Đó là những tác phẩm do các nghệ nhân dân gian sáng tác, truyền thuyết dã sử về những nhân vật xuất chúng như Lò Lẹt, Lạng Chượng…truyện thơ nổi tiếng như “Xống chụ xon xao”,“Ý Nọi - Nàn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Người Thái là dân tộc thiểu số đông thứ hai ở Việt Nam.Với tên gọi
“phủ Táy” (người Thái), họ đã có một ý niệm thống nhất về những người đồng tộc
của mình; họ ý thức rất rõ về nguồn cội của mình “Cốc mướng té chụa pảu/Hảu mướng té chụa lang/Cai lai pang cái chiến thâng khạy” (Gốc mường từ thời cổ/Rễ mường từ thời xưa/Truyền bao đời để lại đến ngày nay) Ý thức này còn được thể hiện rất rõ trong tâm lý “hặc bản, panh mướng” (yêu bản, mến mường), quyết tâm
xây dựng quê hương thành một vùng đất giàu có của đất nước Theo thống kê mới nhất năm 2009, dân tộc Thái ở nước ta có hơn một triệu năm trăm nghìn người, cư trú tập trung dọc dải miền Tây của tổ quốc, ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn
La, Hoà Bình, Yên Bái, Lào Cai, miền tây Thanh Hoá và Nghệ An Sau năm 1954
có một số bộ phận đồng bào Thái di cư vào sinh sống tại các tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng
Nhờ có chữ viết riêng, có ngôn ngữ, có văn tự, đồng bào Thái đã xây dựng được một nền văn học phong phú, lưu truyền được nhiều tác phẩm, sổ sách, truyện
kể ghi trên giấy bản hoặc trên lá cây Đó là những tác phẩm do các nghệ nhân dân gian sáng tác, truyền thuyết dã sử về những nhân vật xuất chúng như Lò Lẹt, Lạng
Chượng…truyện thơ nổi tiếng như “Xống chụ xon xao”,“Ý Nọi - Nàng Xưa”…những cuốn sách ghi lại phong tục, tập quán, đạo lý làm người như “Quám
tô mương”, “Tay pú xấc”, “Quám xon cốn”, “Quám chiến láng” Văn học Thái
là sự tổng kết quá trình tư duy về những sự vật, hiện tượng khách quan của tự nhiên và xã hội; có thể xem nó như một bức tranh lịch sử xã hội sinh động được khái quát hoá trong các hình tượng của nghệ thuật ngôn ngữ Ngôn ngữ của người Thái nói chung và “quám chiến láng” nói riêng là một phần quan trọng trong nền văn hóa Thái Vì vậy, nghiên cứu “quám chiến láng” của dân tộc Thái trước hết là
để hiểu sâu hơn về đặc điểm ngôn ngữ Thái và bản sắc văn hoá của dân tộc Thái ở Việt Nam, đồng thời góp phần giới thiệu và tôn vinh nền văn hóa độc đáo của dân tộc Thái, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của các dân tộc nói chung
Trang 21.2 Một trong những luận điểm quan trọng trong chính sách đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta là thừa nhận và bảo đảm về mặt pháp lý quyền có ngôn ngữ riêng của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam và quyền tự do phát triển ngôn ngữ các dân tộc: “Các dân tộc có quyền duy trì hoặc sửa đổi phong tục tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết phát triển văn hoá dân tộc mình”
Luận điểm quan trọng khác trong chính sách ngôn ngữ của nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo vệ quyền bình đẳng giữa ngôn ngữ các dân tộc Nhà nước Việt Nam lưu ý đúng mức các vấn đề duy trì và phát triển tiếng nói chữ viết các dân tộc thiểu số, quyền sử dụng ngôn ngữ các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, khuyến khích nghiên cứu văn hoá dân tộc, sáng tác bằng tiếng dân tộc, xây dựng nền văn hoá và giáo dục song ngữ
Hiến pháp năm 1960 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chính thức quy định: “Các dân tộc có quyền duy trì hoặc sửa đổi phong tục tập quán dùng tiếng nói, chữ viết phát triển văn hoá dân tộc”
Ngày 27 tháng 11 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành nghị định về việc phê chuẩn chính thức các phương án chữ Tày-Nùng, Thái, Mông dùng làm chữ viết chính thức cho các dân tộc trên trong việc xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá, trong các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp, trong các công văn, giấy tờ của các cơ quan nhà nước trong các khu tự trị Nhờ có chính sách đúng đắn như vậy mà các dân tộc ít người Việt Nam trong mấy chục năm qua đã không ngừng phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá của mình, kề vai sát cánh cùng với dân tộc Kinh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Có thể nói đây là một chính sách ngôn ngữ đúng đắn, rộng mở trong bối cảnh Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ; nó tạo điều kiện cho sự phát triển của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số bên cạnh ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt
1.3 Hơn nữa, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trong quan hệ với văn hoá các dân tộc; dạy tiếng Việt cho học sinh các dân tộc đang là vấn đề nhận được sự quan
Trang 3tâm rất lớn của các nhà Việt ngữ học nói chung và của các nhà giáo dục Việt Nam hiện nay
Ngày 3 tháng 2 năm 1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư 01 hướng dẫn việc dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số, trong đó có đoạn: “ Sở Giáo dục đào tạo các tỉnh, thành phố có đồng bào các dân tộc thiểu số chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ để cụ thể hoá xây dựng chương trình cho phù hợp với từng thứ tiếng và biên soạn tài liệu, đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng dân tộc ”
Theo chúng tôi nghĩ, muốn xây dựng được chương trình, tài liệu dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số cho phù hợp với từng dân tộc thì đòi hỏi đầu tiên là phải hiểu được phong tục, tập quán, văn hoá truyền thống cũng như ngôn ngữ của dân tộc mà mình trực tiếp giảng dạy Điều quan trọng nhất là chúng ta phải xây dựng được tài liệu giảng dạy đúng với ngôn ngữ của từng dân tộc Có như vậy, việc dạy tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số mới mang lại kết quả cao
1.4 Là các cán bộ giảng dạy tiếng Việt ở Trường Đại học Tây Bắc - đóng trên địa bàn tỉnh Sơn La, nơi có nhiều đồng bào Thái sinh sống, có nhiều sinh viên
là con em dân tộc Thái, chúng tôi có nhiều điều kiện để tiếp xúc với vốn văn hoá, vốn ngôn ngữ của dân tộc Thái Qua sự tiếp xúc này, chúng tôi nhận thấy nhiều điểm thú vị, ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc Thái vừa có những điểm tương đồng vừa có những nét khác biệt so với ngôn ngữ và văn hoá của các dân tộc khác đặc biệt là dân tộc Kinh (dân tộc Việt) Đây cũng chính là một trong những lý do quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm khám phá những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ của hai dân tộc này
Thực tế giảng dạy tiếng Việt cho đồng bào Thái cũng như việc giảng dạy tiếng Thái cho đồng bào Thái và đồng bào các dân tộc khác đòi hỏi có một cơ sở lý luận giúp soi sáng các điểm tương đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ, giúp người dạy và người học tiếp thu có hiệu quả một ngôn ngữ
1.5 “Quám chiến láng” được hiểu là tục ngữ của người Thái, là những lời truyền của người xưa để lại Đó là những lời nói, những câu nói quý hơn vàng bạc,
Trang 4cần phải được lưu giữ “quám chiến láng nha vang xịa lạ” (lời xưa truyền lại chớ
bỏ phí hoài) Đây là những câu (phát ngôn) ngắn gọn, có vần điệu, có cấu trúc tương đối ổn định, được định hình trong lời nói và trong ký ức của cộng đồng dân tộc Thái thường được cảm nhận theo cách loại suy và liên tưởng Việc đi sâu tìm hiểu trường nghĩa chỉ động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái là một việc làm cần thiết không những có ý nghĩa về mặt khoa học thực tiễn mà nó còn góp phần quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ dân tộc Thái có ý thức gìn giữ
và phát huy ngôn ngữ và bản sắc văn hóa dân tộc
1.6 Là một người con của dân tộc Thái, tôi muốn bày tỏ tình yêu quê hương
và tiếng mẹ đẻ của mình bằng việc tìm hiểu “quám chiến láng”, nơi chứa đựng nhiều giá trị độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa tộc người
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu văn hoá, ngôn ngữ của dân tộc Thái trong mối quan hệ với ngôn ngữ , văn hoá của các dân tộc khác cùng với tất cả những lý
do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Trường nghĩa động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam” nhằm giới thiệu những đặc điểm riêng biệt của
“quám chiến láng” của dân tộc Thái (trên cơ sở so sánh đối chiếu với trường nghĩa chỉ động vật trong tục ngữ Việt) Đề tài này sẽ góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn về văn hoá, ngôn ngữ của dân tộc Thái trong mối quan hệ với ngôn ngữ, văn hoá các dân tộc khác trên dải đất Việt
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Mỗi ngôn ngữ thông qua ngôn từ có những cấu trúc tạo nghĩa khác nhau Những cấu trúc này thể hiện tư duy văn hóa dân tộc, tâm lý, trí thông minh và sự tài hoa của người bản ngữ Tục ngữ là một trong những cấu trúc tạo nghĩa ấy Tục ngữ không chỉ có tác dụng làm cho lời văn hay, hình tượng đẹp mà còn có tác dụng diễn tả ý tưởng một cách sâu sắc, tế nhị, hàm súc Đặc biệt là tục ngữ có yếu tố chỉ động vật
Tục ngữ không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học mà còn là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác Việc sử dụng thành tố chỉ động vật trong các kết cấu tục ngữ thể hiện nét độc đáo của nhân
Trang 5dân lao động, phản ánh tâm lý - văn hoá một dân tộc, góp phần tạo nên tính dị biệt trong cách diễn đạt bằng ngôn từ, trong cách nhìn, cách nghĩ của mỗi dân tộc đối với hiện thực khách quan Cùng chỉ một khái niệm, một hiện tượng, một trạng thái tình cảm nhưng mỗi dân tộc sử dụng những yếu tố động vật khác nhau để diễn đạt Những yếu tố chỉ động vật này thể hiện nét ngữ nghĩa - văn hoá của từng dân tộc
và thường được gọi là thành tố văn hoá
Riêng về mảng thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng Việt, Trịnh Cẩm
Lan (1995) khi nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt trên cứ liệu thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật” có đề cập đến thành ngữ động vật tiếng Việt nhưng chưa đi vào
miêu tả cụ thể các nghĩa khác nhau của mỗi từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ
Nguyễn Thuý Khanh trong" Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga") (luận án phó tiến sĩ, 1996), đã
nghiên cứu khá sâu ngữ nghĩa tên gọi các động vật trong tiếng Việt và có đề cập
một phần “ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ so sánh có tên gọi động vật” [57]
Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:
- Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt
(Nguyễn Thúy Khanh, Ngôn ngữ, số 3, 1994)
- Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ dân gian và khai thác để đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt (Phan Văn Quế, Ngôn
ngữ, số 4, 1995)
- Chú chuột trong kho thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt (Phương Trang,
Ngôn ngữ và đời sống, số 1, 1996)
- Trường nghĩa của một thực từ (Dương Kỳ Đức, Ngữ học trẻ, 1996)
- Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ qua hình ảnh trâu bò trong thành ngữ Việt – Nga – Anh (Huỳnh Công Minh Hùng, Hội thảo ngôn ngữ và văn hóa,
Hà Nội, 2000)
Trang 6- Hình ảnh gấu trong thành ngữ (trên cứ liệu tiếng Việt-Nga-Anh-Pháp và
một số tiếng Châu Âu khác) (Huỳnh Công Minh Hùng, T/c Khoa học TP.HCM, số 24, 2000)
ĐHSP Ngựa trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Phong Hoá, Ngôn ngữ và đời
Việt khi phân tích bình diện ngữ nghĩa và so sánh, đối chiếu sự khác biệt về nghĩa giữa thành tố chỉ động vật trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt nhƣng không vì mục đích nghiên cứu nó mà chỉ nhằm làm sáng tỏ ngữ nghĩa những thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng Anh Ngoài ra, có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành có đề cập đến thành tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Anh:
- Sơ bộ tìm hiểu các sắc thái ngữ nghĩa của những từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Anh (Phan Văn Quế, Nội san Đại học Ngoại ngữ – Đại học quốc
gia Hà Nội, số 1/1996)
- Thành ngữ tiếng Anh và dạng đặc biệt của nó: cụm động từ - giới từ (Lê
Hồng Lan, Ngôn ngữ và đời sống, số 2/1996)
- Gà, khỉ, chuột, ngựa trong tục ngữ và thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
(Phan Văn Quế, Ngôn ngữ và đời sống, số 2, năm 2000)
- Hình ảnh con chó trong thành ngữ và tục ngữ tiếng Anh (Phan Văn Quế,
Ngôn ngữ và đời sống, số 2, năm 2000)
Chúng tôi đã tiến hành khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ nói chung, về “quám chiến láng” Thái nói riêng, kết quả cho thấy:
Trang 7- Có rất nhiều công trình nghiên cứu tục ngữ dựa trên cơ sở lí luận về tục ngữ của dân tộc Việt, có rất ít công trình nghiên cứu lấy “quám chiến láng” của dân tộc Thái làm đối tượng nghiên cứu một cách độc lập, riêng biệt
- Những công trình nghiên cứu tục ngữ Thái một cách độc lập, riêng biệt chưa nhiều nếu không nói là quá ít ỏi Những công trình nghiên cứu này chủ yếu
đề cập đến phương diện nội dung của tục ngữ Thái (ở góc độ này hay góc độ khác)
- Cầm Trọng, tác giả người dân tộc Thái, với tác phẩm “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” - một tác phẩm được đánh giá “là tác phẩm tốt, đem lại nhiều bổ ích cho khoa học” đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Trong cuốn sách này, tác giả Cầm Trọng đã đề cập đến những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ Thái như vấn đề nguồn gốc, loại hình ngôn ngữ, đặc điểm cấu tạo chữ Thái, hệ thống nguyên âm - phụ âm của chữ Thái Tuy nhiên, như chính tác giả đã viết trong lời tựa cuốn sách, vấn đề mấu chốt mà tác giả muốn nêu lên ở đây là những nét lớn về cơ cấu kinh tế
- xã hội cổ truyền, yếu tố chủ chốt đã cấu tạo nên cộng đồng Thái cho nên vấn đề ngôn ngữ chỉ được tác giả đề cập đến một cách chung chung “Quám chiến láng” chưa có vị trí riêng trong nghiên cứu của tác giả
- Tác giả Cầm DZịn trong bài “Tìm hiểu lời khuyên truyền thống về lao động nông nghiệp qua tục ngữ Thái” in trong cuốn “Văn hóa và lịch sử người Thái
ở Việt Nam” [Tr 216] đã nhấn mạnh đến vai trò của tục ngữ với nội dung đúc kết kinh nghiệm của cha ông, khuyên nhủ con cháu về ý thức và trách nhiệm đối với lao động sản xuất nông nghiệp
- Tác giả Anh Vũ trong bài “Giáo dục truyền thống của người Thái ở Việt Nam qua một số nghi lễ và phương ngôn tục ngữ” đăng trên tạp chí Dân tộc học (
số 2/2001), đã dẫn giải một số câu phương ngôn, tục ngữ Thái làm dẫn chứng cho luận điểm chính của bài viết “Mỗi gia đình Thái, mỗi bà mẹ Thái đều hết sức lưu tâm nhắc nhở, giáo dục con em mình hàng ngày qua những câu căn dặn đã trở thành vần vè như phương ngôn, tục ngữ” [Tr.31]
Trang 8- Tác giả Tạ Văn Thông (Viện ngôn ngữ) lại đi sâu khai thác khía cạnh “Tục ngữ Thái về lời ăn tiếng nói” Trong bài viết của mình, tác giả đã khẳng định: “Nội dung thường gặp nhất trong các tục ngữ về lời ăn tiếng nói là những nhận xét sử dụng ngôn từ rất đa dạng của đời sống Những nhận xét tỉnh táo và đôi khi nghiệt ngã như vậy có thể coi là những đúc kết tri thức về ngôn từ được rút ra từ những quan sát và sự trải nghiệm thực tế, đồng thời phản ánh những cơ sở xã hội - lịch sử văn hóa cũng như cách nhìn nhận thế giới khách quan của cộng đồng Thái”[Tr.30]
- Tác giả Cầm Cường - là một người dành rất nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu văn học Thái - trong cuốn “Tìm hiểu văn học Thái ở Việt Nam” có đề cập đến tục ngữ Thái trong phần lý giải về nguồn gốc văn học Thái ở Việt Nam Trong phần này, tác giả Cầm Cường đã đi sâu vào việc phân tích, lý giải bước phát triển từ “thành ngừ, tục ngữ đến thơ ca” [Tr.42)
- Trong lời giới thiệu cuốn “Tục ngữ Thái”, nhóm tác giả sưu tầm và biên soạn ít nhiều có đề cập đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong tục ngữ Thái: “Với những câu nói ngắn gọn, giàu hình ảnh; với lời nói chỉ sự việc cụ thể, tất yếu để diễn đạt ý lớn, có tính khái quát vừa sâu vừa rộng để phản ánh trạng thái tâm lý phức tạp của con người với con người Tục ngữ Thái đã chắt đọng được sự tinh túy của nghệ thuật sử dụng ngôn từ dân tộc” [Tr 8]
- Trong chương 3 luận văn thạc sĩ “Tục ngữ Thái Việt Nam: vần, nhịp và hệ thống hình ảnh”, tác giả Lò Thị Hồng Nhung đã thống kê và đưa ra nhận xét về 9 nhóm hình ảnh thường xuất hiện trong tục ngữ Thái trong đó có nhóm hình ảnh về động vật (291câu /1355 câu tục ngữ đã khảo sát có chứa các hình ảnh động vật) Tác giả luận văn cũng đã chỉ ra một số ý nghĩa biểu trưng trong nội dung ngữ nghĩa của tục ngữ Thái thông qua hệ thống hình ảnh đó là tính cộng đồng bền vững, tính truyền thống bền chặt gia tộc, đề cao họ ngoại và các tàn dư mẫu hệ…Tuy nhiên đó là những biểu trưng chung của tục ngữ Thái chứ tác giả chưa đi sâu khám phá giá trị biểu trưng của từ ngữ chỉ động vật trong tục ngữ Thái
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã hướng đến kho tàng tục ngữ Thái, đã sưu tầm và giới thiệu một số lượng rất lớn các câu tục ngữ Thái
Trang 9và coi đó như những nguồn cứ liệu cực kì phong phú và sống động về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, về đời sống vật chất, đời sống tinh thần mà đồng bào dân tộc Thái đã lưu giữ và truyền tụng qua nhiều thế hệ Có thể kể đến một số tài liệu sau:
- Trần Trí Dõi, Vi Khăm Mun (2012), Tục ngữ và thành ngữ người Thái Mương ở Tương Dương, Nghệ An H., Nxb Lao động
- Phan Kiến Giang, Văn Pánh (2010), Thành ngữ, tục ngữ dân tộc Thái, Nxb
Văn hóa dân tộc
- Quán Vi Miên (2010), Tục ngữ Thái: Giải nghĩa, Nxb Dân trí
- Thành ngữ, tục ngữ, câu đố các dân tộc Thái, Giáy, Dao, Nxb VHDT
- Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (tập 1+ 2), Viện
nghiên cứu văn hóa (2008), Nxb KHXH
Đây thực sự là những nguồn tư liệu quý giá giúp cho chúng tôi có nhiều điều kiện để đi sâu nghiên cứu “quám chiến láng”
Qua khảo cứu các tư liệu nói trên chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đáng chú ý sau:
Thứ nhất, “Quám chiến láng” Thái là một thể loại quan trọng trong kho tàng văn chương truyền khẩu của người Thái Từ lâu, tục ngữ Thái đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học, ngôn ngữ học
Đã có những công trình nghiên cứu về tục ngữ Thái được công bố Nhìn chung, đó
là nguồn tư liệu quý hiếm, là tài sản rất có giá trị của một cộng đồng dân tộc, rất hữu ích cho việc nghiên cứu tiếp theo về các đặc trưng văn hóa của dân tộc Thái qua “quám chiến láng”
Thứ hai, dù đã được nhiều tác giả quan tâm song những công trình nghiên cứu trên phần lớn mới chỉ dừng lại ở việc tổng hợp, giới thiệu các câu tục ngữ Thái trên đất nước Việt Nam, “quám chiến láng” của dân tộc Thái vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc Chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về trường nghĩa động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam
Trang 10Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này để có thể khảo sát, nghiên cứu và giới thiệu một cách toàn diện nhất về “quám chiến láng” của dân tộc Thái dưới góc độ ngôn ngữ học Như vậy, theo chúng tôi đề tài này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc thiểu số mà còn có ý nghĩa thiết thực cho việc giới thiệu và góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát triển kho tàng
về văn hoá vô giá của người Thái, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nước nhà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài “Trường nghĩa chỉ động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam”, chúng tôi hướng đến các
mục đích sau:
- Xác lập trường nghĩa động vật trong tục ngữ của dân tộc Thái ở Việt Nam
Từ việc xác lập trường nghĩa, tìm hiểu quan hệ ngữ nghĩa và hoạt động ngữ nghĩa trong nghĩa động vật Đồng thời đề tài nhằm làm rõ lý thuyết về trường nghĩa
- Chỉ ra những giá trị biểu trưng của trường nghĩa động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam để hiểu rõ hơn những kinh nghiệm sống,
về đặc trưng văn hóa dân tộc, về triết lí nhân sinh được thể hiện trong “quám chiến láng”
Trang 11- Góp phần khẳng định giá trị độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của kho tàng “quám chiến láng” của dân tộc Thái nói riêng, của ngôn ngữ dân tộc nói chung
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Từ các qua điểm trong nghiên cứu ngôn ngữ, hình thành các khái niệm cơ bản dùng trong đề tài: trường nghĩa động vật, trường nghĩa động vật trong “quám chiến láng”, trường nghĩa gọi tên động vật, trường nghĩa bộ phận động vật, trường nghĩa hoạt động động vật
- Dựa vào qua hệ ngữ nghĩa, xác lập các tiểu trường nghĩa động vật trong
“quám chiến láng” đồng thời chỉ ra các giá trị biểu trưng của các tiểu trường nghĩa
Các tư liệu mà đề tài khai thác chủ yếu được lấy từ cuốn sách: Quán Vi
Miên (2010), Tục ngữ Thái: Giải nghĩa, Nxb Dân trí Đây là cuốn sách tập hợp
được nhiều câu tục ngữ Thái nhất hiện nay mà chúng tôi cập nhật được Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo một số tài liệu khác, có liên hệ, đối chiếu, so sánh với tục ngữ Việt và một số dân tộc thiểu số khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại: Dựa trên cơ sở ngữ liệu đã chọn, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê số lượng cụ thể các câu “quám chiến láng” có chứa hình ảnh động vật và phân chia chúng vào từng nhóm riêng
Trang 12- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Sau khi đã phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích mối quan hệ giữa ý nghĩa bản thể và ý nghĩa liên hội, nghĩa bề mặt ngôn từ với nghĩa biểu trưng
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để làm sáng tỏ những đặc trưng văn hóa của người Thái qua “quám chiến láng” có sự so sánh tục ngữ Việt
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng để phân tích ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái, từ đó rút ra những dặc điểm cơ bản về tư duy và bản sắc văn hóa của người Thái 6 Đóng góp của đề tài
Với đề tài này, chúng tôi dự kiến sẽ có những đóng góp sau:
6.1 Về lý luận
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu trước, chúng tôi mong muốn luận án sẽ góp phần bổ sung vào các kết quả nghiên cứu về trường nghĩa động vật và ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam Qua đó làm sáng tỏ những đặc trưng văn hóa của dân tộc Thái, quan niệm của người Thái về triết lý nhân sinh
Bổ sung cơ sở lý luận và tư liệu nghiên cứu cho công việc nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ ngôn ngữ
Kết quả nghiên cứu về “quám chiến láng” của dân tộc Thái sẽ giúp cho giảng viên và sinh viên, giáo viên và học sinh ở các tỉnh miền núi hiểu rõ hơn về ngôn ngữ của dân tộc Thái, có thể học tập cách tư duy, cách diễn đạt mang bản sắc riêng
Trang 13của dân tộc mình Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinh, sinh viên dân tộc Thái
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, Phần nội dung chính của đề tài dự kiến gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Trường nghĩa động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam
Trang 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1 1 Lý thuyết về trường nghĩa
1.1.1.1 Khái niệm trường nghĩa
Trường nghĩa còn được gọi là trường từ vựng được một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Đức và Thụy Sĩ đưa vào những năm 20 và 30 của thế kỉ XX
“Những tư tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ đã được phát triển trước đó Người ta nhắc đến W Humboldt như là người khởi xướng ra nó” [23,243] Năm 1896, M.M.Pokrovxki viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay sự trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa Chúng ta
đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc các từ giống nhau hoặc song hành với nhau sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau Chúng ta cũng biết rằng những từ này được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” [23,243]
Những nguyên lí của F.de Saussure, đặc biệt là luận điểm “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định” [55,243] và “chúng phải xuất phát từ cái nhìn toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà
nó chứa đựng” [6,244], thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành nên lí thuyết về các
trường nghĩa
J.Trier là người đầu tiên đưa thuật ngữ và khái niệm “trường” vào ngôn ngữ
học, đó là khái niệm trường khái niệm và trường từ Mỗi trường khái niệm là một tập hợp những khái niệm tương ứng với lĩnh vực thực tế và là kết quả của sự chia
cắt thực tế theo cách riêng của từng ngôn ngữ: “Mỗi ngôn ngữ phân chia thực tế theo cách của mình, do đó mà tạo ra cái nhìn của mình đối với thực tế và thiết lập nên những khái niệm riêng của mình” Mỗi trường khái niệm là một cấu trúc,
trong đó mỗi khái niệm bị quy định bởi những quan hệ với các khái niệm nằm
Trang 15trong cùng trường Mỗi trường khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm Trường từ là tập hợp các từ phủ lên một trường khái niệm J.Trier chia toàn bộ ngôn ngữ thành trường cấp cao, trường cấp cao chia thành
những trường cấp thấp hơn cho những từ riêng lẻ Những quan điểm của J.Trier cho rằng trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường giá trị của nó là quan hệ của nó với các từ khác quyết định [23,244] Theo J.Trier, sự thay đổi ý nghĩa của
một từ trong trường nghĩa kéo theo sựu thay đổi ngữ nghĩa của cùng một trường nghĩa kéo theo sự thay đổi ý nghĩa của các từ trong trường Ông đã tìm sự thống nhất giữa đồng đại và lịch đại bằng cách đưa phương pháp cấu trúc vào miêu tả sự biến đổi ngữ nghĩa của cùng một trường nghĩa trong những giai đoạn khác nhau Những quan điểm của J.Trier đã trở thành cơ sở cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
sau ông Ông được đánh giá là người đã “mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học” [23,244]
Một số nhà nghiên cứu khác như L.Weisgerber, J.Lyons… đã có những quan điểm bổ sung cho quan điểm lí thuyết của J.Trier Chú ý đến trường cấu tạo, L.Weisgerber cho rằng mỗi từ trong mỗi dãy từ là một tâm của một trường cấu tạo, trong đó, những từ cấu tạo bằng một yếu tố thống nhất nói chung có ý nghĩa giống
nhau Đỗ Hữu Châu cho rằng đó là một quan điểm rất đáng chú ý về các trường [23,245] J.Lyons đưa ra một định nghĩa về ý nghĩa của từ (sense) trong cuốn Nhập môn ngữ học: “Cái mà ta cho là ý nghĩa của một đơn vị từ vựng là toàn bộ tập hợp các quan hệ ý nghĩa giữa nó với các đơn vị khác trong từ vựng” [34,672] Với
quan niệm này, J.Lyons đã miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của các từ trong các hệ thống từ vựng bằng các quan hệ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa…
Nhìn chung, những quan điểm về trường nghĩa của các nhà nghiên cứu trên là những trường có tính chất đối vị, gọi tắt là trường trực tuyến (dọc), một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã có những quan niệm về trường nghĩa khác đi như Ipsen, Konradt – Hicking, Muller, W Porzig… W Porzig, nhà ngôn ngữ học người Đức
đề xuất lí thuyết trường nghĩa Theo đó, một từ nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi
đến những từ khác tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ Chẳng hạn, từ hát chỉ có thể
Trang 16liên tưởng đến con người, không thể nào liên tưởng đến nhiều đối tượng khác, từ hí gợi liên tưởng đến các loài ngựa, từ bay gợi liên tưởng đến đối tượng như chim, muỗi, dơi… (động vật biết bay) Có nghĩa là đi kèm với các động từ là các danh từ
chủ thể tương ứng, nếu không theo quy luật này tức là dùng từ theo lối chuyển nghĩa, chuyển từ vựng với một danh từ bổ ngữ phù hợp Vậy các từ có khả năng kết hợp với động từ, tính từ đã được ngầm định trong các động từ, tính từ trung tâm ấy Trên quan điểm ấy, W Porxig đã sắp xếp các từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau thành trường từ vựng – cú pháp Trường từ vựng được chia ra thành
“các từ ngữ nghĩa cơ bản” mà hạt nhân của nó bao giờ cũng là động từ hay tính
từ
Tóm lại, trường theo quan niệm của J.Trier là trường theo quan hệ dọc - trường trực tuyến - trường hệ thống, còn W Porzig là trường theo quan hệ hàng
ngang - trường tuyến tính - trường tập hợp (trường từ vựng cú pháp)
Lí thuyết về trường nghĩa được nghiên cứu ở Việt Nam từ những năm 70 của thế kỉ XX Trường nghĩa là đối tượng được nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến, tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Đỗ Việt Hùng,…
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống
từ vựng” (Tạp chí ngôn ngữ số 2, 1976) đã viết: Trường từ vựng là tổng hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa Quan niệm này
đã được tác giả đề cập lại trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”: “Tính hệ thống về
từ ngữ của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng
và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [22,171] Bằng
một số công trình nghiên cứu, Đỗ Hữu Châu đã góp phần xây dựng nề tảng cơ sở cho ngữ nghĩa học tiếng Việt Dựa vào những điểm chung giữa các từ, ông đã phân lập toàn bộ từ vựng tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và tìm ra những quan
Trang 17hệ giữa các từ trong từ vựng Ông đã chia trường nghĩa thành bốn loại trường biểu vật, trường biểu niệm, tường tuyến tính và trường liên tưởng
Tác giả Đỗ Việt Hùng trong “Nhập môn ngôn ngữ học” đã đưa ra quan niệm
về trường nghĩa: “Các đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa tổng hợp thành trường nghĩa” [34,227]
Từ vựng là tập hợp các từ và các đơn vị tương đương với từ của một ngôn ngữ Tuy nhiên, nó không phải là một tập hợp ngẫu nhiên giữa các đơn vị mà một
hệ thống với các mối quan hệ nhất định
Quan niệm về trường nghĩa mà chúng tôi trình bày trong đề tài này chủ yếu
dựa trên định nghĩa: “Trường nghĩa là một tổ chức các từ và các biến thể sử dụng
từ có quan hệ với nhau thành một hệ thống Hệ thống này cho thấy mối liên kết của chúng dựa theo một cái gì đó Ví dụ những từ thân tộc như father, mother, brother, sister, uncle, aunt đều thuộc vào trường nghĩa thân tộc chỉ các thành viên trong gia đình, hạt nhân được xác lập dựa trên căn cứ về thế hệ, giới tính,cả bên nội lẫn bên ngoại và định nghĩa mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [22,171]
1.1.1.2 Cơ sở xác lập trường và tiểu trường
Việc phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng ngữ nghĩa
là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng mặt ngữ nghĩa Bên cạnh đó, việc tìm ra hệ thống, cấu trúc là để tìm ra và giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình
sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Hoạt động này bao gồm cả sự chiếu vật
và sự kết hợp ngữ nghĩa giữa các từ về mặt cú pháp Việc phân định và xác lập một
trường nghĩa theo Đỗ Hữu Châu về cơ bản có những tiêu chí sau: “Các trường nghĩa từ vựng – ngữ nghĩa là những sự kiện ngôn ngữ cho nên tiêu chí để phân lập chúng phải là tiêu chí ngôn ngữ Cơ sở để phân lập trường là ý nghĩa của
từ, tức là những ý nghĩa ngôn ngữ” [23,252] Ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý
nghĩa của từ, cơ sở để tập hợp các từ thành trường Từ mang tư cách từ vị
Trang 18(lexemme), được xét trong các mối quan hệ: hệ hình, cú đoạn, phái sinh ngữ nghĩa
“Để xác lập được một trường từ vựng- ngữ nghĩa, chúng ta sẽ tìm ra các trường hợp điển hình, tức những trường hợp mang và chỉ mang được cái đặc trưng
từ vựng- ngữ nghĩa của từ, cơ sở Những từ điển hình cho trường lập thành tâm của trường” [23,254] Ví dụ các từ sủa, kêu, hú, hí, gầm… là các trường hợp điển hình cho trường động vật; các từ: hiền, ác, dữ… là các trường hợp kém điển hình
cho trường động vật, bởi ngoài trường động vật chúng có thể đi vào trường con người Theo tiêu chí này, chúng ta thấy rằng ranh giới của trường nghĩa chỉ có tính chất tương đối, có thể độc lập hoặc giao nhau, bao hàm nhau, có các trường hợp điển hình (trung tâm) và có các trường hợp kém điển hình (ngoại vi)
Dựa vào các lớp ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm, cần có sự phân biệt giữa trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm (gọi tắt là trường biểu niệm hay trường nghĩa vị)
“Tiêu chí để xác lập các trường biểu vật chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu vật, như người, động vật, thực vật… các nét nghĩa phạm trù khác sẽ được sử dụng để phân lập các trường lớn thành các trường bộ phận theo các cấp loại khác nhau” [23,256] Còn với trường biểu niệm, tiêu chí xác lập trường cũng chỉ là sự
đồng nhất ở cấu trúc biểu niệm Ví dụ: Dựa vào nét nghĩa phạm trù (hoạt dộng A
tác động vào X) (X rời chỗ) có thể tập hợp được các từ: ném, hất, quăng, vất, lao, phóng , tung, lôi, kéo…
Để phân biệt lập trường tuyến tính của một từ, cần dự hẳn vào cấu trúc ngữ nghĩa của từ đó [23,257] Nguyên tắc xác lập tuyến tính như sau: Chọn một từ làm
từ trung tâm, sau đó tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Ví dụ, các từ nằm trong
trường tuyên tính của từ học: văn, toán chăm, lười, thông minh, dốt…
Cơ sở để xác lập trường liên tưởng là các nghĩa ngữ dụng của từ trung tâm
Đó là những nghĩa mới được tạo ra khi nó chưa đi vào hệ thống Từ trung tâm khi cùng xuất hiện với hàng loạt từ nào đấy trong nhiều ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện
Trang 19tượng đẳng cấu ngữ nghĩa Khi đó, chúng sẽ tạo thành một trường nghĩa liên tưởng
mà các từ có quan hệ với nhau nhờ những mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó Ví dụ,
khi có từ ruộng thì có thể liên tưởng tới người nông dân, cày, bừa, cấy, gặt…
là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi danh từ trên”
[22,172]
Ví dụ: Chọn từ lúa làm gốc có thể thu nhập được cá từ đồng nhất về phạm vi biểu vật với từ lúa như lúa tẻ, lúa nếp, lúa chiêm, lúa mùa…
- Lúa tẻ: lúa tám, lúa giẻ, sài đường, bông vang…
- Lúa nếp: nếp cái, nếp ả Nếp Màng Màng, Nếp Đông Trầu…
Các trường biểu vật rất khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức các đơn vị, các miền phân bố ở từng ngôn ngữ Ví dụ, tiếng Việt có nhiều từ biểu thị các bộ
phận khác nhau của lúa như thóc, gạo, tấm, cám, trấu, mẳn… như trong tiếng Anh chỉ có từ rice Từ có thể nhiều nghĩa biểu vật nên một từ có thể nằm trong nhiều
trường nghĩa khác nhau Các trường biểu vật có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cùng có lõi trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi Quan hệ của các từ ngữ đối với một trường biểu vật không giống nhau, có những từ gắn bó rất chặt chẽ, có những lớp từ gắn bó lỏng lẻo Chẳng hạn, các từ trong trường chỉ tính chất
trí tuệ như: thông minh, nhanh trí, sáng suốt, ngu,dốt… gợi liên tưởng đến là điển
Trang 20hình cho trường người: còn các từ trong trường chỉ tính chất ngoại hình như cao thấp, xấu, đẹp… là những từ ở lớp ngoại vi của trường người vì chúng có thể đi vào các trường động vật, thực vật
Trường nghĩa biểu vật không chỉ có danh từ mà còn bao gồm động từ, tính từ,
trạng từ,… Ví dụ các từ trong trường chỉ đặc điểm của lúa: Lốp, thui, sây, von, năn, lép, dẹp, chắc, mẩy là tính từ Các từ trong trường chỉ hoạt động trồng lúa: ngâm, gieo, sạ, vãi, rắc, cấy… là động từ Các từ loại này biểu hiện các phương
diện khác nhưng đều liên quan đến phạm vi biểu vật thuộc trường biểu vật nào đó
b Trường nghĩa biểu niệm
Căn cứ để phân lập các trường biểu hiện là các ý nghĩa biểu niệm của từ Đỗ
Hữu Châu quan niệm “Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm” [22,178]
Ví dụ: Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (thay thế hoặc tăng cường thao
tác lao động) (cầm tay)
Dụng cụ chia cắt: dao, cưa, búa, rìu, liềm, hái…
Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, dui, khoan…
Dụng cụ để nện, gõ: búa, vồ,đầm,dùi đục, đùi cui…
Dụng cụ để đánh bắt: lưới, nơm Đăng ,đó, cần câu, vó…
Dụng cụ để mài, giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp…
Dụng cụ để kìm giữ: Kìm kẹp, néo, móc…
Dụng cụ để xới đất: cày, cuốc, thuổng, mai, xẻng, bừa, cào…
Dụng cụ để lấy, múc: thìa, đũa, muôi, gáo…
………
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những “ miền” với mật độ khác nhau,
Trang 21Do hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau Vì vậy cũng giống như những trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở những lớp kế cận chung, những từ ở lớp ngoại vi
Ví dụ: Trường biểu niệm (hoạt động tác động đến X) (làm cho X có tình trạng
Y) Đây là một trường lớn, căn cứ vào Y có thể chia thành những trường nhỏ, như:
1 Làm cho X động (tĩnh – động) hoặc tĩnh (động – tĩnh)
X động hay tĩnh tại chỗ một cách cơ giới: rung, lay, lắc, lung lay
X dời chỗ hoặc dừng lại một cách cơ giới: đẩy, xô, ném, lao, giật, bẩy, xoay, quay…hãm, thắng, phanh, dừng…
X là thiết bị cơ khí: khởi động, nổ, máy, tắt, hãm, đóng…
X là trạng thái tâm lí: thức, đánh thức, thức tỉnh, khiêu gọi…
2 Làm cho X có nhưng biến đổi bản thân : co, dãn, căng, mở, đóng, khép, bẹp ,xẹp, phình…tăng, giảm…
3 X bị chia cắt phá vỡ hoặc liền lại, hoặc kết nối với một X khác: phân chia, phân tích, phân lập, tách… cắt, chặt, thái, bẻ… nối, vá, gài, dán, dính, liên kết, ghét…
4 X bị chết hoặc mất đi: giết, ám sát, sát hại, diệt, tiêu diệt… cắt, giấu
………
c Trường nghĩa tuyến tính
Cơ sở để xác nhận lập trường tuyến tính là mối quan hệ trên trục ngữ đoạn của các đơn vị ngôn ngữ Để lập nên các trường tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm ra những từ có thể liên kết hợp với nó thành một chuỗi tuyến tính (cụm, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Ví dụ: Trường tuyến tính của từ tay là búp măng, mềm, ấm, lạnh, cầm, nắm, khoác…
Trang 22Vì vậy, các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với
từ trung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó
Ví dụ: Trường tuyến tính từ chạy thường gặp là các từ chỉ nơi chốn: ngoài sân, trong nhà, trong làng, trên đường; các từ chỉ thời gian: năm phút, một tiếng….; các từ chỉ vận tốc: nhanh, chậm, một trăm mét, tám trăm mét… và không
có các từ chỉ “màu sắc”
Cùng các trường nghĩa dọc, trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, các trường tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại những điểm hoạt động của từ
ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm
Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Song trong trường liên tưởng còn khá nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời nhất, lặp
đi lặp lại, điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và
Trang 231.1.2 Hiện tượng chuyển nghĩa và chuyển trường
1.1.2.1 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Để giao tiếp được bằng ngôn ngữ, con người phải tri nhận được cả mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của từ Cùng một hình thức ngữ âm, người sử dụng có thể diễn đạt được nhiều nội dung khác nhau Đó là hiện tượng từ có nhiều nghĩa Hiện tượng từ có nhiều nghĩa là hiện tượng phổ biến ở tất cả ngôn ngữ trên thế giới
Lúc mới xuất hiện, các từ đều chỉ có một nghĩa biểu vật Khi được đưa vào sử dụng một thời gian, từ có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Tác giả Bùi Minh
Toán đã viết: “Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi” [30,46] Chẳng hạn, ba từ đầm đồng âm vốn có ba nghĩa biểu vật, ứng với ba cấu trúc biểu niệm: (đàn bà, con gái phương tây)(sự vật, khoảng trũng to và sâu giữa đồng để giữ nước như trong đầm đẹp gì bằng sen…) và (sự vật, dụng cụ gồm một vật nặng có cán, dùng để nệm đất cho chặt) Mỗi từ đầm xuất hiện thêm các nghĩa biểu vật mới: đồ dùng dành cho phụ
nữ thì được gọi là đầm, ví đầm; làm chặt đất hoặc vật liệu bằng áp lực bề mặt (đầm đất) hoặc bằng chấn động (đầm bê tông); ngâm mình lâu trong nước hoặc thấm ướt nhiều cũng gọi là đầm trong đầm mình dưới nước, lấm như trâu đầm, mái tóc đầm sương;… Có tác dụng gây cảm giác ấm cúng do quan hệ gần gũi thương yêu trong cảnh gia đình đầm ấm; ướt nhiều đến sũng nước trong đầm đìa nước mắt, mồ hôi vã ra đầm đìa…
Khi chuyển biến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật ban đầu của từ không còn nữa
Chẳng hạn như đăm (trái), chiêu (phải): chân đăm đá chân chiêu thành đăm chiêu (trạng thái suy nghĩ) Từ vố ban đầu có nghĩa là búa dùng để điều khiển voi, hiện nay có nghĩa là một sự tổn thất, thiệt hại, phải chịu đựng trong cụm từ cho một vố
Nhưng thông thường thì cả nghĩa ban đầu và các nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động Trong quá trình chuyển nghĩa, có những biến đổi nghĩa mang tính chất
ổn định, được xã hội thừa nhận và sử dụng “Sự chuyển biến nghĩa này có thể mãi
Trang 24mãi trong phạm vi cá nhân nhưng cũng có thể là sự khởi đầu cho việc hình thành các nghĩa mới nếu được xã hội chấp nhận và sử dụng” [30,102]
Sự chuyển biến đổi nghĩa của từ thường diễn ra theo những quy tắc chung
Phần lớn các trường hợp của từ chuyển biến theo phương thức “tỏa ra” nghĩa là các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện [22,147]
Từ chín vốn chỉ một đặc điểm của trái cây đã đến thời kì phát triển cao nhất, chín đối lập với xanh: quả chín, lúa chín, hồng chín… Nhưng từ chín lại được
chuyển thành một số các nghĩa mới:
- Nấu thức ăn đến lúc ăn được: cơm chín, thịt chín…
- Vá săm, lốp xe có dùng lửa: vá chín
- Suy nghĩ kĩ càng, đầy đủ: Nghĩa đã chín mới nói
- Kĩ năng, kĩ xảo thành thục: Tài năng đã chín
- Mâu thuẫn phát triển đến cao độ cần được giải quyết: tình hình xung đột đã chín lắm rồi
- Trạng thái hổ thẹn cao độ, làm da mặt đỏ rực: Ngượng chín cả người: đôi
má chín như quả bồ quân
Tất cả các nghĩa mới xuất hiện đều có cơ sở từ nghĩa ban đầu Giữa nghĩa gốc
và các nghĩa mới bao giờ cũng duy trì một nét nghĩa chung Nét nghĩa chung đó chính là cơ sở cho sự chuyển nghĩa của từ và là cơ sở cho sự lĩnh hội các nghĩa chuyển của từ Đồng thời sự chuyển biến ý nghĩa theo hướng này thể hiện rõ tính
hệ thống của ngôn ngữ
Trong quá trình chuyển nghĩa, “Các từ có nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng giống nhau” [22,148]
Ta thấy từ chín đã dẫn ở trên có thế dùng để chỉ kĩ năng, kĩ xảo thì các từ
cùng phạm vi biểu vật như non, xanh, già, ương… cũng chuyển sang phạm vi này như thủ đoạn còn non lắm; nói điều rằng buộc thì tay cũng già; trình độ còn ương lắm; bước nhảy của em xanh lắm
Trang 25Tuy nhiên sự chuyển biến ý nghĩa của các từ có ý nghĩa biểu vật cùng một phạm vi hoặc ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc xét về tính đồng hướng là
không có tính tuyệt đối
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn với nghĩa vốn có từ trước Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển biến nghĩa khiến
cho từ trở thành đồng nghĩa với các từ trái nghĩa trước kia của nó
Chẳng hạn, từ đứng vốn trái nghĩa với từ chạy Nhưng do sự chuyển nghĩa, từ đứng mang nghĩa điều khiển máy trong câu Chị công nhân đứng 20 máy một ca Câu trên tương đương với câu Chị công nhân chạy 20 máy một ca Ở nghĩa này từ đứng đồng nghĩa với từ chạy
Khi các nghĩa chuyển biến còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa có thể làm cho ý nghĩa của từ được mở rộng ra hoặc thu hẹp lại so với nghĩa gốc Nghĩa của
từ mở rộng tức là nói đến tính khái quát của từ tăng lên, các nét nghĩa của thể, quy
định phạm vi biểu vật bị mờ nhạt hoặc bị loại bỏ
Ví dụ: Từ hồ ban dầu chỉ bột quấy đặc để ăn trong câu tục ngữ có bột mới gột nên mặt hồ Nghĩa này hiện ít được sử dụng Nghĩa ban dầu biến nó thường được dùng là bột quấy đặc để dán Nghĩa ban đầu của từ hồ được chuyển sang động từ dùng cháo nấu bằng gạo để làm cứng sợi vải trong hồ vải Chuyển nghĩa theo phương thức móc xích, nghĩa này được sử dụng để chỉ việc dùng các chất keo nói chung làm cho các chất liệu thêm cứng sợi như trong hồ thuốc lào và để chỉ việc dùng chất có màu làm tăng độ trắng cho quần áo trong hồ lơ Như vậy, nghĩa của
từ hồ đã được mở rộng Khi mở rộng nét nghĩa chỉ chất liệu bột hoặc gạo nấu cháo loãng đã bị mất hoặc không còn được chú ý nữa
Nghĩa của từ bị thu hẹp thường kèm với sự cụ thể hóa ý nghĩa, đi kèm với
việc tăng thêm những nét nghĩa cụ thể, quy định phạm vi biểu vật của từ
Từ tổ chức có nghĩa rộng chỉ làm thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, đi
kèm cấu trúc với những chức năng chung nhất định; làm cho thành có trật tự, có
nề nếp; làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nhằm đạt hiệu quả tốt: làm công tác tổ chức ở một cơ quan và công tác tổ chức cán bộ;…Nhưng khi sử
Trang 26dụng từ tổ chức vào câu: Hai anh chị dự định sẽ tổ chức vào cuối năm thì tổ chức
ở đây chỉ có nghĩa là tổ chức lễ cưới Nghĩa của từ tổ chức đã bị thu hẹp lại
Khi chuyển nghĩa, ý nghĩa biểu thái của từ có thể bị thay đổi theo hướng xấu
đi hoặc tốt lên
Từ mò vốn có nghĩa chỉ việc sờ tìm không thể thấy được (thường là trong bóng tối) như: mò cua bắt ốc; tối quá, không biết đường nào mà mò; ruộng ngập sâu, phải gặt mò Nét nghĩa này mang sắc thái trung hòa Nhưng khi nghe nói: tối nào nó cũng mò mặt đi chơi; kẻ gian mò mặt vào nhà; lão tối nào cũng mò sang nhà mụ ta thì từ mò ở những trường hợp này có nghĩa là tìm đến một cái không đàng hoàng…
Sự chuyển biến nghĩa còn có tác dụng làm đa dạng cách diễn đạt, tức làm cho
một từ mang nghĩa của từ khác Ví dụ: Con xe này còn ngon lắm Từ con có thêm nghĩa của từ cái Từ ngon có thêm nghĩa của từ tốt
Sự chuyển biến nghĩa có nhiều động lực thúc đẩy nhưng chủ yếu vẫn là nhu cầu giao tiếp của con người đặt ra Có những nhu cầu chủ yếu vẫn là nhu cầu về mặt tu từ Ngôn ngữ luôn đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới
để biểu thị những sự vật hiện tượng mới và nhận thức mới xuất hiện trong xã hội,
để thay thế những tên gọi cũ, cách diễn đạt cũ đã sáo mòn, ít khả năng gợi tả, bộc
lộ cảm xúc và không gây ấn tượng sâu sắc người nghe Thay thế nghĩa vốn có của
từ, thổi vào chúng những luồng sinh khí mới là một biện pháp làm cho ngôn ngữ
sống động hơn, giàu có hơn
1.1.2.1 Hiện tượng chuyển trường nghĩa
Cơ sở để xác định tính nhiều nghĩa của từ chính là khả năng đi vào nhiều trường nghĩa khác nhau của nó Tính nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của
từ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với hiện tượng chuyển trường giữa các trường
từ vựng ngữ nghĩa
Trong các trường từ vựng ngữ nghĩa, các từ trong cùng một trường thường chuyển nghĩa theo cùng một hướng Khi chuyển nghĩa, các từ trong cùng một
Trang 27trường từ vựng ngữ nghĩa thường đồng loạt chuyển sang một trường từ vựng ngữ
nghĩa khác Chẳng hạn, những từ trong trường chỉ thực vật khi chuyển nghĩa, chúng sẽ dồng loạt chuyển sang gọi các bộ phận cơ thể người như lá gan, lá lách,
lá phổi, quả tim, quả thận, cuống gan, cuống mật, hoa tay…Hoặc các từ chỉ bộ
phận cơ thể người khi chuyển nghĩa sẽ đồng loạt chuyển sang gọi các bộ phận của
đồ vật như đầu nhà, đầu bàn, cổ chai, cổ áo, nách tường, tay áo, chân bàn, chân núi…
Tuy nhiên hiện tượng chuyển nghĩa không phải lúc nào cũng đi cùng với hiện tượng chuyển trường sự chuyển biến ý nghĩa của từ có thể dẫn đến hiện tượng chuyển trường hoặc không dẫn đến hiện tượng chuyển trường Bởi sự chuyển biến
ý nghĩa của các từ có ý nghĩa biểu vật cùng một phạm vi hoặc một ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc xét về tính đồng hướng là không có tính tuyệt đối
Trường hợp sự chuyển biến ý nghĩa của từ không dẫn đến hiện tượng chuyển trường khi từ chuyển nghĩa nhưng cả nghĩa gốc và nghĩa chuyển vẫn cùng một
trường từ vựng ngữ nghĩa Ví dụ, từ nhạt trong canh nhạt thì nhạt là vị thức ăn ít muối, trái nghĩa với; còn nhạt trong quả dưa nhạt thì nhạt lại trái nghĩa với từ ngọt
Nhưng cả hai trường hợp sử dụng từ nhạt đều thuộc trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ
vị giác mặc dù ý nghĩa của nó có sự chuyển biến
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ dẫn đến hiện tượng chuyển trường diễn ra phổ biến hơn trong hệ thống ngôn ngữ Hầu hết các từ khi chuyển sang một nghĩa mới thì cũng đồng thời chuyển sang một trường từ vựng ngữ nghĩa mới Vậy, các từ ngữ có thể chuyển từ trường từ vựng ngữ nghĩa này sang trường từ vựng ngữ nghĩa
khác Chẳng hạn, từ đầu là một từ nhiều nghĩa, mỗi lần chuyển biến nghĩa cũng
đồng thời chuyển sang một trường từ vựng ngữ nghĩa mới:
- Ban đầu đầu chỉ một bộ phận trên cùng, trước tiên của con người hoặc động
vật, chứa bộ não, có chức năng điều khiển hoạt động của con người hay động vật
Với nét nghĩa này, từ đầu thuộc trường con người hoặc động vật
- Chỉ một bộ phận trước tiên, trên cùng của sự vật: đầu bàn, đầu ghế, đầu nhà, đầu tường, đầu gậy, đầu xe …Từ đầu thuộc trường đồ vật
Trang 28- Chỉ không gian, vị trí trước nhất: đầu làng, đầu chợ, đầu sông, đầu đường…Từ đầu thuộc trường không gian
- Chỉ thời gian trước tiên: đầu năm, đầu tháng, đầu tuần, đầu ngày… Từ đầu
thuộc trường thời gian
- Chỗ bắt đầu của sự việc: đầu bài, đầu cuộc họp, đầu câu chuyện… Từ đầu
thuộc trường sự việc
Sự chuyển biến ý nghĩa dẫn đến hiện tượng chuyển trường của từ giúp các từ
có thể chuyển đổi linh hoạt, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ trường từ vựng ngữ nghĩa này sang trường từ vựng nghĩa khác Hiện tượng chuyển trường thể hiện mối quan hệ giữa các từ ngữ trong cùng một trường hoặc quan hệ giữa các trường
từ vựng ngữ nghĩa Ngoài ra, nó còn cho thấy sự biến đổi của ngôn ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu phản ánh thế giới tự nhiên xã hội, con người ngày càng đa dạng và phong phú
Sự chuyển nghĩa của từ, hiện tượng chuyển trường không những làm giàu vốn
từ vựng của hệ thống ngôn ngữ, đáp ứng nhu cầu phong phú của con người trong hoạt động giao tiếp mà còn góp làm tăng thêm khả năng diễn đạt sức biểu cảm của
từ ngữ Khi từ chuyển trường thì bên cạnh cái nghĩa riêng của từ, từ còn mang thêm cả những ấn tượng, cả những liên tưởng của trường cũ sang trường mới, làm cho trường mới cũng có những ấn tượng, liên tưởng của trường cũ
Trong văn học, việc dùng từ ngữ theo lối chuyển biến ý nghĩa hay chuyển trường góp phần thể hiện sự kì diệu của ngôn ngữ, khả năng vận dụng và sáng tạo ngôn từ của các tác giả
1.2 Cơ sở văn hóa học
1.2.1 Lịch sử dân tộc Thái
Dân tộc Thái thuộc ngành phía Tây của nhóm các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tày – Thái, trong ngữ hệ Nam – Thái (Austro – Thái), tức là Thái – Kađai (cách gọi dựa theo ý kiến của nhà nghiên cứu D.Bradley) Trước thời gian công bố danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam (2/3/1979), các nhà khoa học đã xếp ngôn
Trang 29ngữ Thái vào hệ Hán - Tạng (cách gọi dựa theo ý kiến của học giả người Pháp H.Maspéro) [64, tr.16] Khu vực sinh sống của họ được phân bố rộng rãi ở vùng thung lũng dọc theo các con sông lớn từ phía Nam sông Dương Tử đến Mékông, Ménam, Irrwaddy, sông Hồng, trong khu vực Bắc Đông Dương, tạo thành một vành đai khổng lồ kéo dài từ phía Đông đến phía Tây vùng Assam Ấn Độ Theo nhà nghiên cứu Cầm Trọng thì lịch sử các cộng đồng Thái diễn biến theo quy luật không ngừng định cư và cũng liên tục di cư Có một số điểm định cư phát triển mạnh hình thành nên nhiều vùng đất trung tâm [66, tr.18] nhưng sớm nhất là vùng đất được coi là nơi cư trú đầu tiên của tổ tiên tộc Thái là một vùng miền rộng lớn:
từ miền Nam Vân Nam, Trung Quốc cho đến Mường Then (Mường Thanh), Việt Nam
Xét về nguồn gốc sâu xa, trong mối quan hệ với tộc Thái các quốc gia khác, cần phải chú ý tới lịch sử hình thành và quá trình thiên di của người Thái ở Đông Nam Á Từ góc độ văn hóa, khu vực Đông Nam Á bao gồm các quốc gia phần lục địa: Lào, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Malaixia và các vùng: Nam Trung Quốc, vùng núi phía bắc Ấn Độ và Bangdalet [132, tr.8] Quá trình hình thành phát triển ở khu vực này được chia làm 3 thời kì lớn: thời kì hình thành các vương quốc
cổ (từ thời nguyên thủy đến thế kỉ X), thời kì xác lập và phát triển thịnh đạt của các quốc gia dân tộc (thế kỉ X đến thế kỉ XV) và thời kì suy thoái (thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XIX) [43, tr.23] Nội dung truyện thơ Thái phản ánh liên quan đến thời
kì lịch sử thứ ba Do đề tài có đề cập đến tư tưởng, văn hóa Thái – những vấn đề hình thành có tính chất bản tộc nên chúng tôi xin trình bày sơ lược về quá trình hình thành, thiên di và định cư của người Thái
Phần lớn các công trình nghiên cứu lịch sử tộc người Thái đều trên cơ sở
tổng kết những truyền thuyết, sử thi lưu truyền trong dân gian Trong cuốn Lịch sử Lào, tác giả M.L.Manich viết: „quê hương của người Thái ở vùng núi Altai Họ
dần di chuyển đến sông Hoàng Hà và sau đó là sông Trường Giang Lúc đó khoảng
5000 năm TCN” Trong sách Tư liệu và lịch sử xã hội dân tộc Thái, Đặng Nghiêm
Vạn, Cầm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim Ân nhấn mạnh: “Có thể trong thiên niên kỉ thứ I trước Công nguyên, tổ tiên họ bắt nguồn từ các nhóm Việt sinh tụ chủ
Trang 30yếu ở miền Nam sông Dương Tử (thuộc ba tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu) tách khỏi ngành phía đông thiên di theo hướng tây – nam vào miền nam tỉnh Vân Nam và miền tây Đông Nam Á dọc theo các con sông lớn đổ xuống châu thổ miền Đông Nam Á và những chi nhánh của các con sông đó Cùng lúc đó, họ gặp phải cuộc thiên di của các nhóm tổ tiên các cư dân thuộc ngôn ngữ Tạng – Miến từ vùng Trung Á và Tây Trung Quốc tràn về… Đến thế kỉ thứ V sau Công nguyên,
họ đã lập được một loạt “nhà nước” suốt từ thượng lưu sông Irauadi, sông Saluen, sông Mekong đến tận miền giáp giới tỉnh Vân Nam” [68, tr.25]
Cách đây khoảng 1200 năm, khi bị người Hán, người Việt ở phía đông bắc dồn ép, người Thái dần di cư về phía nam và tây nam lãnh thổ Trung Hoa “đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIII” [65, tr.89]
Người Thái Việt Nam chia thành hai nhóm chính, gồm Tay Khao (Thái Trắng), Tay Đăm (Thái Đen) Khi định cư, người Thái thiết lập, tổ chức xã hội khá chặt chẽ theo hình thái ý thức hệ phong kiến Sử sách Việt Nam ghi rõ: thời các vua Hùng dựng nước chia nước ta thành 15 bộ, Tây Bắc nằm trong bộ Tân Hưng Đến nhà Lý, năm 1067, người Thái cư trú ở đạo Đà Giang đã lần đầu tiên triều cống Ở thế kỉ XIII, vị tộc trưởng Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà Trần, bị đánh bại năm 1280 Xứ Thái đặt dưới quyền quản lí trực tiếp của quan quân nhà Trần Năm 1337, lãnh tụ Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Thái sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, đổi tên thành Mường Lễ, Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) giao cho họ Đèo cai quản Năm 1431, lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mường Lễ nổi lên chống lại triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai), Gia Hưng (giữa sông Đà và sông Mã) rồi lập nên những trung tâm văn hóa riêng người Thái, bao gồm Mường Muổi (Thuận Châu ngày nay), Mường La
(thành phố Sơn La và khu vực huyện Mường La ngày nay) Trong Dư địa chí,
Nguyễn Trãi chỉ rõ “Hưng Hóa xưa thuộc bộ Gia Hưng, bao gồm 16 châu Thái Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập gồm 3 phủ: Gia Hưng, Qui Hóa, An Tây Trong phủ Gia Hưng có một số châu huyện thuộc vùng đất Sơn La ngày nay như châu Phù Hoa, châu Mộc, châu Việt, châu Thuận, châu Quỳnh Nhai” [66, tr.7] Đến triều Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX), Tây Bắc được gọi là vùng thập châu
Trang 31thuộc tỉnh Hưng Hóa Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễn kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Đà thành phủ Điện Biên
Ngày nay, tộc người Thái có dân số khá đông Theo số liệu điều tra dân số và
nhà ở công bố năm 2009 của Tổng cục Thống kê thì dân tộc Thái có khoảng 1.550.423 người, là dân tộc có số dân đông đứng thứ ba tại Việt Nam, cư trú tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An (số lượng người Thái tại 8 tỉnh này chiếm 97,6 % tổng số người Thái ở Việt Nam) Trong đó, người Thái tại Sơn La có 572.441 người (53,2
% dân số toàn tỉnh và 36,9 % tổng số người Thái ở Việt Nam), Nghệ An có 295.132 người (10,1 % dân số toàn tỉnh), Thanh Hóa có 225.336 người (6,6 % dân
số toàn tỉnh), Lai Châu có 119.805 người (chiếm 32,3 % dân số toàn tỉnh), Điện Biên có 186.270 người (chiếm 38,0 % dân số toàn tỉnh)
1.2.2 Cấu trúc xã hội của dân tộc Thái
- Về kinh tế
Người Thái sinh sống trên địa bàn miền núi, địa hình sản xuất chủ yếu là nương rẫy Nghề canh tác lúa nước, các loại cây như ngô, sắn… làm lương thực thực phẩm trong gia đình và thức ăn cho vài vật nuôi trong nhà Ngày nay, thế mạnh kinh tế vùng là khai thác, chế biến khoáng sản và thủy điện, cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc
Nghề trồng lúa nước vốn được coi là người bạn chung thủy, gắn bó với mỗi gia đình dân tộc Thái Hiện nay, trước tác động của nền kinh tế thị trường, nghề trồng lúa nước không còn giữ vai trò quan trọng trong đồng bào Thái nhưng phần lớn các gia đình vẫn duy trì nghề này Hệ thống thủy lợi trước kia là “mương, phai, lái, lin” (khai mương, đắp đập, dẫn nước qua các vật chướng ngại, đặt máng) đã được gia công theo phương pháp hiện đại Đây là phương thức sống có ảnh hưởng lớn đến tư duy nghệ thuật của người Thái
- Về kết cấu giai tầng xã hội
Trang 32Tổ chức xã hội trong gia đình Thái được cơ cấu theo đơn vị bản – mường, quan
hệ giai cấp dựa trên chế độ ruộng đất, khá giống quan hệ giai cấp của dân tộc Kinh
Trước Cách mạng tháng Tám, tộc Thái chia thành hai tầng lớp Bộ máy cai
trị hàng châu của Thái Đen ở Tây Bắc khá cồng kềnh bao gồm các chức dịch: pha nha, mo lang, chang Họ nắm toàn bộ lợi tức của châu và có quy định rất rõ ràng trong luật tục Giai cấp bị trị là cuông nhốc Trong sách Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái [156, tr.358] ghi rõ: An nha là chủ (dệt cốc), có thư lại, thông lại ở
trong nhà quan Mỗi mường có hai phìa: phìa lí, phìa phó trông nom dân mường
Có 8 ông kí lục từ chức sen hay pằn cho đến chức ông chá hươn, có ông mo, ông
nghe, ông chang giúp việc Phần lợi quy định cho an nha, phìa và các chức dịch như sau: An nha ăn mười mẫu ruộng, mỗi mẫu dân làm phải nộp một tạ thóc, ngoài
ra an nha còn được hưởng lợi từ “nô lệ” là cuông nhốc của 9 bản người Thái và 7 bản cuông nhốc người Xá Thư lại được hưởng lợi là 6 mẫu ruộng và 3 bản cuông nhốc Thái, 3 bản cuông nhốc Xá, phìa lí ăn 5 mẫu ruộng và 3 bản cuông nhốc Thái
Trang 33- Về hôn nhân
Với hôn nhân, trước đây, chế độ phong kiến phìa tạo, thị tộc mẫu hệ chi
phối thì việc hôn nhân phải được hai gia đình cho phép và diễn ra theo hai khía cạnh: hôn nhân phải môn đăng hộ đối; hôn nhân cư trú bên nhà vợ (tục ở quản) Đây là nguyên nhân dẫn đến chế độ hôn nhân gả bán Người Thái có tục ở rể, vài
ba năm, sau khi vợ chồng sinh con mới về ở bên nhà chồng
- Về tín ngưỡng
Về tín ngưỡng, người Thái gắn vương quyền với thần quyền Tầng lớp an nha mang dòng dõi Then Luông (tức dòng dõi nhà trời) được cử xuống cai quản bản mường nên động đến an nha là động đến trời Họ theo nếp sống đa thần, tất cả
trên trời dưới nước đều có ma cai quản Tại các gia đình Thái có bàn thờ gọi là bàn
thờ thổ địa và có cả lễ hội xên bản xên mường Người Thái quan niệm con người
có ba loại hồn gọi là khuôn: khi chết ba hồn ấy chia ra thành: khuôn đầu thành phi
ma bay lên trời, khuôn thân thể thành phi ở mường pú pẩu (nơi bìa rừng), khuôn tứ chi thành một phi ma nhà sống quanh quẩn bên bàn thờ tổ tiên Ma đầu khi lên trời lại chia thành ba cấp: ma an nha, ma phìa tạo (chân tay của an nha), ma bình dân
(ở tầng thấp nhất) Ngoài ra, người Thái quan niệm, chết là tiếp tục sống ở thế giới bên kia Theo đó, đám ma là lễ tiễn đưa người chết về mường trời Chính vì không thờ, không theo một tôn giáo chính thống, cụ thể nào nên có ý kiến cho rằng người Thái theo Saman giáo
1.2.3 Văn tự, văn học của dân tộc Thái
- Về văn tự
Đề cập tới loại hình nghệ thuật ngôn từ, thiết nghĩ cần phải chú ý tới phương diện ngôn ngữ văn tự - chất liệu tạo nên các sáng tác văn học Theo nhà nghiên cứu Trần Trí Dõi thì, cho đến nay trên lãnh thổ Việt Nam có 7 dân tộc có chữ viết cổ bao gồm: Khơme, Chăm, Lào, Tày, Nùng, Dao và Thái
Dân tộc Thái không chỉ có ngôn ngữ mà đã có văn tự từ lâu đời Do điều kiện tư liệu cụ thể nghiên cứu về lịch sử dân tộc này còn hạn chế nên cho đến nay vấn đề nguồn gốc văn tự Thái vẫn đang gây nhiều tranh cãi Hiện có hai cách kiến giải về thời điểm xuất hiện như sau:
Trang 34Nếu theo “quám tô mương” thì từ lúc người Thái Đen xuất hiện ở Mường Ôm,
Mường Ai đã có chữ viết Dưới đây là một đoạn trích ghi nguyên văn như sau:
“Then cho tạo Tum Hoang về làm chủ đất Năm Lai Nong Xe, làm chủ đất đầu sông Đà, sông Nậm Na (chỉ lưu vực sông Đà phát nguyên từ miền Tây Bắc tỉnh Vân Nam,Trung Quốc), sông Thao nước đỏ Từ đó tạo Tum Hoang - con rể Then mới đưa hai anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống ăn đất Mường Ôm, Mường
Ai ngoài vòm trời Hai Tạo được Then cho 8 quả bầu […] 550 giống người Thái đưa từ trời xuống mặt đất Then đã bỏ trong quả bầu đủ thứ - có 330 giống lúa dưới ruộng, 330 giống cá dưới nước; có cả sách nhà mo, nhà một, sách bói toán và xem ngày tháng…” [68, tr.54] Cũng theo truyện kể dân gian thì Tạo Xuông là con cô
và Tạo Ngần là con cậu Nếu tính thời gian hai tạo dẫn người Thái Đen tới đất Mường Lò, tương ứng thế kỉ thứ XI, ngang với triều Lí ở nước ta Sách ghi: “có cả sách nhà mo, nhà một, sách bói toán và xem ngày tháng…” thì chữ viết đã xuất hiện từ khi họ còn ở Mường Ôm, Mường Ai Vậy, chữ Thái có thể xuất hiện trước thế kỉ XI, cách đây cả ngàn năm rồi
Dựa vào sự kiện lịch sử An nha châu Mường Muổi tên là Lò Lẹt sang làm
chức quan lớn là Xenxa tại Lào, trong triều vua Souvana Khămphong, khoảng thế
kỉ XIII - XIV Khi làm quan tại đây ông đã học lấy chữ mang về dạy cho dân Thái
Lò Lẹt tuy chỉ là thủ lĩnh của riêng châu Mường Muổi, nhưng lại là thủ lĩnh của người Thái Đen - tộc Thái nắm vương quyền Tây Bắc nước ta Truyện kể khiến
nhiều người tin có thật Thêm vào đó, sách Kiến văn tiểu lục (thế kỉ XV) của Lê
Quý Đôn xác nhận: “Một dải sông Đà, phong tục giống người Man, người Lào […], con gái còn ở nhà thì bỏ xõa tóc hoặc búi tóc nhọn, đã lấy chồng thì búi ngược lên đỉnh đầu; nhân dân không nhớ ngày sinh tháng đẻ; người chết thì dùng
phép hỏa táng; văn tự giống như người Lào” [65, tr.355]
Ở Thái Lan, đến thế kỉ thứ XIII, chữ viết được vị chủ tướng Rama Khămheng
hệ thống lại Tại Lào, đến thế kỉ thứ XIV, Pangưm cũng là người có công hệ thống lại văn tự Vậy có thể cùng thời gian đó, Lò Lẹt là người có công hệ thống và phổ cập văn tự Thái trong dân gian Lẽ đương nhiên, hiểu theo cách nào thì chữ Thái cổ
Trang 35cũng xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam từ khá sớm, khoảng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV
Mẫu tự chữ Thái không giống mẫu tự chữ Hán Chữ Thái giống mẫu chữ Phạn lưu hành rộng rãi ở Ấn Độ từ khoảng thế kỉ thứ V - VI Công nguyên Rất có thể lúc đó người Thái ở Thái Lan, Lào, miền Tây Nam Vân Nam và miền Tây Bắc nước ta đã có chữ viết “Tất cả các mẫu tự Thái đều bén rễ từ chữ Phạn, không phải chữ tượng hình mà là bộ chữ ghi âm tiết” [67, tr.362]
Hiện nay chữ Thái có bảy cách viết nhưng rất thống nhất về nguyên tắc cấu tạo Bẩy cách viết đó của bảy nhóm địa phương bao gồm: Thái Đen, Thái Trắng ở Mường Lay (Lai Châu), Mường So (Lai Châu), Mường Sang, Mường Tấc (Sơn La), chữ của hai nhóm Thái Đen, Thái Trắng ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An, chữ Quỳ Châu Trong đó, 6 cách viết xuôi chiều như kiểu các bộ chữ Latinh và có một cách viết theo kiểu Hán tự như ở Quỳ Châu và vùng miền Tây Nghệ An
Như vậy, ở Việt Nam, chữ cổ truyền thống của dân tộc Thái rất đa dạng Nó thể hiện dấu ấn địa phương của các nhóm Thái khác nhau Tuy nhiên các văn bản Thái ở Việt Nam có một điểm chung, khiến nó khác với văn bản cổ của chữ Lào vốn cũng là loại văn tự ghi âm theo truyền thống Ấn Độ như chữ Thái Đó là các kiểu chữ Thái cổ
ở Việt Nam đều là loại chữ viết bằng bút nhọn trên giấy dướng hoặc trên lá cọ
Như chữ Thái nói chung, chữ viết của người Thái Tây Bắc không có dấu để biểu thị thanh Tuy nhiên, do mỗi phụ âm có hai cách viết khác nhau, biểu thị hai giá trị khác nhau, vì thế muốn đọc chính xác chữ Thái cổ, chúng ta phải căn cứ vào văn cảnh, tức là phải hiểu nghĩa của từ Đây là nhược điểm của tiếng Thái, đòi hỏi người đọc phải rất thông thạo tiếng Thái
- Về văn học
Kho tàng văn học của dân tộc Thái phong phú đa dạng về thể loại Các thể loại văn học dân gian như thần thoại, cổ tích, “quám chiến láng” Thể loại truyền thuyết vừa mang giá trị văn chương vừa có giá trị sử học, chứa yếu tố huyền thoại, yếu tố hiện thực về các nhân vật Lò Lẹt, Lạng Chượng, Tà Ngần, Bun Thanh, Cầm Châu Quý - đó là các nhân vật đã có công mở mang bản mường Thái Ở giai đoạn
Trang 36sau, các nhân vật ấy trở thành những biểu tượng cho sáng tác văn học trung gian
truyền miệng như Ngu háu, Chương Han,
Do có chữ viết từ rất sớm nên người Thái đã tiến một bước khá xa so với các dân tộc anh em cùng thời về lĩnh vực văn học nghệ thuật Các nghệ nhân ghi lại sáng tác bằng chữ viết riêng của dân tộc mình trên giấy dướng vì thế kho tàng văn học mới được lưu giữ khá đủ đầy đến nay
1.3 Khái quát chung về “quám chiến láng” của dân tộc Thái
1.3.1 Về khái niệm “quám chiến láng”
Thuật ngữ “quám” có nghĩa là tiếng nói (ngôn ngữ), “chiến láng” có nghĩa
là lời truyền, lời để lại “Quám chiến láng” của dân tộc Thái được hiểu là những lời truyền của người xưa để lại Đó là những lời nói, những câu nói quý hơn vàng bạc,
cần phải lưu giữ “quám chiến láng nha vang xịa lạ” (lời xưa truyền lại chớ bỏ phí hoài) Đây là những câu (phát ngôn) ngắn gọn, có vần điệu, có cấu trúc tương đối
ổn định, được định hình trong lời nói và trong ký ức của cộng đồng dân tộc Thái thường được cảm nhận theo cách loại suy và liên tưởng
Quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt, là những phát ngôn đặc biệt Ngoài chức năng giao tiếp, “quám chiến láng” còn là một công cụ để tư duy, là phương tiện nghệ thuật đặc biệt để truyền tải
tư tưởng tri thức, kinh nghiệm của dân tộc Thái được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống “Quám chiến láng” ngày nay đuợc hiểu tương đương với khái niệm “tục ngữ”, là những câu tục ngữ do cộng đồng người Thái ở Việt Nam sáng tạo nên
1.3.2 Giá trị của “quám chiến láng”
- Giá trị nội dung
Nội dung của các câu “quám chiến láng” của dân tộc Thái rất phong phú và
đa dạng, là kho tàng kinh nghiệm lâu đời của dân tộc Thái, mang đầy đủ tâm lý,
tâm hồn của dân tộc Thái Khám phá kho tàng “quám chiến láng”của dân tộc Thái
chúng ta sẽ hiểu được những nhận thức của đồng bào Thái về giới tự nhiên bao gồm khí hậu, cây cối, mùa màng, thú vật miền núi Đó có thể nhận thức về thời
Trang 37tiết “phạ chí đét đao chôm, phạ chí phôn đao dỏn” (Trời sẽ nắng sao chìm,trời sẽ mưa sao nháy), nhận thức về mùa vụ “Bươn xam khảu ná phướng pên pí,bướm chí chọi khảu lính ma tu’’(Tháng ba gốc rạ thành sáo thổi, tháng tư tới mùa lúa trẩy tới kho), nhận thức về biện pháp thuỷ lợi trong việc gieo cấy lúa nước Đối với
người Thái biện pháp thuỷ lợi được đặt lên hàng đầu trong việc làm ruộng vì theo
họ “mí nặm chắng pên ná,mí ná chắng pên khảu”(Có nước mới nên ruộng, có ruộng mới nên lúa), do đó đòi hỏi họ vừa phải làm ruộng vừa sáng tạo để hoàn
chỉnh hệ thống mương nước dẫn tới ruộng Trải qua hàng chục thế kỷ canh tác trên đồng ruộng lúa nước,hệ thống thuỷ lợi của người Thái đã được đúc kết ngắn gọn
trong câu tục ngữ “Mương ,phai,lái,lín”…
“Quám chiến láng” còn phản ánh nhận thức của dân tộc Thái về mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội Là một dân tộc trọng tình, người Thái đặc biệt xem trọng các mối quan hệ trong gia đình (giữa ông bà, cha
mẹ, vợ chồng, con cái), quan hệ hàng xóm láng giềng, quan hệ bản mường Bởi vậy họ có một tâm lý thống nhất là cần cù, dũng cảm, đoàn kết trong lao động và
đấu tranh Tâm lý ấy được biểu hiện rất rõ trong nội dung của các câu “quám chiến láng”:’’Hặc phủ hanh, panh phủ dượn”(Yêu người khoẻ, mến người chăm làm),”Mướng xấc panh côn han”(Mường có giặc thì ưa người người gan dạ); họ
ưa người ngay thẳng, chăm chỉ “Nặm xảư chảư xư”(Lòng thẳng như nước trong),”Xắc dệt, mắn dượn, báu pá đảy quám lai”(Chăm làm,cố sức làm tới chứ không nên lắm lời)…Tình cảm của những người trong cùng đồng tộc được thể hiện
rất rõ dệt Nó được biểu hiện trong các tập tục sinh hoạt gắn bó giữa những người
trong bản mường “Pí noọng tắt cỏng lín báu khát, tốc cảu lạt báu xia”(Anh em như thể dùng dao chém dòng nước chảy trên máng không bao giờ đứt, dù có đi chín chợ(đi bôn ba phiêu bạt) cũng không thể bỏ nhau được); mối quan hệ họ hàng gắn bó “Báu chư đảy kin chắng pên pi, pên noọng, báu đảy kin xia pi xia noọng” (Không phải được ăn mới là anh em,còn không được ăn thì bỏ nhau )…
Là tiếng nói của cộng đồng dân tộc Thái, “quám chiến láng” còn góp phần
phản ánh cuộc đấu tranh của đồng bào Thái chống lại chế độ phong kiến và phìa tạo Đứng trước quyền uy của bọn thống trị, cuộc đấu tranh của nhân dân còn chưa