hàng Việc khách hàng chấp nhận hoàn toàn điều kiện của chào hàng tự do

không có nghĩa là hợp đồng được ký kết Người mua cũng không thể trách

người bán nếu sau đó người bán không ký kết hợp đồng với mình vì chào hàng

tự do không ràng buộc trách nhiệm của người phát ra nó

- Đặt hàng: lời đề nghị ký kết hợp đồng từ phía người mua được

đưa ra dưới hình thức đặt hàng Trong đặt hàng người mua nêu cụ thể về hàng

hoá định mua và tất cả những nội dung cần thiết liên quan đến việc ký kết hợp

đồng

Trên thực tế, người ta chỉ đặt hàng với những khách hàng có

quan hệ thường xuyên

- Hoàn giá: là mặc cả về giá cả hoặc các điều kiện giao hàng

Khi người nhận được chào hàng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó sẽ

đưa ra một đề nghị mới thì đề nghị mới này gọi là trả giá Trong buôn bán quốc

tế, mỗi lần giao dịch thường trải qua nhiều lần trả giá mới đi đến kết thúc Như

vậy hoàn giá bao gồm nhiều sự trả giá

- Chấp nhận: là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của

chào hàng (hoặc đặt hàng) mà phía bên kia đưa ra Khi đó hợp đồng được xác

lập

Trang 20

- Xác nhận: sau khi hai bên đã thống nhất thoả thuận với nhau về

các điều kiện giao dịch, có ghi lại mọi điều đã thoả thuận rồi gửi cho bên kia thì

đó là văn bản xác nhận Xác nhận thường được lập thành hai bản, bên lập xác

nhận ký trước rồi gửi cho bên kia Bên kia ký xong giữ lại một bản và gửi trả lại

một bản

Sau khi giao dịch đàm phán, nếu hai bên có thiện chí và có được

tiếng nói chung thì sẽ đi đến ký kết hợp đồng mua bán

* Ký k ết hợp đồng:

Hợp đồng mua bán quốc tế là sự thoả thuận của những đương

sự có quốc tịch khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu

một khối lượng hàng hoá nhất định cho bên mua và bên mua có mghĩa vụ trả

tiền và nhận hàng

Trong thương mại quốc tế, hợp đồng được thành lập bằng văn

bản, đó là chứng từ cụ thể và cần thiết về sự thoả thuận giữa hai bên mua và bán

Mọi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được thể hiện rõ ràng trong hợp đồng sau

khi hai bên đã ký kết trên nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi Vì vậy, hợp

đồng chính là bằng chứng để quy trách nhiệm cho các bên khi có tranh chấp, vi

phạm hợp đồng Đồng thời nó cũng là cơ sở để thống kê, theo dõi, kiểm tra, đôn

đốc việc thực hiện hợp đồng của các bên

Có thể ký kết hợp đồng theo các cách sau:

+ Hai bên ký kết vào một hợp đồng mua bán

+ Bên mua xác nhận thư chào hàng của bên bán

+ Bên bán xác nhận đơn đặt hàng của bên mua

Thông thường một hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu bao gồm

các điều khoản chính sau:

- Tên hàng: là một điều khoản quan trọng của hợp đồng Nó nói

lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi

Trang 21

- Phẩm chất và cách xác định phẩm chất: là điều khoản quy

định mặt chất của hàng hoá mua bán

- Số lượng, trọng lượng và cách xác định

- Điều kiện giao hàng: quy định thời hạn giao hàng, địa điểm

giao hàng, phương thức giao hàng và điều kiện cơ sở giao hàng

- Giá cả và cách xác định: quy định đồng tiền tính giá, mức giá,

phương pháp xác định giá cả, cơ sở của giá cả và việc giảm giá

- Điều kiện thanh toán: quy định đồng tiền thanh toán, địa điểm

thanh toán, thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán

- Bao bì và ký mã hàng hoá: điều khoản này thường quy định

chất lượng của bao bì, phương thức cung cấp bao bì, giá cả của bao bì và những

yêu cầu ký mã hiệu trên bao bì

- Kiểm tra và giám định hàng hoá: quy định cơ quan giám định

hàng hoá và bên thực hiện việc giám định hàng hoá

- Quy định về giải quyết tranh chấp, phạt và bồi thường thiệt

hại

- Ngoài ra còn có một số các điều khoản khác như lắp ráp,

bảo hành

Đi kèm với hợp đồng có thể có các bản phụ lục, tài liệu kỹ thuật các

bản kê chi tiết, tuỳ thuộc vào từng mặt hàng và yêu cầu của các bên

d- Thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, đơn vị kinh

doanh nhập khẩu – với tư cách là một bên ký kết- phải tổ chức thực hiện hợp

đồng đó Đây là một công việc phức tạp, nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia

và quốc tế đồng thời đảm bảo quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh

của doanh nghiệp

Trang 22

Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải tiến

hành các công việc sau:

* Chu ẩn bị thủ tục kinh doanh xuất nhập khẩu:

Theo nghị định 57/CP ra ngày 31/7/98 của Chính phủ quy định,

các doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu không cần phải xin giấy

Đôn đốc bên bán

h ng

Thuê tầu (Nếu có quyền)

Mua bảo hiểm (Nếu có quyền )

L m thủ

tục

hải quan

Giải quyết khiếu nại nếu có

L m thủ tục hải quan

Trang 23

phép (trừ các hàng hoá cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh có điều kiện)

mà thực hiện đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu với haỉ quan tỉnh, thành

phố Trong đó đăng ký mã số hải quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu trong phạm

vi đăng ký kinh doanh Nghị định này cũng quy định chi tiết danh mục các mặt

hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh có điều kiện Như vậy, đối với

những hàng hoá thông thường khi tiến hành nhập khẩu, doanh nghiệp không cần

phải xin giấy phép

Đối với những hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch, để nhập khẩu

doanh nghiệp phải có được giấy phân bổ hạn ngạch và thường phải đăng ký

trước khi ký hợp đồng Để có được hạn ngạch nhập khẩu, doanh nghiệp phải xây

dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật xin cấp hạn ngạch được bộ chủ quản phê duyệt

và trình Chính phủ thông qua bộ Thương mại

* M ở thư tín dụng (L/C):

Khi hợp đồng nhập khẩu quy định tiền hàng thanh toán bằng

phương thức tín dụng chứng từ thì bên nhập khẩu phải mở L/C theo yêu cầu của

bên xuất khẩu L/C là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng theo yêu cầu của

khách hàng của mình cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ

chứng từ thanh toán phù hợp với yêu cầu đề ra trong L/C

Cơ sở pháp lý và nội dung để làm đơn xin mở L/C là hợp đồng

mua bán ký kết giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu

Căn cứ vào yêu cầu và nội dung của đơn xin mở L/C, ngân

hàng mở L/C sẽ lập ra một bức thư tín dụng và qua ngân hàng đại lý của mình

để thông báo và chuyển thư tín dụng đến cho người xuất khẩu

* Đôn đốc phía bán giao hàng:

Để quá trình nhập khẩu đúng tiến độ như đã quy định trong

hợp đồng thì phải đôn đốc phía bán giao hàng theo đúng số lượng, chất lượng,

quy cách, bao bì và đúng thời hạn Việc giao hàng như vậy mới đáp ứng được

phương án kinh doanh đã đề ra, không bỏ lỡ cơ hội

Trang 24

* Thuê tàu v ận chuyển:

Hiện nay, do điều kiện nước ta còn hạn chế như đội tàu chưa

phát triển, kinh nghiệm thuê tàu ít, nên chúng ta thường nhập khẩu theo điều

kiện CIF, tức là quyền thuê tàu thuộc về người xuất khẩu

Nếu nhập khẩu theo điều kiện FOB thì chúng ta phải thuê tàu

dựa vào các căn cứ sau:

+ Những điều khoản của hợp đồng

+ Đặc điểm của hàng hoá mua bán

+ Điều kiện vận tải

Tuỳ thuộc vào khối lượng và đặc điểm của hàng hoá chuyên

chở mà lựa chọn thuê tàu cho phù hợp đảm bảo an toàn, thuận lợi, nhanh chóng

Nếu hàng hoá có khối lượng lớn, hành trình không trùng với hành trình của tàu

chợ thì có thể thuê tàu chuyến

* Mua b ảo hiểm:

Nếu nhập khẩu theo điều kiện CIF thì bên nhập khẩu cũng không

phải mua bảo hiểm vì phí bảo hiểm đã có trong giá CIF (do bên xuất khẩu mua)

Thông thường trong mua bán quốc tế, hàng hoá chủ yếu được

vận chuyển bằng đường biển, hành trình dài lênh đênh trên biển rất dễ xảy ra rủi

ro, hư hỏng, mất mát Vì vậy, việc mua bảo hiểm hàng hoá là rất cần thiết Tuỳ

thuộc vào đặc điểm, tính chất của hàng hoá, điều kiện vận chuyển mà mua bảo

hiểm chuyến hay mua bảo hiểm bao

Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều kiện bảo

hiểm Có ba điều kiện bảo hiểm chính là: bảo hiểm mọi rủi ro (điều kiện A), bảo

hiểm có tổn thất riêng (điều kiện B) và bảo hiểm miễn tổn thất riêng (điều kiện

C) Cũng có một số điều kiện bảo hiểm phụ như: vỡ, rò rỉ, không giao hàng, hư

hại do móc cẩu, Ngoài ra còn có một số điều kiện bảo hiểm đặc biệt như: bảo

hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công, bạo động

Trang 25

Việc lựa chọn bảo hiểm phải dựa trên 4 căn cứ sau:

Hàng hoá nhập khẩu phải qua biên giới quốc gia nên phải làm

thủ tục hải quan Việc làm thủ tục hải quan bao gồm các bước chủ yếu sau:

- Khai báo hải quan: người khai báo hải quan có trách

nhiệm tự khai và tự tính thuế các đối tượng làm thủ tục hải quan theo mẫu tờ

khai do Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan quy định Yêu cầu của việc khai này

là phải trung thực và chính xác Đối với hàng hoá nhập khẩu bộ hồ sơ gồm:

+ Tờ khai hải quan

+ Hợp đồng thương mại

+ Bản kê chi tiết (đối với hàng hoá không đồng nhất)

+ Hoá đơn thương mại

+ Vận đơn

+ Các giấy tờ khác (đối với hàng nhập khẩu có điều kiện hoặc có

quy định riêng)

- Xuất trình hàng hoá: người làm thủ tục hải quan phải

+ Xuất trình đầy đủ hàng hoá để cơ quan hải quan kiểm tra theo thời

gian và tại địa điểm quy định

+ Bố trí phương tiện và nhân công phục vụ việc kiểm tra hàng hoá

của cơ quan hải quan

Trang 26

+Có mặt trong thời điểm kiểm tra hàng hoá

- Thực hiện các quy định của hải quan: sau khi kiểm tra

giấy tờ và hàng hoá, hải quan sẽ ra những quyết định như: cho hàng được phép

thông quan, không cho thông quan hoặc thông quan có điều kiện (phải sửa chữa

lại bao bì, ) Nghĩa vụ của chủ hàng là phải thực hiện nghiêm túc các quy định

đó

* Giao nh ận hàng hoá nhập khẩu:

Theo quy định của Chính phủ, các cơ quan vận tải (ga, cảng) có

trách nhiệm tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu trên các phương tiện vận tải từ nước

ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho lưu bãi và giao

hàng cho các đơn vị đặt hàng theo lệnh giao hàng của doanh nghiệp đã nhận

hàng đó

* Ki ểm tra hàng hoá:

Sau khi nhận hàng, bên nhập khẩu sẽ làm thủ tục kiểm tra hàng

hoá Hàng hoá nhập khẩu cần được kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ quan tuỳ theo chức

năng của mình phải tiến hành công việc kiểm tra đó Hàng hoá nhập khẩu sẽ

được các cơ quan sau kiểm tra:

+ Cơ quan giao thông (ga, cảng): các cơ quan này phải kiểm tra

niêm phong cặp chì trước khi dỡ hàng hoá ra khỏi phương tiện vận tải

+ Đơn vị kinh doanh nhập khẩu: với tư cách là một bên đứng

tên trên vận đơn phải lập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thâý hàng hoá

có tổn thất, phải yêu cầu lập biên bản giám định nếu hàng hoá thực sự có tổn

thất, thiếu hụt, không đồng bộ, không phù hợp với hợp đồng

+ Cơ quan đặt hàng trong nước (nếu cần thiết)

Ngoài ra các cơ quan kiểm dịch phải thực hiện nhiệm vụ của mình

khi hàng hoá nhập khẩu yêu cầu phải được kiểm dịch

* Làm thủ tục thanh toán:

Trang 27

Thanh toán là nghiệp vụ quan trọng trong việc thực hiện hợp

đồng nhập khẩu Trong kinh doanh thương mại quốc tế hiện nay có rất nhiều

phương thức thanh toán khác nhau mà các bên có thể lựa chọn để áp dụng trong

việc thanh toán hợp đồng như phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ,

phương thức nhờ thu

Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán tiền hàng bằng

L/C thì khi bộ chứng từ gốc từ nước ngoài về đến ngân hàng mở L/C, nhà nhập

khẩu phải kiểm tra cẩn thận bộ chứng từ, nếu thấy hợp lệ thì trả tiền và lấy bộ

chứng từ đi nhận hàng

* Khi ếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có):

Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu phát hiện thấy hàng

nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, mất mát, không đúng với yêu cầu trong hợp đồng

về thời gian giao hàng, chất lượng người nhập khẩu cần lập ngay hồ sơ khiếu

nại để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại

Tuỳ từng trường hợp mà đối tượng bị khiếu nại có thể là người

bán, người vận tải hoăc công ty bảo hiểm Hồ sơ khiếu nại bao gồm có đơn

khiếu nại và các bằng chứng về việc tổn thất Việc khiếu nại nếu không được

giải quyết thoả đáng, hai bên có thể kiện nhau ở hội đồng trọng tài (nếu có thoả

thuận trong hợp đồng) hoặc ở toà án

Ngoài các bước nói trên, việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng

hoá là thiết bị toàn bộ cần có thêm các bước cung cấp thiết bị, xây lắp công trình

và chạy thử đưa vào sản xuất

Thực hiện hợp đồng là khâu cuối cùng của hoạt động ngoại thương

do nó phản ánh tổng hợp toàn bộ quá trình kinh doanh Nếu nhà nhập khẩu thực

hiện nghiêm chỉnh hợp đồng thì sẽ đề cao uy tín của doanh nghiệp, tạo điều kiện

cho doanh nghiệp mở rộng quan hệ với khách hàng, thể hiện được tính doanh

lợi, tính hiệu quả của nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu

e- Đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu:

Trang 28

Sau khi kết thúc một hợp đồng nhập khẩu, để biết kết quả cụ thể của

thương vụ, người nhập khẩu phải tiến hành đánh giá, nghiệm thu kết quả hợp

đồng Ngoài việc hạch toán lỗ lãi còn phải đánh giá về bạn hàng, về thị trường,

về mối quan hệ tiếp theo giữa doanh nghiệp với bạn hàng

Qua việc đánh giá này để rút ra kinh nghiệm, mặt mạnh phát huy,

mặt yếu khắc phục nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong các thương vụ sắp tới

2-Các nhân tố ảnh hưởng đến nhập khẩu:

Nhập khẩu là một hoạt động liên quan đến nhiều yếu tố trong nước và

quốc tế Nó luôn luôn thay đổi do tác động tổng hợp của các nhân tố này trong

những giai đoạn nhất định Bản thân hoạt động nhập khẩu này không thể tiến

hành tự động được mà phải do một chủ thể nhất định tiến hành, nên nó cũng

chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố của chủ thể

a- Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:

* Ch ế độ chính sách, luật pháp trong nước và quốc tế:

Chế độ chính sách, luật pháp là yếu tố mà doanh nghiệp hoạt

động kinh doanh xuất nhập khẩu cần phải nắm chắc và tuân theo một cách vô

điều kiện Hoạt động nhập khẩu được tiến hành giữa các chủ thể ở các quốc gia

khác nhau, bởi vậy nó chịu tác động của chính sách, chế độ luật pháp của các

quốc gia đó Đồng thời, hoạt động nhập khẩu cũng phải tuân theo những quy

định của luật pháp quốc tế

* Môi tr ường chính trị trong nước và quốc tế:

Môi trường chính trị trong nước và quốc tế có ảnh hưởng rất

lớn đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Nền chính trị ổn định

cho phép doanh nghiệp thực hiện hoạt động nhập khẩu nhanh chóng và hạn chế

được nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện

* T ỷ giá hối đoái và tỷ xuất ngoại tệ hàng nhập khẩu:

Trang 29

Tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ tới hoạt động nhập khẩu

Mọi việc tính giá và thanh toán trong kinh doanh nhập khẩu đều sử dụng tới

ngoại tệ Tỷ giá hối đoái quyết định mặt hàng, bạn hàng, phương án kinh doanh

cũng như quan hệ kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh

nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng

Sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể gây nên sự biến động

lớn trong tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu Khi tỷ giá hối đoái tăng sẽ khuyến

khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và ngược lại Tỷ xuất ngoại tệ hàng nhập

khẩu giữa các mặt hàng thay đổi sẽ gây nên sự biến đổi trong cơ cấu hàng nhập

khẩu, từ đó dẫn đến sự thay đổi phương án kinh doanh của các doanh nghiệp

nhập khẩu

* S ự biến động của thị trường trong nước và quốc tế:

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu có thể coi như chiếc cầu nối

thông suốt thị trường trong nước và quốc tế, tạo ra sự phù hợp, gắn bó, cũng như

phản ánh tác động qua lại giữa các thị trường Khi có sự thay đổi về giá cả, nhu

cầu ở thị trường này thì đồng thời tác động tới sự ứng xử của thị trường kia

Cũng như vậy, thị trường ngoài nước quyết định tới sự thoả

mãn nhu cầu trong nước, sự biến động của nó về khả năng cung cấp, về sản

phẩm mới, về sự đa dạng của hàng hoá dịch vụ tác động rất lớn đến thị trường

nội địa

* N ền sản xuất và thương mại trong nước:

Sự phát triển của sản xuất trong nước tạo ra sự cạnh tranh mạnh

mẽ với hàng hoá nhập khẩu, tạo ra sản phẩm thay thế và làm giảm nhu cầu hàng

hoá nhập khẩu Ngược lại, nếu sản xuất trong nước kém phát triển, không thể

sản xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao thì cầu về hàng hoá nhập

khẩu tăng lên

Tuy nhiên, không phải lúc nào sản xuất trong nước phát triển thì

hoạt động nhập khẩu bị thu hẹp mà nhiều khi để tránh sự độc quyền, tạo ra sự

Trang 30

cạnh tranh cho thị trường trong nước, hoạt động nhập khẩu được khuyến khích

phát triển Trái lại, để bảo vệ sản xuất trong nước, bảo vệ những ngành sản xuất

non trẻ, hoạt động nhập khẩu có thể bị thu hẹp và kiểm soát chặt chẽ

Sự phát triển kinh tế nói chung và thương mại nói riêng quyết

định tới sự chu chuyển và lưu thông hàng hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho nhập

khẩu phát triển

* Giao thông v ận tải - thông tin liên lạc:

Việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách rời công

việc vận chuyển và thông tin liên lạc Sự phát triển trong lĩnh vực thông tin liên

lạc và giao thông vận tải là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động nhập

khẩu phát triển

Thực tế cho thấy rằng, sự phát triển của hệ thống thông tin liên

lạc đã dơn giản hoá các khâu công việc của hoạt động nhập khẩu, giảm hàng loạt

các chi phí nhờ sự nhanh gọn, kịp thời, chính xác Việc hiện đại hoá các phương

tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản cũng góp phần làm cho quá trình nhập khẩu

được nhanh chóng, an toàn và hiệu quả

* H ệ thống tài chính ngân hàng:

Ngày nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn

mạnh, có vai trò quan trọng trong quản lý, cung cấp vốn và thanh toán quốc tế

Nó can thiệp đến hoạt động của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Sự

phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng vừa tạo điều kiện cho các doanh

nghiệp tận dụng các cơ hội trong kinh doanh, vừa giúp doanh nghiệp hạn chế

các rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu, nâng cao hiệu quả kinh doanh

* Khoa h ọc công nghệ:

Trang 31

Đối với những hàng hoá tiêu dùng cho sản xuất, máy móc thiết

bị, hoạt động nhập khẩu bị chi phối mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật Các nước

phát triển thường xuất khẩu máy móc sang các nước đang phát triển, nơi mà

trình độ khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng còn yếu kém, đang có nhu cầu

nhập khẩu thiết bị máy móc rất lớn để phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất

nưóc

b- Các nhân tố bên trong doanh nghiệp:

Nếu như các nhân tố trên đều là các nhân tố mà doanh nghiệp phải

thích ứng thì các nhân tố bên trong doanh nghiệp là nhân tố mà doanh nghiệp có

thể kiểm soát được và nó tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp, đó chính là tiềm lực của doanh nghiệp Tiềm lực của doanh nghiệp bao

gồm tiềm lực về tài chính, về con người, về uy tín của công ty và của ban giám

đốc, trình độ tổ chức quản lý, cơ sở vật chất, mục tiêu kinh doanh, khả năng theo

đuổi mục tiêu cũng như mối quan hệ của ban giám đốc của công ty

* Nhân t ố về vốn vật chất hay sức mạnh về tài chính:

Trong kinh doanh nếu không có vốn, doanh nghiệp sẽ không thể

làm được gì ngay cả khi có cơ hội kinh doanh Có vốn và trường vốn giúp doanh

nghiệp thực hiện các công việc kinh doanh của mình một cách dễ dàng hơn, có

điều kiện tận dụng các cơ hội để thu lợi lớn

Sự trường vốn tạo ra khả năng nắm bắt thông tin nhanh, chính

xác do có điều kiện sử dụng các phương tiện thu thập thông tin hiện đại Ngoài

ra còn cho phép doanh nghiệp thực hiện tốt các công việc Marketing trên thị

trường về giá cả, cách thức nhập khẩu và bán hàng trên thị trường nội địa, tạo

điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu

* Nhân t ố con người:

Trang 32

Trình độ chuyên môn và năng lực làm việc của mỗi thành viên

trong công ty là yếu tố cơ bản quyết định sự thành công trong kinh doanh Xét

về tiềm lực doanh nghiệp thì con người là vốn quý nhất Nếu có những cán bộ

nhanh nhạy, khéo léo, trình độ chuyên môn cao thì chắc chắn tất cả các khâu của

hoạt động nhập khẩu sẽ được thực hiện nhanh chóng, suôn sẻ, tránh được những

rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra Trong kinh doanh rủi ro xảy ra là chuyện khó thể

tránh khỏi chỉ có điều là xảy ra ít hay nhiều mà thôi

Do đặc điểm riêng của kinh doanh nhập khẩu là thường xuyên

phải giao dịch với đối tác nước ngoài nên cán bộ ngoài giỏi nghiệp vụ kinh

doanh còn phải giỏi ngoại ngữ Ngoại ngữ kém sẽ gây khó khăn trong việc giao

dịch, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc

* L ợi thế bên trong doanh nghiệp:

Một doanh nghiệp kinh doanh lâu năm, có uy tín trên thị trường

là một điều kiện rất thuận lợi Có uy tín với người xuất khẩu về việc thanh toán

đủ, đúng hạn sẽ thuận lợi cho những lần mua sau Nếu có chức năng nhập khẩu

uỷ thác thì doanh nghiệp có uy tín sẽ có nhiều doanh nghiệp trong nước uỷ thác

việc nhập khẩu cho doanh nghiệp Hàng hoá của doanh nghiệp sẽ dễ tiêu thụ

hơn các doanh nghiệp làm ăn không đứng đắn, mất uy tín với khách hàng

Ngoài ra, một doanh nghiệp có kinh nghiệm trong nhập khẩu một

sản phẩm nào đó sẽ lựa chọn được nguồn hàng tốt nhất phù hợp với nhu cầu và

thị hiếu của người tiêu dùng trong nước do am hiểu về thị trường, có những mối

quan hệ rộng, lâu năm

Chính những điều đó làm cho hoạt động nhập khẩu của doanh

nghiệp có hiệu quả hơn

Trang 33

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU NGUYÊN

VẬT LIỆU TẠI TỔNG CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU

XÂY DỰNG VIỆT NAM-VINACONEX

I- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY:

1- Quá trình hình thành và phát triển:

Từ năm 1982, Bộ xây dựng đã có chủ trương đưa các đơn vị thi công xây

dựng đi làm việc ở nước ngoài Tổ chức đầu tiên được thành lập ở askhabat

thuộc nước cộng hoà Tuốcmênia, Liên Xô cũ, sau đó đã mở rộng ra ở Algeria,

Liên Xô, Bulgari, Tiệp khắc, Iraq và một số nước khác ở Đông Âu Tại Algeria

năm 1985 có hơn 1200 cán bộ công nhân viên, tại Bulgaria có trên 3500 cán bộ

công nhân thuộc 6 công ty

Trang 34

Cùng với sự hình thành và phát triển của các công ty xây dựng ở nước

ngoài, tháng 3 năm 1987 Bộ xây dựng đã quyết định thành lập Ban quản lý hợp

tác lao động và xây dựng nưóc ngoài và sau đó hơn một năm, để phù hợp với

các chức năng nhiệm vụ được giao, chuyển đổi hẳn sang hoạt động kinh doanh,

hạch toán kinh tế, Bộ xây dựng có quyết định số 1118/ BXD – TCLD ngày

27/9/1988 chuyển ban quản lý hợp tác lao động và xây dựng nước ngoài thành

Công ty dịch vụ và xây dựng nước ngoài, tên giao dịch quốc tế là

VINACONEX

Đến năm 1990 số lượng cán bộ công nhân ở nước ngoài đã lên tới 13

nghìn người, làm việc trong 15 công ty xí nghiệp xây dựng Để phù hợp với yêu

cầu nhiệm vụ mở rộng, phát triển hợp tác xây dựng với nước ngoài, ngày

10/8/1991 Bộ xây dựng có quyết định số 432/BXD-TCLĐ chuyển Công ty dịch

vụ và xây dựng nước ngoài thành Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt

Nam – VINACONEX

Phát huy những thuận lợi của Tổng công ty: có đội ngũ cán bộ quản lý,

công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, được tuyển chọn kỹ để đưa ra nước ngoài

làm việc, tiếp thu được công nghệ tiên tiến quốc tế cùng với sự năng động, nhạy

bén tiếp xúc với các thị trường mới, từ năm 1990 Tổng công ty đã ký kết được

nhiều hợp đồng xây dựng công nghiệp và dân dụng lớn trong phạm vi cả nước,

đưa một lực lượng lớn công nhân và kỹ sư ra nước ngoài làm việc, đẩy mạnh

xuất nhập khẩu vật tư -xe máy-thiết bị góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

và tích luỹ của đơn vị

Đến năm 1995, Tổng công ty đã đạt doanh thu trên 1000 tỷ đồng, đóng

góp nghĩa vụ cho Nhà nước trên 49 tỷ đồng và trở thành một trong số những

doanh nghiệp thành đạt của Việt Nam

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh,

thực hiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước quy mô cấp Tổng công ty,

Bộ xây dựng được sự uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định

992/BXD-TCLD ngày 20/11/1995 về việc thành lập Tổng công ty xuất nhập

khẩu xây dựng Việt Nam-VINACONEX

Trang 35

Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam có tên giao dịch quốc

tế là : Vietnam import-export construction corporation

Tên viết tắt là: Vinaconex

Trụ sở chính : 34 Láng Hạ - Hà Nội

Nước sở tại : Việt Nam

Ngày thành lập: 27/9/1988

Vốn pháp định: 192.991.000.000 đồng

Tổng số cán bộ và công nhân: 18.720 người

Trong đó: Làm việc trong nước 13.297 người

Làm việc ở nước ngoài 5.423 người

Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam bao gồm các đơn vị sự

nghiệp và các đơn vị phụ thuộc, Tổng công ty có tư cách pháp nhân, có các

quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả

hoạt động kinh doanh trong số vốn do Tổng công ty quản lý, có con dấu, có tài

sản và các quỹ tập trung, được mở tài khoản tại các ngân hàng trong nước và

nước ngoài theo quy định của Nhà nước , được tổ chức các hoạt động theo điều

lệ của Tổng công ty Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam chịu sự

quản lý của Bộ xây dựng và các cơ quan quản lý nhà nước khác theo pháp luật

Tổng công ty có các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính sau:

+ Nhận thầu xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng, cấp thoát

nước, xử lý môi trường, bưu chính viễn thông, cầu đường, sân bay, bến cảng, đê,

đập, hồ chứa, đường dây điện, trạm biến thế trong và ngoài nước

+ Cung cấp nhân lực đồng bộ, kỹ sư, kỹ thuật viên, đốc công, công

nhân kỹ thuật cho các hãng nhà thầu xây dựng nước ngoài Cung cấp lao động

với các ngành nghề khác nhau cho thị trường lao động trên thế giới

Trang 36

+ Xuất nhập khẩu xe máy, thiết bị, vật liệu xây dựng, trang thiết bị

nội thất và các hàng hoá khác

+ Sản xuất vật liệu xây dựng: cấu kiện bê tông, bê tông thương

phẩm đá các loại và các sản phẩm công nghiệp khác cho xây dựng

+ Tư vấn khảo sát, thiết kế, đầu tư, xây dựng và quản lý dự án

+ Kinh doanh bất động sản, đầu tư các dự án với phương thức BOT

+ Dịch vụ khách sạn và du lịch

+ Hợp tác với các hãng nước ngoài thành lập các liên doanh hoặc

hợp doanh để xây lắp các công trình trong và ngoài nước, sản xuất hàng hoá

xuất khẩu, cho thuê và bán các xe máy thiết bị xây dựng, thiết bị tự động hoá

Đầu tư các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, cấp nước, thuỷ điện

Để thực hiện các nhiệm vụ mới được giao, Tổng công ty đã huy động

mọi nguồn lực hiện có, tăng cường năng lực tiếp thị, tham gia đấu thầu và thi

công nhiều công trình xây dựng quy mô lớn trong cả nước đồng thời đẩy nhanh

mọi hoạt động kinh doanh nhập khẩu xe máy, thiết bị, vật tư, mở rộng các hoạt

động kinh doanh khác có hiệu quả Tổng công ty đã đầu tư nhiều máy móc, thiết

bị thi công hiện đại phù hợp với công nghệ mới, có hiệu quả cao cho công tác xử

lý nền móng, công tác bê tông, vận chuyển như khoan cọc nhồi, máy ép cọc

bản nhựa, các trạm trộn bê tông thương phẩm đồng bộ với máy bơm, xe vận

chuyển bê tông, các loại cần trục tháp, cần trục bánh xích, bánh lốp, các loại

máy đào, xúc ủi, ván khuôn, giàn giáo kim loại nhằm tăng tỷ trọng cơ giới hoá

trong ngành xây dựng, tăng nhanh năng suất lao động, nâng cao năng lực sản

xuất

Năm 1997, Tổng công ty đã đạt được doanh thu là 1245 tỷ đồng, đóng

góp nghĩa vụ cho Nhà nước trên 67 tỷ đồng Năm 1998 doanh số của Tổng công

ty là 1766 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 70,7 tỷ đồng Năm 1999 doanh số

của Tổng công ty là 1780 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 70,1 tỷ đồng Năm

2000 doanh số của Tổng công ty là 1948 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước trên

Trang 37

70 tỷ đồng Năm 2001 doanh số của Tổng công ty là gần 2000 tỷ đồng, nộp

ngân sách Nhà nước 71 tỷ đồng

Tổng công ty cũng hết sức quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ kỹ sư, kỹ

thuật, cán bộ quản lý giỏi, đội ngũ công nhân có tay nghề cao với kỹ thuật

chuyên sâu

Đến nay, Tổng công ty đã có những cán bộ, công nhân có trình độ giỏi để

thi công xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, các công trình xây

dựng chuyên ngành nước, các công trình kỹ thuật hạ tầng, các công trình cầu

cảng, đường giao thông đặc biệt là các nhà máy xi măng, hoá chất cơ khí thi

công trượt các silo, ống khói cao, thi công xử lý nền móng, thi công các công

trình nhà máy nước, hệ thống cấp thoát nước, xây dựng và hoàn thiện các công

trình dân dụng có yêu cầu mỹ thuật cao

Trong những năm gần đây, Tổng công ty đã mở rộng quan hệ liên doanh,

hợp doanh với các nhà thầu xây dựng lớn, với các hãng kinh doanh nước ngoài,

với các cơ sở nghiên cứu và sản xuất phát triển ở trong nước Đến nay đã và

đang triển khai hoạt động của các liên doanh về xây dựng như:

Công ty liên doanh VINATA- liên doanh giữa VINACONEX và tập

đoàn TAISEI- Nhật Bản

Công ty liên doanh VINALEIGHTON liên doanh giữa VINACONEX

và công ty LEIGHTON asia Co.Ltd ( úc- hongkong)

Hợp doanh TV 16 J/o giữa VINACONEX, tập đoàn TAISEI và Tổng

công ty Bạch Đằng

Hợp doanh VIKOWA giữa VINACONEX và KOLON Hàn Quốc xây

dựng dự án nước 1A Hà Nội

Ngoài ra Tổng công ty cũng đã thiết lập các liên doanh về sản xuất vật liệu

xây dựng và kinh doanh xuất nhập khẩu như: liên doanh VINACONEX-KOWA

by MORWEAR, sản xuất và sử dụng các chất chống thấm, liên doanh

Trang 38

VINAROSE sản xuất các cấu kiện bê tông dự ứng lực, làm tổng đại lý của nhiều

hãng và công ty nước ngoài như Eluctrolux (Thuỵ Điển), SCT (Thái Lan)

Thông qua các hoạt động liên doanh, liên kết Tổng công ty dần dần hoà

nhập vào các thị trường xây dựng và xuất nhập khẩu quốc tế, đào tạo được một

đội ngũ kỹ sư và cán bộ thông thạo nghiệp vụ có trình độ ngoại ngữ, có kinh

nghiệm quản lý, điều hành sản xuất theo các quy trình công nghệ tiên tiến

Về lĩnh vực đầu tư, Tổng công ty đã và đang triển khai các dự án bằng nội

lực của chính Tổng công ty

Ba năm liền 1997, 1998, 1999 Tổng công ty đã được Thủ tướng chính phủ

tặng cờ thi đua xuất sắc

Đến nay, Tổng công ty VINACONEX đã trở thành nhà thầu xây dựng

mạnh, có đủ năng lực nhận thầu và hoàn thành mọi công trình xây dựng quy mô

lớn và phức tạp, đồng thời là một Tổng công ty mạnh nhất của Bộ xây dựng về

xuất nhập khẩu và xuất khẩu lao động

Hiện nay, Tổng công ty là một đơn vị lớn mạnh, có nhiều các đơn vị thành

viên, cụ thể là:

* Các đơn vị hạch toán độc lập:

Công ty xây dựng số 1 ( tên giao dịch VINACONCO 1)

Công ty xây dựng số 2 ( tên giao dịch VINACONCO 2)

Công ty xây dựng số 3 ( tên giao dịch VINACONCO 3)

Công ty xây dựng số 4 ( tên giao dịch VINACONCO 4)

Công ty xây dựng số 5 ( tên giao dịch VINACONCO 5)

Công ty xây dựng số 6 ( tên giao dịch VINACONCO 6)

Công ty xây dựng số 7 ( tên giao dịch VINACONCO 7)

Công ty xây dựng số 9 ( tên giao dịch VINACONCO 9)

Trang 39

Công ty xây dựng số 15 ( tên giao dịch VINACONCO 15)

Công ty đầu tư xây dựng và phát triển đô thị Huế- VINACONCO 10

Công ty xây lắp và sản xuất vật liệu xây dựng – VINACONCO 11

Công ty cơ khí và xây lắp- VINACONCO 12

Công ty xây dựng cấp thoát nước- WASENCO

Công ty cơ giới và lắp máy- VIMECO

Công ty tư vấn xây dựng, cấp thoát nước và môi

trường-VINACONSULT

Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng VINACONEX

Công ty thương mại Tràng Tiền

* Các đơn vị phụ thuộc hạch toán nội bộ:

Các chi nhánh Tổng công ty trong nước:

+ Chi nhánh Tổng công ty VINACONEX ở TP.Hồ Chí Minh

+ Chi nhánh Tổng công ty VINACONEX ở TP.Đà Nẵng

+ Chi nhánh Tổng công ty VINACONEX ở TP.Tam Kỳ

+ Chi nhánh Tổng công ty VINACONEX ở TP.nha Trang

Trung tâm kinh doanh VINACONEX- VINATRA

Trung tâm xuất nhập khẩu lao động

Trung tâm ứng dụng công nghệ tự động hoá

Nhà máy bê tông và xây dựng Xuân Mai

Trung tâm du lịch VINACONEX

Trang 40

Khách sạn Xây Dựng

Nhà máy nước Dung Quất

* Các đơn vị sự nghiệp:

Trường nghiệp vụ và kỹ thuật Xuân Hoà

Trường kỹ thuật xây dựng Bỉm Sơn

Trường đào tạo nhân lực xuất khẩu Phú Minh

* Các v ăn phòng đại diện VINACONEX ở nước ngoài:

Tổng đội xây dựng VINACONEX tại Libia

Đại diện VINACONEX tại Hàn Quốc

Đại diện VINACONEX tại Nga

Đại diện VINACONEX tại cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Đại diện VINACONEX tại cộng hoà Séc

Đại diện VINACONEX tại cộng hoà Slovakia

Đaị diện VINACONEX tại các nước ả rập

2- Chức năng và nhiệm vụ của Tổng công ty:

Theo các quyết định của Bộ xây dựng, Tổng công ty VINACONEX có các

chức năng và nhiệm vụ sau:

+ Nhận thầu xây dựng trong và ngoài nước

+ Cung cấp nhân lực đồng bộ , kỹ sư công nhân cho các hãng, nhà

thầu xây dựng nước ngoài

+ Xuất nhập khẩu xe máy, thiết bị, vật liệu xây dựng, trang thiết bị nội

thất và các hàng hoá khác

Ngày đăng: 28/03/2013, 10:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình vốn của VINACONEX - Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex
Bảng 1 Tình hình vốn của VINACONEX (Trang 46)
Bảng 2: Toàn bộ danh mục hàng nhập khẩu của VINACONEX - Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex
Bảng 2 Toàn bộ danh mục hàng nhập khẩu của VINACONEX (Trang 51)
Bảng 3: Danh mục nhóm nguyên vật liệu nhập khẩu                                                                                Đơn vị: triệu USD - Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex
Bảng 3 Danh mục nhóm nguyên vật liệu nhập khẩu Đơn vị: triệu USD (Trang 53)
Hình  thức  nhập khẩu - Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex
nh thức nhập khẩu (Trang 60)
Bảng 6 : Kết quả kinh doanh nhập khẩu nguyên vật liệu của Tổng công ty: - Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex
Bảng 6 Kết quả kinh doanh nhập khẩu nguyên vật liệu của Tổng công ty: (Trang 60)
Sơ đồ tổ chức Tổng công ty Vinaconex - Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu tại tổng công ty Vinaconex
Sơ đồ t ổ chức Tổng công ty Vinaconex (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w