Tổng quan về ngoại thương và FDI
Trang 1Trong bối cảnh hiện nay, khi xu hướng toàn cầu hóa, tự do hoá thương mại đã
và đang phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, thực tiễn trên thế giới cho thấy Ngoại
thương đã thực sự trở thành một động lực không thể thiếu để phát triển kinh tế của
các quốc gia Đặc biệt, các nước đều đang thực hiện chính sách mở cửa nhằm thu
hút Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy Ngoại thương phát triển, ngược
lại, Ngoại thương cũng là một nhân tố quan trọng giúp thu hút Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài Vì vậy, mỗi một nước cần phải nhận thức rõ mối quan hệ giữa ngoại
thương và đầu tư trực tiếp nước ngoài để có những chính sách thích hợp có lợi cho
quốc gia mình
I TỔNG QUAN VỀ NGOẠI THƯƠNG VÀ FDI
1 Khái niệm ngoại thương
Ngoại thương là một hình thức của quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nhà sản xuất riêng biệt của các quốc gia Ngày nay ngoại thương
không chỉ mang ý nghĩa thuần túy là buôn bán với bên ngoài, mà thực chất là cùng
với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác tham gia vào phân công lao động quốc tế
Do vậy, cần coi ngoại thương không chỉ là một nhân tố bổ sung cho kinh tế trong
nước mà cần coi sự phát triển kinh tế trong nước phải thích nghi với lựa chọn phân
công lao động quốc tế
2 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng
góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp
tham gia đIều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư
Đặc điẻm của hình thức đầu tư trực tiếp:
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tuỳ theo quy
định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như ở Việt Nam quy định số vốn đóng góp tối
thiểu là 30% vốn pháp định của dự án
Trang 2Quyền hành quản lý xí nghiệp phụ thuôc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp
100% vốn thì chủ đầu tư có quyền đIều hành hoàn toàn xí nghiệp
Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả kinh
doanh của xí nghiệp Lời và lỗ được chia theo tỉ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau
khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện dưới các hình thức:
- Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới
- Mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động
- Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập
II MỐI QUAN HỆ GIỮA NGOẠI THƯƠNG VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
Ngoại thương và đầu tư trực tiếp nước ngoài có mối quan hệ chặt chẽ ràng
buộc lẫn nhau Ngoại thương có tác dụng thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngược lại, khi đầu tư nước ngoài gia tăng nó quay trở lại tác động làm cho ngoại
thương phát triển
1 Ngoại thương và FDI thống nhất, hỗ trợ và làm tiền đề cho nhau trong thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư quốc tế nói chung hay đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng liên hệ với
việc di chuyển các yếu tố sản xuất ra nước ngoài Ngày nay, khi có nhiều rào cản
được đưa ra làm cản trở việc buôn bán sản phẩm hoàn chỉnh, việc di chuyển quốc
tế các yếu tố sản xuất được thực hiện khá phổ biến và là một sự lựa chọn khác
ngoài buôn bán truyền thống để sử dụng nguồn lực có hiện quả hơn
Mặt khác, dưới góc độ nhà sản xuất, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là bộ
phận cấu thành quan trọng trong việc hình thành tổng lượng vốn cần thiết cho
doanh nghiệp, nhằm đưa vào kinh doanh tạo ra lợi nhuận Trong khi đó, Ngoại
thương, chủ yếu là xuất nhập khẩu, góp phần giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm
Trang 3sản xuất ra Nói cách khác, nếu kinh doanh vốn giúp giải quyết vấn đề đầu vào thì
kinh doanh ngoại thương giúp giải quyết vấn đề đầu ra cho doanh nghiệp Như vậy,
Ngoại thương và FDI có quan hệ qua lại mật thiết, hỗ trợ và bổ sung cho nhau
Các công ty có cùng một động cơ khi tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài
hay tiến hành hoạt động ngoại thương Đó là mở rộng thị trường bằng cách bán
hàng ở nước ngoài và đạt được việc cung cấp các nguồn lực, cụ thể như lao động,
nguyên nhiên liệu… dễ dàng và kinh tế hơn
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, với việc tăng cường thu hút vốn đầu
tư nước ngoài cùng với phát triển hoạt động xuất nhập khẩu, Việt Nam đã đạt được
những thành tựu khả quan trong tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân,
từng bước đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu Tốc độ tăng kim
ngạch xuất nhập khẩu, FDI và GDP đã cho thấy điều này
Tốc độ tăng kim ngạch ngoại thương, GDP và FDI cuả Việt Nam thời kỳ
1988-2003
Nă
m
Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng
kim ngạch
FDI
% tăng GDP
Kim
ngạch
% tăng trưởng
Kim ngạch
% tăng trưởng
Vốn đăng
ký
% tăng trưởng 198
8 1038.4 21.6 2756.7 12.3 3795.1 321.8 63.3 6.01
198
9 1946 87.4 2565.8 -6.9 4511.8 525.5 39.9 4.68
199
0 2404.0 23.5 2752.4 7.3 5156.4 735 73.5 5.09
199
1 2087.1 -13.2 2338.1 -15.1 4425.2 1275 59 5.81
199 2580.7 23.7 2540.8 8.7 5121.5 2027 27.7 8.7
Trang 42
199
3 2985.2 15.7 3923.9 54.4 6909.1 2589 44.7 8.08
199
4 4054.3 35.8 5825.8 48.5 9880.1 3746 82.8 8.83
199
5 5448.9 34.4 8155.4 40 13604.3 6848 31.1 9.54
199
6 7255.9 33.2 11143.6 36.6 18399.5 8979 -45.5 9.34
199
7 9185.0 26.6 11592.3 4 20777.3 4894.2 -15.5 8.15
199
8 9360.3 1.9 11499.6 -0.8 20859.9 4138 -62.1 5.76
199
9
11541
4 23.3 11742.1 2.1 23283.5 1568 28.7 4.77
200
0
14482
7 25.5 15636.5 33.2 30119.2 2018 28.4 6.79
200
1
15029
2 3.8 16217.9 3.4 31247.1 2592 -37.5 6.89
200
2
16706
1 11.2 19745.6 21.7 36451.7 1621 217.2 7.04
200
3
20149
3 18.9 25255.8 26.4 45405.1 1899.6 7.24
(đơn vị kim ngạch: triệu USD)
2 FDI tác động đến ngoại thương
Trang 5a Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể dẫn đến hạn chế hay thúc đẩy ngoại
thương Hợp tác quốc tế về đầu tư hay thu hút vốn đầu tư nước ngoài suy cho cùng
chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm đạt tới mục tiêu tăng trưởng của
xuất nhập khẩu tức là của ngoại thương Những nước còn chậm phát triển trong
giai đoạn đầu phát triển kinh tế thường gặp vấn đề nan giải về vốn Điều này đã hạn
chế đến qui mô đầu tư và đổi mới kỹ thuật gây ra tình trạng mất cân đối trong xuất
nhập khẩu, cán cân thanh toán thường xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàI có thể giải quyết vấn đề này bằng cách bù đắp các
khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán Khi có đầu tư trực tiếp nước
ngoài hoạt động xuất khẩu sẽ tăng lên, từ đó mở rộng được qui mô đầu tư vào thị
trường nhập khẩu Đối với những nước đã phát triển thì đầu tư trực tiếp nước ngoài
tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, nhà
nước cũng tăng thu được ngân sách phục vụ cho việc nhập khẩu đáp ứng nhu cầu
trong nước
Tuy vậy sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không hiệu quả cũng dẵn đến
hạn chế ngoại thương Một khoản đầu tư nước ngoài nếu không được hướng vào
mở mang và phát triển sản xuất sản phẩm xuất khẩu thì khả năng nhập khẩu sẽ bị
thu hẹp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các nước chậm và đang phát triển tiếp thu
được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước
ngoài Từ đó giúp tăng năng suất lao động, hoạt động hiệu quả hơn và giúp tránh
lãng phí nguồn lực Đối với những nước phát trỉên thì đầu tư trực tiếp nước ngoài
thường dưới hình thức sáp nhập nhằm đa dạng hóa, thu hút sự chú ý của các công
ty có lượng tiền mặt lớn
Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá và đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh
mẽ Trước hết đầu tư trực tiếp nước ngoài giữ một vai trò hết sức quan trọng trong
việc cải tiến cơ cấu kinh tế Mặc dù tỷ trọng của đầu tư trực tiếp trong tổng số vốn
Trang 6đầu tư ở một số nước có thể không cao nhưng nó thương chiếm tỷ trọng lớn trong
đầu tư tài sản cố định trong một số ngành quan trọng của nền kinh tế Ở những nền
kinh tế mới công nghiệp hoá, đầu tư của các công ty đa quốc gia tập trung vào lĩnh
vực công nghiệp chế tạo Ví dụ như ở Hàn Quốc, đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm
7% tư bản cố định ở ngành công nghiệp chế tạo trong khoảng thời gian từ năm
1970-1971 và trên 10% giai đoạn 1972-1974 Ở Singapore, các công ty nước ngoài
chiếm 66-75% số tư bản đầu tư vào công nghiệp chế tạo trong khoảng thời gian
1977-1981 Ở Thái Lan gần 90% tập trung vào công nghiệp Đó là nguyên nhân
giải thích tại sao đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp vai trò tích cực trong việc
thúc đẩy quá trình sản xuất xuất khẩu sản phẩm công nghiệp ở những nước này
Ở Việt Nam, khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò đáng
kể trong việc mở rộng xuất khẩu Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,000 triệu USD, chiếm 21.4% giá trị xuất
khẩu hàng hoá cả nước Năm 2000, con số tương ứng là 6,580 triệu USD và 47%
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có FDI chiếm 50.2% tổng
giá trị xuất khẩu (kể cả dầu thô)
Đến năm 2005, Việt Nam đạt được 5.8 tỷ USD vốn FDI, cao nhất từ năm
1997, tăng 25% so với năm trước, có 120 dự án mới Tổng doanh thu hàng năm
khu vực đầu tư nước ngoài đạt 21 tỷ USD Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài đạt 10.3% tỷ USD trị giá xuất khẩu, tăng 26.6% so với năm 2004,
thu hút 870,000 lao động
Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước,
trong năm 2005 thu hút 376 triệu USD vốn FDI, bao gồm 279 dự án Cũng trong
năm này, doanh thu xuất khẩu của thành phố đạt 12.4 tỉ USD, tăng 26% so với năm
2004 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 23.5% tổng trị
giá xuất khẩu cả thành phố, xuất khẩu dệt may tăng 4.8%, da giày tăng 6.8%, hải
sản tăng 8.1%, các sản phẩm từ sữa tăng 197.1%
Trang 7b Việc di chuyển các yếu tố sản xuất ra nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp
thường kích thích hoạt động thương mại vì nhu cầu đối với: thiết bị cho các công
trình, các chi nhánh, các sản phẩm bổ sung, các bộ phận rời… Mặc dù trong nhiều
trường hợp dẫn đến gia tăng tái nhập khẩu, nhưng các công ty vẫn gia tăng xuất
khẩu quy mô lớn hơn sang các cơ sở nước ngoài của họ Lý do của hiện tượng này
là các đơn vị hoạt động trong nước có thể đưa vật tư và bộ phận rời đến các cơ sở
của họ ở nước ngoài để sử dụng trong việc sản xuất hay lắp ráp sản phẩm hoàn
chỉnh Các chi nhánh ở nước ngoài hay các công ty liên kết cũng có thể mua tài sản
cố định hoặc cung cấp các công ty trong nước vì sự tin tưởng của họ vào chất
lượng, thời gian giao hàng hay vì để đạt được sự đồng nhất tối đa của sản phẩm Cơ
sở nước ngoài còn có thể đóng vai trò đại lý bán hàng cho việc xuất khẩu những
sản phẩm khác của công ty mẹ
Mười tám năm qua kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời ở Việt Nam(
12/1997- 12/2005) hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có sự đóng góp to lớn
cho sự phát triển của ngoại thương
Với hoạt động xuất khẩu các dự án đầu tư FDI góp phần cải thiện cán cân
thương mại và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam Không kể dầu khí thì kim
ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài thời kì 1991-1995 đạt trên 1.12 tỷ
USD, thời kỳ 1996-2000 đạt trên 10.6 tỷ, năm 2001 đạt 3.67 tỷ USD, 2002 đạt 4,5
tỷ USD Nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng do các dự án FDI thực hiện như xuất
khẩu dầu thô 100%, giày dép 42%, hàng dệt may 25%, 84% hàng điện tử, máy vi
tính và linh kiện Tỷ trọng trị giá hàng xuất khẩu so với doanh thu của các dự án
FDI tăng nhanh 30% ở thời kỳ 1991-1995, lên 48% thời kỳ 1996-2000 và đạt 50%
vào năm 2002
Việt Nam đã, đang, và sẽ là một thị trường đầy tiềm năng hấp dẫn các nhà đầu tư
nước ngoài, trong đó có các công ty xuyên quốc gia
Trang 8Bảng dưới đây cho biết top 20 doanh nghiệp FDI dẫn đầu về giá trị hàng xuất/ nhập
khẩu:
STT Tên công ty
Giá trị (USD) STT Tên công ty
Giá trị (USD)
1 Fuitsu Vietnam 477,743,868 1 Canon Vietnam 311,366,581
2 Canon Vietnam
415,793,981 2 Formosa 199,158,788
3 Pou Yeun Vietnam
352,164,208 3 Pou Yuen Vietnam 196,816,885
4 Tae Kwang Vina
157,966,403 4 Toyota Vietnam 196,715,638
5
Furukawa Automotive Part
VN
137,795,458 5 Honda Vietnam 148,252,406
6 Pou Chen Vietnam
124,758,080 6 Yamaha motor Vietnam 135,042,504
7 Nidec Tosok Vietnam
117,892,651 7 Ford Vietnam 120,413,585
8 Chang Shin Vietnam
110,097,599 8 Vinakyoei 113,119,759
9 Yazaki Eds Vietnam
106,939,919 9
Furukawa Autmotive Parts
10
Sumitomo Bakelite
Vietnam
110,731,285 10 Vedan Vietnam 109,348,253
Trang 9Nguồn: Tổng cục thuế quan
3 Ngoại thương tác động đến FDI
Ngoại thương có tác dụng thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngày nay nước nào đẩy mạnh được buôn bán với nước ngoài và thực hiện tốt phân công lao
động quốc tế thì sẽ thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài.Vì những nước có
ngoại thương phát triển có dung lượng thị trường lớn, nhu cầu đa dạng, môi trường
đầu tư thuận lợi hơn như cơ sở hạ tầng hiện đại, chính trị ổn định, vốn đối ứng sẵn
có, môi trường pháp lý đồng bộ ổn định, hoàn chỉnh và minh bạch Chính vì vậy xu
hướng đầu tư những năm gần đây có sự thay đổi vể địa bàn đầu tư hiện tượng các
nước phát triển đầu tư lẫn nhau gia tăng
Ngoại thương, trong đó quan trọng là xuất nhập khẩu, là tiền đề và nơi thể hiện kết quả đạt được của hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư quốc tế chính là việc xuất
nhập khẩu vốn và đi kèm với nó là việc xuất nhập khẩu thiết bị công nghệ, sau đó
là xuất nhập khẩu sản phẩm đạt được sau dầu tư Có thể nói, xét cho cùng thì Ngoại
thương chính là mục tiêu quan trọng để đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng tới
Cùng với việc nhận vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khi quan hệ ngoại thương của chúng ta ngày càng mở rộng sang nhiều nước và khu vực, đầu tư của
Việt Nam ra nước ngoài nhìn chung cũng dần được mở rộng, dưới đây là bảng
thống kê đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam theo các năm từ 1989 đến Tháng
4-2006:
ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI PHÂN THEO NĂM
(tính tới ngày 20/4/2006 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Trang 10T
1 1989 1
563,380 563,380 -
2 1990 1 - - -
3 1991 3
4,000,000 4,000,000 2,000,000 4 1992 3
5,282,051 5,282,051 1,300,000 5 1993 5
690,831 690,831 -
6 1994 3
1,306,811 706,811 -
7 1998 2
1,850,000 1,850,000 1,500,000 8 1999 10
12,337,793 6,773,182 -
9 2000 15
6,865,370 6,682,370 1,210,160 10 2001 13
7,696,452 7,696,452 2,522,000 11 2002 15
172,826,576 155,528,200 2,213,558 12 2003 25
27,309,485 26,214,012 1,956,412 13 2004 17
11,596,114 9,919,861 2,376,186
14 2005 37 153,975,284 200,000