1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoạt động giải trí của cư dân ven biển trong nền kinh tế thị trường hiện nay ( khảo sát tại phường cao xanh, hạ long, quảng ninh)

39 403 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 324,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên đối với cư dân ven biển hiện nay trong nềnkinh tế thị trường đa cuốn họ vào công việc lao động sản xuất kinh doanhhàng ngày để tăng thêm thu nhập, vì vậy thời gian cho hoạt độn

Trang 1

Phần I: PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường chuyển từ to lớn,quan liêu bao cấp sang cơchế thị trường kinh tế hang hóa nhiều thành phần Quá trình đổi mới, đấtnước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, xã hội càng phát triển đất nước ngàycàng tiến lên Song song với quá trình phát triển kinh tế thị trường thì nhu cầugiải trí của con người

Hoạt động giải trí là các hoạt động vui chơi, thư giãn về thể chất lẫn tinhthần Sau những giờ làm việc căng thẳng con người có thể giải tí bằng nhiềucách,giải trí về tinh thần như xem ti vi, đọc báo, nghe nhạc…, về thể chất nhưchơi thể dục thể thao, đi du lịch…

Sau một ngay làm việc căng thẳng và mệt mỏi con người rất cần được nghỉngơi và thư giãn, giải trí là biện pháp tối ưu để có thể giảm bớt những căngthẳng mệt mỏi này Ngoài ra giải trí còn có thể giúp con người xả stress mộtcách hữu hiệu Nhờ hoạt độngh giải trí mà con người tinh táo minh mẫn vàthoải mái hơn Giải trí rất quan trọng trong đời sống hằng ngày của conngười

Xã hội càng phát triển, thời gian lao động của người dân càng được rútngắn và thời gian rảnh rỗi ngày càng nhiều, con người càng có xu hướng quantâm đến vấn đề giải trí Tuy nhiên đối với cư dân ven biển hiện nay trong nềnkinh tế thị trường đa cuốn họ vào công việc lao động sản xuất kinh doanhhàng ngày để tăng thêm thu nhập, vì vậy thời gian cho hoạt động giải trí củangười dân là rất ít và nhiều hạn chế và đầu tư vào các hoạt động này chưanhiều

Trang 2

Với những lý do trên rất cần có sự quan tâm nghiên cứu cho hoạt động giải

trí của người dân một cách đúng mức Chính vì vậy em chọn đề tài : “Hoạt

động giải trí của cư dân ven biển trong nền kinh tế thị trường hiện nay” ( khảo sát tại phường Cao Xanh, Hạ Long, Quảng Ninh)

2.Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn.

2.1.Ý nghĩa khoa học

Với đề tài nghiên cứu này, người làm nghiên cứu vận dụng các lý thuyết

xã hội học vào nghiên cứu một vấn đề thực tiễn cụ thể

2.2.Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu này giúp chúng ta biết được những hoạt động giảitrí má người dân thường tham gia Giúp cho người dân nhận thức đượcđâu là loại hình giải trí phù hợp với thời gian rỗi của mình và có thể bố trítrí thời gian để có thể giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng các hoạt động giải trí của cư dân ven biển trongnền kinh tế thị trường hiện nay

- So sánh các hoạt động giải trí trước và sau năm 2005 (sau khi sát nhậpvào phường Cao Xanh)

- Tìm hiểu khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội với hoạt động giải trícủa người dân trên địa bàn

4.Câu hỏi nghiên cứu

Các hoạt động giải trí chủ yếu của cư dân ven biển trong nền kinh tế thịtrường hiện nay là gì?

So sánh trước và sau năm 2005 hoạt động giải trí của người dân có gì thayđổi?

Trang 3

5 Giả thuyết nghiên cứu

Các hoạt động giải trí chủ yếu của người dân ven biển hiện nay là cáchoạt động giải trí về tinh thần, diễn ra tại nhà ít tốn kém chi phí như xem ti vi,đọc báo…

So với năm 2005 hoạt động giải trí của người dân hiện nay có nhiềuthay đổi về loại hình giải trí, thời gian giải trí

Có nhiều nhân tố tác động đến hoạt động giải trí của nguời dân ven biểnnhư: nhận thức của nguời dân, dịch vụ giải trí địa phương

6 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.

*Đối tượng nghiên cứu:

Các hoạt động giải trí của cư dân ven biển

Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Các hoạt động giải trí của cư dân ven biển

7 Phương pháp thu thập thông tin

phỏng vấn sâu các cá nhân trong hộ gia đình và cán bộ văn hóa phường

để lấy thông tin

Trang 4

7.3 Phương pháp quan sát:

Quan sát công khai khi tìm hiểu trên địa bàn có các loại hình giải trínào, số lượng bao nhiêu?

7.4 Phương pháp phân tích tài liệu:

Thu thập những tài liệu liên quan đến giải trí, hình thức giải trí nhưsách, báo, tài liệu internet, những báo cáo của địa phương, những tài liệu cónội dung về giải trí để bổ xung những thông tin cần thiết cho nghiên cứu củamình

Phần II: NỘI DUNG CHÍNH

Chương I: cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.

1.1.Lý thuyết hành động xã hội

Mỗi người có một nhu cầu giải trí riêng tuỳ thuộc vào giới tính, nghềnghiệp, sở thích của mội người Chính vì vậy hoạt động giải trí của người dânđược dựa trên lý thuyết hành động xã hội

Nhà xã hội học người Đức M.Werber cho rằng hành động xã hội là mộthành vi chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nhất định Ông nhấn mạnh đếnđộng cơ bên trong chủ thể như là nguyên nhân của hành động Hành động, kể

cả hành động thụ động và không thụ động được gọi là hành động xã hội khi ýnghĩa chủ quan của nó có tính đến thái độ hành vi của ngưòi khác, ý nghĩa chủquan đó định hướng cho hành động

Trang 5

Hành động xã hội được chia làm 4 loại:

Hành động duy lí công cụ: Là hành động được thực hiện với sự cânnhắc tính toán, lựa chọn công cụ phương tiện mục đích sao cho có hiệu quảnhất

Hành động duy lí giá trị: Là hành động được thực hiện bởi bản thânhành động

Hành động duy cảm: Là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặc tìnhcảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét phân tích mối quan hệgiữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động

Hành động duy lí truyền thống: Là hành động tuân thủ những thóiquen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền từ đời này sang đời khác.[ 12, tr87]

T.Parson thì cho rằng hành động xã hội được điều chỉnh bởi một hệthống biểu tượng ngôn ngữ mà con người sử dụng trong tương tác hàng ngày.Giải trí với tư cách là hành động xã hội, cũng được điều chỉnh bởi những biểutượng này

Khi nghiên cứu hoạt động giải trí là nghiên cứu một dang hành đông

xã hội nên dùng lý thuyết hành động xã hội để nghiên cứu

1.2 Lý thuyết biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành

vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng

xã hội được thay đổi theo thời gian

Cũng giống như tự nhiên mọi xã hội đều không ngừng biến đổi Sự ổnđịnh của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừngthay đổi bên trong bản thân nó Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào,cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sựbiến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho

Trang 6

thấy rõ hơn là sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thànhchuyện thường ngày Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiệnthực khác, không ngừng vận động và thay đổi Tất cả các xã hội đều ở trongmột thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục.

Biến đổi xã hội là một hiện tượngphổ biến nhưng nó diễn ra khônggiống nhau giữa các xã hội Mỗi xã hội đều biến đổi theo không gian và thờigian, nhưng do điều khiện khác nhau nên nên các xã hội biến đổi theo nhịp độkhác nhau Giải trí cũng vậy mỗi một thời kì có những hình thức giải trí khácnhau, và có nhiều hình thức khác nhau để con người lựa chọn hình thức giảitrí phù hợp Bên cạnh đó thì mỗi một vùng, miền thì lại có những cách giải tríriêng của từng vùng

Biến đổi xã hội có sự khác biệt về thời gian Có những biến đổi chỉ diễn

ra trong thời gian ngắn giải trí cũng vậy, có những hình thức giải trí voứi thờiđiểm này nhưng khi xã hội biến đổi và phát triển thjì nó không còn phù hợpnữa ví dụ như trong xã hội truyền thống ngày xưa, giải trí của người dân làcác trò chơi dân gian mang tính tập thể cac thì ngày nay trong xã hội hiện đạingười dân laị có thêm nhiều hình thức giải trí mới mang tính cá nhân như đócbáo, xem ti vi…

Vận dụng lý thuyết vào đề tài này tôi thấy sự biến đổi xã hội có tácđộng không nhỏ lên hoạt động giải trí của người dân, sự biến đổi xã hội cũnglàm thay đổi hình thức và cách thức trong việc tham gia hoạt động giải trí củangười dân Ngoài ra biến đổi xã hội tạo ra cho người dân có nhiều cơ hội lựachọn hoạt động, các hình thức giải trí khác nhau

Như vậy cùng với sự biến đổi xã hội thì hoạt động giải trí của conngười cũng thay đổi phù hợp với sự biến đổi xã hội

Trong xã hội cổ truyền những hoạt động giải trí của con người đượcbiết đến như những trò chơi dân gian, những câu hát cổ truyền gắn liền với

Trang 7

mệt mỏi của một vụ mùa hay một năm Những hoạt động ấy phù hợp với xãhội nông nghiệp khi mà công nghiệp chưa phát triển máy móc hiện đại chưaphát triển trong xã hội ngày nay khi mà nền công nghiệp đang phát triển, máymóc hiện đại ngày càng nhiều thì hoạt động giải trí của con người ngayg càngphong phú và đa dạng phù hợp với xã hội công nghiệp hiện đại Nhiều hoạtđộng giải trí không còn phù hợp với xã hội mới, nhựng hình thức giải trí của

xã hội cổ ttruyền không còn được đông đảo người dân tham gia

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm nảy sinh nhiều nhu cầumới, ngày nay xuất hiện nhiều trò chơi mới bằng phương tiện hiện đại như tròchơi điện tử internet, game… Trước đây người chơi phải tụ tập tại một điểm

để chơi, ngày nay nhiều người ở nhiều nơi khác nhau trong một thời gian cóthể tham gia cùng một trò chơi

Sự xuất hiện của những trò chơi, nhiều hình thúc giải trí mới một mặt

nó giúp con người thoải mái, vui vẻ sau những giờ, những ngày làm việc căngthẳng mệt mỏi nhưng nếu không được định hướng, không được quản lý chặtchẽ thì nó sẽ còn tiềm ẩn nhiều lệch chuẩn xã hội như quá ham mê chơi điện

tử quên việc học hành của một số học sinh, hay những loại hình đồi truy…

1.3 Khái niệm công cụ.

*) Giải trí

Theo từ điển xã hội học: Giải trí là hoạt động nhằm giải toả căng thẳngtrí não, tạo sự hứng thú cho con người và là điều kiện phát triển con ngườimột cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ (1, tr29)

Qua định nghĩa trên ta thấy rằng giải trí là hoạt động trong thời gian rỗi,

là một trong những cách giải toả căng thẳng, mệt mỏi về tinh thần của conngười nhưng không phải bất cứ hoạt động nào được thực hiện trong thờigian rỗi cũng là giải trí Vì mục đích cuối cùng của giải trí là giải toả căng

Trang 8

thẳngvvề thể chất và tinh thần, tạo được sự thư giãn trong tâm hồnvà là nhữngrung cảm thẩm mỹ.

*) Nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường là cách thức tổ chức kinh tế xã hội trong đó cácquan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệmua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư sử của từng thànhviên chủ thể kinh tế là định hướng vào việc tìm kiếm lợi ích chính của mìnhtheo sự dẫn dắt của giá cả thị trường Một xã hội tiến đến nền kinh tế thịtrường cuộc sống của người dân sẽ phát triển và nhu cầu giải trí sẽ cao (tàiliệu.vn)

*) Nhu cầu

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mongmuốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và pháttriển Như vậy nhu cầu là yếu tố cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển của cá nhân, nếu như nhu cầu được thoả mãn thì tạo nên cảm giác thoảimái, an toàn cho sự phát triển và ngược lại ( từ điển xã hội học, 8,tr143)

Chương II: Kết quả nghiên cứu

2.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong lịch sử xã hội học, đã có rất nhiều nghiên cứu về giải trí trongđời sống của con người như nghiên cứu về chức năng, bản chất, hình

Trang 9

thức… của giải trí Những nghiên cứu này phát triển mạnh mẽ ở cácnước phương tây do các nước này có những thành tựu khoa học từ rấtsớm nên họ có nhiều thời gian để có thể giải trí.

Ở Việt Nam nghành xã hội học ra đời muộn (1906) và cho đến naynhững nghiên cứu về giải trí ở Việt Nam còn rất ít, mới chỉ là nhữngbài phóng sự, những ghi chép, điều tra trên các phương tiện truyềnthông đại chúng về giải trí như thực trạng thiếu địa điểm vui chơi giảitrí, thiếu kinh phí cho các hoạt động giải trí của người dân

Người tiếp cận vấn đề giải trí từ góc độ xã hội học văn học là cố tácgiả Đoàn Văn Chúc Ông đã đi sâu phân tích về bản xchất của giải trínhư là nhu cầu của văn hoá và một số những khái niêm như thời gianrỗi, hoạt động rỗi… tuy nghiên cứu của ông còn nhiều hạn chế nhưngđây là một bước khai phá ra một lĩnh vực mới trong nghiên cứu của xãhội học

Một số những công trình nghiên cứu thật sự về giải trí dưới góc độ xãhội học như luận án tiến sĩ của tác giả Đinh Thị Vân Chi: “ nhu cầugiảitrí của thanh niên”, hay khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Ngọc _K47: “tìm hiểu hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của thanh niên xãLưu Kiếm, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng”

Nhưng chưa có một báo cáo nào nghiên cứu về hoạt động giải trí của

cư dân ven biển trong nền kinh tế thị trường với đề tài của mình tôimuốn tìm hiểu sự tham gia hoạt động giải trí của cư dân ven biển trongthời gian rảnh rỗi như thế nào, cũng như tìm hiểu một số nguyên nhân tácđộng đến hoạt động giải trí của người dân trong nền kinh tế thị trườnghiện nay

2.1.2Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Trang 10

Quảng Ninh là tỉnh miền núi, biên giới, hải đảo, nằm ở phía Đông Bắccủa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong khoảng: 20,4 đến 22,4

độ vĩ Bắc; 106,26 đên 108,31 độ kinh Đông Chiều rộng từ Đông sang Tây,khoảng rộng nhất là 195km; chiều dài từ Bắc xuống Nam, khoảng dài nhất là

102 km Phía Bắc và phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây Trung Quốc dài132,8 km Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn Phía Tây giáp các tỉnh Bắc Giang,Bắc Ninh, Hải Dương, thành phố Hải Phòng Phía Đông và phía Nam giápvịnh Bắc Bộ

Quảng Ninh có diện tích tự nhiên 611.081,3 ha, trong đó: đất nôngnghiệp và đất chuyên dùng có khoảng 100.000 ha, đất rừng và có triển vọng

để phát triển rừng có trên 500.000 ha

Dân số của tỉnh Quảng Ninh năm 1955 có 280.692 người, đến năm 1999

có 1.004.453 người thuộc các dân tộc: Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay,Hoa, Mường, Nùng, Thái, Hiện nay lao động trong độ tuổi chiếm tỷ lệ trên56% dân số, trong đó lao động trong ngành công nghiệp và thủ công nghiệpchiếm khoảng 30% tổng số lao động toàn tỉnh ( khái quát tự nhiên vị trí địa lítỉnh Quảng Ninh, Diễn đàn kiến thức.net)

*)Thành phố Hạ Long nằm ở phía Tây Bắc Vịnh Bắc Bộ, cách Hà Nội165km đi về phía tây nam, cách Hải Phòng 60km về phía tây, thành phố nằm

ở trung tân tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc và Tây Bắc giáp Hoành Bồ, phía Namthông ra biển và giáp thị xã Caảm Phả, phía Tây và Tây Nam giáp huyện YênHưng

Thành phố Hạ Long ở trung tâm của Tỉnh, có diện tích đất là 27.195,03

ha, có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của Thành phố, có cảng biển,

có bờ biển dài 50km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Disản thế giới với diện tích 434km2

Hạ Long có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú

Trang 11

Tài nguyên khoáng sản: Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồmchủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng Tổng trữ lượng than đá đãthăm dò được đến thời điểm này là trên 530 triệu tấn Loại than chủ yếu làthan Antraxit và bán Antraxit Bên cạnh đó là trữ lượng sét phục vụ làmnguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng tại vùng Giếng Đáy, theo đánh giátriển vọng trữ lượng hiện có khoảng trên 39 triệu tấn Ngoài ra là đá vôi phục

vụ làm nguyên liệu xi măng và vật liệu xây dựng, tập trung tại phường HàPhong và khu vực Đại Yên, theo đánh giá trữ lượng hiện còn khoảng trên 15triệu tấn có thể khai thác được Bên cạnh đó, còn có các khu vực có thể khaithác cát xây dựng tại ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu vực sôngtrới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng… tuy nhiên trữ lượng là không đáng để(đến nay chưa có đánh giá thống kê cụ thể)

Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2009, trên địabàn thành phố có tổng diện tích đất rừng là 5.862,08ha/tổng diện tích thànhphố là 27.153,40 ha Tỷ lệ che phủ của rừng đạt: 21,58 % Trong đó rừngtrồng 5.445,69ha và rừng tự nhiên 416,39ha

Tài nguyên đất: Thành phố Hạ Long có tổng diện tích đất tự nhiên là

27.195,03 ha, bao gồm các loại đất sau: Đất nông nghiệp 9544,86 ha; Đất phinông nghiệp 16.254,92 ha, đất chưa sử dụng 1395,25 ha

Tài nguyên biển: Do lợi thế có vịnh Hạ Long 2 lần được công nhận là

Di sản thiên nhiên thế giới Với tổng diện tích 1.553 km2 bao gồm 1969 hònđảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên

Về dân số, tính đến 1 tháng 4 năm 2009, toàn Thành phố có 215.795người, Thành phố Hạ Long có 55.172 hộ dân với hơn 21 vạn người, trong đóngoài dân tộc Kinh chiếm đa số còn có 15 dân tộc khác, đó là: Sán Dìu, Hoa,Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan với 2.073 nhânkhẩu chủ yếu là dân tộc Sán Dìu, Tày, Hoa

Trang 12

Với những đặc điểm trên có thể nói Hạ Long là của ngõ quan trọng củacác tỉnh miền Bắc trong việc giao lưu với các nước trong khu vực quốc tế,nhất là với Trung Quốc ( Nguyễn Lê Phuơng, chánh vă phòng HĐND vàUBNDTP, Điều kiện kinh tế tự nhiên và xã hội thành phố Hạ Long)

*)Phường Cao Xanh có diện tích là 701 ha, địa hình phức tạp vừa đồinúi, biển đảo tổng dân số là 15971 người với 4596 hộ

Trên địa bàn có 04 trường học, 31 cơ quan trung ương, tỉnh và thànhphố, 62 doanh nghiệp ngoài quốc doanh ( tư nhân vừa và nhỏ) Nhìn chungphường có nhiều thuận lợi nhưng khó khăn cũng không ít, tình hình an ninhchính trị, an toàn xã hội trên địa bàn có nhiều phức tạp, phát triển kinh tế cònnhiều hạn chế chưa đáp ứng kịp với cơ chế kinh tế thị trường Song với sựlãnh đạo, chỉ đạo và quyết tâm nỗ lực của cấp chính quyền, các ban ngành,đoàn thể và nhân dân đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trên tất cả các lĩnh vựckinh tế xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng….(Báo cáo tổng kết và kế hoạchtình hình kinh tế văn hoá xã hội phuờng Cao Xanh năm 2010)

2.2 Thực trạng tham gia hoạt động giải trí của người dân

Xã hội trong nền kinh tế thị trường hiện nay nhu cầu giải trí của conngười rất cần thiết chính vì vậy hoạt động giải trí của người dân là rất phongphú và đa dạng cả về thể chất lẫn tinh thần, từ những hoạt động đó để giải toảcăng thẳng cho tinh thần được thoải mái

Giải trí là nhu cầu thực tế của con người Xã hội càng phát triển nhu cầugiải trí của con người càng cần thiết và không thể thiếu trong đời sống tinhthần của con người Hoạt động giải trí bao gồm những hoạt động nhằm giảitoả căng thẳng , mệt mỏi, ức chế và phục hồi sức khoẻ do công việc tạo ratrong suất một ngày lao động, đưa cơ thể trở lại trạng khoẻ mạnh cả về thểchất và tinh thần

Trang 13

Hoạt động giải trí thường được con người thực hiện trông thời gian rỗi.Đây là khoảng thời gian chiếm ít trong ngày là số thời gian còn lại sau khi đãlao động để mà sinh tồn Xong nó là khoảng thời gian dành cho hoạt động cánhân tự do lựa chọn theo sở thích Đây là hoạt động tinh thần, hoạt động thoảmẫn nhu cầu giải trí, sang toạ vì thế nó được gọi là dạng nghỉ ngơi nhưngbằng cách chuyển từ hoạt động tất yếu, cưỡng bức sang hoạt động tự do, tựgiác, tự nguyện.

Qua nghiên cứu trên địa bàn cho thấy thời gian rảnh rỗi của người dânven biển như sau:

Biểu đồ 1: thời gian rảnh rỗi của người dân

dưới 1 tiếng 11%

1 đến 2 tiếng 28%

2 đến 3 tiéng 31%

3 đến 4 tiếng

17%

4 đến 5 tiếng 6%

trên 5 tiếng 7%

Qua biểu đồ cho ta thấy thời gian rảnh rỗi của người dân nhiều nhất làtừ2 đến 3 tiếng ( 30.4%); từ 1 đến 2 tiếng (28.3%) Chúng ta nhận thấy rằngthời gian rỗi của người dân có từ 1 cho đến 4 tiếng đối với người dân venbiển thời gian rảnh của họ không nhiều chỉ từ 1 đến 3 tiếng, do tính chất côngviệc chiếm nhiều thời gian nên họ có ít thời gian rảnh rỗi những người cónhiều thời gian rảnh rỗi chủ yếu là những người làm công chức, những thanh

niên hay những người không có việc làm “Cháu bảo ở nông thôn thì làm gì

có lúc nào rỗi đâu có thì cũng chỉ có buổi tối thôi.”

Ngươi dân ở đây chủ yếu là ngư nghiệp nên thời gan rỗi với họ là rất ít

họ phải lo cho cuộc sống hàng ngày nên ít có thời gian để quan tâm đến nhu

Trang 14

cầu giải trí của mình Xong bên cạnh đó cũng có một số ít người có từ 4 đến 5tiếng ( 5.8%) và trên 5 tiếng (7%) những người có nhiều thời gian rỗi chủ yếu

là những người công chức hay là làm việc theo thời gian

Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà con người không bị thúc bách bởinhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất kỳ nghĩa vụ khách quan nào Nóđược dành cho các hoạt động tự nguyện theo sở thích của chủ thể nhằm thoảmãn nhu cầu của con người thời gian đáp ứng nhu cầu tinh thần là khoảngthời gian cá nhân tham gia các hoạt động đời sống tinh thần của cá nhân( xem phim, đi chơi, đọc báo….) đây là nhu cầu của mỗi người đây làkhoảng thời gian ít nhất trong ngày, là số thời gian còn lại của mỗi người saukhi đã làm xong bổn phận Xong nó lại là khoảng thời gian dành cho hoạtđộng cá nhântự do lựa chọn theo sở thích Đây là hoạt động tinh thần hoạtđộng thoả mãn nhu cầu giải trí

Mỗi xã hội mỗi thời điểm con người có khoảng thời gian rảnh rỗi làkhác nhau Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, nghề nghiệp của từng cá nhân

Biểu đồ 2: tương quan thời gian rỗi trước và sau 2005 (%)

trướ c năn 2005 64%

s au năm 2005

36%

Có 64.3% số người dân được hỏi cho rằng trứơc năm 2005 họ có nhiềuthời gian rảnh rỗi hơn, và sau năm 2005 có số thời gian rỗi ít hơn chỉ có35.7%

Trang 15

Trước năm 2005người dân trong phường chủ yếu là ngư nghiệp họ điđánh bắt cá theo thời gian nhất định chính vì vây mà họ được nghỉ ngơi nhiều,khi nền kinh tế thị trường chưa phát triển người dân còn chưa phải lo chạyđua theo nền kinh tế mới nên họ có nhiều thời gian rỗi hơn, nhiều thời gian

để thư giãn nghỉ ngơi nhiều hơn Sau năm 2005 khi phường được sát nhập lại

mở ra một nền kinh tế mới nền kinh tế thị trường , nền kinh tế tự do cạnhtranh Cá nhân muốn đứng vững được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới

về hình thức và cách thức làm việc Do vậy, nó luôn tạo ra sản phẩm mới cho

xã hội, chính vì vậy mà các cá nhân muốn tồn tại được trong xã hội này phải

nỗ lực làm việc nên con người không còn nhiều thời gian rảnh rỗi

Như vậy có thể nhận ra rằng so với trước năm 2005 trong nền kinh tế thịtrường hiện nay người dân có ít thời gian hơn Tuy nhiên cũng có không ítngười có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn có tới 35.7%, có khá nhiều lí do khi họ

có nhiều thời gian rỗi hơn như là họ chuyển từ làm ngư nghiệp tức là từ điđánh bắt hải sản sang kinh doanh bán hàng, do điều kiện kinh tế khá hơn, và

có những người lại cho rằng họ có nhiều thời gian nghỉ ngơi, giải trí hơn là docông việc của họ thây đổi nên chiếm ít thời gian trong ngày

Biểu đồ 3: sự tham gia các hoạt động giải trí của người dân (%)

Trang 16

đọc sách báo, nghe đài 29,6%

x em ti vi 83,2%

trò chuyện cùng ngường thân 35.6%

trò c huyện vớ i

hàng x óm, bạn

bè 42.8%

thăm hỏi người

thân, họ hàng

21.2%

đi lễ 11.2%

chơi bài chơi cờ 7.6%

hoạt động khác 19.6%

Nhìn vào biểu đồ ta thấy rằng hình thức giải trí được nhiều người thamgia nhiều nhất đó là xem ti vi (83.2%); trò chuyện với hàng xóm bạn bè(42.8%); trò chuyện với người thân ( 35.6%)… chúng ta nhận thấy rằng từ ti

vi đã trở thành phương tiện nghe nhìnquen thuộc đối với người dân Việt Namnói chung và người dân phường Cao Xanh nói riêng Nhất là đối với mộtphường vừa mới sát nhập khi mà dịch vụ giải trí hiện đại chưa phát triển,cộng thêm vào đó thu nhập của người dân còn nhiều hạn chếthì hoạt độngxem ti vi là phổ biến

Trước đây trong xã hội xem ti vi không phải là phổ do lúc đó cuộc sốngcủa nhân dân còn nhiều khó khăn người dân chưa thể trang bị cho gia đìnhmình một chiếc ti vi riêng để xem, mà lúc đó họ thường nghe đài thông qua

hệ truyền thông của xã hoặc tham gia hình thức giải trí khác như xem chiếubong … Nhưng trong xã hội ngày nay, do sự phát triển chung của nền kinh tế

xã hội, đời sống kinh tế của người dân ngày càng được nâng cao cho nênngười dân đều có thể ttrang bị cho gia đình mình một chiếc tivi riêng Bêncạnh đó thì xem ti vi thu hút được nhiều người tham gia vì ti vi là Phương tiện

Trang 17

lượng của các kênh truyền hình càng được nâng cao nên thu hút được khánhiều người dân tham gia vào loại hình giải trí này.

Khi được hỏi mọi người thường làm gì và thời gian rảnh rỗi đều nhận

được câu trả lời chung là xem ti vi: “Người dân chủ yếu là xem tivi, ngoài ra

ở đây không còn trtò gì nữa cháu ạ, ti vi hầu hết nhà nào cũng có.” ( phỏng

vấn sâu, nữ 37 tuổi)

Ti vi là một phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày củamọi người dân, đồng thời cũng là phương tiện giải trí được nhiều người dânlựa chọn xem ti vi được đánh giá là phương tiện giải trí rẻ tiền, lại có nhiềuchương trình tạo sự hấp dẫn cho người xem 100% hộ gia đình trong phườngđều có ti vi để xem Không dừng lại ở mức độ giải trí ti vi còn giúp ta thu thập

được thông tin, tri thức mới “Các chương trình này có nhiều tin tức lắm, xem thì mới biết được tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế chứ.” ( phỏng vấn sâu, nam 67 tuổi)

Một hoạt động cũng thu hút được nhiều người tham gia đó là thăm hàngxóm, bạn bè Xã hội Việt Nam từ trước đến nay có câu “ bán anh em xa, mualáng giềng gần” nên việc đi lại thăm bà con họ hàng trong thời gian rỗi đượcmọi người quan tâm có tới 42.8% trong lúc rỗi họ thường đi thăm hàng xom,bạn bè, hơn nữa ở nông thôn không như thành phố họ sống gần gũi và tậptrung với nhau, họ sống gần nhau nên việc đi trò chuyện cùng hàng xóm bạn

bè không mất nhiều thời gian và kinh phí nên đã được mọi người đặc biệt chú

ý quan tâm Đối với người dân nông thôn dường như chạy sang nhà hàng xómmỗi khi rảnh rỗi nói dăm ba câu chuyệnlà một nhu cầu không thể thiếu trongcuộc sống hàng ngày

Trò chuyện cùng người thân trong gia đình cũng là cách giải trí thú vịcủa người dân trong phường có tới 35.8% chọn cách giải trí này Đây khôngphải là điều khó hiểu vì sau mỗi bữa ăn các thành viên trong gia đình ngồiquay quần trò chuyện bên nhau sau một ngày lao động học tập mệt mỏi, họ

Trang 18

chia sẻ với người thân trong gia đình những khó khăn, vui buồn sảy ra trongngày.

Người Việt Nam thường có truyền thống hiếu nghĩa nên việc đi lại thămngười thân họ hàng khi rảnh rỗi là rất quan trọng có 21.2% lựa chọn hìnhthức giải trí này

2.3 Những nhân tố tác động đến hoạt động giaỉ trí của người dân

 Nhận thức của người dân về giải trí

Những quan niệm của người dân về giải trí là khác nhau, nó chi phối sựlụa chọn tham gia các hoạt động giải trí của người dân Khi thực hiện hànhđộng thì cá nhân luân xem xét, hành động dựa trên những chuẩn mức, hệ giátrị đã được xã hội thừa nhận Mặc dù hành động xã hội khi thực hiện mangtính cá nhânvà chịu sự chi phối của quan niệm, nhận thức nhưng khi thực hiện

cá nhân luân quy chiếu đến hệ giá trị

Ở nước ta giải trí luôn bị coi nhẹ đặc biệt là ở những vùng nông thôn.Người dân cho rằng giải trí ngược lạivới lao động, giải trí là lười lao động, làkhông cần thiết, là lãng phí thời gian một cách vô bổ, thậm chí dẫn tới hậuquả xấu chính vì quan niệm này còn ăn sâuvà làm cho giải trí có phần bị dồnnén Với một số loại hình giải trí bị bóp méo, biến dạng do cơ chế thị trường

đã làm cho người dân có cái nhìn không tốt và coi đó là các tệ nạn xã hội,những người tham gia các hoạt đông này bị đánh giá theo ý nghĩ tiêu cực.chính vì vậy có những hoạt động giải trí đã xuất hiện nhưng tỷ lệ tham giathấp như hát karaoke, internet :

“ Thì mấy cái trò ấy chỉ dành cho những thanh niên chơi bời…thì cô nghe ti vi nói là mấy cái quán karaoke, cà phê ấy không tốt mà” (phỏng vấn

sâu, nữ)

Nhận thức của người dân về giải trí còn rất hạn chế, họ quan niệm rằng:

Trang 19

có thu nhập cao đâu vào mấy cái quán kia có mà sạt nghiệp à” (phỏng vấn

(phỏng vấn sâu, nam)

Từ nền kinh tế chủ yếu làm ngư nghiệp với tâm lý tự cung tự cấp nênngười dân vẫn chưa quen với nền kinh tế thị trường gắn với việc sử dụngnhững dịch vụ giải trí của xã hội, hầu hết các hoạt động của họdiễn ra trongphạm vi gia đình Nếp quen này tác động đến lối sống của người dân trongphường thể hiện ở chỗ tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động giải trí thấp vàchủ yếu là các hoạt động giải trí tại nhà

Ngoài ra còn một số nguyên nhân tác động đến việc tham gia các hoạtđộng giải trí của người dân như: khả năng của bản thân, sở thích của các cánhân, nghề nghiệp, giới tính…

 Dịch vụ văn hoá

Là một phường người dân chủ yếu làm ngư nghiệp chuyển sang cơ chếkinh tế thị trường người dân ở đây còn nhiều thiếu thốn, cuộc sống của ngườidân còn gặp nhiều khó khăn nên dịch vụ giải trí ở đây còn rất ít và nhiều hạnchế

Các phong trào thể dục thể thao được củng cố và phát triển trong trongphường như phong trào bong đá, bong truyền, cầu lông Tuy nhiên hệ thống

Ngày đăng: 19/12/2014, 09:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w