Lý luận chung về vốn kình doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Trang 1CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Vốn và vốn kinh doanh
Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có
vốn Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của doanh
nghiệp Doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn này để mua sắm các yếu tố của quá trình sản
xuất kinh doanh như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Do sự
tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động mà hàng
hoá dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường Cuối cùng, các hình thái vật chất
khác nhau đó được chuyển hoá về hình thái tiền tệ ban đầu Quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và phải đạt được mục đích kinh doanh là
lợi nhuận Như vậy số tiền ứng ra ban dầu không chỉ được bảo tồn mà nó phải tăng
lên trong thời gian hoạt động của Công ty
Từ những phân tích trên có thể rút ra: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” ( giáo trình tài chính doanh
nghiệp_HVTC, 2007 ) Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt
động sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh phải đạt tới mục tiêu sinh lời và luôn
thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn tại dưới dạng tiền vừa dưới dạng tài sản, nhưng
kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền tệ
Để quản lý và phân biệt vốn kinh doanh với các loại vốn khác ta cần tìm hiểu
về đặc điểm của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh có một số đặc điểm như sau :
Thứ nhất: Vốn phải được thể hiện bằng một lượng tài sản có giá trị thực
được sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra một lượng giá trị sản
phẩm khác
Thứ hai: Vốn phải vận động sinh lời, tạo ra giá trị mới lớn hơn gía trị ban
đầu
Trang 2Thứ ba: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Thứ tư: Vốn luôn có giá trị thực về mặt thời gian Trong nền kinh tế thị
trường dưới ảnh hưởng của giá cả, lạm phát, cơ hội, rủi ro làm cho giá trị đồng tiền
ở mỗi thời điểm khác nhau có sức mua khác nhau
Thứ năm: Vốn được quan niệm như một thứ hàng hóa đặc biệt Nó đặc biệt ở
chỗ khi sử dụng sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn gía trị trước và khi tiến hành mua bán
trên thị trường người ta có thể mua quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian
đã thỏa thuận trước
Thứ sáu: Vốn luôn gắn với một chủ sở hữu nhất định, tuyệt đối không có
dạng vốn vô chủ, có như vậy mới quản lý có hiệu qủa và sinh lời
Thứ bảy: Trong quá trình sản xuất kinh doanh cùng có một lúc vốn có thể
tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau có thề là hình thái tiền tệ, vật chất hoặc vô
hình như: bí quyết công nghệ, bản quyền truyền hình, lợi thế thương mại,…
Ngoài ra vốn kinh doanh còn thể hiện vai trò quan trọng của mình:
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy vốn kinh doanh đóng một
vai trò vô cùng quan trọng trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh là tiền đề vật chất
không thể thiếu cho sự hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào
Muốn có được giấy phép kinh doanh để đi vào hoạt động thì ngay từ khi
thành lập doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định Lượng vốn này doanh
nghiệp dùng để tạo lập cơ sở vật chất ban đầu cho mình Tiếp theo đó, khi bắt đầu
hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cũng cần một lượng vốn nhất định để xâm
nhập và có thế đứng trên thị trường Sau khi đứng vững trên thị trường, doanh
nghiệp phải tìm cách mở rộng thị trường, mở rộng qui mô sản xuất nhằm tìm kiếm
lợi nhuận Muốn làm được những điều này thì doanh nghiệp cũng cần phải có một
lượng vốn nhất định để xây dựng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật, mua nguyên vật liệu
và cũng cần một lượng vốn lưu động cần thiết để đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh không bị gián đoạn cũng như đáp ứng những thương vụ làm ăn của doanh
nghiệp
Hơn thế nữa, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, ngày càng có nhiều các
cơ hội kinh doanh và đầu tư vào những lĩnh vực mới, để chuyển hướng kinh doanh
Trang 3vào những lĩnh vực thu được nhiều lợi nhuận Như vậy có thể nói vốn là nguồn tài
chính cần thiết để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh
Do vốn đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp như
vậy nên bằng mọi cách doanh nghiệp phải có các biện pháp bảo toàn và phát triển
vốn, có các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp Có như vậy doanh nghiệp mới ngày càng lớn mạnh, có uy tín và vị thế trên
thương trường từ đó sẽ có nhiều các cơ hội làm ăn và phát triển
Như vậy vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời
của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong
quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
1.1.2 Phân loại vốn kinh doanh
Trong điều kiện hiện nay, vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có thể được
phân thành nhiều loại tuỳ theo các tiêu thức khác nhau Tuỳ theo yêu cầu quản lý
trong doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn cho mình một tiêu thức thích
hợp để phân loại vốn kinh doanh cho hợp lý nhằm đem lại hiệu quả quản lý sử
dụng cao nhất
+ Phân loại vốn kinh doanh căn cứ vào đặc điểm chu chuyển vốn Vốn kinh
doanh của doanh nghiệp có thể được chia làm: vốn cố định và vốn lưu động Ta sẽ
đi tìm hiểu cụ thể từng loại vốn:
Vốn cố định của doanh nghiệp (VCĐ)
Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố
định của doanh nghiệp Nhìn chung vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất kinh doanh và nó được luân chuyển dần từng phần, phải sau một thời gian dài
mới hình thành một vòng luân chuyển
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền
với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định Vì thế qui mô của vốn sẽ
quyết định qui mô của tài sản cố định Song đặc điểm của tài sản cố định lại quyết
định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển giá trị của vốn cố định tạo nên đặc
điểm vận động của vốn cố định:
- Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm và chuyển dần từng
phần vào giá thành sản phẩm tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định
Trang 4- Vốn cố định được thu hồi dần từng phần tương ứng với phần hao mòn của
tài sản cố đinh, đến khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng thì giá trị của nó được
thu hồi đủ và vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Thông thường vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn
trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm luân chuyển lại theo
tính quy luật riêng vì vậy việc quản lý sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tài sản cố định được phân chia thành nhiều loại theo các tiêu thức khác
nhau Căn cứ hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế thì tài sản cố định được chia
thành tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình Căn cứ theo mục đích sử
dụng thì tài sản cố định của doanh nghiệp bao gồm: tài sản cố định dùng cho mục
đích kinh doanh và tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh
quốc phòng Căn cứ theo tình hình sử dụng tài sản cố định, có thể chia tài sản cố
định của doanh nghiệp thành các loại: tài sản cố định đang dùng, tài sản cố định
chưa cần dùng, tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý
Vốn lưu động của doanh nghiệp (VLĐ)
“Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản lưu
động của doanh nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp” ( giáo
trình lý thuyết tài chính-HVTC,2003) Trong quá trình hoạt động sản xuất, khác với
vốn cố định, lưu động luân thay đổi hình thái biểu hiện Vì vậy giá trị của nó cũng
được dịch chuyển một lần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra và được thu hồi ngay
sau khi tiêu thụ sản phẩm Thông thường, nó hoàn thành một vòng tuần hoàn khi
kết thúc một chu kỳ sản phẩm Trong doanh nghiệp thương mại, do hoạt động trong
lĩnh vực lưu thông hàng hoá, có thể nói sự vận động của vốn lưu động trải qua hai
giai đoạn theo trình tự : T-H-T’
Ở giai đoạn thứ nhất, để đảm bảo quá trình lưu chuyển hàng hoá, doanh
nghiệp phải ứng trước một số tiền nhất định để mua vật tư, hàng hoá từ nhiều
nguồn khác nhau về dự trữ Vốn lưu động ở giai đoạn này chuyển từ hình thái tiền
tệ sang hình thái hiện vật (T-H)
Sang giai đoạn sau, khi doanh nghiệp đưa hàng hoá dự trữ đi tiêu thụ và thu
tiền về và vòng tuần hoàn của vốn được kết thúc, vốn lưu động chuyển từ hình thái
hiện vật sang hình thái tiền tệ (H-T’)
Trang 5Vốn lưu động sẽ được chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo tiêu thức
phân loại Căn cứ vào sự vận động của vốn lưu động thì vốn lưu động được chia
thành vốn lưu động trong khâu dự trữ, vốn lưu động trong khâu sản xuất và vốn lưu
động trong khâu lưu thông
Căn cứ theo nội dung kinh tế, vốn lưu động bao gồm: vốn hàng hoá, vốn
bằng tiền, vốn công cụ lao động nhỏ, vốn bao bì, vật liệu đóng gói, vốn thuộc các
khoản phải thu, vốn đầu tư tài chính ngắn hạn và các khoản thế chấp ký quỹ
1.1.3 Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần có vốn: vốn đầu tư ban
đầu và vốn bổ sung để mở rộng sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn hình thành có
đặc điểm riêng Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh thì cần phải
nghiên cứu các nguồn vốn để có định hướng huy động hợp lý
1.1.3.1 Căn cứ vào quan hệ sở hữu VKD của doanh nghiệp
Theo cách phân lọai này VKD của doanh nghiệp được huy động từ hai
nguồn:
+ Nguồn vốn chủ sở hữu (NVCSH): Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của
chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối
và định đoạt Tùy theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau mà VCSH có nội dung cụ thể như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do
doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần trong các công ty cổ phần; vốn góp
thành viên trong doanh nghiệp liên doanh…Khi thành lập doanh nghiệp vốn chủ sở
hữu hình thành vốn điều lệ Khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thì ngoài phần
vốn điều lệ còn có một số nguồn vốn khác cũng thuộc vốn chủ sở hữu như: lợi
nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển… và vốn do Nhà nước đầu tư (nếu có)
+ Nợ phải trả (NPT): là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh,
doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế như các khoản
vay (vay ngắn hạn, vay dài hạn), các khoản phải trả người bán, phải trả công nhân
viên, phải nộp ngân sách và một số khoản phải trả, phải nộp khác
1.1.3.2 Căn cứ vào phạm vi huy động vốn
Theo tiêu thức này VLĐ của doanh nghiệp cũng có thể được huy động từ hai
nguồn: nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Trang 6+ Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể
huy động từ bản thân các họat động của doanh nghiệp bao gồm: tiền khấu hao tài
sản cố định, lợi nhuận để lại, các khoản dự trữ dự phòng…
+ Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy động được từ
bên ngoài doanh nghiệp để đáp ứng các nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình như: vay vốn ngân hàng, vốn của các tổ chức kinh tế trong và
ngoài nước, góp vốn kinh doanh, phát hành chứng khoán
1.1.3.3 Căn cứ vào thời gian huy động vốn
Theo tiêu thức này nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành
hai loại là nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
+ Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh
nghiệp có thể sử dụng dài hạn vào hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn vốn này
thường được sử dụng để mua sắm tài sản cố định và một bộ phận của tài sản cố
định thường xuyên cần thiếy cho hoạt động kinh doanh cua doanh nghiệp Có thể
xác định nguồn vốn thường xuyên theo công thức:
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
= Giá trị tổng tài sản của DN – Nợ ngắn hạn
Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp mang tính ổn định, là
một phần quan trọng trong khoản chi tiêu ban đầu cần thiết đối với một dự án đầu
tư Vì nó cần thiết để chi trả cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
+ Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1năm) mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh Nguồn vốn này bao gồm: các khoản vay ngắn hạn
ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản vốn chiếm dụng được từ các nhà
cung cấp,…
Nguồn vốn tạm thời = Tổng TSLĐ – Nguồn VLĐ thường xuyên
1.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
1.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả theo nghĩa chung nhất được hiểu là một chỉ tiêu chất lượng phản
ánh các lợi ích kinh tế xã hội do một hoạt động nào đó đem lại Hiệu quả được
đánh giá trên hai mặt là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Tuỳ theo mục đích của
Trang 7hoạt động mà cho ta hiệu quả kinh tế hay hiệu quả xã hội là tốt nhất (Ở đây chúng
ta chỉ xem xét đến hiệu quả về kinh tế)
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh mối quan hệ giữa
kết quả đạt được về mặt kinh tế với chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau vì
thế để đánh giá được đầy đủ về hiệu quả người ta không chỉ đánh giá một loại hiệu
quả đơn thuần mà phải đặt trong mối quan hệ với hiệu quả còn lại
Như vậy, đối với doanh nghiệp thương mại việc nâng cao hiệu quả là một
vấn đề cần thiết và luôn đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải đưa ra các biện pháp sao
cho hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất
Sau khi nghiên cứu về hiệu quả nói chung, ta đi nghiên cứu về một bộ phận
của hiệu quả kinh tế đó là hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Hiệu quả kinh tế cuối
cùng thể hiện ở mức doanh lợi đạt được Điều này phụ thuộc vào việc tạo lập và sử
dụng vốn một cách hợp lý, tiết kiệm, góp phần tăng vòng quay của vốn từ đó làm
tăng doanh thu Vì vậy, hiện nay khi doanh nghiệp được tự chủ về vốn thì vấn đề
sử dụng vốn luôn được quan tâm, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấy được
chất lượng quản lý sản xuất kinh doanh, vạch ra được các biện pháp nhằm tiết kiệm
và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là
một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ quá trình sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp Nói cách khác nó là chỉ số phản ánh quan hệ giữa kết quả
đạt được với số vốn kinh doanh bỏ ra trong kỳ
KQ
HV=
Vbq
Trong đó: HV là hệ số hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
KQ là kết quả thu được (doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận,
khối lượng sản phẩm )
Vbq là vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Từ công thức ta thấy hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tỷ lệ với kết qủa thu
được và tỷ lệ nghịch với vốn kinh doanh bỏ ra Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh thì kết quả đạt được phải lớn và phải trên cơ sở sử dụng
tiết kiệm vốn kinh doanh
Trang 81.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn kinh doanh trong
doanh nghiệp
Vốn là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Vấn đề
mà doanh nghiệp quan tâm là khả năng sinh lời và phát triển của đồng vốn vì điều
này liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cụ thể việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn xuất phát từ những lý do sau đây :
+ Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào đều hướng tới mục tiêu lợi
nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là
khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được
khoản thu nhập đó từ các hoạt động của doanh nghiệp
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của
doanh nghiệp Là nhà quản lý giỏi phải biết làm sao cho đồng vốn phải đạt mức
sinh lời cao nhất, sử dụng lãng phí vốn sẽ không làm tăng đựơc lợi nhuận hay tình
trạng thiếu vốn kinh doanh sẽ làm giảm lợi nhuận do quá trình sản xuất bị gián
đoạn Hiệu quả của vốn đầu tư mang lại thể hiện mối quan hệ giữa kết quả mang lại
do thực hiện đầu tư và cho phí bỏ ra để thực hiện hoạt động đó Đối với doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả vốn đầu tư là lợi nhuận
do đầu tư mang lại Lợi nhuận là yếu tố đảm bảo vững chắc khả năng tài chính của
doanh nghiệp
+ Xuất phát từ vị trí, vai trò của vổn trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp Vốn là phạm trù kinh tế quan trọng trong doanh nghiệp Vốn được
sử dụng cho qua trình sản xuất kinh doanh nhưng doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại
nếu quá trình kinh doanh thua lỗ kéo dài Vì vậy vai trò của VKD là phải khai thác
tốt nhất mọi tiềm năng và lợi thế của doanh nghiệp
+ Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD:
Nâng cao hiệu quả sử dụnh VKD sẽ giúp doanh nghiệp tăng nhanh được
vòng quay của vốn, một đồng vốn bỏ ra nhưng chỉ trong một thời gian ngắn có thể
đem lại những kết quả cao, thông qua đó doanh thu được tăng cao Đây là cơ sở
làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nghĩa là nguồn vốn được sử dụng tiết kiệm
thông qua việc tiết kiệm các chi phí Bởi vì mỗi doanh nghiệp thường huy động vốn
Trang 9từ nhiều nguồn khác nhau Nếu biết kết hợp hài hòa tỷ lệ vốn dài hạn và vốn ngắn
hạn thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sử dụng vốn được thuận lợi,
chủ động hơn và tiết kiệm được chi phí lãi vay, nhờ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm
các chi phí góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Xuất phát từ sự tác động của cơ chế:
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, một đơn vị kinh tế
độc lập Do vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ngày càng trở nên cần
thiết và cấp bách đối với doanh nghiệp
Như vậy từ các lý do trên có thể nói rằng việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp là rất cần thiết Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn góp phần nâng
cao khả năng cạnh tranh, tăng thị phần, tăng lợi nhuận giúp cho doanh nghiệp ngày
càng phát triển
1.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Mục đích tối cao của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là lợi
nhuận, muốn vậy các doanh nghiệp phải khai thác triệt để mọi nhuồn lực sẵn có tức
là việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp
Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp cần có một hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn bảo dảm phản ánh và đánh giá được hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp Các chỉ tiêu phản ánh và đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp phải đảm bảo tính hệ thống và toàn diện Các chỉ tiêu đánh
giá phải có sự liên hệ so sánh được với nhau, phải có phương pháp tính cụ thể
thống nhất Từ đó, có thể xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh trong doanh nghiệp như sau:
1.2.3.1 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Có rất nhiều chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, sau đây ta lần lượt
nghiên cứu từng chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
+ Vòng quay toàn bộ vốn: Hệ số này được xác định trên cơ sở so sánh tương
đối giữa doanh thu thuần đạt được trong kỳ với tổng số vốn kinh doanh bình quân
trong kỳ:
Doanh thu thuần (DTT) Vòng quay toàn bộ vốn =
Trang 10Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Trong đó vốn kinh doanh bình quân trong kỳ được tính theo công thức đơn giản
Hệ số vòng quay vốn kinh doanh phản ánh cứ mỗi đồng vốn kinh doanh sử
dụng trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hay phải ánh trong kỳ vốn kinh
doanh quay được bao nhiêu vòng Qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được khả năng
sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài
sản mà doanh nghiệp đã đầu tư
+ Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh: Hệ số này được xác định bằng tỷ số
giữa lợi nhuận trong kỳ với vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế (LNST)
Tỷ suất lợi nhuận vốn =
kinh doanh vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của
đồng vốn kinh doanh Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn kinh doanh bình quân
được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận
+ Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu: Đây là chỉ tiêu đo lường mức sinh lời
của đống vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu được sử
dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời vốn CSH =
Trang 11Vốn chủ sở hữu
1.2.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị vốn cố
định được đầu tư vào sản xuấtt kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng =
VCĐ Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao
Như nói ở trên, biêu hiện vật chất của vốn cố định là tài sản cố định Do vậy,
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định thông qua đánh giá năng lực sử dụng của tài
sản cố định Như ta biết rằng: tài sản cố định khi sử dụng sẽ bị hao mòn Vì vậy,
khi đánh giá tài sản cố định người ta thường đánh giá theo giá trị còn lại sẽ chính
xác hơn rất nhiều so với việc đánh giá theo nguyên giá Sở dĩ như vậy là vì đánh
giá tài sản cố định theo giá trị còn lại sẽ loại bỏ được phần giá trị của tài sản cố
định đã tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh kỳ trước nên nó phản ánh đúng
giá trị của tài sản cố định tham gia trong kỳ, đồng thời góp phần giúp Công ty quan
tâm hơn đến việc bảo dưỡng, sửa chữa và sử dụng triệt để các tài sản cố định hiện
có
Doanh thu thuần (DTT)
Hiệu quả sử dụng VCĐ =
Số vốn cố định bình quân
Tuy nhiên, chỉ tiêu này rất khó xác định giả trị còn lại và khó so sánh hiệu
quả giữa các loại tài sản cố định khi có chế độ khấu hao khác nhau
+ Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: tỷ suất được xác định bằng tỷ số giữa lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh trong kỳ với số vốn cố định bình quân Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ =
Trang 12Số vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản
cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu, chỉ tiêu này càng lớn
chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản cố định càng cao
Doanh thu thuần (DTT) Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Ngoài ra người ta cũng thường dùng các chỉ tiêu như hàm lượng vốn TSCĐ
1.2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (vòng quay vốn lưu động)
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được thể hiện trong chỉ tiêu này
Vốn lưu động luân chuyển càng nhanh thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp càng cao và ngược lại Chỉ tiêu này có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số
lần luân chuyển vốn và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng quay vốn)
Doanh thu thuần (DTT)
Số lần luân chuyển VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
Số lần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong
một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
360
Kỳ luân chuyển VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
Kỳ luân chuyển vốn phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động
+Tỷ suất sinh lời vốn lưu động:
Để đánh giá toàn diện và ở mức cao hơn hiệu quả sử dụng vốn lưu động
người ta sử dụng chỉ tiêu hệ số sinh lời vốn lưu động Hệ số sinh lời vốn lưu động
Trang 13được xác định trên cơ sở so sánh giữa lợi nhuận đạt được với số vốn lưu động bình
quân trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế (LNST)
Tỷ suất lợi nhuận =
VLĐ VLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu cho biết với một đồng vốn lưu động mà doanh nghiệp đầu tư vào
kinh doanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Hệ số này càng cao chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại
Ngoài ra người ta cũng dùng một số chỉ tiêu khác như: mức đảm nhiệm
TSLĐ, hàm lượng vốn lưu động,
1.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
1.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng Vốn kinh doanh
của doanh nghiệp
+ Các nhân tố khách quan:
- Môi trường kinh doanh: Doanh nghiệp là một cơ thể sống, tồn tại trong mối
quan hệ qua lại với môi trường xung quanh
- Môi trường kinh tế: Một doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường luôn gắn
liền hoạt động sản xuất kinh doanh của mình với sự vận động của nền kinh tế Khi
nền kinh tế có biến đông thi hoạt động của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng Do
vậy mọi nhân tố có tác động đếnviệc tổ chức và huy động vốn bên ngoài đều ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Những tác động có thể xảy ra
khi nền kinh tế có lạm phát, sức ép của môi trường cạnh tranh, những rủi ro mang
tính hệ thống Các nhân tố này đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động
sản xuất kinh doanh, đến công tác quản lý và hiệu quả sử dụng vốn tại doanh
nghiệp
- Môi trường văn hoá_xã hội_chính trị: Chế độ chính trị quyết định tới cơ
chế quản lý kinh tế, các nhân tố văn hoá, xã hội như phong tục tập quán, sở thích,
thói quen là những đặc trưng của đối tượng phục vụ của doanh nghiệp do đó ảnh
hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 14- Môi trường pháp lý: là hệ thống chủ trương, chính sách của nhà nước Nhà
nước thực hiện quản lý kinh tế bằng pháp luật và hệ thống các chính sách kinh tế từ
đó định hướng cho các doanh nghiệp theo các hướng đã khuyến khích
- Môi trường công nghệ: Tiến bộ khoa học công nghệ ngày nay ngày càng
phát triển không ngừng áp dụng những thành tựu đã đạt được vào hoạt động sản
xuất kinh doanh có vai trò quan trọng Làn sóng chuyển giao công nghệ đã trở
thành toàn cầu hoá, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao trình độ của mình
- Môi trường tự nhiên: là toàn bộ các yếu tố đầu vào tác động đến doanh
nghiệp như: thời tiết, khí hậu, tài nguyên Các điều kiện làm việc trong môi trường
tự nhiên phù hợp sẽ làm tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công việc
- Thị trường hoạt động:
Cạnh tranh: trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh là tất yếu Vì thế bất cứ
doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải đứng vững và tạo ưu thế
trong cạnh tranh với các đối thủ
Giá cả: Đây là nhân tố do doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc vào
mức giá chung trên thị trường Doanh nghiệp định giá căn cứ vào mức giá thành và
mức giá chung Sự biến động của giá trên thị trường có thể tác động rất lớn đến
tình hình hoạt dộng kinh doanh của doanh nghiệp
Cung cầu thị trường: Doanh nghiệp phải xác định mức cầu thị trường cũng
như mức cung thị trường để có phương án tối ưu tránh tình trạng sử dụng vốn
không hiệu quả
+ Các nhân tố chủ quan:
- Nghành nghề kinh doanh: Đây là điểm xuất phát của doanh nghiệp, có định
hướng trong suốt quá trình tồn tại Một nghành kinh doanh đã được lựa chọn buộc
những người quản lý phải quyết định những vấn đề sau:
Cơ cấu tài sản và mức độ hiện đại của tài sản
Cơ cấu vốn, qui mô vốn, khả năng tài chính của doanh nghiệp
Nguồn tài trợ cũng như lĩnh vực đầu tư
- Trình độ quản lý tổ chức sản xuất:
Trình độ quản lý và sử dụng vốn: Đây là nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp Công cụ chủ yếu để quản lý các nguồn tốt sẽ dẫn đến
mất mát, chiếm dụng, sử dụng không đúng mục đích gây lãng phí đồng thời có
Trang 15thể gây ra những căn bệnh xã hội thường gặp trong nền kinh tế thị trường như:
tham ô, hối lộ, tiêu cực
Trình độ của cán bộ công nhân viên: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Cơ cấu vốn đầu tư: Việc đầu tư vào những tài sản không phù hợp sẽ dẫn
đến tình trạng vốn bị ứ đọng, gây ra tình trạng lãng phí vốn, giảm vòng quay vốn,
hiệu quả sử dụng vốn thấp
- Tính khả thi của dự án đầu tư:
Việc lựa chọn dự án đầu tư có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng
vốn Nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư khả thi, sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ
có chất lượng tốt, giá thành thấp thì doanh nghiệp sẽ sớm thu hồi được vốn và có
lãi và ngược lại
1.3.2 Một số biên pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp
Nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như không
ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp cần
thực hiện một số biện pháp cơ bản sau:
+ Doanh nghiệp cần xem xét tìm hiểu nghiên cứu nhu cầu của thị trường về
các loại sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp đang có hướng đầu tư, từ đó có
phương án sản xuất hợp lý huy động vốn đầy đủ đảm bảo cho quá trình sản xuất
được diễn ra liên tục
+ Lập kế hoạch huy động sử dụng và bố trí cơ cấu vốn một cách phù hợp
Khi có nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp cần tận dụng
triệt để vốn bên để doanh nghiệp kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất vừa
giảm chi phí sử dụng vốn không cần thiết
+ Luôn tìm hiểu sự thay đổi của chính sách nhà nước có liên quan, cập nhật
tin tức một cách thường xuyên để có kế hoạch kịp thời thay đổi chiên lược kinh
doanh của minh vì bất cứ sự thay đổi nào của cơ chế quản lý và chính sách kinh tế
của Nhà nước đều có thể gây ra các ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó cần quan tâm đế sự ảnh hưởng của giá
cả trên thị trường để có kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu kịp thời cho sản xuất
+ Xây dựng quy chế quản lý vốn, tài sản
Trang 16Mỗi doanh nghiệp đều có một lượng lớn vốn để tiến hành sản xuất kinh
doanh, đồng thời lại gồm nhiều bộ phận phòng ban Chính vì vậy doanh nghiệp
phải phân phối, giao trách nhiệm đến từng bộ phân một cách hợp lý Và những đơn
vị cá nhân đó phải có ý thức trách nhiệm bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn
+ Phát huy tích cực vai trò tài chính trong việc quản lý và sử dụng vốn vay
Để phát huy được hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp mình thì doanh
nghiệp cần giám sát việc sử dụng vốn như việc mua vào bán ra nguyên liệu, nhập
mua các máy móc thiết bị, việc tiêu thụ sản phẩm Chi phí bỏ ra có đúng với giá
của nó trên thị trường hay không…Doanh nghiệp cần so sánh giữ số liệu thực tế và
số liệu ghi trên sổ sách để hạn chế những sai sót không đáng có
Trang 17Chương ii:
Thực trạng về tỡnh hỡnh tổ chức và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại cụng
ty cp xnk tổng hợp i việt nam
2.1 khỏi quỏt về cụng ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp i việt nam
2.1.1 quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của cụng ty
2.1.1.1 quỏ trỡnh hỡnh thành
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp I tiền thân là doanh nghiệp nhà
nước được thành lập vào ngày 15/12/1981 theo quyết định số 1365/TCCB của Bộ
Ngoại Thương (nay là Bộ Công Thương ) và thực sự đi vào hoạt động từ tháng
3/1982
Năm 1993 công ty Promexim được sát nhập vào Công ty và thành công ty
mới nhưng vẫn giữ nguyên tên là công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I theo quyết
định thành lập doanh nghiệp Nhà nước số 348/BTM-TCCB ngày 13/03/1993 Công
ty xuất nhập khẩu tỗng hợp I là doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Thương mại có tư
cách pháp nhân, thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế độc lập.Năm 2006 công ty
được cổ phần hoá theo quyết định 0624/QĐ-BTM ngày 30/03/2005 về việc thực
hiện cổ phần hoá
Tên công ty: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp I
việt nam
Tên giao dịch bằng tiếng Anh: the vietnam generalexim
export _ import joint stock corporation (generalexim
jsc)
Trụ sở và chi nhánh của công ty :
Trụ sở chính của công ty:
Địa chỉ : 46 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Trang 18Số lượng cổ phiếu đang lưu hành là 7.000.000, mệnh giá cổ phiếu đang lưu
hành: 10.000 đồng/1 cổ phiếu.Mức chi trả cổ tức năm 2007 tối thiểu là 12%/năm
+ Chi nhánh Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam tại Tp
+ Chi nhánh Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam- Xí
nghiệp May xuất khẩu Hải Phòng
Địa chỉ: Km 110- Quốc lộ 5- Quận Hải An- Hải Phòng
+ Chi nhánh Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam- Xí
nghiệp Chế biến nông lâm sản hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Địa chỉ: Cụm công nghiệp Liên Phương- Huyện Thường Tín- Hà Tây
Tel: (84-034) 764 440
2.1.1.2 Quá trình phát triển
Giai đoạn I (từ 1982 đến 1986): Giai đoạn tỡm hướng đi phự hợp
-Thực trạng của cụng ty trong thời gian đầu đi vào hoạt động
Về vốn: Bắt đầu khi hỡnh thành năm 1981 chỉ cú 139.000 đồng Bởi vỡ Nhà
nước quan niệm kinh doanh uỷ thỏc thỡ khụng cần nhiều vốn
Đội ngũ cỏn bộ: chưa cú kinh nghiệm về uỷ thỏc, chuyờn mụn cũn nhiều hạn
chế, chưa năng động
Cơ chế chớnh sỏch: cơ chế quan liờu, bao cấp đang thống trị Đường lối đổi
mới đang là tư duy chưa thể hiện bằng văn bản cụ thể nhất là đổi mới quản lý kinh
tế
Trang 19Từ những khó khăn trên Công ty đã nỗ lực phấn đấu tìm hướng đi đúng
hướng về vốn: Công ty kiến nghị chủ động bố trí để lãnh đạo 2 cơ quan liên bộ
(Ngân hàng nhà nước và bộ ngoại thương) hợp nhất để thống nhất ra văn bản nêu
được những nguyên tắc chung của Công ty trong các phương thức kinh doanh, mở
các tài khoản, vấn đề sử dụng vốn và ngoại tệ, lập các quỹ hàng hoá làm cơ sở
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh sau này Đồng thời xây dựng cho mình một số
vốn khả dĩ có thể đảm bảo hoạt động phát triển hơn từ việc vay vốn nước ngoài và
xây dựng một quỹ hàng hoá phong phú, đa dạng
Đối với đội ngũ cán bộ công nhân viên: Công ty tổ chức bồi dưỡng đào tạo
cán bộ ở trong và ngoài nước Chấn chỉnh lại những tư tưởng ỷ lại theo lối mòn
kinh doanh bao cấp, đặt ra những yêu cầu cao hơn, chuyên môn cao hơn theo
nghiệp vụ, theo mặt hàng, theo xuất nhập khẩu
Giai đoạn II (từ năm 1987 đến năm 1995): Giai đoạn phát triển và vượt qua
thách thức
- Từ 1987 - 1989 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Công ty về mọi mặt
Tổng kim nghạch XNK uỷ thác đạt 18 triệu USD Đội ngũ cán bộ được trang
bị nhiều kiến thức thực tế, chuyên môn được nâng cao Nguyên nhân chủ yếu của
sự phát triển này là : thứ nhất, các phương thức và hình thức kinh doanh, quan hệ
giữa Công ty và các cơ sở đặc biệt là thị trường nước ngoài có nhiều chuyển biến
tích cực Thứ hai là xây dựng quỹ hàng hoá, cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất
kinh doanh Thứ ba là cải thiện đời sống cho cán bộ nhân viên
- Từ năm 1990 – 1995: Trong giai đoạn này, tình hình trong nước và quốc tế
có nhiều biến động lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế trong đó có lĩnh
vực phân phối và lưu thông hàng hoá bị tác động mạnh mẽ nhất Thị trường lớn
như Đông âu và Liên Xô do biến động về chính trị không còn, trong khi khu vực
thị trường tư bản đang bị các đơn vị khác cạnh tranh Các mặt hàng uỷ thác xuất
khẩu của công ty không còn nhiều, tình trạng thiếu vốn và chiếm dụng vốn lẫn
nhay trong các tổ chức kinh doanh là khá phổ biến Trong giai đoạn này công ty
hoạt động trong tình hình chung diễn biến khá phức tạp nên việc giữ vững, phát
triển và thoát khỏi vòng bế tắc là một nỗ lực lớn của công ty
Giai đoạn III (từ năm 1996 đến năm 2005):
Trang 20Trong giai đoạn này có một sự kiện quan trọng là sự ra đời của tổ chức WTO
dưới tiền thân của GATT Việt Nam cũng đã đệ đơn gia nhập WTO trong năm
1995 Tiếp theo đà tăng trưởng của năm trước, năm 1997 công ty đã đạt kim ngạch
xuất khẩu lên đến 78,4 triêu USD, cao nhất từ trước đến nay và là một kết quả đáng
nể Tuy nhiên, năm 1998 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty chỉ đạt gần
44,5 triệu USD bằng 82,17% kim ngạch nhập khẩu của năm 1997 Sự giảm xuống
này là do môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty nói riêng và của cả
nước nói chung có nhiều biến động xấu Nền kinh tế trong nước giảm sút nhịp điệu
tăng trưởng do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khu vực và thảm họa thiên
tai liên tiếp Hệ thống ngân hàng tài chính hoạt động yếu ớt, vốn tồn đọng nhiều
không cho vay được dù nhiều lần điều chỉnh lãi suất, số nợ vay quá hạn tiếp tục
tăng Thị trường trong nước giao dịch kém sôi động, nhiều sản phẩm tồn đọng khó
tiêu thụ ảnh hưởng đến sản xuất, tình trạng thiểu phát kéo dài liên tục do sức mua
có khả năng thanh toán thấp, kinh doanh nhập khẩu trở nên khó khăn Trong khi
đó, thị trường nước ngoài nhìn chung ở trạng thái phát triển chậm lại, giá cả nhiều
mặt hàng giảm như giá cà phê, gạo, thiếc…
Từ sau khó khăn đó công ty đã có hướng đi mới như mở rộng phạm vi kinh
doanh ra các đơn vị riêng lẻ, các quận huyện, kể cả các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh, chuyển dần tử uỷ thác sang tự doanh Triển khai kinh doanh gia công
các mặt hàng, khai thác việc nhập hàng phi mậu dịch cho đối tượng người Việt
Nam học tập và công tác tại nước ngoài được hưởng chế độ miễn thuế Bên cạnh
đó công ty còn tham gia khai thác địa sản, phát triển các dịch vụ cho thuê kho bãi
xe
Giai đoạn IV ( từ năm 2005 đến nay):
Công ty hoạt động trong điều kiện vừa hoạt động sản xuất kinh doanh vừa
thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, công ty có nhiều biến động nhưng toàn thể
cán bộ công nhân viên công ty đã phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu được giao
đảm bảo lãi kinh doanh, cùng cả nước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường, đặc biệt là sau
khi sự kiện Việt Nam gia nhập WTO
2.1.1.3 Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty
Trang 21- Lĩnh vực kinh doanh : Công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, sản
xuất, gia công chế biến, đầu tư tài chính, chứng khoán và xuất nhập khẩu
- Ngành nghề kinh doanh :
Kinh doanh nông, lâm, thủy hải sản, khoáng sản, hàng thủ công mỹ nghệ,
hàng tạp phẩm, hàng công nghiệp, gia công chế biến trong nước và nhập khẩu, các
sản phẩm dệt may (trừ loại Nhà nước cấm);
Kinh doanh máy móc thiết bị, nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất, vật liệu
xây dựng, hóa chất Nhà nước không cấm, phương tiện vận tải;
Kinh doanh thức ăn và nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy hải sản, hóa chất và
giống phục vụ nuôi trồng thủy hải sản, cây cây giống phục vụ nông nghiệp, phân
bón trang thiết bị y tế, dụng cụ trong ngành y dược;
Kinh doanh thiết bị văn phòng phẩm, tạp phẩm hóa chất tẩy rửa, mỹ phẩm,
đồ gia dụng, điện máy, điện tử, điện lạnh, rượu bia nước giải khát (không bao gồm
kinh doanh quán bar)
Sản xuất, gia công chế biến và lắp rắp: các mặt hàng dệt may, đổ chơi( trừ
loại đồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách, sức khỏe trẻ em hoặc gây ảnh hưởng
đến an ninh trật tự, an toàn xã hội), đồ gỗ, xe máy,đồ gia dụng
Đầu tư xây dựng và kinh doanh nhà ở, văn phòng, cho thuê văn phòng, căn
hộ, kho bãi, nhà xưởng, phương tiện vận tải, nâng xếp, bốc dỡ hàng hóa;
Dịch vụ: chuyển khẩu, quá cảnh, khai thuế quan, giao nhận hàng hóa, vận
chuyển khách, vận tải hàng hóa;
Kinh doanh bánh kẹo, phụ tùng và thiết bị viễn thông, camera;
Kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm và nguyên vật liệu sản xuất thức ăn gia
súc gia cầm;
Kinh doanh các mặt hàng đường sữa;
Kinh doanh thiết bị điện tử tin học
2.1.2 Chøc n¨ng, nhiÖm vô, quyÒn h¹n cña c«ng ty Cæ phÇn xuÊt nhËp
khÈu Tæng hîp I
+) Chøc n¨ng :
C«ng ty cæ phÇn XNK tæng hîp I ®−îc phÐp trùc tiÕp xuÊt khÈu hoÆc nhËn uû
th¸c xuÊt khÈu c¸c mÆt hµng n«ng s¶n, h¶i s¶n, thñ c«ng mü nghÖ, c¸c mÆt hµng gia
c«ng tù chÕ biÕn t− liÖu s¶n xuÊt vÒ hµng tiªu dïng phôc vô cho nhu cÇu s¶n xuÊt vµ
Trang 22đời sống theo kế hoạch, theo yêu cầu của các địa phương, các ngành, các xí nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế theo quy định của các nước Cung ứng vật tư, hàng
hoá nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước phục vụ cho các ngành, các địa phương các
xí nhgiệp thanh toán bằng tiền hoặc hàng hoá theo các thỏa thuận trong hợp đồng
kinh tế Sản xuất và gia công chế biến hàng hoá để xuất khẩu và làm các dịch vụ
khác liên quan đến nhập khẩu
+) Nhiệm vụ :
Công ty có nhiệm vụ xây dựng và thực hiên có hiệu quả các hoạt động sản
xuất kinh doanh kể cả xuất nhập khẩu tự doanh cũng như uỷ thác xuất nhập khẩu và
các kế hoạch có liên quan Tự tạo nguồn vốn, quản lý và khai thác, sử dụng một
cách hiệu quả, thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước Tuân thủ các chính sách,
chế độ quản lý kinh tế, quản lý xuất nhập khẩu và giao dich đối ngoại Thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ trong các hợp đồng kinh tế có liên quan Nâng cao chất lượng,
gia tăng lượng hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường nước ngoài, thu hút ngoại tệ và
đẩy mạnh hoạt động XK Luôn đào tạo cán bộ lành nghề, có kinh nghiệm phục vụ
lâu dài cho công ty Làm tốt mọi nghĩa vụ và các công tác xã hội khác
+) Quyền hạn :
Công ty được phép đề xuất với Bộ về việc xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch có
liên quan đến hoạt động của công ty Trong hoạt động kinh doanh được phép vay
vốn bằng tiền mặt và ngoại tệ, trực tiếp kí các hợp đồng kinh tế trong và ngoài nước
Được phép mở rộng buôn bán các sản phẩm hàng hoá theo quy định của Nhà nước
Công ty được phép tham dự các hôi chợ triển lãm để giới thiệu các sản phẩm của
công ty ở trong và ngoài nước, đặt ra các đại diện và chi nhánh ở nước ngoài Xây
dựng kế hoạch đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, kỷ luật cán bộ công nhân
viên…
2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý và đặc trưng hoạt động xuất nhập khẩu
Công ty
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty XNK Tổng hợp I
Công ty XNK Tổng hợp I có cơ cấu tổ chức theo mô hình trực tuyến chức
năng gồm những phòng ban với những chức năng chuyên ngành riêng dưới sự chỉ
đạo của ban giám đốc và có mối quan hệ chức năng với nhau Công ty có 4 phòng
ban quản lý, 7 phòng nghiệp vụ và một phó giám đốc giúp việc Quyền hạn trách
nhiệm của một phòng ban, các đơn vị trực thuộc đều được quy định rõ
Trang 23Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định các vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty chiến
lược phát triển, giải pháp phát triển thị trường, phương án đầu tư, cơ cấu tổ chức,
quy chế quản lý…
Ban giám đốc điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chụi trách
nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao
Ban kiểm soát thực hiện việc kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý
điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài
chính…thường xuyên thông báo với hội đồng quản trị và để báo cáo với đại hội
đồng cổ đông
+) Khối các phòng kinh doanh gồm có 7 phòng nghiệp vụ chuyên làm về kinh
doanh xuất nhập khẩu :
Các chi nhánh
Các
đơn vị sản xuất
Khối liên doanh
& đầu tư
Trang 245) Phòng5: Xuất nhập khẩu tổng hợp, nhận uỷ thác xuất nhập khẩu,
- Phòng tổng hợp : tổng hợp tình hình thị trường, giá cả trong nước và trên
thế giới, theo dõi pháp chế, luật và dưới luật, quy dịnh xuất nhập khẩu, thuế, hải
quan, thống kê các số liệu theo yêu cầu của Ban giám đốc và phòng ban, lên kế
hoạch trình giám đốc
- Phòng kế toán- tài vụ: hạch toán kế toán, đánh giá toàn bộ hoạt động kinh
doanh của công ty theo kế hoạch,lập bảng cân đối kế toán, báo cáo cấp trên và
các cơ quan hữu quan về việc tổ chức hoạt động, thu chi tài chính các khoản lớn
nhỏ trong công ty
- Phòng hành chính quản trị : Theo dõi, sửa chữa, mua sắm các thiết bị
phục vụ công tác của công ty như: xây dựng, theo dõi, sửa chữa nhà xưởng, văn
phòng, thực hiện các nhiệm vụ do Ban giám đốc giao phó, nhận các loại giấy tờ,
công văn giao đến, theo dõi tình hình hoạt động thường nhật của công ty, giải
quyết các vấn đề liên quan đến hành chính sự nghiệp
- Phòng tổ chức cán bộ: Nắm toàn bộ nhân lực của công ty, tham mưu cho
giám đốc sắp xếp, giúp cho giám đốc khâu tuyển dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ
công nhân viên, sắp xếp, sắp xếp bố trí lao động cho phù hợp với mục tiêu kinh
doanh, đồng thời tổ chức giám sát, theo dõi về lao động- tiền lương
+) Các chi nhánh: Nghiên cứu thị trường, tìm nguồn hàng, bán hàng uỷ
thác của công ty
+) Liên doanh:
53 Quang Trung: giao dịch kinh doanh
7 Triệu Việt Vương: kinh doanh khách sạn, văn phòng cho thuê
+) Các đơn vị sản xuất:
- Xí nghiệp may Đoan Xá- Hải Phòng
- Xưởng sản xuất chế biến gỗ tại Cầu Diễn - Hà Nội
- Xưởng lắp ráp xe máy Tương Mai
Trang 25- XÝ nghiÖp chÕ biÕn quÕ t¹i Gia L©m - Hµ Néi
2.1.3.2 Chuẩn mực và chế độ kế toán Công ty áp dụng
- Chế độ kế toán áp dụng : Công ty áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban
hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài Chính
-Hình thức kế toán áp dụng: Công ty áp dụng hình thức ghi sổ trên máy vi
tính, sử dụng phần mềm kế toán Fast accounting Đến thời điểm khóa sổ lập Báo
cáo tài chính Công ty đã in đầy đủ Báo cáo tài chính, sổ kế toán tổng hợp và sổ kế
toán chi tiết
2.1.3.3 Đặc trưng của hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty
+ Mặt hàng xuất khẩu
Chủ yếu là nông lâm thuỷ hải sản, hàng công nghệ phẩm hàng nông lâm thuỷ
hải sản ban gồm cà phê, gạo, chè, hoa hồi, quế, hạt tiêu Trong đó cà phê, gạo và
lạc nhân là ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Công ty (năm 2006 giá trị xuất khẩu
của cà phê là 24.947.891,01 USD chiếm 64,10% tổng giá trị xuất khẩu) Trong
những năm tới công ty vẫn chủ trương coi các mặt hàng trên là chủ lực Song, bên
cạnh đó còn tập trung vào một số mặt hàng tiềm năng mang lại giá trị xuất khẩu
cao như hạt tiêu, quế , hồi
Hàng thủ công mỹ nghệ cũng là một mặt hàng xuất khẩu của Công ty Nó
bao gồm các mặt hàng như: bia, khăn bông, bóng đèn, hàng thủ công mỹ nghệ,
quạt, thiếc, áo T-shirt, hoá chất, văn phòng phẩm Trong đó, các mặt hàng bóng
đèn, hàng thủ công mỹ nghệ và quạt máy là các mặt hàng mang lại giá trị xuất khẩu
cao Trong những năm gần đây Công ty đã đầu tư nghiên cứu thị trường, xây dựng
chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mang lại hiệu quả và có tính
ổn định cao, không còn mang lại tính thời vụ như trước
+ Thị trường xuất khẩu
Hiện nay, Việt Nam là một thành viên tích cực trong khối ASEAN nên Công
ty đã khai thác tốt thị trường này Thị trường các nước Đông Nam Á là thị trường
rộng lớn có dân số đông lại có văn hoá gần giống nước ta vì vậy Công ty đã nhận ra
tiềm năng của thị trường này nên đã phát triển mạng lưới rộng khắp Các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu như: Nông sản (gạo, hồi, cà phê ) hàng may mặc, hàng thủ
công mỹ nghệ
Trang 26Thị trường được coi trọng tiếp theo là Nhật, vì ở đây là thị trường phát triển
nên nhu cầu tiêu thụ là lớn nhưng thị trường này rất khắt khe Các mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu vào thị trường này của công ty như: may mặc, nông sản, thiếc, quế
Thị trường EU là thị trường lớn thứ ba mà Công ty đang khai thác Đây là thị
trường tiềm năng xuất khẩu của nước ta nên mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Công
ty vào thị trường này là: hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc, thiếc, đồ dùng sinh hoạt
(cho việt kiều)
Trung Quốc là một thị trường quan trọng nhưng đây là thị trường rất khó
xâm nhập được do khó cạnh tranh được với các công ty nội địa công cụ thương mại
chủ yếu khi trao đổi với Trung Quốc là hàng trao đổi
Ngoài ra Công ty còn một số khách hàng không thường xuyên tại các thị
trường khác như: Nam Á, Nam Mỹ, Úc, Trung Đông, Bắc Mỹ
+ Phương thức kinh doanh
Hai phương thức chính mà Công ty áp dụng trong xuất khẩu là xuất khẩu tự
doanh và xuất khẩu uỷ thác:
- Xuất khẩu uỷ thác là hình thức Công ty xuất khẩu kinh doanh dịch vụ
thương mại thông qua nhận xuất khẩu hàng hóa cho một doanh nghiệp khác và
được hưởng phí trên việc xuất khẩu đó Ở khía cạnh nào đó, xuất khẩu ủy thác giúp
cho Công ty tăng cường tiềm năng kinh doanh xuất khẩu cho công ty nhận ủy thác
Nhằm duy trì khách hàng và duy trì thị trường, phát triển hoạt động thương mại
dịch vụ tăng thu nhập cho Công ty, tạo việc làm cho phòng kinh doanh xuất nhập
khẩu Tuy nhiên, Công ty có thể gặp một số hạn chế như tham gia vào các tranh
chấp thương mại; bên ủy thác xuất khẩu không thực hiện tốt các nghĩa vụ thủ tục và
thuế xuất khẩu và bên nhận ủy thác chịu trách nhiệm liên đới…
- Xuất khẩu tự doanh là hình thức doanh nghiệp tự tạo ra sản phẩm và tự tìm
kiếm khách hàng để xuất khẩu Công ty có khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh
bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc tinh chế sản phẩm để xuất khẩu với
giá cao và tìm mọi cách giảm chi phí kinh doanh hàng xuất khẩu để thu được nhiều
lợi nhuận hơn.Bên cạnh đóhình thức xuất khẩu này còn bảo đảm cho công ty đẩy
mạnh xâm nhập thị trường thế giới và cái thu được chẳng những là lợi nhuận mà
vốn vô hình đó là nhãn hiệu và biểu tượng của công ty ngày càng được tăng cao
Tuy nhiên, Công ty cũng phải chịu một số hạn chế như: chi phí kinh doanh cao cho
Trang 27tiếp thị và tìm kiếm khách hàng; vốn kinh doanh lớn; rủi ro trong xuất khẩu nhiều
hơn so với phương thức gia công xuất khẩu vì mọi giai đoạn của quá trình kinh
doanh xuất khẩu đều do Công ty tự lo…
+ Xác định giá cả hàng xuất khẩu
- Xuất khẩu tự doanh: xác định giá của hàng xuất khẩu do Công ty xác định
dựa trên cơ sở giá vốn của hàng khi mua hàng và chi phí dịch vụ phát sinh trong
quá trình xuất khẩu Ngoài ra cũng rất cần thiết phải tham khảo giá cả của hàng hóa
cùng loại trên thị trường quốc tế
- Xuất khẩu uỷ thác: giá hàng xuất khẩu do bên giao uỷ thác qui định công ty
chỉ được hưởng phí hoa hồng uỷ thác
2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong một số
năm gần đây
Bảng 01: Tổng hợp kết quả kinh doanh của Công ty các năm 2005, năm
2006 và năm 2007
Đơn vị tính: VNĐ
Các khoản giảm trừ
(Nguồn: báo cáo tài chính năm 2005, 2006, 2007 của Công ty CP XNK tổng hợp I)
Năm 2007, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I đạt kim ngạch xuất
nhập khẩu 87 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 60 triệu
Trang 28USD, doanh thu của công ty đạt 1.366 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt trên 80 tỷ
đồng, cổ tức trước thuế dự kiến 20% cả năm Con số này càng có ý nghĩa hơn nếu
so với mức thực hiên năm 2006: kim ngạch XNK là 57 triệu USD, XK gần 39 triệu
USD doanh thu 632 tỷ đồng, lợi nhuận 7,8 tỷ đồng Nhưng thành công hơn nữa là,
vượt qua bỡ ngỡ ban đầu sau cổ phần hóa, Generalexim đã có định hình rõ chiến
lược và có kế hoạch cụ thể phát triển kinh doanh của mình
Về sản xuất cho xuất khẩu, Generalexim đã mạnh dạn thay đổi đối tác, ký
hợp đồng dài hạn với khách hàng Nhật Bản gia công sản phẩm may mặc, tạo đầu ra
ổn định Trên cơ sở đó, Công ty đã đầu tư cải tạo mở rộng nhà xưởng, trang bị máy
móc tăng thêm dây chuyền sản xuất, hướng tới công suất là 350.000 sản phẩm/năm
Năm 2007, hệ thống hạ tầng kho tàng của công ty ở cả 3 miền đã tăng từ 33.000m2
lên 64.000m2 với việc xây dựng hơn 15.000m2 kho tại Đà Nẵng, 12.000 m2 tại Hà
Tây, mở rông thêm 3.000m2 kho tại Hải Phòng
2.2 Thực trạng tổ chức và hiệu quả sử dụng VKD của Công ty
2.2.1 Tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng Vốn kinh doanh
Bảng 02:Cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh của Công ty năm 2007
Qua bảng phân tích trên, tổng tài sản của Công ty cuối năm 2007 đã tăng lên
96027508817 đồng so với đầu năm tương ứng với tỷ lệ tăng 27,50% TSLĐ và đầu
tư ngắn hạn cuối năm 2007 cũng tăng lên 110162881548 đồng so với cuối năm
tương ứng với tỷ lệ tăng 41,22% Tuy nhiên TSCĐ và đầu tư dài hạn cuối năm
2007 lại giảm 14135372731 đồng so với đầu năm, tương ứng với tỷ lệ giảm
17,25% Nhận thấy tỷ trọng giữa TSLĐ và đầu tư ngắn hạn với TSCĐ và đầu tư dài
hạn có sự chênh lệch khá lớn Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do đặc thù của
Trang 29hoạt động XNK của Công ty nên cần nhiều TSLĐ để tiện cho việc thanh toán các
hợp đồng Bên cạnh đó, còn do trong năm 2007 công ty tiến hành đầu tư cổ phiếu
vào một loạt các công ty như: Bảo hiểm dầu khí, ngân hàng Eximbank, Xi măng
Bút Sơn…
Vốn kinh doanh của Công ty được hình thành từ hai nguồn là nợ phải trả và
nguồn vốn chủ sở hữu Cuối năm 2007, nợ phải trả của Công ty tăng 26270304508
đồng so với đầu năm, tương ứng với tỷ lệ tăng 9,65% Nợ phải trả tăng lên chủ yếu
là do nợ dài hạn tăng, cuối năm 2007 NPT tăng 21804860861 đồng so với đầu năm,
tương ứng với tỷ lệ tăng 7252,5% Nguồn vốn chủ sở hữu cuối năm 2007 tăng
69747204309 đồng so với đầu năm, tương ứng với tỷ lệ tăng 90,92% Nguyên nhân
của sự tăng này là do sự tăng lên của lợi nhuận sau thuế chưa phân phối vào cuối
năm VCSH tăng lên chứng tỏ mức độ chủ động vể măt tài chính của Công ty đã
được cải thiện đáng kể, hạn chế sự phụ thuộc vào bên ngoài Nhờ đó góp phần
giảm chi phí sử dụng vốn, giảm bớt các rủi ro tài chính Như vậy cơ cấu vốn của
Công ty là khá hợp lý, tuy nhiên cũng cần phải giảm các khoản nợ đặc biệt là các
khoản vay và nợ dài hạn
2.2.1.1 Tình hình tổ chức và phân bổ Vốn lưu động
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản
xuất Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục doanh nghiệp phải có đủ tiền
vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của vốn lưu động, tạo điều kiện cho chuyển
hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi, góp phần tăng
tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Muốn
như vậy công tác tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu dộng một cách có hiệu quả sẽ
đảm bảo được tính an toàn về tài chính, ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp Qua đó, doanh nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và
khả năng thanh toán, khắc phục được mọi rủi ro trong kinh doanh Bởi vậy, phân
tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động là việc cần làm nhằm thể hiện chất lượng công
tác sử dụng vốn đồng thời đánh giá hiệu quả của nó để từ đó có các biên pháp thích
hợp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp
Muốn đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trước hết ta phân tích kết cấu
tình hình phân bố vốn lưu động và tỷ trọng của từng loại trong các giao đoạn luân
chuyển, từ đó tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Qua bảng