Tuy nhiên trong quá trình canh tác, các giống lúa lai mới cũng bộc lộ không ít những hạn chế nhất định, như hiện tượng thoái hóa về sản lượng cũng như chất lượng sau khi gieo trồng hai h
Trang 11
DANH MỤC BẢNG
Biểu 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn thế giới 10
trong vài thập kỷ gần đây 10
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 9 nước có sản lượng lúa hàng đầu thế giới 11
Bảng 1.3: Năng suất, diện tích và sản lượng gạo Việt Nam trong những thập kỷ gần đây 13
Bảng 3.1: Các giai đoạn phát triển của cây lúa theo mã số 35
Bảng 3.2: Phương pháp nghiên cứu tính trạng hình thái 35
Bảng 3.3: Phương pháp nghiên cứu tính trạng nông học 37
Bảng 3.4: Phương pháp nghiên cứu tính trạng năng suất 38
Bảng 4.1: chiều dài và chiều rộng lá công năng 52
Bảng 4.2: Chiều dài và chiều rộng lá đòng 54
Bảng 4.3: Kích thước lớp cutin của lá (n=30) 60
Bảng 4.4: Chiều cao thân giống nếp tan tròn 68
Bảng 4.5: chiều dài bông giống lúa nếp tan tròn cổ truyền 92
Bảng 4.6 : Thời gian sinh trưởng của giống lúa nếp tan tròn cổ truyền 95
Bảng 4.7: Các yếu tó cấu thành năng suất lúa 99
Bảng 4.7: các đặc điểm về hình thái hạt 102
Bảng 4.7: Chất lượng cơm của giống nếp tan tròn 104
Trang 22
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Giống lúa nếp tan tròn và giống N87được trồng ở xã Thôm
Mòn,huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 31
Giống đối chứng là N87, số liệu của giống được tham khảo từ thành viên của nhóm nghiên cứu: Phạm Quốc Cường 31
Hình 4.1: Lá của giống nếp tan tròn 49
Hình 4.2: Lá của giống nếp tan tròn và giống lúa N87 49
Hình 4.3: Thìa lìa lá lúa 50
Hình 4.5: Lúa nếp tan tròn giai đoạn 9, (A, B) lá đòng thẳng đứng và vẫn giữ màu xanh tự nhiên vụ đông xuân năm 2012-2013 59
Hình 4.6 Chi tiết về tầng cutin giống nếp tan tròn 61
Hình 4.7: Cấu tạo một phần phiến lá đòng giống nếp tan tròn 63
Hình 4.8 Cấu tạo gân chính giống nếp tan tròn 64
Hình 4.10 Góc thân giống nếp tan tròn và giống N87 71
Hình 4.11 Tầng mô cứng nằm sát biểu bì giống nếp tan tròn 74
Hình 4.12: Cấu tạo thân giống nếp tan tròn (A), và giống TD2-5 (B) 75
Hình 4.13: Cấu tạo thân lóng gốc giống nếp tan tròn cuối giai đoạn 3 77
Hình 4.14: Lát cắt ngang lóng gốc giai đoạn 8 77
Hình 4.15: cấu tạo chi tiết bó dẫn giống nếp tan tròn 79
Hình 4.16 Cấu tạo thân long thứ 2 giống nếp tan tròn giai đoạn 6 81
Hình 4.17 Quá trình hình thành khoang khí ở thân giống nếp tan tròn 82
Hình 4.18: Hình thái ngoài rễ giống lúa nếp tan tròngiai cuối giai đoạn 4 85
Hình 4.19 Rễ mới mọc của giống nếp tan tròn sau 24h 86
Hình 4.20 Lát cắt ngang chi tiết rễ giống nếp tan tròn 86
Hình 4.21: Lát cắt ngang vỏ ngoài của rễ lúa nếp tan 88
Hình 4.22 Sự dung sinh hình thành nên khoang khí giống nếp tan tròn 88
Trang 33
Hình 4.23: lát cắt ngang rễ giống nếp tan tròn 89
Hình 4.24: Rễ bên đang hình thành ở phần rễ mà lông hút mới rụng đi, nội bì chưa hóa gỗ 90
Hình 4.25: Giống lúa nếp tan trong cổ truyền giai đoạn chín sữa 94
Bông lúa nổi trên mặt ruộng 94
Hình 4.27 Giống lúa nếp tan tròn gia đoạn làm đòng vụ mùa năm 2013 98
Hình 4.26: hình thái ngoài hạt gạo giống nếp tan tròn 103
Trang 44
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Đặt vấn đề 6
2 Mục tiêu đề tài 8
3 Nội dung nghiên cứu 8
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 9
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 9
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 12
1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nước 16
1.2.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 16
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước 20
1.3 Những nghiên cứu về hình thái cây lúa 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 31
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
23.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn 32
2.3.1.1 Cơ sở khoa học 32
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng 34
* Phương pháp nghiên cứu tính trạng hình thái, nông học 34
2.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu tính trạng nông học (bảng 2.3) 37
2.3.3 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 43
Trang 55
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, KHÍ HẬU HUYỆN THUẬN
CHÂU, TỈNH SƠN LA 45
3.1 Đặc điểm địa hình tỉnh Sơn La 45
3.2 Khí hậu huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 45
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1 Đặc điểm hình thái, giải phẫu của giống lúa nếp tan tròn 47
4.1.1 Đặc điểm hình thái và giải phẫu lá 47
4.1.2 Đặc điểm hình thái, giải phẫu thân 67
4.1.3 Đặc điểm hình thái, giải phẫu rễ 83
4.2 Một số tính trạng về hình thái bông 91
4.2.1 Chiều dài cổ bông 91
4.2.2 Chiều dài bông 92
4.2.3 Trục bông 92
4.3 Một số tính trạng nông học 93
4.3.1 Khả năng đẻ nhánh 93
4.3.2 Độ rụng hạt 94
4.3.3 Thời gian sinh trưởng 95
4.4 Các yếu tố cấu thành năng suất 98
4.5 Các đặc điểm về hính thái và chất lượng hạt 102
4.6 Đánh giá mốt số khả năng chống chịu của giống 104
4.6.1 Khả năng chịu rét của mạ 104
4.6.2 Khả năng chống sâu bệnh của giống nếp tan tròn 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6Ở Việt Nam những năm gần đây, các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những nỗ lực to lớn nhằm tìm tòi, lựa chọn, lai tạo số lượng lớn các loại giống lúa mới, cho năng suất vượt trội góp phần giải quyết vấn đề lương thực Tuy nhiên trong quá trình canh tác, các giống lúa lai mới cũng bộc lộ không ít những hạn chế nhất định, như hiện tượng thoái hóa về sản lượng cũng như chất lượng sau khi gieo trồng hai hay ba mùa vụ, về chất lượng gạo nói chung không được đánh giá cao bằng các giống lúa thuần đã có lâu đời, và khả năng chống chịu với sâu bệnh, khí hậu khắc nghiệt không cao
Để đảm bảo duy trì và phát triển các sản phẩm nông nghiệp nói chung ngoài việc nghiên cứu, lai tạo các giống lúa lai mới có năng suất cao cần có chiến lược lưu giữ các giống lúa bản địa đã được cha ông ta canh tác, phát triển hàng trăm năm nay
Các giống lúa bản địa về năng suất có thể kém hơn các giống lúa lai hiện nay, nhưng những đặc điểm di truyền nổi trội mang tính lâu dài, bền vững mà các giống lúa lai mới bây giờ không thể nào có được Đó là rất ít thoái hóa, khả năng chống chịu với thời tiết khắc nhiệt như: rét đậm, sâu bệnh tốt và chất lượng gạo được người tiêu dùng đánh giá cao
Trong các giống lúa quý hiếm bản địa hiện nay được bà con các dân tộc canh tác, đặc biệt các giống lúa bản địa ở vùng núi cao Tây Bắc, phải kể đến
Trang 77
giống lúa nếp tan tròn do bà con dân tộc Thái gieo trồng hàng trăm năm nay tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Giống lúa này được bà con dân tộc Thái canh tác và lưu giữ qua hàng trăm năm bằng biện pháp thủ công nhưng chất lượng không thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, do đời sống của người dân sinh sống tại các tỉnh vùng núi phía Bắc nói chung và ở tỉnh Sơn La nói riêng còn quá thấp, đặc biệt là đồng bào các dân tộc, bởi vậy nhiều giống lúa bản địa tuy có phẩm chất tốt, nhưng gặp hạn chế về năng suất nên người nông dân phần đa bỏ canh tác các giống địa phương sang canh tác các giống lúa lai, giảm đói nghèo
Giống lúa nếp tan tròn cho gạo nếp dẻo, có hương rất thơm, hạt gạo tròn màu trắng đục và chất lượng hơn hẳn các giống lúa lai cũng đang được gieo trồng phổ biến trên địa bàn như giống N87, N97 Ngoài những đặc điểm nổi trội về chất lượng hạt của giống nếp tan tròn, giống lúa này còn có điểm nổi trội hơn các giống lúa lai về khả năng chịu rét và chống chịu sâu hại Tuy nhiên năng suất của giống không cao, ảnh hưởng đến sản lượng và lợi nhuận của người dân, mặc dù giá thành của lúa gạo nếp tan cao hơn so với những loại gạo khác Chúng tôi hy vọng những nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, sinh thái, nông học liên quan đến năng suất, tính chống chịu của giống nếp tan
có thể sử dụng làm nền tảng cho bảo tồn và phát triển nguồn gen quý này Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, để góp phần nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của các giống lúa cổ truyền được gieo trồng tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Nhằm thúc đẩy quá trình chọn lọc, lưu giữ các giống lúa thuần bản địa có chất lượng hạt cao, khả năng chống
chịu với điều kiện khí hậu, sâu hại tốt nên tôi chọn cho đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa
nếp tan tròn (Oryza sativa L var japonica) trồng tại xã Thôm Mòn,
huyện Thuận Châu, Sơn La”
Trang 88
2 Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của giống lúa nếp tan tròn,
từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển giống lúa nếp tan tròn tại huyện Thuận Châu, Sơn La
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các tính trạng hình thái, nông học của giống lúa nếp tan tròn
- Nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu của giống lúa nếp tan tròn
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học liên quan đến năng suất và chất lượng hạt
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của giống lúa đối với nhiệt độ thấp
và sâu bệnh
- Nghiên cứu phương pháp chọn lọc, lưu giữ giống truyền thống của người dân
Trang 99
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa thuộc họ Lúa (Poaceae hay Graminae) Lúa trồng phổ biến
hiện nay có tên khoa học là Oryza sativa L var japonica , được thuần hoá từ
cây lúa dại, trải qua quá trình chọn lọc, biến đổi lâu dài tạo nên loài lúa trồng như hiện nay Mặc dù còn nhiều bất đồng về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa nhưng đa số ý kiến đều cho rằng tổ tiên cây lúa có nguồn gốc ở khu vực Vân Nam (Trung Quốc) và Nam Á, trong đó có Việt Nam Các tiêu bản lúa dại và
di chỉ khảo cổ đã chứng minh điều đó Việt Nam có vinh dự được coi là cái nôi Đông của nền văn minh lúa nước Hiện nay trên thế giới có hơn 100 quốc gia trồng lúa nước ở hầu hết các châu lục, với tổng diện tích canh tác khoảng 153,8 triệu hecta (IRRI, 1996) [13] Tuy nhiên sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, nơi chiếm 90% diện tích về gieo trồng
và sản lượng [6], trong đó Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất (44,1 triệu ha) tiếp đến là Trung Quốc (khoảng 30,4 triệu ha) (FAOFAST, 2011) [8]
Qua kết quả nghiên cứu của FAOSTAT (2011) [6] cho thấy về diện tích canh tác lúa có xu hướng tăng mạnh là khoảng từ thập kỷ 60 đến thập kỉ
90, sau đó tăng chậm dần và có xu hướng ổn định vào thập kỷ năm đầu của thế kỷ XXI Năng suất trên đơn vị diện tích cũng có chiều hướng tăng mạnh trong 4 thập kỷ cuối thế kỷ XX Năng suất từ 18,7 tạ/ha năm 1961 lên 38,9 tạ/ha năm 2000 và đạt 43,3 tạ/ha năm 2010 Năng suất trong 4 thập kỷ cuối thế kỷ XX tăng nhanh có thể giải thích do giai đoạn từ 1961 - 2000 cuộc cách mạng xanh về giống lúa và kỹ thuật canh tác có nhiều cải biến, thuốc hóa học
và thuốc trừ sâu bệnh được sử dụng phổ biến
Trang 1010
Sang những năm đầu thế kỷ XXI người ta có xu hướng hạn chế sử dụng chất hóa học vào thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn số lượng nên năng suất có xu hướng tăng chậm lại Sản lượng trong 5 năm đầu tiên của thế kỷ XXI (từ 2000 đến 2005) sản lượng lúa tăng không đáng kể (từ 598,97 triệu tấn lên 618,53 triệu tấn) nhưng từ 2005 đến 2011 sản lượng lúa tăng nhanh đạt tới 722,76 triệu tấn Trong giai đoạn sau có sự tăng nhanh về sản lượng do ở giai đoạn này khoa học kỹ thuật trong chọn giống phát triển,
có nhiều giống lúa lai, ngắn ngày và năng suất cao được đưa vào sử dụng Đặc biệt là ở các nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển năng suất lúa cao hơn hẳn Bảng 1.2 [8] mô tả số liệu thống kê 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu thế giới
Biểu 1.1 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của toàn thế giới
trong vài thập kỷ gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Trang 1111
Châu Á là Braxin (Nam Mỹ) Trung Quốc và Việt Nam là hai nước có năng suất cao hơn hẳn 66,86 tạ/ha (Trung Quốc) và 55,32 tạ/ha (Việt Nam) Có thể
lý giải do Trung Quốc là nước đi tiên phong trong phát triển lúa lai, có trình
độ thâm canh cao (ICARD, 2003)[15] Còn Việt Nam những năm gần đây có
sự vượt trội về sản lượng nhờ thủy lợi được cải thiện đáng kể và áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón và bảo vệ thực vật Nhật Bản là nước có năng suất cao đứng thứ 3 trong 10 nước trồng lúa, đạt 53,312 tạ/ha Thái Lan tuy là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo trong nhiêu năm, song sản lượng chỉ đạt 29,74 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài ngày, có chất lượng cao (Bùi Huy Đáp, 1999)[6]
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 9 nước có sản lượng
lúa hàng đầu thế giới Tên nước Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Theo dự báo của các nhà khoa học thì sản lượng lúa sẽ tăng chậm và có
xu hướng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị
Trang 1212
hoá gia tăng (Beachel, H.M, 1972) [36] Giá lúa tăng chậm trong khi đó giá vật tư đầu vào tăng cao đã không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử dụng ruộng đất khó có thể tăng cao hơn nữa (ví dụ ở Việt Nam nhiều nơi đã trồng tới 3 vụ lúa/năm) Nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các cây khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang trồng các giống lúa có chất lượng cao mặc dù năng suất thấp hơn
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một nước trồng lúa trọng điểm trên thế giới, người Việt Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình Từ xa xưa cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999) [6] Suốt từ Bắc đến Nam, đâu đâu cũng thấy người dân trồng lúa, song diện tích tập trung chủ yếu
ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng vụ đã đưa tổng diện tích lúa thu hoạch của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 lên 7,67 triệu ha năm 2000, sau đó giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2003 (Nguyễn Thị Lẫm và cs, 2003) [18] Cùng thời gian đó năng suất và sản lượng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách về giống lúa và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phân bón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh một cánh hợp lý, đồng bộ Tính từ năm 1961 đến năm 2011, năng suất lúa của nước ta đã tăng lên 2,92 lần Giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay Điều này gắn liền với các tiến bộ mới trong thâm canh tăng năng suất lúa được ứng dụng rộng rãi, trong thời gian này và điều quan trọng hơn là việc chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai, từ cơ chế hợp tác sang tư nhân hoá, lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã khuyến khích người dân đầu tư, thâm canh sản xuất lúa Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục, từ 9,0 triệu tấn năm 1961 lên 36,34 triệu tấn năm 2005 và đến 55,32 triệu tấn năm
Trang 1313
2011 (bảng 1.3) Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu gần 2 triệu tấn
gạo/năm trước đây, Việt Nam đã vươn lên giải quyết an ninh lương thực cho
83 triệu dân ngoài ra còn xuất khẩu một lượng gạo lớn ra thị trường thế giới Hiện tại nước ta đứng hàng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuất khẩu, đạt 5,25 triệu tấn năm 2005 (FAOSTAT, 2011)[8]
Bảng 1.3: Năng suất, diện tích và sản lƣợng gạo Việt Nam trong những
thập kỷ gần đây Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (triệu tấn)
Trang 1414
năng suất lúa của Việt Nam vẫn còn thấp (Itoh và cs,2000) [39] Do đó, để đảm bảo an ninh lương thực cho một quốc gia đông dân cư như nước ta và giữ vững vị thế là một nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu tư thâm canh tăng vụ, lai tạo và chọn lọc những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi Để nâng cao giá trị xuất khẩu chính phủ Việt Nam đã có chiến lược phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu [1]
Trong giai đoạn 1961 - 2000, Việt Nam chủ yếu chú trọng vào khâu số lượng nhằm nhanh chóng giải quyết sự thiếu hụt về lương thực Tuy nhiên, khi chúng ta cơ bản đã giải quyết vấn đề an ninh lương thực và có dư thừa xuất khẩu với số lượng lớn trong 20 năm liên tục (tính đến năm 2010) thì nước ta cần hướng đến sản xuất lương thực không chỉ theo số lượng mà cần
cả chất lượng Thị trường xuất khẩu gạo mở rộng do Việt Nam là thành viên của WTO và uy tín của lúa gạo Việt Nam trên thị trường thế giới được cải thiện Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới và khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu Nhu cầu gạo trên thị trường thế giới và khu vực 5 năm tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng
Các điều kiện cơ bản của sản xuất lúa của Việt Nam hiện nay là: Đất, nước, phân bón, giống, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ gạo khá đảm bảo Sản lượng phân bón sản xuất trong nước đang tăng dần do các nhà máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ đã đi vào hoạt động và sắp tới công trình khí - điện - đạm Cà Mau sẽ đi vào hoạt động cùng với các nhà máy phân lân, supe phôt phát tăng công suất đảm bảo ổn định nguồn cung cấp trong nước, ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới vào sản xuất để thực hiện các biện pháp thâm canh lúa nhằm tăng năng suất và chất lượng,
Trang 1515
giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo trên thị trường [33] Tổ chức quản lý nông nghiệp không ngừng đổi mới và hoàn thiện theo hướng phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước, phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu gạo khi Việt Nam gia nhập WTO Những năm gần đây, hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan và Việt Nam đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa 2 nước trên thị trường thế giới và khu vực, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi nước Thách thức sắp tới Việt Nam sẽ là thành viên của WTO nên thị trường nông sản nói chung, thị trường lúa gạo Việt Nam nói riêng sẽ mở rộng cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ hạn chế và tiến tới bãi bỏ Gạo Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan…và các nước khác có chất lượng cao, giá rẻ hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể (94% hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam hưởng thuế suất 15%, trong
đó hàng lương thực gạo, ngô không đáng kể) Do đó lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn non kém
Dân số tăng nhanh, đất trồng lúa có hạn, năng suất lúa nhiều vùng đã chạm trần nên khả năng tăng năng suất là hạn chế Trong khi đó tập quán sản xuất nhỏ, quy mô gia đình, tự cung tự cấp, chạy theo năng suất, xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các hộ trồng lúa của các vùng, trình độ dân trí, khoa học công nghệ, kiến thức thị trường của nông dân trồng lúa vẫn còn thấp Vì thế chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là: phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm hơn 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục vụ mục tiêu xuất khẩu, duy trì sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm từ
4 - 5 triệu tấn Để đạt mục tiêu này một mặt chúng ta phải đẩy mạnh đầu tư
Trang 1616
(phân bón, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu bệnh, thuỷ lợi, cơ giới hoá…) chuyển đổi cơ cấu giống theo hướng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu điều kiện môi trường nhiều biến đổi, với các loại sâu, bệnh hại chính Như vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một nhiệm vụ sống còn, phải đặt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy động cả "4 nhà" (Nhà nước, nhà Khoa học, nhà Nông và nhà Doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới hy vọng đạt kết quả như mong đợi (Báo Nhân dân, 2/6/2004) [1]
1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
1.2.1.1.Thu thập nguồn gen cây lúa trên thế giới
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung,
và nguồn gen cây lúa nói riêng từ những thập kỷ trước đây Ngay từ những năm 1924, Viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm
vụ chính là thu nhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng Tổ chức lương thực và nông nghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và
đề ra phương hướng thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ gìn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại Ở các quốc gia nhiệt đới và á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm nhận việc thu thập tập đoàn giống trên thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen
để cải tạo giống lúa trồng (Trần Đình Long, 1992) [19]
Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI thành lập năm 1960, đến năm 1962
đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, và năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen Tại đây đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên thế giới, bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó có các giống lúa trồng ở Châu
Á, O sativa chiếm đến 95% còn 2.194 mẫu đang ở thời kỳ hạt nhân, chuẩn bị đăng ký vào ngân hàng gen cây lúa (Gomez, KA,1995)[46]
Trang 1717
Nguồn tài nguyên phong phú cùng với đội ngũ các nhà khoa học giàu trí tuệ và những phương tiện nghiên cứu hiện đại IRRI đã thực hiện được vai trò trung tâm trong cuộc cách mạng xanh, đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trồng lúa ở trên thế giới IRRI đã có quan hệ chính thức ở Việt Nam ta từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây lúa, trong quá trình hợp tác Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc điểm sinh học tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt (Shen, J.H, 2000) [42]
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt được gieo trồng phổ biến trên thế giới Các viện khác như IRAT, EAT, ICRISAT đã chọn lọc ra nhiều những giống lúa tốt phục vụ sản xuất Hiện nay người ta ứng dụng ưu thế lai trong sản xuất lúa Trong lịch sử phát triển lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế này
Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai 3 dòng được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975 Năm 1996, Trung Quốc lại thành công với qui trình sản xuất lúa lai 2 dòng Chiến lược nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ XXI là phát triển lúa lai 2 dòng
và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước ( Lin, S.C, 2001)[41]
Ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu nhập và làm thuần một số giống lúa địa phương, đưa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và miền Bắc của nước này (Hoang, C.H, 1999) [40]
Ở Nhật Bản việc đưa ra giống Tongil đã tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lúa (Ito và cs, 2000) [39]
Trang 1818
Ở Mỹ, năm 1926 J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan, hai nhà khoa học đề xuất vấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent va Craiglules Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết, đã nghiên cứu phát triển thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng Những giống lúa này không phải là sản phẩm biến đổi gen mà đã mang sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như β - carotene và anthocyanins một chất chống ôxy hoá Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học
Một số nước có tốc độ thay đổi giống lúa mới khá nhanh như Philippin 20,6%, Hàn Quốc 16,1%, Ấn Độ 13,5%, Thái Lan 6,7% Nhu cầu ngày càng tăng về giống lúa không những về số lượng và còn cả về chất lượng
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất và khí hậu Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả Vì thế việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống đã được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và các trường đại học nông nghiệp ưu tiên hàng đầu Vào đầu những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin Sau đó các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như IRAT, EAT, CIAT, ICRISAT[43] Tại các viện này việc chọn lọc và lai tạo các giống lúa cũng được ưu tiên hàng đầu Chỉ tính riêng viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) cũng đã lai tạo và đưa ra sản xuất hàng nghìn giống lúa tốt Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha vụ, đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu
Trang 1919
vitamin A, giàu Protein, Lisine, có mùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada, E.C, 1997)[38]
Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng lúa lai trong sản xuất đại trà từ năm 1976 Thành tựu lúa lai của Trung Quốc đã được giải thưởng đặc biệt về phát minh năm 1981 Ngoài lúa lai 3 dòng vẫn đang giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất, Trung Quốc đã thành công đưa vào sản xuất lúa lai hệ 2 dòng Năng suất của các tổ hợp lai hai dòng cao hơn lúa lai ba dòng khoảng 5 - 10% Cho đến nay việc chọn tạo các giống lúa lai chín sớm
về cơ bản đã thành công (Lin, S.C, 2001)[41]
Ấn Độ là một nước trồng lúa với diện tích đứng đầu thế giới Ấn Độ cũng là một nước đi đầu trong công cuộc cách mạng xanh về cải tiến giống lúa Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa đóng vai trò đầu tầu trong việc nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ cho sản xuất Ngoài ra tại các bang của Ấn
Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quan trọng ở Madrasheydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á nhiệt đới (ICRISAT) Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati có giá trị trên thị trường tới 850 USD/ tấn (trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng trên thế giới cũng chỉ có giá trị 460 USD/tấn ( 7/5/2004)[34] Nghiên cứu và phát triển lúa lai không những thực hiện thành công ở Trung Quốc, Ấn Độ mà còn mở rộng ra nhiều nước trồng lúa trên thế giới như: Philippin, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ai Cập, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Ở hầu hết các nước này chính phủ đều đặt ra cho riêng mình chương trình nghiên cứu và phát triển lúa lai trong kế hoạch chiến lược phát triển đất nước
Trang 2020
1.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước
1.2.2.1 Sự đa dạng di truyền lúa Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
Ngày nay các nhà khoa học nhất trí thừa nhận trung tâm đa dạng di truyền của các loài lúa trồng Châu Á Nằm trên vùng địa lý kéo dài từ Nepan đến Bắc Việt Nam, do đó nguồn gen cây lúa Việt Nam rất phong phú, có được điều đó là do những sự đa dạng ở Việt Nam như:
* Sự đa dạng về thành phần dân tộc, nước ta có 54 dân tộc anh em, ở mỗi dân tộc có tập quán canh tác và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp riêng biệt Chỉ xét riêng về quỹ gen các cây họ Lúa, theo thống kê trong hệ thống bảo tồn Tài nguyên thực vật Việt Nam đến năm 2010 có 8669 nguồn gen, trong đó số gen về lúa chiếm đến 7668 nguồn gen
Đối với cây lúa do đặc điểm khí hậu thời tiết, sự đa dạng về địa hình,
đa dạng về thành phần dân tộc, nghề trồng lúa và những tập quán canh tác lâu đời của nhân dân ta, tạo nên sự đa dạng quỹ gen cây lúa Gần đây khi thảo luận việc bảo tồn sự đa dạng sinh học nông nghiệp sự đa dạng về thành phần giống trong từng loài cây trồng còn gọi là sự đa dạng di truyền thường được
đề cập nhiều hơn cả
Để đánh giá định lượng sự đa dạng di truyền các nhà khoa học đã sử dụng chỉ số đa dạng di truyền Nei (1975) đã kết luận ở vùng phía Bắc nước Lào là vùng đất đa dạng nhất, đứng thứ hai là vùng phía Bắc nước Việt Nam còn ở Bắc Thái lan đứng ở vị trí thứ ba Riêng ở Việt Nam thì Tây Nguyên
và Miền Nam nguồn gen đa dạng hơn miền Bắc (Lưu Ngọc Trình và cs, 1995)[29]
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu các giống lúa chất lượng cao ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Lê Quý Đôn là nhà khoa học đầu tiên đã mô tả chất lượng của một số giống lúa Việt Nam ngay từ thế kỉ XVIII Công tác chọn tạo giống đã được quan tâm và thực hiện từ lâu Nhưng chỉ mãi cho đến năm
Trang 2121
1990 công tác chọn tạo giống đã được xây dựng thành chương trình quốc gia, tập hợp hầu hết các cơ quan nghiên cứu như Viện, Trường trong cả nước với đội ngũ đông đảo các cán bộ nghiên cứu khoa học tham gia và tuỳ theo yêu cầu sản xuất lương thực ở từng giai đoạn và mục tiêu của các chương trình mà các công trình có khác nhau Cho đến ngày nay, có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng lúa gạo tại Việt Nam đã được tiến hành bao gồm: kỹ thuật trồng và chăm sóc, bảo vệ thực vật, chọn tạo giống và kỹ thuật sau thu hoạch Trong công tác chọn giống các nhà khoa học Việt Nam đã tận dụng nguồn vật liệu
có sẵn trong nước, các nguồn nhập nội Qua quá trình chọn lọc, phục tráng các giống lúa cổ truyền đặc sản như các giống lúa nếp, lúa tám ở đồng bằng Sông Cửu Long, chọn lọc, phục tráng các giống lúa chất lượng cao nhập nội như: IR42, Khaodawkmali, Bắc thơm số 7, LT2, LT3….(Lưu Ngọc Trình, 1996)[29]
Những tiến bộ của ngành công nghệ sinh học trong thời gian gần đây cũng có tác động khá sâu sắc tới ngành chọn tạo giống đặc biệt là đối với giống lúa Cho đến nay việc nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa thơm của nước ta đã có những bước tiến đáng kể Tuy nhiên hướng chọn tạo giống lúa cải tiến có mùi thơm ít thành công hơn là khai thác tính trạng này từ các giống lúa cổ truyền, thông qua chọn lọc dòng thuần Cải tiến dạng hình cây lúa thơm bằng phương pháp chọn lọc dòng thuần đã được áp dụng thành công ở nước ta với một số giống như Nàng hương, Tám xoan, bên cạnh đó với phương pháp xử lý đột biến từ giống Tám thơm cổ truyền, cao cây, dễ đổ chỉ cấy được một vụ, tác giả Nguyễn Minh Công, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tạo ra giống lúa Tám thơm đột biến mới có thể cấy 2 vụ/năm, trên chân đất vẫn nghèo dinh dưỡng mà vẫn duy trì được đặc tính chất lượng của giống lúa Tám thơm cổ truyền (Nguyễn Minh Công, Nguyễn Thị Mong, 2009) [47] Hướng khai thác và cố định ưu thế lai qua nuôi cấy bao phấn tạo
Trang 2222
ra cây đơn bội kép đang mở ra triển vọng có hiệu quả cao ở ĐBSCL Kết quả của hướng nghiên cứu này đã tạo ra một số giống lúa có triển vọng như OM 3007-16-27, OM 3007-42-94, OMS2000 (Nguyễn Hữu Hà Linh, Phạm Thị Hường, 1997) [49]
1.2.2.3 Thu thập nguồn gen cây lúa Việt Nam
Nghề trồng lúa đã có từ lâu đời, gắn với sự phát triển của dân tộc Việt Nam Từ bước sơ khai lạc nghiệp (đất được đắp bờ giữ nước, trồng lúa) nhiều giống lúa địa phương còn giữ cho đến ngày nay Sự phát triển của dân tộc Việt Nam về phía biển vào phía Nam gắn với sự phát triển những cánh đồng lúa nước Những cuộc khai hoang di dân lớn vào Miền Nam, gắn với việc đào kênh mương lớn khai thác đồng bằng Nam bộ
Theo Bùi Huy Đáp [10] thời Pháp thuộc đã thành lập Cục túc mễ Đông Dương, có nhiệm cụ đảm nhiệm nghiên cứu về cây lúa và triển khai kết quả nghiên cứu ra sản xuất, nhiệm vụ chủ yếu là thu thập các giống lúa ở các tỉnh rồi tiến hành các bước sau:
1 Lọc giống chọn ra những dòng tốt (EP)
2 Danh sách các dòng đã chọn được (CR)
3 Nhân giống hẹp (PM)
4 Nhân giống đại trà
Từ khi hoà bình lập lại nước ta không ngừng thu thập và nghiên cứu để bảo tồn sự đa dạng di truyền nguồn tài nguyên cây lúa, năm 1988 Viện cây lương thực và thực phẩm đã thu thập được 3.691 mẫu cây lúa, trong đó có 3.186 mẫu thu từ 30 nước khác nhau trên thế giới còn 500 giống lúa địa phương, các mẫu giống được đánh giá các tính trạng và sắp xếp thành nhóm theo thời gian sinh trưởng như sau:
- Nhóm cực ngắn: Loại này có thời gian sinh trưởng từ 90 - 110 ngày gồm có 345 giống
Trang 23Nghiên cứu về sử dụng quỹ gen cây trồng từ nguồn nhập nội, Trần Đình Long (1992) [19] đã khảo sát 53.124 mẫu giống cây trồng của 72 loài khác nhau, trong đó 47.970 mẫu nhập nội từ Liên Xô cũ, đã khảo sát đánh giá được 7.694 mẫu giống lúa, phía Bắc 5.629 mẫu, phía Nam 2.065 mẫu Những mối đe doạ làm tổn hại nguồn gen cây lúa theo Lưu Ngọc Trình (1997)[30] trong vài chục năm trở lại đây do nhiều nguyên nhân khác nhau,
sự đa dạng của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng đã bị xói mòn đáng
kể, sự xói mòn đa dạng di truyền nguồn gen của cây lúa đó là:
+ Sự xói mòn di truyền: Từ khi tiến hành hình thành nền sản xuất nông nghiệp đến nay con người đã thuần hoá một khối lượng lớn các giống của nhiều loại cây trồng khác nhau Khi cách mạng xanh ra đời, người nông dân
đã sử dụng một số lượng hạn chế của các giống cải tiến có năng suất cao, thay thế vị trí của các giống cây địa phương đã tồn tại lâu đời trong sản xuất có nguồn gen quý nhưng năng suất không cao, kém chịu phân đạm nên những giống lúa này không được sử dụng trong sản xuất và dần dần biến mất trong danh sách tập đoàn giống cổ truyền của Miền Bắc Việt Nam: ví dụ giống lúa
Trang 2424
chiêm (Nguyễn Nghĩa Thiên, 2005)[24]
+ Sự tồn tại di truyền: Do việc thu hẹp tiềm năng di truyền của các giống sản xuất gây nên, đây là mối nguy cơ của nền nông nghiệp đầu tư thâm canh cao ở các nước phát triển Thực chất nền sản xuất nông nghiệp các nước phát triển trong thế kỷ qua từ đa canh chuyển sang độc canh, nhất là từ khi nền nông nghiệp sản xuất nhỏ thành nền sản xuất hàng hoá, từng khu vực chỉ
sử dụng một loại cây trồng có giá trị hàng hoá cao, mỗi loại có một số lượng giống ít ỏi, vì vậy đã dẫn đến nhiều thảm hoạ dịch bệnh gây nên ở nước ta trong hơn 10 năm trở lại đây ví dụ: dịch rầy nâu gây hại vụ xuân năm 1986 -
1987 phá hoại nặng trên hai giống lúa đó là: NN8 và VN10 ở các tỉnh phía Bắc Dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá xảy ra trên diện rộng ở các tỉnh miền Nam năm 2006
+ Sự huỷ diệt di truyền: có những loài và giống cây mất hẳn đi, do những nguyên nhân sau:
- Sự xáo trộn tổ chức dân cư, có trường hợp cả tập đoàn giống bị mất hẳn do việc thờ ơ sau những thay đổi về tổ chức nhân sự
- Những biến động do chiến tranh, bạo loạn
- Nguyên nhân đói kém mất mùa, nông dân ăn hết giống, từ những nguyên nhân trên đây dẫn đến sự cạn kiệt về nguồn gen cây lúa ở Việt Nam
1.2.2.4 Những kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lúa
Việt Nam được coi là cái nôi của nhiều cây lương thực quan trọng trong đó có cây lúa Các địa phương do điều kiện khí hậu đất đai, tập quán canh tác và nền văn hóa khác nhau nên nhiều nơi vẫn còn duy trì và trồng một
số giống lúa địa phương, thành phần các giống này rất đa dạng và phong phú Các giống lúa địa phương do được trồng và chọn lọc lâu dài nên có rất nhiều
ưu điểm như: tiềm năng năng suất cao (bông to), chất lượng tốt, cơm thơm mềm, chống chịu tốt với kiện khí hậu khắc nhiệt, đặc biệt có khả năng chống
Trang 2525
chịu sâu bệnh tốt như bệnh bạc lá, đạo ôn và rầy nâu, là những loại bệnh dễ phát triển thành dịch Để chọn tạo được giống vừa có năng suất cao, chất lượng tốt lại kháng được nhiều loại sâu bệnh trên thì nguồn gen các giống lúa địa phương rất có ý nghĩa
Hiện nay và trong tương lai do sự phát triển kinh tế trong đó có nông nghiệp với tốc độ nhanh như hiện nay thì sự tiếp cận khoa học và các giống lúa mới của người dân tăng lên Người dân còn bỏ dần giống cũ và thay thế các giống mới có năng suất cao hơn, chính vì thế chúng ta cần thu thập, đánh giá, bảo tồn, khai thác và phát triển chúng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, với phương pháp điều tra, thu thập, đánh giá, phân loại đánh giá địa phương và chọn lọc cá thể theo chu kỳ
để làm vật liệu di truyền lai tạo giống lúa cho vùng núi phía Bắc Việt Nam như G4, G6, G10, G13, G14, G19…(Phan Hữu Tôn, 2000-2003) [23]
Tuyển chọn và phát triển giống lúa cạn cải tiến LC 93 -1 phục vụ sản xuất lương thực ở cùng cao của Viện Bảo vệ Thực vật Từ Liêm, Hà Nội với phương pháp chọn lọc từ tập đoàn lúa cạn IRRI nhập nội năm 1993 đã chọn được giống LC 93-1 có thời gian sinh trưởng từ 115-125 ngày, năng suất 3-4 tấn/ha, chịu hạn khá chất lượng gạo tốt, thích hợn cho đồng vào dân tộc nghèo
ở vùng cao [48]
Hiện nay, ở một số địa phương đặc biệt vùng đồng bào các dân tộc ít người vẫn còn duy trì và trồng nhiều giống lúc địa phương, chiếm diện tích khá lớn, do chúng có những ưu điểm mà nhiều giống lúa mới khác không thay thế được Từ năm 2000 đến nay, trên cơ sở dự án JICA hợp tác với Nhật Bản,
Bộ môn công nghệ sinh học trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã thu thập
và bảo tồn được 970 mẫu giống lúa địa phương miền Bắc Việt Nam Các mẫu giống này đang được lưu giữ và đánh giá một số đặc điểm nông sinh học quan trọng về khả năng kháng bệnh bạc lá, đạo ôn, chất lượng gạo Kết quả cho
Trang 2626
thấy nhiều giống lúa có đặc điểm quý như chất lượng gạo tốt, cơm thơm mềm
và đượm, khả năng kháng bệnh bạc lá, tạo ôn các chủng Việt Nam rất tốt Một
số giống có tiềm năng năng suất cao, đặc biệt có những mẫu giống bông rất to trên 500 hạt/bông và khả năng thích ứng rộng Trong số 970 giống đã thu thập bước đầu phân tích, đánh giá thấy có 469 mẫu giống lúa nếp, 501 mẫu giống lúa tẻ (Naruto Furuya và cs) [45]
Trong việc bảo tồn đa dạng di truyền cây lúa, từ năm 1985 - 2009, viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI và Việt Nam đã có sự hợp tác hết sức hiệu quả Các giống lúa từ bộ sưu tập giống của IRRI đã giúp tăng năng suất lúa 9,8% ở miền Nam và lợi nhuận gia tăng 127 USD cho mỗi ha đất canh tác IRRI cũng là đối tác chính trong nghiên cứu và đề xuất gói kỹ thuật ba tăng,
ba giảm đang ứng dụng có hiệu quả tại Việt Nam (Vũ Văn Viết, 2009) [31] Tính đến năm 2011 Việt Nam đóng góp 2979 mẫu giống lúa cho ngân hàng gen của IRRI để bảo tồn, đổi lại IRRI cũng đã cũng cấp cho Viêt Nam 2384 mẫu giống lúa để sử dụng trong chọn tạo giống và những nghiên cứu khác
1.3 Những nghiên cứu về hình thái cây lúa
Hình thái giải phẫu thực vật là một lĩnh vực khoa học được chú ý từ rất sớm, đóng vai trò quan trọng trong khoa học, nghiên cứu phục vụ đời sống con người Trên thế giới và Việt Nam có nhiều tác giả nghiên cứu về hình thái, giải phẫu cây lúa bởi đây là cây lương thực có vai trò quan trọng Tuy nhiên những nghiên cứu đầy đủ về hình thái giải phẫu cây lúa chỉ được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước Những nghiên cứu đó cung cấp đầy đủ những kiến thức chung nhất về cây lúa Những đặc điểm hình thái, giải phẫu thích nghi của các cơ quan sinh dưỡng
Bùi Huy Đáp (1980) trong cuốn tài liệu “Cây lúa Việt Nam” đã nghiên cứu tương đối đầy đủ về đặc điểm hình thái, số lượng, kích thước, sự hình thành, phát triển và vai trò của mỗi lá trên thân cây Tác giả đã mô tả tỷ mỉ
Trang 2727
hình thái cấu tạo và chức năng của các thành phần trên một lá Và đã phát hiện ra vị trí phân bố của mô phân sinh ở dưới lá nên khi cắt ngọn, lá vẫn tiếp tục dài ra Cũng theo ý kiến của tác giả có sự tương quan giữa số lá và ngày trỗ, lúa càng ít lá trỗ càng sớm (Bùi Huy Đáp, 1980) [5]
Khi nghiên cứu giải phẫu lá lúa, Bùi Huy Đáp đã mô tả khá chi tiết cấu tạo, vị trí phân bố và vai trò của các thành phần trong lá Khi nghiên cứu cấu tạo giải phẫu cổ lá lúa tác giả cho rằng về cơ bản cũng gồm các bộ phận như trên Tuy nhiên, mô cơ giới phát triển hơn, mô mềm cũng đặc hơn, khoảng thông khí hẹp lại Tác giả còn phát hiện thấy biểu bì của lá không nằm trên một mặt phẳng nên bề mặt lá lúa thường nhấp nhô, mặt ngoài lá lúa thường có silic làm cho lá lúa thường ráp Tế bào biểu bì của hai mặt lá cũng khác nhau, biểu bì trên thường kéo dài thành một số lông tơ, có nhiều ở gân lá Một số tế bào biểu bì phân hóa thành lỗ khí thường có nhiều ở phần ngọn lá và các tế bào này thường tập trung ở mặt trên của lá (Bùi Huy Đáp, 1980) [5]
Khi nghiên cứu về thân lúa, Bùi Huy Đáp đã mô tả tương đối đầy đủ về đặc điểm hình thái Tác giả đã đưa ra được mối liên hệ về sự phát triển giữa thân và lá: thân cây lúa phát triển dần cùng với sự phát triển của những lá non trên thân Trong kết quả nghiên cứu tác giả đã phân biệt rõ hình thái, kích thước và sự phát triển của các lóng trên thân, chiều cao cây, số lượng lóng phụ thuộc vào giống và điều kiện sinh thái Trên mỗi lóng cấu tạo các tế bào phía trên cứng, còn phía gần dưới gốc lại mềm, hình thành một vòng mờ quanh thân gồm toàn mô phân sinh hình thành các tế bào mới làm lóng dài thêm (Bui Huy Đáp, 1980) [5]
Khi nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu đốt thân, tác giả đã đưa ra sự khác biệt về cấu tạo giữa thân và đốt Sự phức tạp về cấu tạo và sắp xếp các bó dẫn của đốt vừa đảm bảo dòng nhựa nguyên và dòng nhựa luyện chạy thông từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên lại vừa đảm bảo nhựa dẫn tới lá và rễ
Trang 2828
Ngay dưới đốt có một vòng tế bào sinh rễ có khả năng đâm rễ khi gặp điều kiện thích hợp, càng lên các đốt trên thì khả năng này cành giảm (Bùi Huy Đáp, 1980) [5]
Khi nghiên cứu về hình thái rễ lúa, Bùi Huy Đáp đã đưa ra ý kiến cả về hình thái và giải phẫu Về hình thái rễ lúa, tác giả đã mô tả tương đối đầy đủ
về quá trình hình thành, phát triển của bộ rễ qua các thời kì khác nhau, mối liên hệ giữa số đốt và số lượng rễ Ông đã phân chia các cấp độ rễ lúa: Rễ cấp một mọc phía dưới lóng thân nên đường kính rễ nhỏ hơn, các cấp rễ sau phát sinh từ cấp một nên đường kính nhỏ hơn, các cấp rễ sau phát sinh từ cấp rễ trước và có đường kính nhỏ dần
Về giải phẫu rễ lúa, tác giả cho rằng tác giả cho rằng lúa thuộc lớp 1 lá mầm nên rễ có cấu tạo đặc trưng của thực vật Một lá mầm - chỉ có cấu tạo sơ cấp không có cấu tạo thứ cấp Trong đó, ông mô tả những đạc điểm cơ bản về cấu tạo giải phẫu của các thành phần cấu tạo nên rễ lúa Khi nghiên cứu, tác giả còn thấy: do sống trong điều kiện ngập nước nên tuổi cây càng cao, số lượng tế bào mô mềm càng giảm, tỷ lệ nước trong tế bào mô mềm giảm, khoảng trống giữa các tế bào càng to dần và hình thành mô thông khí (Bùi Huy Đáp, 1980) [5]
Nguyễn Văn Hoan (2006) trong cuốn “Cẩm nang cây lúa” cũng đã đề cập đến hình thái, cấu tạo, quá trình phát triển, sự sắp xếp của các lá trên thân
và vai trò của các loại lá Tác giả đã bổ sung thêm một số đặc điểm của lá như: phiến lá gồm các gân chạy song song, tùy thuộc vào giống mà phiến lá
có các hình dạng khác nhau Ở các giống cao cây cổ truyền thường gặp loại lá
có phiến lá cong đều hình cánh cung, lá mỏng và yếu Một số giống khác có kiểu lá cong đầu Các giống lúa cải tiến với kiểu cây hiện đại thì hình dạng của phiến lá đã chuyển thành dạng lá thẳng, bản lá dày, lá tương đối ngắn (Nguyễn Văn Hoan ,2006)[10]
Trang 2929
Nghiên cứu về hình thái, cấu tạo thân lúa, Nguyễn Văn Hoan cho rằng cây lúa có thân giả (các bẹ lá kết lại với nhau thường dẹt, xốp) và thân thật (các lóng kế tiếp với nhau kế tiếp qua các đốt) phần cuối của thân là bông lúa, thân lúa thường có 4 - 5 lóng dài phân biệt được Ở các giống phản ứng với ánh sáng ngày ngắn và cấy ở chân ruộng sâu thân lúa có thể có từ 6 - 7 lóng, các lóng này lần lượt phát triển từ lóng thấp đến lóng cao và các lóng sau dài hơn lóng trước, dài nhất là lóng sát bông Các giống lúa tuy có khác nhau về
số lóng song dài nhất đều là 3 lóng và tổng chiều dài 3 lóng này cùng với bông lúa chiếm tới 90 - 95 chiều dài thân; 3 lóng cuối ngắn, to, dầy, cứng cáp thì cây lúa thường có khả năng chống đổ tốt (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [10]
Nguyễn Văn Hoan khi nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu rễ lúa, tác giả cũng rút ra một số đặc điểm cơ bản giống nghiên cứu của Bùi Huy Đáp Bên cạnh đó, ông đã bổ sung thêm một số đặc điểm về sự phát triển của lớp lông hút Theo tác giả lớp lông hút do lớp tế bào biểu bì kéo dài ra mà thành, rễ già thì biểu bì mất đi, lông hút chết dần và tách ra khỏi rễ, ngoại bì hóa bần và không thấm nước Lúc này rễ đóng vai trò như một cái ống dẫn (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [10]
Nguyễn Ngọc Đệ (2008) trong cuốn “ Giáo trình cây lúa” cũng đã đề cập đến hình thái, cấu tạo của lá lúa Tác giả mô tả một số đặc điểm của lá như: phiến lá gồm các gân chạy song song từ cổ lá đến chót lá Phiến lá chứa nhiều bó mạch lớn nhỏ và các bọng khí phát triển ở gân chính, đồng thời ở hai mặt lá đều có khí khổng Mặt trên lá có nhiều lông hạn chế thoát hơi nước và điều hòa nhiệt độ Các tế bào nhu mô có nhiều hạt diệp lục nơi xúc tác các phản ứng quang hợp của cây lúa
Nghiên cứu về cấu tạo, giả phẫu thân lúa tác giả cho rằng thân lúa gồm những mắt và lóng nối tiếp nhau Lóng là phần thân giữa hai mắt và được bẹ
ôm chặt, thường các lóng bên dưới ít phát triển nên các mắt rất khít nhau Chỉ
Trang 3030
có 3-8 lóng trên cùng vươn dài khi lúa có đòng đòng Thiết diện lóng có hình tròn hay bầu dục với thành lóng dày hay mỏng, lóng dài hay ngắn tùy thuộc vào giống và điều kiện môi trường Về cấu tạo bẹ lá là phần ôm lấy thân, bẹ lá
có nhiều khoảng trống nối liền với khí khổng ở phiến lá thông với thân và rễ (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) [7]
Nhìn chung, các tác giả khi nghiên cứu về hình thái - giải phẫu của cây lúa đã mô tả khá đầy đủ, tỉ mỉ về cơ quan sinh dưỡng Tuy nhiên, về giải phẫu
lá, thân, rễ cây thích nghi với các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, hay khả năng chống gẫy đổ chưa được các tác giả chú ý nhiều
Trang 3131
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi nghiên cứu giống lúa nếp tan
cổ truyền của đồng bào dân tộc Thái, trồng tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
GIỐNG NẾP TAN TRÒN GIAI ĐOẠN 8 GIỐNG N87 GIAI ĐOẠN 8
Hình 2.1 Giống lúa nếp tan tròn và giống N87được trồng ở xã Thôm
Mòn,huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Giống đối chứng là N87, số liệu của giống được tham khảo từ thành viên của nhóm nghiên cứu: Phạm Quốc Cường
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Giống lúa được trồng, theo dõi nghiên cứu tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La
Các chỉ tiêu giải phẫu được thực hiện tại phòng thí nghiệm Bộ môn Thực vật, khoa Sinh học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội
Trang 3232
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013, theo dõi trong vụ Thu đông (15/1 – 27/6/2013) và vụ Xuân hè (1/7 - 10/11/2013)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
23.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn
2.3.1.1 Cơ sở khoa học
Cây lúa thuộc họ Lúa (Poaceae) có hoa tự thụ phấn, tỷ lệ giao phấn rất
ít nên đặc điểm di truyền tương đối ổn định Hầu hết các giống lúa địa phương có tính chống chịu cao với một số loài sâu bệnh nguy hiểm và điều kiện ngoại cảnh bất lợi do tính thích nghi cao với các điều kiện địa phương nên thường cho năng suất ổn định
Giống lúa địa phương là những quần thể rất phức tạp do trao đổi hạt giống trong cộng đồng và giữa các cộng đồng Cùng với kinh nghiệm chọn lọc, để giống nên các giống địa phương rất đa dạng về di truyền nên đây là nguồn nguyên liệu quý cho cho các kế hoạch cải tiến giống cây trồng (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [11]
Các giống cây trồng mới được tạo ra với mục đích khắc phục các nhược điểm của giống cũ và cuối cùng để thỏa mãn nhu cầu của con người
Cơ sở tạo ra các giống mới là củng cố và duy trì các ưu điểm vốn có của các giống cũ bằng cách chọn lọc trực tiếp, sử dụng trong các tổ hợp lai hoặc làm vật liệu để gây đột biến nhằm cải tạo các tính trạng mong muốn và bồi dục chúng thành giống mới Vì vậy, trước khi muốn tạo ra các giống lúa mới có nhiều ưu điểm cần nghiên cứu những đặc điểm sinh học nông học các giống lúa thuần địa phương mang phẩm chất tốt, từ đó làm cơ sở lai tạo ra các giống mới có phẩm chất tốt, ổn định
Trang 3333
2.3.1.2 Cơ sở thực tiễn
Huyện Thuận Châu là một trong những huyện miền núi nghèo của tỉnh Sơn La, sản xuất nông nghiệp chủ yếu mang tính tự cung tự cấp Việc sản xuất nông nghiệp trong vùng mang tính chất dựa trên kinh nghiệm lâu năm của người dân là chính, người dân chưa tiếp xúc nhiều với khoa học kỹ thuật tiên tiến nên nông nghiệp trong vùng chưa thực sự phát triển
Thuận Châu là huyện có nền sản xuất lúa gạo đứng thứ 2 sau huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La Phần lớn địa hình huyện là đồi núi nên Thuận Châu hình thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Tổng diện tích gieo trồng toàn huyện là 5.053ha, trong đó diện tích lúa nước là 2.319 ha: Chủ yếu là giống N87, N97 chiếm 68%, các giống lúa lai như Nhị ưu 838, Nhị ưu 63, Tẻ thơm TH số 1, Thục hưng 63, Khang dân
18, IR 64 chiếm 29% còn lại là các giống lúa địa phương Diện tích không có khả năng cấy do thiếu nước là 2734 ha được bà con nông dân chuyển sang trồng lúa nương và một số cây trồng khác như đậu tương, lạc, ngô, sắn, [2] Hầu hết các giống lúa địa phương được người dân gieo trồng với diện tích nhỏ để giữ giống, trong quá trình sản xuất tập quán canh tác của người dân còn lạc hậu, trình độ hạn chế nên ảnh hưởng năng suất lúa
Nếp tan tròn là giống lúa địa phương, được người dân trồng từ lâu nhưng phân bố không đều ở các xã của huyện Thuận Châu, hiện tại giống nếp tan tròn chủ yếu được trồng tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu Giống nếp tan tròn là giống lúa cây cao, có khả năng chịu rét và kháng một số loại sâu bệnh khá tốt, phẩm chất hạt gạo cùng hương vị thơm ngon của giống thêm giá trị so với các giống lúa lai hiện trồng trên địa bàn huyện Theo phương pháp chọn giống cổ truyền, người dân tự để giống nên có giá thành rẻ hơn so với nguồn giống từ các công ty cung cấp giống Một ưu điểm nữa của giống nếp
Trang 3434
tan tròn là tính ổn định cao trong di truyền, tuy người dân để giống sau mỗi
vụ theo phương pháp thô sơ là cho vào túi, gác lên sàn bếp nhưng năng suất
và phẩm chất hạt của giống từ nhiều thế hệ không có hiện tượng thái hóa giống Nhưng hạn chế của giống là năng suất không cao, và khả năng kháng
đổ trong mùa mưa lũ kém
Việc nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẫu, nông học của giống
từ đó lấy cơ sở đưa ra các biện pháp kỹ thuật thích hợp cải tạo giống, để giống
có năng suất cao hơn giúp cải thiện đời sống cho người dân tại địa phương, và
xa hơn là lưu giữ nguồn gen mang phẩm chất tốt, ổn định của giống
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng
Chúng tôi sử dụng phương pháp theo dõi trên ruộng, bao gồm các bước sau:
Bước 1: Chọn ruộng: Chọn một mảnh ruộng có diện tích 100m2, được người dân tộc Thái gieo trồng giống lúa nếp tan tròn, tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, Sơn la
Bước 2: Quá trình làm đất, phương pháp cấy:
- Quá trình làm đất:
- Phương pháp cấy: Mạ gieo khoảng 15 ngày (vụ hè - thu) và khoảng
25 ngày (vụ đông - xuân), lưu ý gieo mạ trong vụ đông xuân có bón thêm phân chuồng giữ ấm cho mạ Mạ già đưa đi cấy trên ruộng đã làm đất, giống lúa nghiên cứu cấy thẳng, với mật độ khoảng 35 – 36 khóm/m2
Bước3: Theo dõi đặc điểm về tăng trưởng, các tính trạng hình thái và
thu mẫu lúa các giai đoạn phát triển khác nhau của cây lúa
* Phương pháp nghiên cứu tính trạng hình thái, nông học
(Theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu theo quy phạm giá trị khảo nghiệm
canh tác và sử dụng giống lúa 10 TCN 558-2002 theo quyết định số
143/2002/BNN - KHCN ngày 6/12/2002)
Trang 352.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu tính trạng hình thái (bảng 2.2)
Bảng 2.2: Phương pháp nghiên cứu tính trạng hình thái
STT Chỉ tiêu theo
dõi
Giai đoạn
Trang 3636
xuống gốc má rồi đánh giá
(25-7- dài (35,1-45cm)
Đo từ gốc lá đòng đến mút lá đòng (tính đến 0,1cm)
8 Chiều dài lá
công năng
lá công năng (tính đến 0,1cm)
9 Chiều rộng
lá công năng
phiến lá (tính đến 0,1cm)
bị bẹ đòng bao bọc và
Trang 3715 Phân nhánh
thứ cấp trên
bong
8 0 - không; 1- nhẹ 2- nặng ; 3 - để cụm
Quan sát
2.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu tính trạng nông học (bảng 2.3)
Bảng 2.3: Phương pháp nghiên cứu tính trạng nông học
1 Chiều cao
cây
9 1.Bán bùn:
(vùng trũng < 110cm; vùng cao < 90 cm);
2.Trung bình:
(vùng trũng 110 cm – 130 cm; vùng cao 90-125cm);
3.Cao:
(vùng trũng > 130 cm, vùng cao >125 cm)
Đo từ mặt đất đến mút đầu bông không kể râu (tính đến 0.1 cm)
2 Khả năng
đẻ nhánh
6 1.Rất cao (25 dảnh/cây); Đếm số nhánh trên
Trang 3838
3.Tốt (20-25 dảnh/cây);
7.Thấp (5-9 dảnh/cây) 8.Rất thấp (<5 dảnh/cây)
cây
3 Độ tàn lá 9 1.Muộn và chậm (lá vẫn giữ
màu xanh tự nhiên) 5.Trung bình (lá trên biến vàng
9 Sớm và nhanh (tất cả các
lá vàng và chết)
Quan sát lá ngay dưới lá đòng ở thời điểm thu hoạch
5.Trung bình (hầu hết các cây bị nghiêng ngả)
9 Rất yếu (tất cả các cây đổ rạp)
Đánh giá lần 1 lúc trổ bằng cách lay nhẹ ngược và xuôi nhiều lần thấy biểu hiện về độ cứng và
độ đàn hồi của cây Lần 2, lúc chín để ghi thế đứng của cây và cho điểm
2.3.2.3 Phương pháp nghiên cứu các tính trạng năng suất (bảng 2.4)
Bảng 2.4: Phương pháp nghiên cứu tính trạng năng suất
STT Chỉ tiêu
khảo sát
Giai đoạn
Thang xác định Cách
xác định
Đơn vị tính
Trang 399 Đếm số hạt/bông rồi của 10
khóm rồi chia trung bình
Tính Tạ/ha
2.3.2.4 Đánh giá tính chống chịu
- Tính chịu lạnh ở giai đoạn mạ
Theo dõi trong vụ đông xuân năm 2012 (thời gian từ 18/1/2012 đến 27/6/2013), trong đó giai đoạn mạ khoảng từ 18/1/2012 – 12/2/2013
Đánh giá sau khi mỗi đợt rét kết thúc 3 ngày:
- Điểm 1: Mạ màu xanh đậm, cây sinh trưởng bình thường có thể vẫn
đẻ nhánh
- Điểm 3: Mạ màu xanh nhạt đầu lá hơi bị táp
- Điểm 5: Mạ màu vàng, đầu lá táp vàng hoặc héo xanh
Trang 40- Điểm 3: Chống đổ khá, hầu hết các cây đều nghiêng nhẹ
- Điểm 5: Chống đổ trung bình, hầu hết các cây bị nghiêng 300 (góc tạo bởi thân cây và mặt ruộng)
- Điểm 7: Chống đổ yếu, hầu hết các cây bị nghiêng 450
- Điểm 9: Chống đổ rất yếu, tất cả các cây đều bị nằm rạp trên mặt đất
- Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại
+ Rầy nâu (Nilaparvata lugens)
Theo dõi cây chuyển vàng từng bộ phận hay toàn bộ cây đánh giá thang điểm:
+ Điểm 0: Không bị hại
+ Điểm 1: Hơi biến vàng trên một số cây
+ Điểm 3: Lá biến vàng bộ phận chưa bị cháy rầy
+ Điểm 5: Những lá vàng rõ, cây lùn hoặc héo, 10 - 25% số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng
+ Điểm 7: Hơn nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, cây còn lại lùn nghiêm trọng
+ Điểm 9: Tất cả các cây chết
+ Sâu cuốn lá (Cnaphalocrocis medinalis Guenee.)
Tính tỷ lệ % cây bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng theo thang điểm dưới đây:
+ Điểm 0: Không có cây bị hại
+ Điểm 1: 1 - 10% cây bị hại