Nhìn nhận được tầm quan trọng của nội dung tiền lương và các khoản trích nộp theo lương, Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà Nội, em đã ch
Trang 1Lời mở đầu Tiền lương vừa là nguồn thu nhập chủ yếu của Công nhân viên chức,
nó đảm bảo cho cuộc sống người lao động được ổn định và luôn có xu hướng được nâng cao Mặt khác tiền lương đối với doanh nghiệp lại là một yếu tố chi phí Như vậy ta thấy tính hai mặt của tiền lương Người lao động thì muốn thu nhập cao hơn nhằm phục vụ cho cuộc sống của bản thân và gia
đình được tốt hơn, còn doanh nghiệp lại muốn tiết kiệm chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm và tăng chỉ tiêu lợi nhuận Vì vậy công tác quản lý tiền lương là một nội dung quan trọng Đưa ra được một biện pháp quản lý tiền lương tốt sẽ góp phần nâng cao công tác quản lý và sử dụng lao động hiệu quả, thu hút được nguồn lao động có tay nghề cao, đời sống người lao động luôn được cải thiện nhằm theo kịp với xu hướng phát triển của xã hội, bên cạnh đó phía doanh nghiệp vẫn đảm bảo được chi phí tiền lương là hợp lý và hiệu quả
Ngoài ra, việc tính toán và hạch toán các khoản trích nộp theo lương như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp và người lao động Nó tạo nguồn tài trợ và đảm bảo quyền lợi cho cán bộ công nhân viên hiện tại và sau này
Nhìn nhận được tầm quan trọng của nội dung tiền lương và các khoản trích nộp theo lương, Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty
Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà Nội, em đã chọn đề tài: “Hoàn
thiện phương pháp kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà Nội
Em xin chân thành cám ơn sự tận tình giúp đỡ, hướng dẫn củaTS Nguyễn Phú Giang, cũng như sự nhiệt tình của Ban Giám đốc và các anh, chị trong Công ty, đặc biệt là Phòng Kế toán, chị Tô Thị Duyên trong thời gian thực tập vừa qua, đã giúp em hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này
Trang 2Nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng về kế toán tiền lương và các khoản trích theo
lương tại công ty Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà Nội
Chương 3:Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và các
khoản trích theo lương tại công ty Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà
Nội
Trang 3Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
I Lý luận chung về tiền lương và các khoản trích theo lương
động để họ tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất, do vậy tiền lương phải bao gồm đầy đủ các yếu tố cấu thành nguồn thu nhập là nguồn chủ yếu của bản thân và gia đình người lao động, là điều kiện để người hưởng lương hoà nhập vào thị trường xã hội
Về mặt kinh tế: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao
động, là giá cả của sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, do người sử dụng lao động trả cho người lao động
Về mặt pháp lý: Điều 55 bộ luật lao động nước ta quy định: “Tiền
lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và
được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức tối thiểu do nhà nước quy định
Trang 4Trên thực tế, cái mà người lao động cần không phải là một khối lượng tiền lương lớn, mà họ quan tâm đến khối lượng tư liệu sinh hoạt nhận đựoc thông qua tiền lương Vấn đề này liên quan đến hai phạm trù tiền lương đó là tiền lương danh nghĩa và tiền lưong thực tế
* Tiền lương danh nghĩa: Là khối lượng tiền trả cho nhân viên dưới hình thức tiền tệ Đó là số tiền thực tế người lao động nhận được Tuy vậy cũng với một số tiền khác nhau người lao động sẽ mua được khối lượng hàng hoá khác nhau ở các thời điểm khác nhau do sự biến động thường xuyên của giá cả
* Tiền lưong thực tế: Là khối lượng tiền được sử dụng để xác
định số lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ mà người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Tổng số tiền nhận đựoc (tiền lưong danh nghĩa)
- Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
Như vậy tiền lương danh nghĩa và tiền lưong thực tế có mối quan hệ thực tiễn với nhau đựoc thể hiện qua công thức sau:
Khi chỉ số tiền lương danh nghĩa tăng nhanh hơn chỉ số giá cả, điều này có ý nghĩa là thu nhập thực tế của người lao động tăng lên, khi tiền lương không đảm bảo điều kiện sống của cán bộ công nhân viên thì khi đó tiền lương đã không hoàn thành chức năng quan trọng của nó là tái sản xuất sức lao động, điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải luôn quan
Tiền lương thực tế Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng Tiền lương danh nghĩa
và dịch vụ
=
Trang 5Về phương diện hạch toán tiền lương của công nhân viên trong doanh nghiệp được chia thành hai loại: Tiền lương chính và tiền lương phụ
- Tiền lương chính: là tiền lương cho công nhân viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm tiền lưong trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo
- Tiền lương phụ: là tiền lương cho công nhân viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian công nhân viên hưởng lương theo quy định của chế độ
Việc phân chia tiền lương thành tiền lương chính và phụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với công tác kế toán và phân tích tiền lương trong giá thành sản phẩm
1.2 Bản chất của tiền lương
Tiền lương là giá cả của sức lao động, biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động dưới tác động của các quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường Nói cách khác tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động theo thời gian, theo sản phẩm hay khối lượng công việc theo sản phẩm mà người đó đã cống hiến, tiền lương phải đảm bảo cho người lao động tái sản xuất sức lao động
để họ có thể tham gia vào quá trình sản xuất tiếp theo
1.3 Chức năng của tiền lương
*Chức năng tái sản xuất sức lao động
Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bằng việc trả công cho người lao động thông qua lương CMác đã từng nói: “Sức lao động là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực tạo nên cho con người khả năng sáng tạo ra của cải v ật chất và tinh thần cho xã hội” Sức lao động của con người
Trang 6là hữu hạn, nó bị giảm sút trong quá trình làm việc cho nên tiền lường phải
đảm bảo cung cấp cho người lao động nguồn vật chất cần thiết để họ có thể :
- Duy trì và phát triển sức lao động của bản thân
- Sản xuất ra sức lao động mới
- Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ kỹ năng lao động
* Chức năng là công cụ quản lý
Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để chi phí hoạt động là thấp nhất
và lợi nhuận là cao nhất Trong chi phí hoạt động có cả chi phí tiền lương của người lao động, vì vậy người sử dụng lao động luôn tìm cách tận dụng sức lao động để giảm thiểu chi phí Điều này đôi khi dẫn đến tình trạng bóc lột quá mức sức lao động Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của người lao động mà vẫn khuyến khích sản xuất của các doanh nghiệp, nhà nước ban hành chính sách lao động và chế độ tiền lương phù hợp với tình hình kinh tế xã hội buộc cả người sử dụng lao động phải tuân theo
* Chức năng đòn bẩy kinh tế
Thực tế, một mức lương thỏa đáng là nhân tố để họ không ngừng phát huy khả năng, óc sáng tạo của mình vào sản phẩm họ làm ra, làm quá trính sản xuất kinh doanh đi vào guồng máy chung của xã hội nhanh hơn, hiệu quả hơn, nghĩa là tiền lương đã trở thành một công cụ kích thích vật chất, là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội
* Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội
Như chúng ta đã biết, tiền lương là giá cả sức lao động, khi tiền lương trả cho người lao động ngang giá với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra để thực hiện công việc, người ta có thể xác định được hao phí lao động của toàn xã hội thông qua tổng quỹ lương trả cho tất cả người lao động
Trang 7* Chức năng điều tiết lao động
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt thì những chính sách về tiền lương, bậc lương không thể tách rời Doanh nghiệp nào có mức lương cao sẽ thu hút người lao
động nhiều hơn vì ở đó người lao động thấy rằng sức lao động mình bỏ ra đã
được trả thích đáng Không những thế, do việc cung ứng lao động và trình độ lao động ở các ngành nghề không giống nhau đã tạo ra cơ cấu lao động giữa các ngành nghề, vùng miền không đồng đều, mất cân đối Vì vậy, nhà nước phải điều tiết thông qua chế độ, chính sách tiền lương như bậc lương, phụ cấp Điều này sẽ tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, một sự phân bổ lao
động đồng đều trong xã hội góp phần vào sự ổn định chung của thị trường lao động
2 Vai trò và nhiện vụ kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương
* Vai trò và nhiệm vụ.
Tiền lương và các khoản trích theo lương không phải chỉ là vấn
đề quan tâm riêng của công nhân viên mà còn là vấn đề doanh nghiệp đặc biệt chú ý, vì nó là bộ phận quan trọng cấu thành nên chi phí của doanh nghiệp Vì vậy, việc tính toán và phân bổ chính xác tiền lương, các khoản trích theo lương vào giá thành sản phẩm hoặc chi phí lưu thông là cơ sở để xác định chính xác kết quả lao động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản:
+ Phản ánh đầy đủ, chính xác thời gian và kết quả lao động của công nhân viên, quản lý chặt chẽ việc chi tiêu quỹ lương
Trang 8+ Tính toán phân bổ hợp lý, chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương cho các đối tượng liên quan
+ Định kỳ tiến hành phân tích tình hình lao động, tình hình quản lý và chi tiêu quỹ lương Cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận có liên quan
3.Các hình thức trả lương
Ơ Việt Nam, các doanh nghiệp thường áp dụng hai hình thức trả lương chính là trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm Chúng ta không nên áp dụng các hình thức một cách máy móc vì không có hình thức trả lương nào là tối ưu Vì vậy, các doanh nghiệp phải tìm ra một hoặc nhiều hình thức trả lương phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình
3.1.Hình thức trả lương theo thời gian
Căn cứ vào bậc lương và thời gian làm việc thực tế để tính lương cho người lao động Hình thức này được áp dụng chủ yếu với các nhân viên quản
lý, những công nhân vận hành hệ thống máy móc tự động, các công nhân phục vụ sản xuất Những người làm việc mà kết quả lao động của họ không thể xác định một cách trực tiếp, chặt chẽ và chính xác vào thời kỳ nhất định
Hình thức trả lương theo thời gian có nhược điểm vì nó chưa gắn thu nhập với kết quả lao động
3.1.1 Trả lương theo thời gian giản đơn
Theo chế độ này tiền lương là do bậc lương cao hay thấp, thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định
Có 3 cách tính
Trang 9-Lương ngày: áp dụng đối với những công việc có thể chấm công theo ngày, tính lương theo hình thức này có thể khuyến kích người lao động đi làm đều
Lương ngày = Lương tháng theo cấp bậc kể cả phụ cấp (nếu có)/ Số ngày làm việc theo chế độ
Lương tháng = Lương ngày* số ngày làm thực tế
- Lương giờ: Số tiền lương trả cho người lao động theo số giờ làm việc thực tế trong ngày
Lương giờ = Tiền lương ngày/8 giờ
Lương tháng = Lương giờ * số giờ làm việc thực tế
Việc áp dụng theo hình thức này chỉ áp dụng ở những nơi khó xác
định mức lao động và khó đánh giá công việc thật chính xác
Ưu điểm: Dễ tính, dễ trả lương cho người lao động
Nhược điểm: Mang tính bình quân không khuyến khích được người lao động tích cực trong công việc, sử dụng thời gian hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu Và không quán triệt theo nguyên tắc phân phối theo lao động
3.1.2 Trả lương theo thời gian có thưởng
Thực chất của chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa hình thức trả lương theo thời gian giản đơn và tiền thưởng khi người lao động đạt được những chỉ tiêu về số lượng hoặc chất lượng đã quy định như: thưởng năng suất, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hoàn thành kịp tiến độ
Chế độ này áp dụng chủ yếu đối với những công nhân làm việc như: công nhân sửa chữa, điều khiển thiết bị, những công nhân làm việc ở khâu sản xuất có trình độ cơ khí hóa cao, những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng
Trang 10Tiền lương = Lương theo thời gian giản đơn + Tiền thưởng
Hình thức trả lương này khắc phục nhược điểm của hình thức trả lương theo thời gian giản đơn Nó vừa phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc của người lao động, vừa gắn chặt thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ tiêu xét thưởng đã đạt được Vì vậy, nó khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả công tác
3.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Đây là hình thức trả lương cơ bản đang áp dụng trong khu vực sản xuất hiện vật chất hiện nay.Thực chất tiền lương theo sản phẩm căn cứ vào số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra trên cơ sở đơn giá tiền lương đã xác
định
Tiền lương sản phẩm =Sản lương thực tế *Đơn giá tiền lương
Hình thức này có ưu điểm hơn hẳn so với hình thức trả lương theo thời gian thể hiện ở chỗ:
- Trả lương theo sản phẩm quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng, gắn thu nhập về tiền công với kết quả sản xuất của mỗi người.Do đó kích thích nâng cao năng suất lao động
- Khuyến khích người lao động ra sức học tập văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ để nâng cao trình độ tay nghề , ra sức phát huy sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật, phương pháp lao động, sử dụng tốt máy móc thiết bị để nâng cao năng suất lao động
Căn cứ vào đơn giá sản phẩm và đối tượng trả lương, hình thức trả lương theo sản phẩm có nhiều chế độ khác nhau
3.2.1 Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
Trang 11Chế độ trả lương này được áp dụng đối với người trực tiếp sản xuất trong điều kiện quy trình lao động của họ mang tính độc lập tương đối, có thể định mức và kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể riêng biệt Thực chất của việc chi trả này là dựa vào đơn giá tiền lương đã quy định, sản phẩm làm ra càng nhiều lương càng cao
3.2.2 Chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể
ĐG =L/ Qđm hoặc ĐG =L*T
ĐG: Đơn giá tiền lương theo sản phẩm tập thể
L: Tổng tiền lương tính theo cấp bậc của cả tổ
Qđm: Định mức sản lượng
Trang 12T: Mức thời gian
Khi tiến hành trả lương theo chế độ này cần chú ý phân phối tiền lương cho các thành viên trong tổ, nhóm phù hợp với bậc lương và thời gian làm việc của họ Tùy trường hợp cụ thể áp dụng phương pháp : chia bình quân, hệ số giờ, dùng hệ số điều chỉnh
Ưu điểm: Khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng của tổ
Nhược điểm: Sản lượng của công nhân không quyết định tiền lương của họ Do đó, ít khuyến khích công nhân nâng cao năng suất cá nhân Mặt khác do phân phối tiền công chưa tính đến tình hình thực tế của công nhân
về sức khỏe, thái độ lao động nên chưa thể hiện đầy đủ nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động
3.2.3 Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Chế độ trả lương này chỉ áp dụng cho những công nhân phụ mà công việc của họ ảnh hưởng nhiều đến kết quả lao động của công nhân chính hưởng lương theo sản phẩm như: công nhân sửa chữa máy sợi, dệt, công nhân điều chỉnh thiết bị cơ khí
Đặc điểm của chế độ này là thu nhập về tiền lương của công nhân lại phụ thuộc vào kết quả sản xuất của công nhân chính
ĐG =L/ M*Q
ĐG: Đơn giá tiền lương theo sản phẩm gián tiếp
L: Lương cấp bậc của công nhân phụ
Q: Mức sản lượng công nhân chính
M: Số máy phục vụ cùng loại
Trang 13TổngQ : Tổng sản phẩm do công nhân chính tạo ra
Ưu điểm: Chế độ tiền lương này khuyến khích công nhân phụ phục vụ tốt hơn cho công nhân chín, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động của công nhân chính
Nhược điểm: Do phu thuộc vào kết quả công nhân chính nên việc trả lương chưa được chính xác, chưa đảm bảo đúng hao phí lao động mà công nhân phụ bỏ ra
L(m*h) Lth = L +
100
Lth: Tiền công trả theo sản phẩm có thưởng
L: Tiền công trả theo sản phẩm với đơn giá cố định
m: Phần trăm tiền thưởng cho 1%hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thưởng
Trang 14thế, khi áp dụng chế độ này phải quy định đúng đắn các chỉ tiêu, điều kiện thưởng, nguồn tiền thưởng và tỉ lệ thưởng bình quân
3.2.5 Chế độ trả lương theo sản phẩm lũy tiến
Chế độ trả lương này áp dụng ở khâu quan trọng trong sản xuất, khi công việc đang khẩn trương mà xét thấy việc giải quyết những tồn tại ở khâu này có tác dụng thúc đẩy sản xuất ở những bộ phận sản xuất khác có liên quan, góp phần hoàn thành vượt mức kế hoạch của doanh nghiệp
Nguồn tiền để trả thêm cho chế độ này dựa vào tiền tiết kiệm chi phí sản xuất gián tiếp cố định Theo cách trả lương này, những sản phẩm nằm trong mức quy định được trả theo đơn giá cố định, những sản phẩm vượt mức
sẽ được trả theo đơn giá lũy tiến
Lt =(Qđm *Đbq) + (Qvm*Đlt)
Lt: Tiền lương được tính trong tháng
Qđm: Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong phạm vi định mức
Đbq: Đơn giá tiền lương bình quân
Đlt: Đơn giá tiền lương lũy tiến quy định
Việc áp dụng chế độ trả lương này có thể dẫn tới tốc độ tăng của tiền lương bình quân lớn hơn tốc độ tăng của năng suất lao động Vì thế, cần phải chú ý một số yêu cầu sau:
- Phải xác định chính xác mức khởi điểm và đảm bảo mối quan hệ hợp
lý giữa các tỷ lệ tăng lên của đơn giá trong biểu lũy tiến
- Nên áp dụng trong phạm vi nhỏ, ở từng thời điểm cụ thể mới đem lại hiệu quả kinh tế Nếu áp dụng tùy tiện sẽ dẫn tới bội chi quỹ lương
3.3 Trả lương khoán
Trang 15áp dụng cho những công việc nếu giao chi tiết bộ phận sẽ không có lợi bằng giao toàn bộ khối lượng công việc hoàn thành trong một đơn vị thời gian nhất định
Chế độ trả lương này được áp dụng chủ yếu trong xây dựng cơ bản, và một số công việc trong nông nghiệp như: sửa chữa, tháo lắp nhanh một số thiết bị để nhanh chóng đưa vào sản xuất
Chế độ trả lương này có ưu điểm là người công nhân biết trước được tiền lương mà họ sẽ nhân được khi hoàn thành công việc Do vậy họ chủ
động trong việc sắp xếp tiến hành công việc của mình Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là để đảm bảo thời gian hoàn thành công việc dễ gây ra hiện tượng không đảm bảo chất lượng công tac sản xuất
4 Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp
Quỹ tiền công là toàn bộ số tiền phải trả cho tất cả các loại lao động
mà doanh nghiệp quản lý kể cả trong và ngoài danh sách Quản lý quỹ lương thực chất là xác định mối quan hệ giữa người lao động, người quản lý lao
động và Nhà nước trong việc phân chia lợi ích trong một kỳ kinh doanh
Dựa vào đơn giá tiền lương chúng ta có thể xác định quỹ tiền lương thực hiện và quỹ tiền thưởng
4.1 Quỹ tiền lương thực hiện
Quỹ tiền lương thực hiện được xác định như sau:
Trang 16Quỹ tiền lương bổ sung là quỹ tiền lương trả cho người lao động trong thời gian người lao động không tham gia sản xuất
4.2 Quỹ tiền thưởng của doanh nghiệp
Quỹ tiền thưởng được trích từ lợi nhuận để lại sau khi nộp thuế thu nhập và các khoản khác theo quy định Thông qua quỹ khen thưởng phúc lợi tối đa không quá 50% quỹ lương thực hiện của doanh nghiệp Ngoài quỹ tiền thưởng này, doanh nghiệp không được lấy bất kỳ một nguồn nào khác để trả công nhân viên
Trong cuộc sống hàng ngày, con người cần phải đoàn kết lại với nhau giúp đỡ nhau vượt mọi khó khăn về kinh tế Chính vì nhu cầu này đã nẩy sinh cơ chế bảo hiểm, nguồn tài chính làm cho các quỹ bảo hiểm này
được trích từ một phần tiền lương của người lao động
5 Các khoản trích theo lương
5.1 Bảo hiểm xã hội (BHXH)
BHXH là các khoản trợ cấp cho cán bộ công nhân viên trong những trường hợp bị ốm đau, mất sức lao động…Theo khái niệm của tổ chức lao động quốc tế, BHXH được hiểu là sự bảo vệ của xã hội với các thành viên của mình, thông qua một loạt các biện pháp công cộng, để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế Trong bộ luật lao động nước ta hiện nay BHXH được hiểu là chế độ lao động góp phần ổn định cho người lao động trong trường hợp khó khăn về kinh tế, giảm thu nhập Thêm vào đó BHXH bảo vệ việc chăm sóc sức khoẻ, trợ cấp khoa khăn cho người lao động Quỹ BHXH được hình thành từ nguồn sau:
Người sử dụng lao động hàng tháng đóng góp vào quỹ BHXH bằng 15% tổng số lương cơ bản phải trả cho công nhân viên, bao gồm tiền lương chính theo cấp bậc thang lương và các khoản phụ cấp khác (nếu có) trong
đó:
- 10% để thực hiện chế độ nghỉ hưu, tử tuất Phần này do
Trang 17- 5% để thực hiện chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động Hàng tháng người lao động phải đóng góp 5% tiền lương vào BHXH để thực hiện chế độ này bằng cách khấu trừ vào tiền lương của họ
Sự đóng góp của người lao động có một ý nghĩa tích cực trên hai mặt: Thứ nhất, đây là việc đóng góp có tính chất dự phòng tích luỹ để sử dụng khi gặp phải những trường hợp cần được trợ cấp Thứ hai, việc đóng góp có tính chất tương trợ cộng đồng do đó sự đóng góp của người lao động
là quyền lợi của bản thân và nghĩa vụ xã hội Theo quy định hiện hành, quỹ BHXH được dùng cho những mục đích sau:
+ Chi chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn (không phải tai nạn lao
động) Tiền trợ cấp bằng 75% tiền lương
+ Chi chế độ trợ cấp thai sản cho người lao động nữ bằng 100% tiền lương + 1 tháng lương khi sinh con
+ Chi chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp bằng 100% tiền lương trong quá trình điều trị
+ Chi chế độ hưu trí cho người lao động trong tiêu chuẩn quy
định
Để thực hiện nhiệm vụ của mình, kế toán BHXH phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Tính chính xác số BHXH được trích theo chế độ quy định và giám sát chặt chẽ tình hình chi quỹ BHXH
+ Thanh toán kịp thời cho công nhân viên cũng như cơ quan quản lý cấp trên
Trang 18+ Đối với trợ cấp phải trả cho cán bộ công nhân viên, kế toán thanh toán BHXH cho từng người, trên cơ sở đó lập bảng thanh toán cho từng bộ phận
+ Để có được số liệu ghi sổ, kế toán phải căn cứ vào chứng từ lương, BHXH, lập bảng phân bổ tiền lương và trợ cấp BHXH cho từng đối tượng sử dụng
5.2 Bảo hiểm y tế (BHYT)
Khi xã hội càng phát triển, con người càng phải liên kết với nhau, dựa trên quan điểm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” các cá nhân trong xã hội trong chừng mực nào đó tương trợ lẫn nhau Một trong các hình thức đó là bảo hiểm y tế
BHYT thực chất là sự trợ cấp về y tế cho người tham gia bảo hiểm nhằm giúp họ một phần nào đó trang trải tiền khám, chữa bệnh, viện phí…Mục đích của BHYT là tạo một mạng lưới bảo vệ sức khoẻ cho toàn bộ cộng đồng, bất kể địa vị xã hội cao hay thấp Đối tượng áp dụng của BHYT
là những người tham gia bảo hiểm và một phần hỗ trợ của Nhà nước Cụ thể:
BHYT trích 3% trong đó:
+ 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
+ 1% do cán bộ công nhân đóng góp trừ vào lương
5.3 Kinh phí công đoàn (KPCĐ)
Công đoàn là một tổ chức đoàn thể đại diện cho người lao động,
đứng ra đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho người lao động, là tiếng nói chung của người lao động Đồng thời công đoàn cũng hướng dẫn trực tiếp điều chỉnh thái độ của người lao động với công việc, với người sử dụng lao động Nguồn thu chủ yếu của công đoàn là từ sự trích nộp của doanh nghiệp dựa trên việc trích từ quỹ lương thực tế phát sinh theo tỷ lệ 2% và được tính vào
Trang 19chi phí sản xuất kinh doanh, trong đó Công đoàn cơ sở nộp 50% cho cấp trên còn lại dùng để chi tiêu tại cơ sở
Trong toàn bộ các khoản nêu trên tạo nên bảng tổng thu nhập cho người lao động Vấn đề đặt ra là công tác hạch toán kế toán như thế nào cho đúng với quy định và đảm bảo nhanh chóng, kịp thời đưa ra những thông tin thích hợp, hữu ích cho người quan tâm
II Phương pháp kế toán tiền lương và khoản trích theo lương
Chế độ hình thức ghi sổ kế toán được quy định áp dụng thống nhất đối với doanh nghiệp bao gồm 4 hình thức:
Hình thức sổ nhật ký chung
Chứng từ gốc về lao động và tiền lương, chứng từ thanh
toán TN
Sổ nhật ký chung
Sổ cái TK 334,335,338
Bảng cân đối SPS
Báo cáo kế toán
Sổ kế toán chi tiết chi phí, thanh toán
Bảng tổng hợp chi tiét Bảng phân bổ
lương, BHXH
Trang 20Hình thức nhật ký - sổ cái
Chứng từ kế toán gồm:
- Chứng từ HTLĐ
- Chứng từ tiền lương, quỹ trích theo lương
- Chứng từ liên quan khác
Nhật ký - Sổ cái
Sổ chi tiết 334,335,338
Trang 21hình thức chứng từ - ghi sổ
Chứng từ kế toán gồm:
- Chứng từ HTLĐ
- Chứng từ tiền lương, các quỹ trích theo lương
- Chứng từ liên quan khác: TM, TGNH,TT
Tổng hợp chi tiết
Trang 22hình thức NKCT
Doanh nghiệp phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tính toán để lựa chọn hình thức sổ kế toán phù hợp và nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của các hình thức sổ kế toán đó về các mặt: loại sổ, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ và sự kết hợp giữa các loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán
Chứng từ lao động, tiền lương, thanh toán lương
Bảng phân phối tiền lương, BHXH
Bảng kê 4,5,6 (Phần HTCPLD)
NKCTG 7 phân ghi có
TK 334,335,338
Sổ cái 334,335,338 NKCT 1,2,10,7
Báo cáo kế toán
Trang 23Chương II Thực trạng về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà Nội
I Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức công
tác kế toán tại công ty
1 Quá trình hình thành và phát triển
Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty dịch vụ truyền thanh truyền hình Hà Nội tiền thân là Phòng
“Kỹ thuật truyền thanh” thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội Ngày 13/12/1978 UBND Thành phố ra Quyết định số 5292/QĐ - TC thành lập Xí nghiệp “Quản lý và khai thác truyền thanh” Ngày 03/4/1993 thực hiện nghị
định 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) UBND Thành phố ra Quyết định số 1393/QĐ -
UB thành lập lại với tên gọi “Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội” Và ngày 07/7/1995 UBND Thành phố ra quyết định số 2066/QĐ - UB đổi tên thành
“Công ty truyền thanh Hà Nội”
Suốt chặng đường gần 30 năm Công ty truyền thanh Hà Nội đã trải qua một quá trình phấn đấu thực hiện nhiệm vụ mở rộng, phát triển hệ thống loa truyền thanh cơ sở khắp toàn Thành phố phục vụ hoạt động tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, các quyết
định và đường lối chính sách của Đảng bộ, chính quyền Nhân dân các cấp ở Thủ đô Phục vụ tích cực công cuộc đấu tranh xây dựng XHCN ở miền Bắc, chi viện miền Nam đánh thắng giặc Mỹ thống nhất đất nước và bước vào thời
kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cả nước đi lên CNXH và thời
kỳ đầu công cuộc đổi mới đất nước
Trang 24Do những khó khăn khách quan và chủ quan, sau một thời gian chững lại Công ty truyền thanh Hà Nội gặp trở ngại lớn trên bước đường chuyển đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, đội ngũ cán bộ, công nhân không được đào tạo, bồi dưỡng theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước, của Thủ đô, do vậy tình thế “tiến thoái lưỡng nan” đặt Công ty trước những lựa chọn không mấy sáng sủa: “Hoặc là giải thể, hoặc là sáp nhập với đơn vị khác” Trước tình hình đó tập thể cán bộ, công nhân viên Công ty truyền thanh Hà Nội đã đồng tâm nhất trí khẳng định quyết tâm xây dựng lại Công ty Nguyên vọng đó đã
được Đảng uỷ, Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội quan tâm, tạo
điều kiện và quyết tâm đưa Công ty vượt lên khó khăn tiến về phía trước
Đảng uỷ và Giám đốc Đài đã báo cáo và đề nghị UBND Thành phố xem xét, ngày 03/10/2000, UBND Thành phố đã ra Quyết định số
81/2000/QĐ - UB đổi tên thành “Công ty Dịch vụ truyền thanh truyền hình
Hà Nội (BTS) và quy định lại chức năng nhiệm vụ cho Công ty thể hiện sự
quan tâm và tạo điều kiện pháp lý quan trọng để Công ty có cơ sở tạo dựng quyết tâm và lòng tin vững vàng tiến bước trong sự nghiệp xây dựng, phát triển Công ty thời kỳ mới
Từ tháng 11/2000 Công ty đã bắt tay vào việc củng cố tổ chức bộ máy, tăng cuờng bồi dưỡng cán bộ về mọi mặt, nâng cao nhận thức và sự giác ngộ
về tư tưởng đổi mới cách làm, quyết tâm đầu tư có lựa chọn từng lĩnh vực, từ nhỏ đi lên, từ địa bàn hẹp để phát triển
Với những chức năng nhiệm vụ mới được giao, bước đầu đã tạo ra
được không khí phấn khởi và sự thống nhất trong tuyệt đại đa số cán bộ, công nhân viên hiện có của Công ty truyền thanh Hà nội với lực lượng cán
bộ, kỹ sư trẻ được bổ sung đáp ứng yêu cầu phát triển mới của Công ty Dịch
vụ truyền thanh - truyền hình Hà Nội (BTS)
Chức năng, nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của công ty
Trang 251.2.1 Chức năng, nhiệm vụ kinh doanh của công ty
Quyết định số 81/2000 của UBND Thành phố Hà Nội về việc đổi tên
và quy định lại chức năng nhiệm vụ cho Công ty đã biến thời cơ và động lực quan trọng thành sức mạnh vật chất để Chi bộ và Ban lãnh đạo Công ty đề ra mục tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2001 và ngay năm đầu tiên thực hiện chức năng, nhiệm vụ mới cán bộ, công nhân viên toàn Công ty đã phấn
đấu đạt doanh thu gấp 7 lần năm 2000 (4900 triệu/730 triệu năm 2000) Với những cố gắng và kết quả phấn đấu của toàn Công ty, ngày 25/12/2001 UBND Thành phố tiếp tục ban hành Quyết định số 8126/QĐ -
UB bổ sung chức năng nhiệm vụ cho Công ty tạo thành một mô hình Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động với nhiều chức năng, nhiệm vụ, nghành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ có thị trường rộng lớn và phong phú
Sau một thời gian chuẩn bị về mọi mặt Giám đốc Đài Phát thanh- truyền hình Hà Nội đề nghị và UBND Thành phố đã ban hành Quyết định số 4259/QD-UB ngày 25/72001 giao nhiệm vụ triển khai thực hiện dự án truyền hình cáp hữu tuyến (CATV) ở Hà Nội cho Công ty Dịch vụTruyền thanh - truyền hình Hà Nội(BIS)
Với trách nhiệm là chủ dự án truyền hình cáp hữu tuyến(CATV) của
Hà Nội công ty đã đồng thời triển khai các hoạt động xây dựng, phát triển lực lương bổ sung cán bộ, công nhân kỹ thuật, lao động và kiện toàn mô hình
tổ chức bộ máy vừa đủ khả năng, quản lý điều hành hoạt động của Công ty
và tổ chức triển khai thực hiện dự án trên có kết quả
1.2.2.Lĩnh vực kinh doanh, loại hình doanh nghiệp
Công ty Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà Nội (BTS) trực thuộc
Đài Phát Thanh và Truyền Hình Hà Nội theo quyết đinh thành lập DN nhà nước số 1393/QĐ-UB của UBND Thành Phố Hà Nội
Trang 26Hiên nay công ty đang hoạt động với rất nhiều lĩnh vực kinh doanh: -Kinh doanh khai thác hệ thống truyền thanh bằng dây, trang thiết bị nội thất cho cơ quan và nhân dân có nhu cầu
-Nhận thầu thiết kế và thi công các công trình truyền thanh gồm: xây lắp, lắp đặt, sửa chữa các Đài truyền thanh ở xã, phường, thị trấn
-Nghiên cứu dự án và triển khai xây dựng hệ thống truyền thanh không giây
-Dịch vụ sao băng trao đổi chương trình phát thanh, truyền hình đối với địa phương trong nước
-Phát chương trình quảng cáo trên Đài Phát Thanh và Truyền Hình Hà Nội
-Tổ chức triển khai các dự án truyền thanh, truyền hinh do cấp có thẩm quyền giao
-Tư vấn thiết kế thi công công trình xây dựng các mạng nội bộ, mạng truyền hình cáp
2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
2.1 Bộ máy quản lý của đơn vị
Để phù hợp với đặc điểm, qui trình sản xuất của Công ty và đảm bảo cho việc sản xuất, kinh doanh được thực hiện một cách hiệu quả Công
ty tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ theo mô hình trực tuyến Đứng đầu bộ máy quản lý là Giám đốc Công ty, giúp việc cho Giám đốc là hai Phó giám
đốc: một phó giám đốc phụ trách về hành chính, một phó giám đốc phụ trách kỹ thuật- kinh doanh, Ngoài việc uỷ quyền cho các phó giám đốc, Giám đốc Công ty còn trực tiếp chỉ đạo thông qua các trưởng phòng Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu của quản lí sản xuất kinh doanh, chịu sự lãnh đạo và giúp việc cho ban Giám đốc đảm bảo cho mọi
Trang 27hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được liên tục Cụ thể bộ máy
quản lý được thực hiện theo sơ đồ sau:
Sơ đồ bộ máy Công ty Dịch vụ truyền thanh- truyền hình Hà Nội:
Ban Giám đốc gồm 3 người:
- Giám đốc
- Phó Giám đốc phụ trách hành chính
- Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật - kinh doanh
Giám đốc Công ty: thực hiện trách nhiệm và quyền hạn đã quy định trong điều lệ Công ty ngoài ra có nhiệm vụ quản lý điều hành chung toàn Công ty, chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạt động kinh doanh và đời sống
Giám Đốc
Phó Giám Đốc Kinh Doanh
Phòng
Kế Hoạch
&QL
Kỹ Thuật
XN Xây Lắp
&PT Mạng
Phòng Quảng cáo DVTH
Phòng
Kế Toán Tài Chính
TTâm
QL mạng
&
CSKH CATV
Vụ CATV Phó Giám Đốc Hành
Chính
Trang 28của cán bộ công nhân viên chỉ đạo về chủ trương tổ chức ký kết các hợp
đồng và chịu trách nhiệm về pháp lý
Các phó Giám đốc: là người giúp việc giám đốc và được phân công và được phụ trách một số lĩnh vực hoạt động của Công ty Quản lý, chỉ đạo một số đơn vị có chức năng, nhiệm vụ cùng lĩnh vực hoạt động đã
được phân công phụ trách Chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty và cơ quan quản lý cấp trên về những lĩnh vực được phân công kết quả hoạt
động của các đơn vị do mình quản lý chỉ đạo
* Phòng Hành chính - Tổ chức (HC - TC): có chức năng nhiệm vụ
tham mu, đề xuất với Giám đốc và tổ chức, triển khai thực hiện các quyết
định của Giám đốc về công tác tổ chức, nhân sự, lao động tiền lương, chính sách, chế độ, quyền lợi nghĩa vụ, khen thưởng, kỷ luật và chấp hành luật pháp trong Công ty
* Phòng Kế hoạch - Quản lý kỹ thuật công trình
- Tham mưu, xây dựng kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, nghành nghề hoạt động và kế hoạch do các đơn vị thuộc Công ty
- Kiểm tra, thẩm định kết quả khảo sát thiết kế, hồ sơ hoàn công công trình
- Tham mưu đề xuất với Giám đốc các giải pháp về quản lý kỹ thuật các công trình truyền thanh có dây, không dây và quản lý mạng CATV
- Làm các thủ tục nhập hàng hoá thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty
* Phòng Tài Chính - Kế toán: Quản lý thu, chi cân đối, điều tiết, luân
chuyển tiền tệ cho các hoạt động kinh doanh sản xuất, trang bị tài sản của Công ty được chế độ, chính sách, luật pháp cho phép Tham mưu, giúp đỡ
Trang 29Giám đốc theo dõi, triển khai các nhiệm vụ về kế hoạch, tài chính, quản lý tài sản và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty Cùng với Giám đốc và các đơn vị chức năng khác đáp ứng nguồn tài chính phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và hoạt động của Công ty
* Xí Nghiệp xây lắp và phát triển mạng
- Nhận thầu, thiết kế và thi công các công trình truyền thanh có dây như: xây dựng, lắp đặt, sửa chữa các đài phát thanh cơ sở phường, xã và xây dựng các công trình truyền thanh không dây
-Khảo sát, thiết kế và thi công, sửa chữa lớn hệ thống mạng truyền hình cáp CATV
-Tư vấn, thiết kế, thực hiện các dịch vụ kỹ thuật truyền thanh, phát thanh, truyền hình
* Trung Tâm Quản lý mạng và Chăm sóc khách hàng CATV
- Lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa mạng truyền hình cáp của Công ty trên toàn thành phố Hà Nội
* Phòng Quảng cáo Dịch vụ Truyền Thanh
- Dịch vụ tư vấn thông tin tiếp thị để ký hợp đồng lắp đặt
- Làm các dịch vụ Quảng cáo để phát trên sóng phát thanh truyền hình của các Đài Trung ương và địa phương cả nước
* Phòng thu các Dịch vụ CATV
-Thu cước dịch vụ cáp CATV từng hộ dân trên địa bàn thành phố Hà Nội
3 Tổ chức công tác kế toán tại công ty
3.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty
Trang 30Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty theo hình thức tập trung Hiện nay, đội ngũ kế toán trong Công ty bao gồm 07 người Mỗi nhân viên trong từng phần kế toán luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
* Kế toán trưởng: Chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty và cơ quan tài chính cấp trên về mọi hoạt động thu, chi, quản lý tài sản, tài chính của Công ty theo chính sách và pháp luật hiện hành Quản lý và điều hành
Kế toán thanh toán, theo dõi công nợ
Thủ quỹ
Kế toán tiền mặt
và tiền gửi ngân hàng
và bảo hiểm xã
hội
Kế toán các đội sản xuất ( kế toán chuyên quản)
Trang 31cán bộ, nhân viên trong phòng và mọi công việc liên quan đến hoạt động tài chính kế toán hàng ngày Kiểm duyệt, chấp nhận chứng từ gốc từ các cơ sở nộp lên, kiểm soát toàn bộ chứng từ theo hệ thống phân bổ, xem xét việc
định khoản của các phần hành kế toán khác có đúng về tài khoản và số tiền hợp pháp hay không sau đó vào sổ cái tổng hợp
* Kế toán TSCĐ, công cụ dụng cụ, kho hàng: Theo dõi tình hình sử dụng các loại công cụ dụng cụ, TSCĐ tại các bộ phận sản xuất, tình hình mua mới, thanh
lý máy móc, thiết bị, tính chi phí về công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ sau mỗi quá trình sản xuất để đa vào các khoản chi phí Căn cứ vào chứng từ mua vào và giấy tờ đề nghị xuất kho viết phiếu nhập, phiếu xuất kho, từ đó vào thẻ kho Cuối tháng lập bảng nhập xuất tồn vật tư, hàng hoá
* Kế toán thanh toán, theo dõi công nợ: Tập hợp kiểm tra, đối chiếu và thực hiện thanh toán các chứng từ phát sinh, mở sổ, theo dõi các nghiệp vụ kinh
tế tại đơn vị Căn cứ vào hoá đơn chứng từ vào sổ theo dõi các khoản phải thu, phải trả với các khách hàng Cuối tháng đối chiếu với công nợ
* Kế toán tiền lương và BHXH: Tính toán đầy đủ, chính xác tiền lương, các khoản phụ cấp, trợ cấp BHXH, thanh toán kịp thời tiền lương cho công nhân viên, theo dõi tình hình trích và sử dụng quỹ BHXH
* Kế toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng: Tất cả các khoản thu, chi tiền mặt phải có chứng từ hợp lệ chứng minh Chứng từ phải có chữ ký của Giám đốc Công ty và kế toán trởng Sau khi đã kiểm tra chứng từ hợp lệ, kế toán tiền mặt tiến hành viết phiếu thu, chi và giữ lại các chứng từ có chữ ký của người nộp tiền hoặc nhận tiền Cuối ngày căn cứ vào các chứng từ thu, chi đã thực hiện để ghi vào sổ quỹ kiêm báo cáo quỹ Khi nhận được chứng
từ ngân hàng, kế toán phải đối chiếu với chứng từ gốc đính kèm, thông báo ngân hàng để đối chiếu, xác minh và xử lý kịp thời các khoản chênh lệch nếu
có Mở sổ chi tiết ngân hàng và cập nhật hàng ngày
* Thủ quỹ: Thanh toán các chứng từ thu, chi khi đã được Giám đốc, kế toán trởng ký duyệt, quản lý quỹ của Công ty
3.2.Chính sách kế toán tại công ty
Trang 32Công ty Dịch Vụ Truyền Thanh Truyền Hình Hà Nội áp dụng chế độ
kế toán theo quyết định số 15/2006/QĐ - BTC, ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Niên độ kế toán của doanh nghiệp bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm
Đơn vị tiền tệ của doanh nghiệp là VNĐ
Phương pháp kế toán tài sản cố định: Đánh giá TSCĐ theo nguyên tắc nguyên giá, phương pháp khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng
Phương pháp kế toán hàng tồn kho: áp dụng phương pháp bình quân gia quyền để tính giá nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ xuất kho Kế toán chi tiết nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ theo phương pháp thẻ song song
Kế toán tổng hợp hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê thường xuyên
II Thực trạng công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương tại công ty
1.Hình thức tiền lương áp dụng tại công ty
1.1.Sử dụng quỹ tiền lương
Để đảm bảo quỹ tiền lương không vượt chi so với quỹ tiền lương được hưởng, không dồn chi quỹ tiền lương vào các tháng cuối năm hoặc để dồn quỹ tiền lương dự phòng quá lớn cho năm sau Căn cứ vào tình hình thực
tế của công ty và tổng quỹ lương được Sở lao động Thương binh và Xã hội phê duyệt cho năm 2006, tổng quỹ lương được chia ra :
- Quỹ lương trả trực tiếp cho người lao động : 90% tổng quỹ lương
- Quỹ khen thưởng đối với người lao động có năng suất, chất lượng cao,
có thành tích trong công tác: 4%
Trang 33- Quỹ khuyến kích người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao tay nghề giỏi: 2%
- Quỹ dự phòng cho năm sau: 4%
1.2 Nguyên tắc trả lương
Do đặc thù của từng đơn vị trong Công ty, tiền lương hàng tháng của
CBCNV toàn Công ty được trả theo các phương pháp sau: Tiền lương theo thời gian, theo mức độ phức tạp công việc, theo định mức đơn giá của các hạng mục công việc Ngoài tiền lương hàng tháng, CBCNV của từng đơn vị còn được hưởng các khoản phụ cấp khác nếu có (tiền công tác phí, tiền
thưởng năng suất )Việc áp dụng hình thức trả lương nay nhằm mục đích:
Nâng cao hiệu quả công tácquản lý, nâng cao kỷ luật lao động, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn lao động
Bảo đảm dân chủ công khai, phân phối kết quả lao động hợp lý giữa các bộ phận lao động, khuyến khích cán bộ nhân viên hăng hái hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, đồng thời đảm bảo chế độ chính sách cho người lao động theo quy định hiện hành
2 Cách tính tiền lương, thưởng và BHXH
2.1 Cách tính lương
2.1.1Tiền lương cho khối gián tiếp và phục vụ
Bao gồm: Phòng Hành chính – Tổ chức, phòng Kế toán – Tài chính, phòng Kế hoạch và Quản lý kỹ thuật công trình
Lương tính theo tháng dựa trên định mức hệ số công việc
Trang 34*
Gi¸
trÞ cña mét
hÖ sè th©m niªn
+
HÖ sè phô cÊp tr¸ch nhiÖm
Trang 35Chøc vô HÖ sè c«ng
viÖc
HÖ sè phô cÊp tr¸ch nhiÖm
Phô cÊp ®iÖn tho¹i
Trang 36Ví dụ 1: Chị Lại Thị Bích là Trưởng phòng Kế toán – Tài Chính , hệ số
thâm niên công tác là1,8 Trong tháng 3/2008 số tiền lương chị được lĩnh là:
2,6*1,679,015+1,8 *545000/6+0,4*540.000 +150.000 =4.894.939
1,679,015 là mức lương bình quân khối trực tiếp ( Xem biểu số 11)
2.1.2Tiền lương cho khối sản xuất, kinh doanh
2.1.2.1 Tiền lương ở Trung Tâm QL Mạng và Chăm Sóc Khách Hàng
- Công ty Dịch vụ Truyền thanh - Truyền hình Hà Nội mang đặc thù riêng của ngành kinh doanh dịch vụ Hiện nay, Công ty có nhiệm vụ chủ yếu là thực thi dự án truyền hình cáp hữu tuyến (CATV) Số công nhân trực tiếp sản xuất chủ yếu tại Trung tâm QL mạng và SCKH CATV Nhân lực của Trung tâm gồm 1giám đốc trung tâm, 1 phó giám đốc trung tâm, 1 phòng QT-HC,
6 đội sản xuất trực tiếp phân bố tại các địa bàn khác nhau trên TP Hà Nội, và
1 đội cáp quang Mỗi đội có đội trưởng, đội phó, 2 tổ trưởng và 1 hành chính
đội
- Hàng ngày, hành chính đội tại mỗi đội căn cứ vào tình hình thực tế của
đội mình để chấm công cho từng người trong ngày bảng chấm công hoặc ngừng nghỉ của mỗi cán bộ công nhân viên trong đội mình, đặc biệt phải ghi
rõ nguyên nhân nghỉ việc theo các quy định trong bảng chấm công Cuối tháng hành chính đội và đội trưởng ký vào bảng chấm công và chuyển bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan như phiếu nghỉ hưởng BHXH…về phòng QT-HC, kế toán chuyên quản sẽ kiểm tra,đối chiếu quy ra công để tính lương và BHXH, lập bảng thanh toán tiền lương Sau đó bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, và các chứng từ có liên quan sẽ được đưa lên phòng Kế toán – Tài chính của công ty
a, Lương bình quân
Trang 37Hàng tháng, đội trưởng căn cứ vào mức độ công việc của từng cá nhân trong Đội để tính lương theo quy định sau:
1.000.000đ ( lương cơ khí) bao gồm các công việc thường
xuyên trong tháng ví dụ như:
- Bảo dưỡng, sửa chữa mạng thuê bao, sửa chữa phiếu báo hỏng tại nhà thuê bao
- Thực hiện tách node, di chuyển tuyến
- CSKH
- Chạy máy nổ
400.000 đ ( lương điện khí) bao gồm các công việc phát sinh bất thường trong tháng:
- Trực ca đêm và giải quyết các sự cố kỹ thuật xảy ra trong ca trực thuộc
địa bàn đội quản lý
- Thực hiện các công việc đột xuất của công ty
- Thực hiện các công việc về cơ khí, điện khí để giải quyết các sự cố lớn trên mạng thuộc địa bàn đơn vị quản lý dưới sự điều động của Trưởng
đơn vị
b, Hệ số công việc
*Đối với công nhân kỹ thuật: Hưởng lương theo định mức lao động , theo khối lượng công việc Tổ, Đội mình đảm nhận và đơn giá các hạng mục công việc theo quy định của công ty tại khoản a = lương cơ khí + lương
điện khí =1.000.000+ 400.000 =1.400.000
* Đối với các Đội trưởng, đội phó, Tổ trưởng, Hành chính đội
Hưởng lương theo mức lương bình quan công nhân trực tiếp trong Tổ, Đội nhân với hệ số như sau( tính theo tháng)
Trang 38- Đội trưởng, đội phó phụ trách: 1,35*lương bình quân của công nhân quản lý
- Đội phó (Đội cáp quang) :1,2 * 1.400.000
- Tổ trưởng: 1,1 * lương bình quân của công nhân quản lý của tổ
c, Các loại phụ cấp
*Phụ cấp trách nhiệm
Hưởng theo quy định của Nhà nước và quy chế của công ty Mức phụ cấp tính trên tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Trang 39- Đội trưởng, đội phó phụ trách đội: 100.000 đ/ người/ tháng
- Tổ trưởng ( khối trực tiếp): 120.000đ / người / tháng
- Trưởng phó phòng QT-HC, Tổ trưởng (khối gián tiếp):50.000đ /người
Ví dụ 2: Anh Nguyễn Chí Trường la công nhân thuộc đội QL &SC số 1,
trong tháng 3năm 2008, số ngày công thực tế là 28 ngày, hệ số lương cơ
bản 2,1 Vậy trong tháng 3/2008 số tiền anh sẽ nhận được là:
Ví dụ 3: Anh Nguyễn Hồng Lâm đội trưởng đội QL &SC số 1, Anh đang
quản lý 16 công nhân, lương của từng công nhân trong bảng biểu số 2
Trong tháng 3 năm 2008 anh đi làm đầy đủ Tiền lương trong tháng của
anh là:
Lương khoán: 1,35*(1.540.000+1.306.667+1.400.000+ +1.421.000)/16 =