Vận dụng cách tiếp cận này, tác giả đi sâu lí giải vềnhu cầu, hành vi của người tiêu dùng đi siêu thị như kết quả tác động của nhiềuyếu tố trong đó tập trung vào các yếu tố cơ bản là: vă
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU 1> Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 đã vạch rõ: "Giaiđoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng thời kì phát triển đổi mới đẩymạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ của nhân dân ta là tậptrung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh côngcuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ tiếp tục phát triển kinh tế nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa."
Thực hiện mục tiêu của Đảng đề ra, trong những năm qua nền kinh tế xãhội nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc Tốc độ phát triển trị giá tổngsản phẩm trong nước (GDP) liên tục vượt qua con số 9% năm 1995, cụ thể lànăm 2000 tăng gấp đôi năm 1991 (2,07 lần), tích luỹ nội bộ nền kinh tế từ chỗkhông đáng kể lên đến 27% GDP Trong GDP, tỉ trọng nông nghiệp từ 38,7%giảm xuống còn 24,3% - công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên 36,6% - dịch vụ
từ 30,6% tăng lên 39,1% Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 220 USD (năm1991) lên 400 USD (năm 2000) Bộ mặt kinh tế - xã hội nước ta không ngừngbiến đổi, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ ChíMinh…
Đời sống sinh hoạt của nhân dân cũng trở nên phong phú, đa dạng hơnvới sự phát triển sôi nổi của thị trường tiêu dùng Bên cạnh sự phục hồi và hoạtđộng bình thường của thị trường truyền thống đã và đang xuất hiện các loại hìnhthương mại và dịch vụ mới, đây là dấu hiệu của một tổ chức sinh hoạt đô thị mớiđang nảy nở Siêu thị là một trong những nét mới đó Tổ chức thương mại nàykhông những khác hẳn với cung cách của các ngôi chợ truyền thống vốn quenthuộc trước đây mà còn biểu hiện một nếp sống mới, một cách thức tiêu dùngmới, một sinh hoạt mới trong đời sống của cư dân một đô thị đang trên đà pháttriển công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Trang 2Hà Nội là một thành phố trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá- khoa học
và công nghệ, là đầu mối giao thông và giao dịch thiết yếu của cả nước cũngnhư cả khu vực Hà Nội có sức thu hút và khả năng lan toả rộng lớn, có tác độngtrực tiếp và mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế chung, đặc biệt là đối với
"tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh" Đâycũng là nơi có quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế mạnh mẽ nhất nước ta.Siêu thị xuất hiện và trở thành một hiện tượng mới, tất yếu trên tổ chức sinhhoạt không gian của thành phố trung tâm này
Chọn đề tài này, tác giả muốn dùng cách tiếp cận xã hội học để nghiêncứu về siêu thị không phải chỉ trên khía cạnh kinh tế thuần tuý mà chủ yếuhướng vào các khía cạnh xã hội Mục đích là tìm hiểu mối quan hệ giữa siêu thị
và người tiêu dùng thông qua nhu cầu, thái độ, hành vi của nhóm khách hàng ở
các siêu thị Với đề tài: "Vai trò của siêu thị với người tiêu dùng Hà Nội hiện
nay (qua nghiên cứu trường hợp siêu thị Vinaconex và siêu thị Intimex Hà Nội)" Tác giả mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào việc nhận diện
những vấn đề mới mà cuộc sống đang đặt ra trong phương thức tổ chức đô thị
2> Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa lí luận
Đây là một đề tài nghiên cứu trường hợp nên có ý nghĩa nhất định đối vớinhững nghiên cứu chọn mẫu hay nghiên cứu tổng thể về sau Các thông tin thựcnghiệm từ thực tế xã hội sẽ có vai trò như một trong rất nhiều cơ sở dữ liệu choviệc phân tích và khái quát lí luận của xã hội học lối sống đô thị
Bên cạnh đó với việc vận dụng một số lí thuyết xã hội học vào giải quyếtmột vấn đề cụ thể của thực tiễn, đề tài có tác dụng phát triển hướng lí luận vềnhận thức và hành động trong xã hội học, chúng ta sẽ có cơ hội để kiểm địnhkhả năng thích ứng của các lí thuyết này trong đời sống xã hội
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nắm bắt những mặt tích cực cũng như tiêu cực của siêu thị hiện naythông qua phân tích mục đích, hành vi, cung cách đi siêu thị của người tiêu dùng
Trang 3từ đó góp phần nhận dạng tổ chức thương mại này một cách đầy đủ và sâu sắchơn Trên cơ sở đó, cung cấp cho các nhà quản lí một cách nhìn khoa học vàthực chứng để kịp thời phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêucực nhất là trong công tác quản lí và điều hành Đề tài phần nào cũng có ý nghĩatham khảo đối với các cấp quản lí siêu thị và thương mại nói chung.
3> Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu mục đích đi siêu thị của người tiêu dùng Hà Nội hiện nay.
3.2 Tìm hiểu vai trò của siêu thị với người tiêu dùng.
3.3 Tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của người tiêu dùng (giới tính, tuổi, học vấn, nghề nghiệp…) với mục đích đi siêu thị
để thấy được cung cách, nhu cầu đi siêu thị
3.4 Đưa ra một số kết luận và giải pháp mang tính chất dự báo và đề xuất trước những vấn đề thực tế trên.
4> Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của siêu thị với người tiêu dùng Hà Nội hiện
nay
4.2 Khách thể nghiên cứu: Người tiêu dùng mua hàng tại hai siêu thị trên.
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Từ tháng 3/ 2004 đến tháng 5/2004
- Không gian: Siêu thị Vinaconex- 24 Hai bà Trưng và siêu thị Intimex- 26_ 32
Lý thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
4.4 Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu
Thực ra đề tài không nghiên cứu về kinh tế nên tác giả không dựa trên sựthành công về kinh doanh, nghĩa là không chọn siêu thị trong nhóm làm ăn cóhiệu quả- trong quá trình lựa chọn siêu thị để nghiên cứu, tác giả có cân nhắcđến cơ sở pháp lí của việc thành lập siêu thị , vị trí, đặc điểm… mỗi siêu thị vàquan trọng là khả năng tiếp cận và thu thập thông tin của tác giả Điều này sẽ có
Trang 4hạn chế về cái nhìn tổng thể nhưng khi đi vào phân tích cũng thấy được các đặcđiểm chung của hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội.
5> Phương pháp nghiên cứu.
5.1 Phương pháp thu thập thông tin tư liệu:
- Tập hợp một số từ điển, niên giám, văn kiện, bài đăng trên các tạp chí lí luận
và báo cáo… về lối sống, thương mại, tiêu dùng và các vấn đề có liên quan
- Thu thập các thông tin về hoạt động của siêu thị thông qua một số báo cáo của
Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Thương mại Hà Nội và của hai siêu thị
Các tài liệu này được sắp xếp theo danh mục tài liệu tham khảo.
Đây là phương pháp thu thập thông tin chính của đề tài Thu thập thôngtin qua bảng ankert trong thời gian từ 15/4/2004 đến 3/5/2004 Do đặc điểm khónắm bắt và tiếp xúc của đối tượng, bảng hỏi gói gọn trong những thông tin vềđặc điểm đối tượng (như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, học vấn, chi tiêu) và nộidung gồm các câu hỏi về lí do đi siêu thị, mức độ đi siêu thị, nhận định về hoạtđộng siêu thị
Cơ cấu mẫu gồm 203 mẫu gồm những khách hàng đi mua hàng trong haisiêu thị trên Do đặc điểm siêu thị Vinaconex dễ tiễp xúc với khách hàng hơnnên tôi chọn mẫu nghiên cứu đông hơn siêu thị Intimex 50 phiếu
Mẫu được chọn ngẫu nhiên trong số những người có mua hàng trong siêuthị hơn là nhóm những người đi siêu thị không với mục đích đi mua sắm hoặcchỉ mua ở các gian hàng thuê mặt bằng cùng siêu thị
Mẫu được chia đều tương đối cho hai giới nam và nữ; tập trung trong độtuổi trên 18 vì những người này có khả năng độc lập về thu nhập và chi tiêucũng như làm chủ hành vi tiêu dùng của mình
Cụ thể là:
Bảng 1: C c u m u i u traơ cấu mẫu điều tra ấu mẫu điều tra ẫu điều tra điều tra ều tra
Trang 51 Giới tính: Nam
Nữ
89114
43.656.2
4.412.36716.3
2.011.848.328.19.9
1.015.355.226.62.0
5 Nhân khẩu: Sống 1 mình
Sống cùng người khác
19184
9.490.6
6 Chi tiêu/ tháng: Dưới 1triệu
1 triệu- 2 triệu
2 triệu- 3 triệu
Trên 3 triệu
24914840
11.844.823.619.7
5.3 Phương pháp thu thập thông tin định tính:
- Quan sát nhiều lần ở hai siêu thị và quan sát có tham gia tại siêu thịVinaconex nên những thông tin thu nhận được ở siêu thị Vinaconex sẽ nhiềuhơn
- Phỏng vấn sâu có ghi âm 10 khách hàng và phỏng vấn có ghi chép 10nhân viên siêu thị (mỗi siêu thị 5 người)
- Trao đổi với cán bộ phụ trách về siêu thị ở Sở Thương mại và Sở Kếhoạch và đầu tư Hà Nội, hai cán bộ quản lí của hai siêu thị
5 4 Phương pháp xử lí thông tin
Trang 6- Các thông tin tư liệu được đọc, xem kĩ, có phân tích và tập hợp theotừng chủ đề cần sử dụng để trình bày trong phần tổng quan, xây dựng khung líthuyết, tình hình chung về siêu thị ở Hà Nội…
- Các thông tin định lượng: được sử lý bằng chương trình SPSS 10.0.Riêng về mức độ đi siêu thị bảng hỏi yêu cầu khách hàng tính theo tuần, theotháng và mức chi tiêu cũng được qui về theo đơn vị tháng
- Các thông tin định tính: được phân tích và lọc ra theo từng chủ đề dưới dạngtrích dẫn báo cáo quan sát, trích dẫn gỡ băng hoặc trích dẫn ghi chép phỏng vấnsâu, toạ đàm Trong khi trình bày tác giả sử dụng các trích dẫn này song songvới các số liệu thống kê định lượng
6> Giả thuyết nghiên cứu
6.1 Siêu thị ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống tiêu dùng của
cư dân Hà nội hiện nay
6.2 Nhận định về vai trò của siêu thị ở các nhóm tiêu dùng khác nhaucũng khác nhau
6.3 Những yếu tố như giới tính, nghề nghiệp, học vấn… có ảnh hưởngnhất định đến mục đích, hành vi đi siêu thị của người tiêu dùng
6.4 So với các loại hình kinh doanh mua bán khác, siêu thị còn có mộtvai trò xã hội đặc biệt đó là vai trò liên kết xã hội
Vai trò của siêu thị
Đời sống tinh thần của người
dân
Kết luận v già N ải pháp
Trang 7PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1>Cơ sở lí luận
1.1.Phương pháp luận Mác - xít:
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; luôn xemxét sự vật- hiện tượng trong một quá trình phát triển với những mối liên hệ phổbiến và tác động lẫn nhau Vận dụng cách tiếp cận này, tác giả đi sâu lí giải vềnhu cầu, hành vi của người tiêu dùng đi siêu thị như kết quả tác động của nhiềuyếu tố trong đó tập trung vào các yếu tố cơ bản là: văn hoá xã hội, tâm lí, kinhtế
1.2 Các lí thuyết nghiên cứu.
Lý thuyết hành vi quan tâm nghiên cứu về hành vi của chủ thể, lý thuyết nàyrất phát triển ở Mỹ Lý thuyết này cho rằng chúng ta không thể nghiên cứuđược những gì chũng ta không thể trực tiếp quan sát được Do đó, đối tượngnghiên cứu của lý thuyết hành vi là những phản ứng quan sát được của các cánhân khi họ trả lời kích thích Chủ nghĩa hành vi cho rằng các các tác nhân
Trang 8quy định các phản ứng của con người, do đó qua các phản ứng cũng có thểhiểu được các tác nhân Mô hình hành vi theo lý thuyết hành vi bào gồm mộtchuỗi các kích thích và phản ứng: S R, trong đó S là tác nhân kích thích
và R là phản ứng của chủ thể trước kích thích đó
Theo sơ đồ này, hành vi của con người mang tính máy móc và không có
sự tham gia của yếu tố nhận thức của chủ thể Sau này, các nhà hành vi luậnhiện đại đã bổ sung thêm nhân tố S I R đề cao các tác nhân trung giantrong quá trình con người đưa ra các phản ứng của mình trước các tác nhânkích thích Điều đó đồng nghĩa với việc khẳng định có nhiều nhân tố có thểtác động đến hành vi của con người, không chỉ là các kích thích có thể quansát được
Vận dụng vào đề tài nghiên cứu, chúng tôi quan niệm sự xuất hiện của hệthống các siêu thị như một nhân tố tác động đến hành vi tiêu dùng của ngườidân Hà Nội, từ đó có thể tìm hiểu về vai trò của hệ thống siêu thị trong đờisống của người tiêu dùng Hà Nội hiện nay
Các lý thuyết xã hội học về hành động có nguồn gốc từ M Weber, G.Mead, F Znaniecki, T Parsons… những tác giả này đều coi hành động xã hội làcốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, đồng thời là cơ sở của đờisống xã hội của con người Và mặc dù tiếp cận ở các góc độ khác nhau song cáctác giả này đã gặp nhau ở các điểm sau:
- Hành động xã hội là hành động hướng tới người khác
- Hành động xã hội là hành động có tính định hướng mục đích
- Trong hành động xã hội luôn có sự tham gia của yếu tố ý thức dù mức
độ có thể khác nhau Nói cách khác, chủ thể của hành động luôn gắn cho hànhđộng đó một ý nghĩa chủ quan nhất định
Trong đời sống của con người, tồn tại cả hành động xã hội và hành độngkhông mang (hoặc ít có) tính xã hội Đó có thể là những hành động như: đangchạy bị vấp ngã, bị té… Đối với những dạng hành động này, chúng ta hoàn toàn
Trang 9có thể nhận thấy không có sự tham gia của yếu tố ý thức Nhà xã hội học gọi đó
là hành động vật lý- bản năng
Khác với các nhà hành vi luận trước đây chỉ quan tâm nghiên cứu nhữngphản ứng quan sát được của các cá nhân khi họ trả lời các kích thích, các nhà xãhội học rất quan tâm đến cấu trúc của hành động xã hội và cung cấp cho chúng
- Tính định hướng mục đích của hành động đi siêu thị được thể hiện trongcác hành vi như: đi xem hàng hoá, đi mua đồ, đi chơi, giải trí…
- Đặt trong hoàn cảnh của hành động xã hội, việc đi siêu thị chịu nhữngtác động nhất định của các giá trị, chuẩn mực xã hội: như nhiều người cho rằngsiêu thị chỉ bán đồ cao cấp, chỉ dành cho những người có thu nhập cao…
Lý thuyết này bắt nguồn từ chủ nghĩa hành vi và thuyết lựa chọn hợp lívới các học giả tiêu biểu là: Thibaut và Keley, G Homans, P.Blau, Emerson…
Trang 10tâm đến cái mà chủ thể mong muốn mà chỉ quan tâm đến cách mà chủ thể sửdụng để đạt đến mục đích cuối cùng và kết quả đạt được có phù hợp với mongmuốn của chủ thể hay không
Friedman và Hechter cho rằng đối với chủ thể thì không có nhiều sự lựachọn hay cơ may có sẵn bởi trên thực tế không có nhiều cơ may cho các trườnghợp Như vậy, bắt buộc họ phải có sự lựa chọn sao cho phù hợp với nhu cầu haynhững sở thích cơ bản, cần thiết nhất và đạt đến mục đích cuối cùng Nhưngtrong khi đó chủ thể cũng luôn có xu hướng tính đến lợi ích kế tiếp của họ nênhai ông đã đặt vấn đề trong sựu lựa chọn của chủ thể có xét đến chi phí (cost)với cái mà anh ta đạt được, có tính đến khả năng thực hiện của bản thân Nếuchủ thể nhận thức mục đích với giá trị cao nhất không phù hợp với khả nănghiện tại của bản thân thì anh ta dễ dàng lựa chọn một phương án khác phù hợpvới khả năng của anh ta hơn
Tuy nhiên, ông phát hiện ra chủ thể trong quá trình hành động chịu tácđộng của hai nhóm yếu tố:
- Thứ nhất, sự hiếm hoi của các tiềm năng Mỗi chủ thể hành động có cáctiềm năng khác nhau cũng như cách thâm nhập khác nhau vào các tiềm năngkhác nhau Trong đề tài này, có thể hiểu tiềm năng là mức sống, thông tin vềsiêu thị, về hàng hoá, dịch vụ… của người tiêu dùng Đối với những người cónhiều tiềm năng, mục đích có thể đạt được dễ dàng hơn so với những người có íttiềm năng Liên quan đến vấn đề tiềm năng là vấn đề chi phí, giá phải trả Trongviệc theo đuổi mục đích, các chủ thể phải quan tâm đến giá của hành động lôicuốn nhất kế tiếp của họ Các chủ thể có thể chọn cách không theo đuổi mụcđích có giá trị cao nhất nếu cơ may quá ít và tiềm năng của bản thân là khôngđáng kể Tóm lại, các chủ thể hành động luôn tối đa hoá điều lợi cho mình
- Thứ hai, các thể chế xã hội Các thể chế xã hội đã áp đặt các khuôn mẫuhành động cho các cá nhân thông qua các tiêu chí, các qui luật, các nguyên tắctạo ra sự ảnh hưởng có hệ thống tới các kết quả xã hội
Lí thuyết trao đổi của Homans
Trang 11Lí thuyết trao đổi của Homans đưa ra 6 định đề để lí giải hành động củacác cá nhân Theo ông, hành động của cá nhân là kết quả của sự tính toán nhằmtối đa điều lợi cho họ Các cá nhân luôn tính toán, so sánh giữa chi phí bỏ ra(cost) với số lượng phần thưởng (reward) mà họ đạt được như là kết quả củahành động.
- Định đề thành công: đối với mọi hành động do cá nhân thực hiện,một hành động cụ thể của cá nhân càng được ban thưởng nhiều càng có khảnăng sẽ thực hiện hành vi đó
- Định đề giá trị: kết quả hành động của một cá nhân càng có giá trị vớianh ta càng có khả năng anh ta sẽ thực hiện hành động
- Định đề kích thích: nếu trong quá khứ có một hay một tập hợp các kíchthích khiến cho hành động cá nhân nhận được ban thưởng thì kích thích hiện tạicàng giống với quá khứ càng có khả năng cá nhân thực hiện hành động đó
Định đề hợp lí: trong quá trình lựa chọn hành động, chủ thể hành động sẽlựa chọn hành động mà theo nhận thức của anh ta vào lúc đó, giá trị của hànhđộng là lớn nhất
- Định đề thiếu thốn- dư thừa: một cá nhân càng nhận được sự ban thưởng
cụ thể trong một quá khứ gần, ban thưởng đó càng trở nên ít có giá trị với anh ta.Mối lợi mà cá nhân nhận được như là kết quả hành động của anh ta ngày cànglớn, càng có khả năng anh ta sẽ thực hiện hành động
- Định đề gây hấn- bằng lòng: một là, khi anh ta không nhận được phầnthưởng mà mình mong đợi hay nhận được sự trừng phạt mà anh ta không mongđợi, anh ta sẽ nổi giận- anh ta sẽ thực hiện hành vi gây hấn và kết quả hành vi đótrở nên có giá trị hơn đối với anh ta Hai là, khi hành động đó nhận được phầnthưởng mà anh ta kì vọng thậm chí nhiều hơn anh ta mong đợi, hoặc không phảinhận sự trừng phạt anh ta sẽ hài lòng- anh ta có khả năng hơn để thực hiện hành
vi và kết quả của hành vi đó trở nên có giá trị hơn đối với anh ta
Tóm lại, chủ thể hành động khi thực hiện hành vi của mình đã có sự cânnhắc, tính toán về tính hợp lí kết quả của hành vi đó
Trang 12Vận dụng lí thuyết này vào trong đề tài, tác giả thấy rằng hành vi đi siêuthị của người tiêu dùng như là một quá trình trao đổi có tính xã hội trong đónhũng gì mà chủ thể mất đi trong quá trình trao đổi được coi là chi phí (cost) vànhững gì mà chủ thể nhận được từ quá trình trao đổi đó được coi là phần thưởng(reward) Những chi phí và phần thưởng này bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần.
Việc vận dụng lí thuyết trao đổi và lí thuyết lựa chọn hợp lí dễ cho ta mộtnhận định chủ quan về người tiêu dùng đó là những kẻ vị lợi thuần tuý Tuynhiên, ở đề tài này tác giả xem xét hành vi của người tiêu dùng qua các yếu tốkinh tế, tâm lí xã hội, xã hội… do vậy sự vị lợi của họ được coi là hoàn toàn hợp
lí trong điều kiện có thể phù hợp với các giá trị kinh tế, tâm lí xã hội, xã hội củahọ
2> Khái niệm công cụ
2.1 Vai trò
Khái niệm vai trò ngày càng được sử dụng rộng rãi trong xã hội học vàtâm lý học xã hội Khái niệm này xuất hiện từ đầu thế kỷ XX trong những côngtrình nghiên cứu của Horton Coolay, Herbert Mead… Nó được dùng như mộttrong những yếu tố căn bản để lý giải các quan hệ xã hội (giữa cá nhân và cánhân, giữa cá nhân và nhóm, cá nhân và tập thể xã hội…)
Trong Từ điển xã hội học của G Endruweit và G Trommdorff (xuất bản
năm 2002) thì vai trò được hiểu như sau: " Vai trò là tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của một người mang các địa vị nhất định."
Trang 13- Đối với loại hình thương mại mới này, nhất là đối với những siêu thị docác cá nhân lập nên trong điều kiện kinh tế chung vậy vai trò thực tiễn củachúng là có hiệu quả hay không hiệu quả, chúng có những chức năng "côngkhai" hay "tiềm ẩn" không? Có thể nói gì về những mong đợi của chủ thể- ở đây
là người tiêu dùng- về siêu thị ngày nay thông qua những nhận định của họ vềsiêu thị
- Cuối cùng, vai trò của siêu thị còn được thể hiện qua vị trí mà nó cóđược trong những kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của các cơ quan, ban,ngành trên địa bàn
2.2 Siêu thị
Siêu thị là loại hình mua bán có từ rất lâu ở các nước phát triển, định
nghĩa từ năm 1968: Siêu thị (tương ứng với từ Supermarket trong Tiếng Anh)
là chợ hoặc cửa hàng thực phẩm lớn trong đó người mua tự phục vụ (chọn lựa và lấy hàng) từ các quầy và trả tiền cho các hàng hoá họ mua tại lối ra.
[Nguồn: Webster's new world dictionary of the American language- 38,1464]
Một định nghĩa khác mới hơn trong Dictionnaire Encyclopẻdique năm
1996 có xác định về yêu cầu về diện tích của siêu thị: Siêu thị (tương ứng với
từ Supermarchẻs trong Tiếng Pháp) là cửa hàng bề mặt rộng (400 - 2500 m2) cung cấp những hàng hóa được bán theo phương thức tự phục vụ [5,975]
Và mới đây nhất, trong Đại từ điển
Tiếng Việt của Bộ giáo dục và đào tạo - Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt
Nam (Nguyễn như Ý chủ biên) xuất bản năm 1999 có định nghĩa như sau: " Siêu thị là cửa hàng rất lớn, bán thực phẩm và hàng hoá đủ loại, người mua có thể tự vào quầy chọn hàng." [40,1445]
2.3 Người tiêu dùng
Khái niệm người tiêu dùng được nhiều ngành khoa học sử dụng như kinh
tế, triết học, xã hội học Trong kinh tế học bao gồm người tiêu dùng cá nhân vàngười tiêu dùng có tổ chức Nghiên cứu của tác giả chỉ giới hạn phạm vi xemxét hành vi của người tiêu dùng cá nhân
Trang 14Người tiêu dùng cá nhân được hiểu là người mua hàng hoá và dịch vụ
sử dụng cho riêng mình, cho sử dụng gia đình, cho sử dụng của một thành viên của gia đình hoặc như một quà tặng cho bạn bè."
[Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam (số13/1991/PL- Uỷ ban thường vụ Quốc hội X ngày 27/4/1999), điều I của chươngI]
Tóm lại đó là những hàng hóa và dịch vụ được mua cho sử dụng cuốicùng bởi các cá nhân
2.4 Nhóm xã hội
Nhóm xã hội là nhóm người được xác định bởi tiêu chuẩn thành viênchính thức hoặc phi chính thức, họ cùng chia xẻ những tình cảm chung và môhình tương tác trong quan hệ xã hội
Những dấu hiệu cần thiết để nhận dạng nhóm xã hội:
Phải được các thành viên của nhóm và những người khác ngoài xã hội xácđịnh quyền thành viên
Có mối liên hệ về mặt vị trí xã hội trong cấu trúc xác định (liên quan đếnquyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm)
Có mô hình hành vi ứng xử tương đối đồng nhất
Chấp nhận những nguyên tắc chung trong quan hệ nhóm (kể cả quan hệquyền lực giữa thủ lĩnh với các thành viên)
Có những giá trị và mục tiêu chung
[ Nguồn: Vũ hào Quang, Sđd]
3> Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Siêu thị là một hình thức kinh doanh hết sức mới mẻ, ra đời trong vònghơn chục năm trở lại đây nên những nghiên cứu về siêu thị không nhiều nếukhông muốn nói là hiếm, nhất là trong các sách, tư liệu giáo khoa
Những nghiên cứu về siêu thị hầu như tập trung vào các khía cạnh kinh tế,còn trong khía cạnh xã hội thì hầu như tập trung vào hành vi, thái độ của
Trang 15người tiêu dùng như trong Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần thị Bích Liên
nghiên cứu: "Siêu thị trong lối sống của cư dân Thành phố Hồ chí
Minh"-năm 1999
Bởi vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tìm đến các nghiên cứu về hệthống thương mại, về tâm lí tiêu dùng qua một số tác phẩm như sau:
giao tế
Đồng thời kết hợp phân tích tổng hợp, tham khảo các tài liệu sau đây phục
vụ cho nghiên cứu của mình:
Đề tài " Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng, sử dụng dịch
vụ của người tiêu dùng"- tác giả Nguyễn thị Chúc (năm 2002)
1 Danh sách các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng của Hà nội
(tính đến tháng 12 năm 2003) của Sở Thương mại Hà nội
4 biểu số liệu về " Tổ chức và hoạt động siêu thị" của 2 siêu thị Vinaconex
và siêu thị Intimex
2 bản Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội, an ninh
quốc phòng năm 2003, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2004 của Thành phố Hà nội.
Một số bài đăng trên trang Tintucvietnam, Hanoinet, Google, Sieuthi …
thuộc hệ thống thông tin trên mạng Internet
Bài đăng trên tạp chí Tiêu dùng, Sài gòn tiếp thị, Tài chính… đề cập đến
các khía cạnh của thị trường, mức tiêu dùng và tình hình hàng hoá trongsiêu thị
4> Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Hà Nội - Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là "trung tâmđầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo
Trang 16dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước" Hà Nội nằm ở trung tâm đồng
bằng sông Hồng, là vùng đất thiêng " ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương đông - tây - nam - bắc tiện hình thế núi sông sau trước Ở đó, địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là hơn cả."
(Chiếu dời đô - Lý Công Uẩn - 1010)
Sự kiện Lý Thái Tổ chọn Thăng Long làm kinh đô của nước Đại Việt làmột mốc son lịch sử của Hà Nội cũng như của cả nước Đến nay, Hà Nội đãđược gần 1000 tuổi - và là một trong những thủ đô lâu đời nhất trên thế giới HàNội còn là nơi qui tụ của nhiều di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng như đềnNgọc Sơn, chùa Trấn Quốc…với diện tích 920,97km2, dân số là 2,756 triệungười, mật độ dân số trung bình là 2993 người/ km2 (nội thành: 17489 người/
km2 - ngoại thành:1533 người/ km2) Hà Nội được tổ chức thành 9 quận, 5 huyệngồm 228 phường, xã và thị trấn với quận Ba Đình là trung tâm hành chính,chính trị quốc gia- quận Đống Đa, Gia Lâm, Đông Anh là các trung tâm côngnghiệp- quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng là khu trung tâm thương mại Vị trí địa
lí của Hà Nội rất thuận lợi, là đầu mối giao thông đường bộ, đường thuỷ, đườngsắt và hàng không nối từ Hà Nội đi các tỉnh, địa phương của Việt Nam và cácnước trong khu vực cũng như trên toàn cầu Hà Nội đã và đang thực sự trở thànhtrung tâm giao dịch kinh tế và giao lưu quốc tế quan trọng của cả nước
Sau khi luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được ban hành vào tháng 12/
1987 cùng với việc áp dụng hàng loạt các chính sách khuyến khích của một nềnkinh tế mở, nền kinh tế Hà Nội đã có những bước phát triển vượt bậc luôn dẫnđầu trong cả nước Mức đóng góp của Hà Nội đối với GDP trong cả nước là10,2% năm 2000 Nhịp độ tăng trưởng GDP hàng năm là 11,6% năm 2000;12,5% năm 2001 gấp 1,55 lần mức tăng trưởng GDP của cả nước Trong đócông nghiệp tăng 13,8%; nông lâm nghiệp tăng 4,5% và dịch vụ tăng 11%
Bảng 2: T c ốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kì 1991 - 2000 điều traộ tăng trưởng GDP bình quân thời kì 1991 - 2000 ăng trưởng GDP bình quân thời kì 1991 - 2000 t ng trưởng GDP bình quân thời kì 1991 - 2000ng GDP bình quân th i kì 1991 - 2000ời kì 1991 - 2000
Trang 171991 - 2000 1991 - 1995 1996 -2000
Công nghiệp, xây dựng 13.8 13.7 14.0
(Đơn vị : %)GDP/ người dự tính năm 2005 đạt 10,6 triệu đồng/ người; năm 2010 đạt11,6 triệu đồng/ người Khoảng cách về mức GDP/ người giữa Hà Nội so vớimức chung của cả nước ngày càng tăng Tỉ trọng về mức GDP/ người của HàNội so với cả nước năm 2000 là 2,1 lần; năm 2003 là 2,3 lần và ước tính năm
2010 là 2,7 lần Chỉ số phát triển con người (HDI) của Hà Nội là: 0,798 mức caonhất trong cả nước
Giá trị sản xuất công nghiệp mở rộng tăng 12,6%; công nghiệp ngoàiquốc doanh tăng 19,7%; công nghiệp quốc doanh địa phương tăng 11,6% Hoạtđộng xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, tổng mức luân chuyển hàng hoá tăng10% trong đó tổng mức bán lẻ tăng 13,4%
Tính đến tháng 12 năm 2001, trên địa bàn Hà Nội đã có 486 dự án đượccấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đầu tư đăng kí là 8,547 triệu USD, đã hìnhthành 5 khu công nghiệp tập trung với diện tích 784 ha và số vốn đầu tư cho hạtầng cơ sở khoảng hơn 250 triệu Nguồn vốn đầu tư trực tiếp này đã góp phầnquan trọng trong việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế của Hà Nội, thực hiện côngnghiệp hoá - hiện đại hoá, nhanh chóng hình thành cơ cấu kinh tế: thương mại -công nghiệp - nông nghiệp
Trang 18CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1> Tổng quan về tình hình siêu thị ở Hà Nội
Đi tìm một bức tranh toàn cảnh về siêu thị ở Hà Nội quả thực là khó khăn
vì cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật cụ thể nào qui định về tiêuchuẩn thành lập siêu thị Về mặt pháp luật, tuy rằng hoạt động của siêu thị kháphát triển nhưng về mặt pháp lí, hoạt động kinh doanh này vẫn chưa có một quiđịnh thống nhất và rõ ràng, chủ yếu là hoạt động tự phát Thực tế, siêu thị là loạihình kinh doanh mới mẻ trong vòng hơn chục năm trở lại đây nên việc tổ chứcquản lí của nhà nước còn nhiều thiếu sót và bị hạn chế về nhiều mặt Vì vậy, chođến nay ngoài những qui định về tổ chức kinh doanh của thành phố Hà Nội vẫnchưa có một qui định nào mới Và tên gọi của các đơn vị kinh doanh siêu thị đều
do Sở Kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép hoạt động thực chất đều là các cửahàng bách hoá, trung tâm kinh doanh tổng hợp; những tên gọi như Vinaconex,Intimex, Marko, Fivimart… đều do các doanh nghiệp tự đặt ra Mặt khác, hầuhết các siêu thị đều trực thuộc một đơn vị kinh tế có cùng ngành nghề kinhdoanh nên những siêu thị này được thành lập theo quyết định của đơn vị chủquản
"Một bộ phận siêu thị do các quận cấp giấy phép hoạt động thường có qui
mô nhỏ, chủ của các siêu thị này là các cá nhân hoặc nhóm kinh doanh theo Nghị định 66/CP có mức vốn thấp hơn vốn pháp định."
Trang 19Theo anh Khánh - cán bộ quản lí phòng quản lí thương mại thuộc Sở
Thương mại Hà nội cho biết: "Những siêu thị được cấp giấy phép kinh doanh
hầu hết phải đạt một số tiêu chuẩn nhất định về vốn, qui mô diện tích mặt bằng, trang thiết bị máy móc hiện đại… Tuy nhiên phần lớn những đơn vị kinh doanh được gọi là siêu thị ở Hà nội đều chưa đạt được qui mô như siêu thị ở các nước phát triển cũng như các nước trong khu vực Nhưng dù sao chúng ta cũng tạm hài lòng với những gì đã đạt được."
Còn về việc quản lí các hoạt động của siêu thị, qua điều tra chúng tôi
được biết: " Hiện nay việc quản lí các đơn vị kinh tế kinh doanh siêu thị ở Hà nội
nói riêng và cả nước nói chung đều gặp phải tình trạng rất phổ biến là không kiểm soát được hoạt động của đơn vị đó ở giai đoạn sau khi cấp giấy phép" Việc
quản lí kinh doanh siêu thị quả thật chưa thật tập trung về một đầu mối chính,chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lí và có chuyên môn như Sở
kế hoạch và đầu tư, Sở thương mại, cơ quan thuế, quản lí thị trường… còn thiếu
những thống kê thông tin thường xuyên kiểm tra nên " hoạt động chủ yếu của
các siêu thị là tự phát và chịu sự chi phối của thị trường" Do đó, ta thấy những
siêu thị xuất hiện đầu tiên của thành phố tập trung ở các quận trung tâm, có đờisống thương mại sầm uất và mức sống dân cư tương đối cao như: quận HoànKiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng… ta xem danh sách các siêu thị nàynhư sau:
Trước hết, theo" Danh sách các siêu thị, trung tâm thương mại chính ở
Hà nội" của Sở thương mại Hà nội tổng kết đến tháng 12/2003 bao gồm 42 siêuthị/ 9 trung tâm thương mại/ 6 cửa hàng tự chọn/ 3 bách hoá tổng hợp Danhsách này chia theo đơn vị hành chính, cụ thể là:
- Quận Hoàn Kiếm gồm 12 siêu thị/ 7 trung tâm thương mại/ 3 cửa hàng
tự chọn và 2 bách hoá
- Quận Đống Đa gồm 10 siêu thị/' 1 trung tâm thương mại/ 1 bách hóa
- Quận Hai Bà Trưng gồm 3 siêu thị/ 1 trung tâm thương mại và 1 cửahàng bách hoá
Trang 20- Quận Ba Đình gồm 4 siêu thị/ 1 trung tâm thương mại/ 2 cửa hàng báchhoá và 1 cửa hàng tự chọn.
- Quận Thanh Xuân có 2 siêu thị
- Quận Tây Hồ có 2 siêu thị
- Huyện Từ Liêm có 2 siêu thị
- Huyện Đông Anh có 1 siêu thị
- Huyện Gia Lâm có 1 siêu thị
Như vậy có 38 siêu thị ở nội thành và 4 siêu thị ở ngoại thành Tuy nhiêntrong qúa trình khảo sát thực tế, tác giả còn phát hiện một số siêu thị đã và đanghoạt động mạnh mẽ:
1 Siêu thị Acemart- Định Công
2 Siêu thị Thái Dương- Nguyễn Chí Thanh
3 Siêu thị Quan Nhân- Cầu Giấy
4 Siêu thị Vinaconex- Trung Hoà
và một số cửa hàng bách hoá tự chọn khác…
Khi xem xét hoạt động các siêu thị, tác giả không lấy tiêu chí về diện tíchcác siêu thị bởi vì đặc thù của Hà nội là "đất chật người đông" nên tác giả lấy
tiêu chí " tự phục vụ" , " tự vào quầy lựa chọn hàng" và " trả tiền cho các hàng hoá
họ mua tại lối ra" trong khái niệm siêu thị để nghiên cứu Qua thực tế, các siêu
thị/ trung tâm thương mại/ cửa hàng tự chọn đều có đặc điểm chung là cùng tổchức khu vực tự chọn và thu ngân ở ngay lối ra kết hợp với hàng hóa được trưngbày khá bắt mắt Rõ ràng, yêu cầu về một cảnh quan lịch sự và nhu cầu được tự
do lựa chọn hàng hoá đã trở thành một tất yếu trong mua sắm của người tiêudùng Hà nội hiện nay
Về tên gọi của siêu thị như đã nói ở trên do tình hình quản lí còn lỏng lẻo
nên nhiều nơi để thẳng tên gọi " siêu thị " trên bảng hiệu như siêu thị Marko, siêu
thị Intimex… nhưng cũng không ít đơn vị chưa sử dụng từ gọi này dù thực tế cảkhách hàng lẫn nhân viên phục vụ đều xem cửa hàng của mình là siêu thị như
Trang 21trường hợp cửa hàng Coco - mart trên đường Ngọc Khánh Lại có trường hợpnhiều siêu thị nằm trong cùng một đơn vị kinh doanh dạng trung tâm đa chứcnăng như siêu thị Vinaconex trong trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza (24Hai Bà Trưng), siêu thị VIKO nằm trong Trung tâm Giảng Võ (D2 Giảng Võ)…
Tuy nhiều về số lượng nhưng thực chất một số lớn siêu thị chỉ là các đơn
vị trong cùng một hệ thống của một cơ quan chủ quản mà thôi Có thể kể đếnmột số trường hợp như sau:
- Hệ thống siêu thị thuộc công ty TNHH Nhất Nam bao gồm:
+ Siêu thị Fivimart - 17 Tôn Đản
+ Siêu thị Fivimart - 210 Trần Quang Khải
+ Siêu thị Fivimart - 777 đường Giải Phóng
+ Siêu thị Fivimart - 10 Trấn Vũ
- Công ty liên doanh Duy Anh gồm:
+ Siêu thị Marko 1 - Toà nhà V- Tower Thủ Lệ
+ Siêu thị Marko 2 - 379 Tây Sơn
+ Siêu thị Marko / VIKO - D2 Giảng Võ
- Công ty thương mại Hà nội:
+ Siêu thị Hàng Bài - 18 Hàng Bài
+ Siêu thị Vinaconex - 24 Hai Bà Trưng
+ Trung tâm thương mại Cát Linh - 1E Cát Linh
- Công ty xuất nhập khẩu dịch vụ - thương mại (Bộ thương mại):
+ Siêu thị Intimex - 32 Lý Thái Tổ
+ Siêu thị Hào Nam
-Công ty bách hoá Hà nội:
+ Trung tâm thương mại Đinh Tiên Hoàng: 5 - 7 Đinh Tiên Hoàng
+ Siêu thị 12 Bờ Hồ: 19 - 21 Đinh Tiên Hoàng
+ Bách hoá Khâm Thiên - 376 Khâm Thiên
Trang 22+ Bách hoá Giảng Võ - D2 Giảng Võ.
Một đặc điểm là các trung tâm thương mại của Hà nội thường mang tínhchất kinh doanh tổng hợp thường có kết cấu là một toà nhà gồm nhiều tầng tậphợp nhiều loại hình mua bán, dịch vụ, giải trí Mỗi tầng nhà là một chủng loạihàng hoá hoặc một loại hình dịch vụ giải trí trong đó cung cách phục vụ giốngnhư trong siêu thị Ví dụ như kết cấu trung tâm thương mại VIKO - Giảng Võ:tầng 1 kinh doanh siêu thị, đồ dùng cá nhân; tầng 2 kinh doanh nhà hàng; Kếtcấu trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza: tầng 1 kinh doanh vàng bạc trangsức đá quí, tầng 2 kinh doanh hàng điện tử điện lạnh, tầng 3 kinh doanh đồ dùngquần áo, tầng 4 kinh doanh siêu thị, tầng 5 phục vụ ăn uống giải trí…
Đặc biệt một số siêu thị chỉ chuyên phục vụ một số bộ phận khách hàngnhất định như:
1 Siêu thị Vinaconex trong Hà nội Tower Shopping Center (49 Hai BàTrưng) chuyên phục vụ khách trong toà nhà này
2 Siêu thị Techsimex (Đào Duy Anh) chuyên phục vụ khách trong kháchsạn Kim Liên
3 Siêu thị Metro (Từ Liêm) chuyên bán buôn các mặt hàng
Bên cạnh phần lớn các siêu thị kinh doanh đa dạng các mặt hàng là một sốsiêu thị chuyên doanh một chủng loại hàng như:
1 Siêu thị Nhà Xinh (94 Trần Quốc Toản) chuyên đồ dùng gia đình, đồgỗ
2 Siêu thị Trẻ em (46 Bà Triệu) chuyên quần áo, đồ chơi trẻ em
3 Siêu thị điện lạnh (33 Phố Huế) chuyên kinh doanh điện, điện tử, điệnlạnh
4 Siêu thị Vinatex (25 Bà Triệu) chuyên kinh doanh quần áo đủ loại.Tóm lại, sau khi tổng kết tác giả tạm ghi nhận bức tranh toàn cảnh về siêuthị trên địa bàn Hà Nội gồm 42 siêu thị như sau:
Siêu thị 12 Bờ Hồ 19 - 21 Đinh Tiên Hoàng
Trang 23 Siêu thị Hàng Bài 18 Hàng Bài
Siêu thị Nhà Xinh 94 Trần Quốc Toản
Siêu thị Fivimart 17 Tôn Đản
Siêu thị Fivimart 210 Trần Quang Khải
Siêu thị Intimex 32 Lí Thái Tổ
Siêu thị Thăng Long GTC 87 - 89 Lê Duẩn
Siêu thị Big Mart 44 Tràng Tiền
Siêu thị Minimart 66 Bà Triệu
Siêu thị Trẻ em 46 Bà Triệu
Siêu thị Retex 74 Bà Triệu
Siêu thị KS Metropol Ngô Quyền
Siêu thị Vinatex 25 Bà Triệu
Siêu thị Sao 36 Cát Linh
Siêu thị Seiyu 8 Phạm Ngọc Thạch
Siêu thị Asean 10 Phạm Ngọc Thạch
Siêu thị Techsimex 9 Đào Duy Anh
Siêu thị Sao 2B Phạm Ngọc Thạch
Siêu thị Thái Hà 174 Thái Hà
Siêu thị Dream 104C Lê Duẩn
Siêu thị Láng Hạ 23 Láng Hạ
Siêu thị Marko 379 Tây Sơn
Siêu thị Hào Nam Hào Nam
Siêu thị Minimart Tầng 2 chợ Hôm Đức Viên
Siêu thị Điện lạnh 33 phố Huế
Siêu thị Hà Nội Phố Lê Đại Hành
Siêu thị Fivimart 777 đường Giải Phóng
Trang 24 Siêu thị 5 Nam Bộ Số 5 Lê Duẩn
Siêu thị Marko 1 Toà nhà V - Tower Thủ Lệ
Siêu thị Fivimart 3 Số 10 Trấn Vũ
Siêu thị CitiMark 6 Ngọc Khánh
Siêu thị Coop Hà Nội 1E Trường Chinh
Siêu thị Thương mại H2A Thanh Xuân Nam
Siêu thị Lệ Chi 166 Xuân Diệu
Siêu thị Cố đô 614 Lạc Long Quân
Siêu thị Metro Từ Liêm
Siêu thị Thị trấn Cầu Diễn - Từ Liêm
Siêu thị Thị trấn Đông Anh
Siêu thị Thị trấn Gia Lâm
Siêu thị Vinaconex Tầng 4 - 24 Hai Bà Trưng
Siêu thị VKO Trung tâm triển lãm Giảng Võ
(Trên đây là những siêu thị được sử dụng tên gọi " siêu thị" chính thức trong
tất cả các văn bản, giấy tờ, báo cáo bán hàng… có liên quan đến hoạt động kinhdoanh)
Như vậy, siêu thị ra đời và hoạt động tự phát, chịu sự chi phối của thịtrường trên những vùng địa lí có đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội nhất định
2> Vài nét về siêu thị Vinaconex và siêu thị Intimex.
2.1 Siêu thị Intimex
Siêu thị Intimex là một trong những hoạt động kinh doanh đa dạng củaCông ty xuất nhập khẩu Dịch vụ- Thương mại, khai trương ngày 25/03/2001, sốgiấy phép đăng ký kinh doanh: 312942 do Sở Kế hoạch và đầu tư Hà nội cấpngày 02/02/2001
Siêu thị Intimex là một toà nhà rộng 2 tầng nằm trên số 26 và 32 Lý thái
Tổ, quận Hoàn kiếm Có thể nói đây là vị trí khá đặc biệt với cụm siêu thị và các
Trang 25cửa hàng kinh doanh khá sầm uất Chưa kể khu thương mại trên đường HàngBông, chỉ tính xung quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm đã có 3 siêu thị chính:
Siêu thị 12 Bờ Hồ (Công ty bách hoá Hà Nội ) số 19- 21 Đinh tiên Hoàng
Trung tâm thương mại Đinh tiên Hoàng (Công ty bách hoá Hà Nội ) số
5-7 Đinh tiên Hoàng
Siêu thị Hàng Bài (Công ty thương mại Hà Nội ) số 18 Hàng Bài
Các siêu thị này đều kinh doanh thực phẩm công nghệ, đồ may mặc, đồdùng gia đình,hoá mỹ phẩm, đồ da cao cấp… như siêu thị Intimex
Tuy nhiên, với những nét riêng của mình siêu thị đã thu hút một lượngkhông nhỏ khách hàng đến với mình nhất là khách hàng quen thuộc Hiện nay,với 8 quầy thu ngân và hơn 100 nhân viên chia làm hai ca quản lí 79 gian hàngtrung bình mỗi ngày siêu thị phục vụ gần 1500 khách hàng Hàng nhập vào hàngtháng từ 120.000.000kg đến 110.000.000 thùng, siêu thị có khoảng 16000 mặthàng đạt mức doanh thu từ 130- 150 triệu/ ngày
Nguyên nhân chính ở đây là do siêu thị có mặt bằng diện tích kinh doanhrộng lớn, có khu vực bán hàng tự chọn riêng, khu vực hàng khuyến mãi riêng,nhất là khu vực vui chơi dành cho trẻ em và bãi đỗ xe miễn phí trong hai ngàythứ 2 và thứ 5 hàng tuần
2.2 Siêu thị Vinaconex
Siêu thị Vinaconex được thành lập trên cơ sở hợp đồng kinh doanh củaCông ty cổ phần siêu thị và xuất nhập khẩu thương mại Việt nam gọi tắt làVinaconex Mart JSC Số giấy phép đăng kí kinh doanh: 010 3001328 do Sở Kếhoạch và đầu tư Hà Nội cấp ngày 04/09/2002
Siêu thị Vinaconex toạ lạc trên tầng 4 của Tung tâm thương mại TràngTiền Plaza, mặt chính siêu thị quay ra đường Hàng Bài, mặt trái quay ra đườngHai Bà Trưng, mặt phải quay ra đường Tràng Tiền
Trang 26Siêu thị Vinaconex là siêu thị thuộc loại kinh doanh lớn nhất thành phốvới tổng diện tích kinh doanh lên đến hơn 3000 m2, bao gồm hơn 20000 mặthàng với hơn 100 giá hàng nhiều tầng Bên trong siêu thị được chia thành nhiềukhu vực tự chọn gồm hàng thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, quần áo, điện tử,
đồ dùng gia đình… bên ngoài được dành cho công tác tiếp thị và hàng khuyếnmại (khu vực cửa ra vào siêu thị )
Với qui mô và hàng hoá đa dạng như vậy nên hầu hết các siêu thị đều bịquá tải vào hai ngày nghỉ cuối tuần và các ngày nghỉ lễ (như hai ngày 30/04 và1/05 vừa qua) Vậy, điều gì đã thu hút đông đảo người dân đến với siêu thị nhưvậy? Chúng ta sẽ tìm hiểu thông qua một số phân tích sau đây
3> Siêu thị - một hình thức kinh doanh đặc biệt
3.1 Hàng hoá trong siêu thị.
Theo báo cáo bán hàng tháng và quí I năm 2004, chúng tôi nhận thấy: mặthàng thực phẩm và đồ uống chiếm doanh thu bán hàng cao nhất: 39,1%; hoá mỹphẩm và đồ dùng cá nhân chiếm 35,3%; tiếp theo là đồ dùng gia đình: 24,7% Như vậy là người tiêu dùng đi siêu thị chủ yếu mua những mặt hàng thiết yếuphục vụ đời sống hàng ngày của mình
Trong các nhóm hàng đạt doanh thu cao trên, chúng tôi thu nhận đượcmột số kết quả như sau:
- Thứ nhất, các mặt hàng phục vụ nhu cầu ăn uống được tiêu thụ khánhiều Đó là các loại nước uống như bia, nước khoáng, các loại trà, sữa… cácloại thức ăn chế biến sẵn Điều đáng lưu ý là các sản phẩm nước đóng hộp vàsữa tươi đóng hộp của công ty sữa Việt Nam rất được người tiêu dùng ưa
chuộng Theo người đại diện nhà cung cấp thì "một phần vì người tiêu dùng đi
đâu, làm gì, bất cứ lúc nào cũng có thể đem theo và uống liền, không phải mất công pha chế, không phải mang cốc chén, lại hợp vệ sinh" Ngoài ra, các loại
thực phẩm đã chế biến phục vụ ăn nhanh cũng rất được quan tâm như: bánhnhân ruốc, bánh dày, nem xôi, bánh bột lọc, bánh bao chiên… đồ ăn sẵn: cơmrang, chả cá, thỏ cary, tôm bao mía, cá basa… các loại thức ăn được chế biến
Trang 27sẵn như: bò viên, thỏ tẩm, sườn lợn, bê xào sả ớt, hến nấu canh chua, cá bônglau kho tộ… rất đầy đủ nguyên liệu và đúng vị Như vậy, hàng hoá trong siêu thịngoài tính tiện dụng còn có tác dụng hướng dẫn vì đối với khách tiêu dùngkhông rành về nấu ăn- nhất là nam giới, vẫn có thể hoàn thành món ăn theo sởthích và nhu cầu Bên cạnh đó, gian hàng thực phẩm đông lạnh trong siêu thịcũng được nhiều khách hàng quan tâm không chỉ vì sự phong phú của nó màtrên hết là khả năng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, luôn được bảo quản giữnhiệt 24/ 24 giờ.
- Thứ hai, các mặt hàng chất lượng cao được tiêu thụ nhiều hơn các mặthàng cùng loại Đó là các sản phẩm của sữa Vinamilk, dầu Tường An, bánhKinh Đô, đồ hộp Hạ Long, thực phẩm chế biến Vissan… và một số mặt hàngcủa những tên tuổi như Pepsi, Coca - cola (nước ngọt), Johnson (hoá mỹ phẩmdùng cho em bé), Colgate (kem đánh răng), La vache quirit (fomat)… Ngoài racòn các sản phẩm của công ty liên doanh Lever Haso (Unilever) như bột giặtOMO, dầu gội đầu Clear, dầu gội và dầu xả Sunsilk, xà bông tắm Lux… vàcông ty Procter và Gamble (viết tắt P&G) như bột giặt Tide, xà phòngSafeguard, dầu gội đầu Head & Shoulders, dầu gội và dầu xả Pantene Pro - v…
đã hoàn toàn trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Như vậy, có thể xem sửdụng hàng chất lượng cao là một trong các khuynh hướng của người tiêu dùngmua sắm tại siêu thị
- Thứ ba, trong sự lựa chọn các hàng hoá tiêu dùng ta thấy có đan xennhững yếu tố dân tộc và quốc tế khá phong phú Bên cạnh những món ăn quenthuộc như cá kho tộ, canh cua, giò, chả, nem chua… là những thức ăn đượcnhập khẩu từ nước ngoài Có thể kể đến như một số loại đồ hộp hoặc đóng chaisẵn: các loại sốt, cá hộp… các loại mì ống, trái cây (nho Mỹ, cam úc, táo Tàu,Kiwi…) hay được sản xuất theo tập quán nước ngoài: bánh Snack, xúc xíchĐức, bánh gato… và nhất là đồ gia dụng, đồ dùng nhà bếp như: nồi cơm điện,bếp ga, lò vi sóng, tủ lạnh, máy khử mùi… Ngay cả đối với mặt hàng sữa, tuyrằng sữa là loại hàng có sẵn ở Việt Nam nhưng mức tiêu thụ chỉ những năm gầnđây mới tăng lên rõ rệt Trong siêu thị, đa dạng mặt hàng sữa từ sữa sản xuất
Trang 28trong nước có nguồn gốc từ động vật như sữa Mộc Châu, sữa Ba Vì… đến cácloại sữa nhập khẩu từ Mĩ, Úc, Newzealand, Pháp… phong phú chủng loại hàng
từ sữa bột, sữa đặc, sữa hoà tan, sữa tươi… sữa giành cho trẻ em, sữa giành chophụ nữ, sữa giành cho người ốm, sữa giành cho người già… Như vậy, trong quátrình hội nhập và phát triển hàng hoá ngày càng phong phú, người tiêu dùng sẽ
có hướng tiêu dùng phù hợp hơn với các nhu cầu ngày càng đa dạng của mình
Và siêu thị xét trên một góc độ nào đó đã đáp ứng được nhu cầu này
- Thứ tư, đồ dùng cá nhân cũng được tiêu thụ mạnh mẽ Đầu tiên là cácmặt hàng phục vụ nhu cầu ăn uống như: gạo, các loại mì, thức ăn chế biến sẵn,
đồ đông lạnh, rau quả, dầu ăn, tương ớt, bột ngọt, nước sốt… kế đến là các mặthàng hoá mĩ phẩm như: bột giặt, nước rửa chén, dầu gội, sữa tắm, xà bông…tiếp theo là đồ giành cho trẻ em như đồ chơi, sữa, bánh kẹo, quần áo… Điềuđáng mừng là mặt hàng này được người tiêu dùng đánh giá cao không những vìchất lượng, giá cả hợp lí mà còn hết sức phong phú, đa dạng về chủng loại Điềunày chứng tỏ một khi chất lượng cuộc sống được nâng lên, thói quen tiêu dùng
có xu hướng về một yêu cầu sử dụng hàng hoá ở tầm cao hơn Siêu thị trong quátrình hình thành và phát triển đã bắt kịp xu hướng này
- Thứ năm, một số mặt hàng điện tử điện lạnh bán được tuy không nhiềunhưng chiếm một doanh thu đáng kể trong quí trên và hầu hết đều phục vụ choviệc giảm nhẹ sức lực và tiết kiệm thời gian cho con người như: máy giặt, bếp
ga, máy xay sinh tố…
Tuy nhiên, theo như nhận định của các nhà quản lí và phân phối hàng hoácủa siêu thị thì hàng hoá tiêu thụ trong hệ thống các siêu thị của Hà Nội mói chỉchiếm một phần rất nhỏ trong mức tiêu dùng nói chung của người dân Nếu sosánh với mức tiêu thụ của Thành phố Hồ chí Minh trong tổng số hàng hoá đượcluân chuyển thì Hà Nội mới chỉ đạt 1/3 Và tổng số mặt hàng cũng vậy, ở HàNội nhiều nhất cũng chỉ là 22000- 22000 mặt hàng trong khi ở Thành phố Hồchí Minh là 60000- 70000 mặt hàng Tốc độ phát triển hệ thống siêu thị của HàNội đã bị chậm hơn Thành phố Hồ chí Minh 5 năm Tiếp xúc với các nhà quản
Trang 29lí siêu thị, chúng tôi được biết đến cuối năm nay Hà Nội sẽ có một siêu thị mớimang tên "BigSee" được sự đầu tư của Pháp sẽ là một siêu thị đúng nghĩa
hypemarket Hy vọng cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội hẹ thống
siêu thị Hà Nội sẽ bắt kịp với sự phát triển chung toàn đất nước
3 2 Cung cách phục vụ trong siêu thị
Siêu thị thực chất là một hình thức kinh doanh đặc biệt, tập trung nhiềuchủng loại hàng hoá, các hoạt động giao dịch mua bán đều được sự hỗ trợ củacác phương tiện, máy móc, kĩ thuật hiện đại Trong siêu thị tồn tại hai phươngthức phục vụ chính là:
- Tự phục vụ: Là cung cách khách hàng tự lựa chọn hàng hoá, quyết định
mua thì tự đem hàng đến quầy thu ngân ở lối ra để trả tiền và đi về Thực ra " tựphục vụ" không phải để giảm bớt sự phục vụ của người bán giành cho kháchhàng mà ngược lại, từ cung cách này đã tạo nên sự biến đổi về chất trong cácphương thức mua bán từ trước đến nay Nói cách khác, khách hàng được tạođiều kiện tốt nhất để tự mình lựa chọn, tự mình quyết định mua hay không muatuỳ theo khả năng và sở thích của mình Cách bán hàng này đã tạo điều kiệnthoả mãn yêu cầu giao dịch mua sắm của người tiêu dùng hiện nay Không phải
tự nhiên mà trong vòng hai năm trở lại đây, thành phố rộ lên những siêu thị vàcửa hàng tự chọn, ngay cả ở một số chợ, trung tâm thương mại, cửa hàng cũng
cố gắng sắp xếp để có được khu vực tự chọn cho khách hàng như: Cửa hàng rausạch tự chọn, quần áo tự chọn, sách báo tự chọn… Đó chính là kết quả của quátrình phát triển kinh tế, mở cửa và hội nhập Một khi đời sống vật chất được tănglên, nhu cầu của con người cũng tăng lên; Nhu cầu này được thoả mãn sẽ nảysinh những nhu cầu cao hơn Cùng với sự phát triển của thời gian, siêu thị sẽchứng tỏ rõ vai trò không thể thiếu của mình trong việc thoả mãn những nhu cầungày càng tinh tế và chính đáng của con người
- Tự do chọn lựa hàng:
Bằng nguồn vốn hơn 20 tỷ, siêu thị đầu tư chủ yếu cho khu vực tự chọn.Trên một mặt bằng diện tích rộng rãi, các mặt hàng tự chọn được trưng bày khá
Trang 30bắt mắt với gần 100 giá hàng, theo thống kê của siêu thị bao gồm từ
16000-20000 mặt hàng thực phẩm và phi thực phẩm Đáp ứng mọi nhu cầu sử dụng củakhách hàng với hơn 400 nhà cung cấp và hàng nhập khẩu
Các khâu tổ chức và sắp xếp trưng bày sản phẩm nhất là khâu tổ chức bảoquản hàng đông lạnh rất được chú trọng sao cho hợp lí và thuận tiện cho sự lựachọn của khách hàng Bên cạnh đó, siêu thị cũng rất chú ý ưu tiên đầu tư cácthiết bị, máy móc hiện đại phục vụ cho hoạt động mua và bán hàng Đa sốnhững trang thiết bị này đều đạt tiêu chuẩn của trình độ tiên tiến chung của cácnước trong khu vực Đó là hệ thống đèn chiếu sáng đảm bảo cho sự quan sát,nhìn ngắm hàng hoá luôn rõ ràng và trung thực; hệ thống quạt giải nhiệt, máyđiều hoà nhiệt độ luôn tạo cảm giác dễ chịu cho khách hàng; hệ thống máy lạnh,
tủ đá bảo quản hàng hoá; hệ thống làm mát giữ tươi trái cây và rau xanh; hệthống camera, hệ thống ngắt điện và báo cháy tự động để bảo vệ an toàn; hệthống thông tin liên lạc đảm bảo cung ứng kịp thời mọi yêu cầu của khách hàng;máy phát điện đề phòng khi mất điện…
4>Nhận định của người tiêu dùng về siêu thị.
4.1 Thực trạng đi siêu thị của người tiêu dùng Hà Nội.
Tại siêu thị Vinaconex, theo thông tin từ nhân viên bán hàng, lượng kháchbình quân trong ngày ước tính trung bình: 2000 -3000 người/ ngày và 50 000-
60 000 người/ tháng, những ngày nghỉ và ngày lễ có thể lên tới 5000 người/ngày; thời gian đi siêu thị tập trung trong khoảng từ 14h đến 21h trong ngày.Điều này chứng tỏ, siêu thị đã có một sức hấp dẫn nhất định đối với người tiêudùng hiện nay
Qua khảo sát sinh hoạt siêu thị, tác giả nhận thấy đối tượng khách hàng đisiêu thị khá phong phú Phong phú từ độ tuổi, nghề nghiệp, học vấn… từ trẻ đếngià; từ những ẹm bé được cha mẹ bế trên tay 1 tuổi, 2 tuổi đến những ông bà giàdắt cháu đi chơi; từ những em học sinh, sinh viên vẫn còn mặc đồng phục đếncác cán bộ nhà nước, giáo viên, bộ đội, nhân viên văn phòng, người làm kinhdoanh, dịch vụ, buôn bán… từ người Việt Nam đến người Châu Âu, người Nhật,
Trang 31Trung quốc, Anh, Mĩ … Phong cách đi cũng khá đa dạng: đi một mình, đi theonhóm và nhất là đi cùng gia đình và người thân Quan sát hành vi của khách đisiêu thị, ta thấy bề ngoài họ không khác những người đi mua sắm ở ngoài là mấynhưng nếu nhìn kĩ có thể nhận thấy số lượng người vào siêu thị ăn mặc gọngàng, lịch sự hơn và nhất là không còn dáng vẻ hấp tấp, mướt mát, hối hả muahàng như ở ngoài Tỉ lệ những người mang giày da, dép gốc tạm được đánh giá
là lịch sự chiếm hơn 90%; không có hoặc rất ít trường hợp ăn mặc khôngnghiêm túc trong siêu thị Người đi siêu thị hầu như không trông thấy cảnhnhững người đàn ông cầm điếu thuốc hút dở hay những hành động kém văn hoánhư ở ngoài Mà ngược lại, trong siêu thị bạn có thể hoàn toàn ngẫu nhiên pháthiện ra một đôi nam nữ vui vẻ chọn hàng, gia đình kia đang bàn bạc về mónhàng trên tay, cha dắt con cho mẹ mua đồ ăn; người đàn ông xách giỏ đựng hàngchờ người phụ nữ cúi xuống nhặt hàng… Qua đây, chúng tôi phát hiện ra siêuthị có một vai trò xã hội đặc biệt, siêu thị không chỉ là nơi mua sắm đơn thuần
mà còn là nơi gắn kết mọi người lại với nhau, giúp cho mọi người trở nên gầngũi, thân thiện với nhau hơn
Vậy, điều gì đã thu hút họ đến siêu thị đông như vậy? Chúng ta cùng tìmhiểu qua một số phân tích sau đây:
4.1.1 Các nguyên nhân đi siêu thị của người tiêu dùng Hà Nội.
Qua một số phỏng vấn sâu, chúng tôi được biết lí do họ vào đây mua hàng
phần lớn vì: "ở đây mát mẻ, sạch sẽ, lại có chỗ cho trẻ đi cùng; vừa chơi, vừa có
thể mua sắm đồ cho cả nhà Tiện hơn rất nhiều."
(Nữ, 45 tuổi, cán bộ nhà nước)
" Bọn em vào siêu thị vì ở đây khung cảnh thoáng đãng, lịch sự có thể kết hợp đưa bạn gái đi chơi và mua sắm luôn vì vào siêu thị bọn em không sợ bị quá túi tiền của mình mà vẫn vui."
(Nam, 25 tuổi, sinh viên)
Còn một bác làm nghề nội trợ thì cho biết:
Trang 32" Bác thích mua hàng trong siêu thị lắm vì giá cả ổn định, chất lượng lại được đảm bảo, an toàn tuyệt đối không sợ bị mất đồ như ở chợ, lại hay có hàng khuyến mãi, có chỗ cho em chơi Hầu như ngày nào bác cũng đi siêu thị, đồ trong nhà bác toàn là đồ mua ở siêu thị Bác yên tâm lắm."
(Nữ, 52 tuổi, nội trợ)
Nhằm làm rõ hơn, trong Phiếu Phỏng vấn chúng tôi đưa ra 11 lí do cho
khách hàng lựa chọn "lí do đi siêu thị " và thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 1: Các lí do đi siêu thị của người tiêu dùng hiện nay
90.6
81.8 77.3 74.9
65 62.1
54.2 32.5
10.3
5.4
1 0
Cã
ng êi
rñ ®i
Theo phong trµo
90.6% người chọn phương án " được tự do lựa chọn hàng hoá"- cao nhất
trong các nguyên nhân đi siêu thị Chứng tỏ hai phương thức bán hàng "tự phụcvụ" và "tự do lựa chọn hàng hoá" của siêu thị đã có tác dụng tích cực, thu hútmọi người đến với siêu thị Thực tế đã cho thấy, chính hai yếu tố này là điểm
Trang 33phân biệt chính giữa kinh doanh siêu thị và các loại hình kinh doanh mua bánkhác ở ngoài như các chợ, cửa hàng trung tâm…
" Vào siêu thị mình được tự do lựa chọn hàng hoá, thích thì mua không thích thì thôi Vừa được xem thoái mái lại chẳng phải mất nhiều thời gian đi nhiều chỗ mà vẫn xem được hết các thứ mình cần "
(Nữ, 22 tuổi, sinh viên)
Bảng 4: Tương quan giữa "được tự do lựa chọn hàng hoá" với nghề nghiệp
của người tiêu dùng.
Tự do lựa chọn
hàng hoá
Cơ cấu nghề nghiệp
Tổng Nội
trợ
HS
Kinh doanh
Quan sát bảng 4 ta có thể thấy ở mọi nhóm ngành nghề, số ý kiến đồngtình với phương án đi siêu thị được tự do lựa chọn hàng hoá đều chiếm tỷ lệ cao:
ở các nhóm người làm nghề nội trợ, cán bộ Nhà nước, cán bộ ngoài quốc doanh,người kinh doanh, con số lần lượt là 100.0%, 99.0%, 91.2%, 80.0% Riêng ởnhóm sinh viên, tỷ lệ có thấp hơn: 62.5% Điều này có thể được lý giải do đây lànhững người phần lớn còn sống phụ thuộc vào gia đình, do đó khả năng muasắm tai các siêu thị có thấp hơn Tuy nhiên đây mới chỉ là nhận định mang tínhchủ quan của người nghiên cứu Hệ số Cramer's V= 0,406 với mức ý nghĩaApprox.Sig = 0.000 cho thấy có mối liên hệ phụ thuộc chặt chẽ giữa hai yếu tốnày
Nguyên nhân đến siêu thị để "xem hàng" nhận được 81.8% ý kiến tán
đồng, điều đó cho thấy bên cạnh việc đến siêu thị để mua hàng, hành vi đến siêu
Trang 34thị để xem hàng cũng nhận được sự ủng hộ của đa số người được hỏi Khi chấtlượng cuộc sống được nâng lên tất yếu nảy sinh những nhu cầu giải trí ở mứccao hơn, mặt khác cũng do yêu cầu về một nhịp sống năng động, hiện đại nênviệc đi mua sắm cũng mang một vẻ mặt hiện đại hơn Trong đó, con người cóthể vừa kết hợp mua sắm với giải trí, giải toả stress; rất nhiều ý kiến khi đượchỏi đều trả lời đi siêu thị có thể kết hợp vừa công việc chung lẫn công việcriêng, vừa có thể nghỉ ngơi, thư giãn một chút.
"Tôi đi xem hàng là chính vì tôi hay có nhu cầu mua sắm đồ gia đình Chúng tôi vừa ra ở riêng mà Trong siêu thị, tập trung hầu hết các mặt hàng ở ngoài, giá cả lại hợp lí so với chất lượng và chi phí sản xuất bỏ ra nên tôi rất tin tưởng vào giá cả ở đây Cho nên trước khi quyết định mua cái gì tôi đều vào đây khảo giá trước."
(Nam, 28 tuổi, kinh doanh)
Có người lại đi siêu thị để xem có mặt hàng gì mới không, có sản phẩmkhuyến mại nào hấp dẫn không; lại cũng có những người đi siêu thị để nghiêncứu thị trường xem mặt hàng nào tiêu thụ mạnh nhất, đồ của hãng nào được ưachuộng nhất, sản phẩm như thế nào yên tâm nhất… Và vô hình chung chúng tanhận thấy siêu thị đã trở thành một môi trường đặc biệt- nơi mà mọi người cóthể thoả mãn tất cả các nhu cầu của mình Với nhà phân phối anh có thể tìm hiểusản phẩm của mình tiêu thụ như thế nào, nhanh hay chậm, hợp lí hay chưa hợp
lí, cách trưng bày, giá cả đã thu hút được người mua chưa? Với nhà nghiên cứukinh tế, anh có thể nhận thấy khách hàng đi mua tập trung ở mặt hàng nào? mặthàng nào được tiêu thụ nhiều nhất? sản phẩm nào bán ra thu được doanh thu caonhất… Với người có gia đình vừa tiện cho việc mua bán, vừa có chỗ để cả giađình cùng đi chơi Xét tương quan với cơ cấu nhân khẩu trong gia đình ta thuđược kết quả như sau:
Trang 35Bảng 5: Tươ cấu mẫu điều trang quan gi a lí do i siêu th ữa lí do đi siêu thị để "xem hàng hoá" với cơ điều tra ị để "xem hàng hoá" với cơ điều traể "xem hàng hoá" với cơ "xem h ng hoá" v i cà N ới cơ ơ cấu mẫu điều tra
c u nhân kh u trong gia ìnhấu mẫu điều tra ẩu trong gia đình điều tra
Đi xem hàng hoá
Cơ cấu nhân khẩu
Tổng Sống 1 mình Sống cùng
người khác
Có
% trong cột
1052.6
15684.8
16681.8Không
% trong cột
947.4
2815.2
3718.2Tổng
% trong cột
19100.0
184100.0
203100.0Cramer's V= 0,243 Approx sig = 0,001
Quan sát bảng 5 có thể thấy trong tổng số 203 người được hỏi có 166người lựa chọn phương án này, chiếm 81,8% Và trong 166 người trả lời có 155người sống trên 1 mình (chiếm 84,4% trong tổng số những người sống trên 1mình) Điều này cho thấy cơ cấu nhân khẩu trong gia đình tỉ lệ thuận với nhucầu đi xem hàng hoá trong siêu thị Với Cramer's V= 0,243 với mức ý nghĩaApprox sig = 0,001 ta thấy có mối liên quan giữa hai yếu tố này
Một trong những lí do chính thu hút mọi người đến với siêu thị vì siêu thị
là nơi " tập trung nhiều chủng loại hàng hoá" chiếm 77,3% Đúng vậy, trong siêu
thị tập trung một số lượng lớn các chủng loại hàng hoá Chúng ta có thể tìm thấynhững mặt hàng thông dụng nhất từ xà phòng, kem đánh răng, dầu ăn, tương ớt,mắm muối… đến những mặt hàng đặc biệt như các hãng mỹ phẩm cao cấp, hảisản, đồ dùng gia dụng…; từ những vật giá trung bình như bông tai, cài tăm,khăn giấy… đến những đồ cao cấp, đắt tiền như điện thoại, đồng hồ…; từ nhữngmặt hàng có diện tích rất nhỏ như cây kim, sợi chỉ… đến những mặt hàng to lớn,cồng kềnh như ti vi, tủ lạnh, điều hoà… Hơn nữa, mỗi mặt hàng lại đa dạng vềkiểu dáng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, chất liệu… do những hãng khácnhau cùng sản xuất ví dụ như nước khoáng có một số loại chính: 330ml- 350ml-500ml- 600ml- 1,25lít- 1,5lít- 5lít sản phẩm của các hãng: nước khoáng Vital,
Trang 36Joy, Lavie, Evian, Tri, Vinawater, Gold Cup, Fawa, A&B, Ava, Aquafina… Sự
đa dạng này chính là một trong các nguyên nhân thu hút mọi người đến với siêuthị
Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát vẫn còn một số ý kiến cho rằng "trongsiêu thị có gì ở ngoài cũng có" nhưng theo kết quả nghiên cứu cũng có nhiều ýkiến cho rằng:
" Vào siêu thị mình có thể mua được tất cả những gì mình cần, tất nhiên
ở ngoài cũng có nhưng mình không thể đi tìm hết mà chưa chắc đã tìm ra thứ mình cần trong khi thời gian của mình thì lại rất hạn chế Làm gì cũng phải tranh thủ sao cho thuận tiện nhất cho mình."
(Nam, 36 tuổi, kỹ sư)
Ý kiến của chị H cũng vậy: " Đi siêu thị, mình cũng như mọi người
không chỉ được xem hàng hoá cẩn thận mà còn có thể cân nhắc, so sánh các loại hàng hoá với nhau rồi mới quyết định lựa chọn cái gì tốt và phù hợp với mình nhất "
(Nữ, 39 tuổi, cán bộ ngoài quốc doanh)
Còn xét theo tương quan nghề nghiệp, ta thấy:
Bảng 6 : Tươ cấu mẫu điều trang quan gi a lí do i siêu th do siêu th " nhi u ch ngữa lí do đi siêu thị để "xem hàng hoá" với cơ điều tra ị để "xem hàng hoá" với cơ ị để "xem hàng hoá" với cơ ều tra ủng
lo i h ng hoá" v i ngh nghi p.ại hàng hoá" với nghề nghiệp à N ới cơ ều tra ệp
Nhiều chủng loại
hàng hoá
Cơ cấu nghề nghiệp
Tổng Nội
trợ
HS
Kinh doanh
Có
% trong cột
4100.0
1250.0
8990.8
4070.2
1260.0
15777.3