Quy trình nhập khẩu tại công ty thiết bị Việt Á - thực trạng và giải pháp
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra các đường lối phát triển nền kinh tế với mục tiêu: “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ” Sau hơn 20 năm thực hiện
các đường lối đó, nền kinh tế đã đạt được một số kết quả ban đầu: Cơ chế quản
lý quan liêu bao cấp được chuyển đổi sang cơ chế thị trường, nền kinh tế mở đã
và đang từng bước được kết nối với nền kinh tế thế giới
Để có được những kết quả đó không thể không kể đến vai trò của hoạt
động xuất nhập khẩu, cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hoạt
động xuất nhập khẩu đã thực sự chiếm một vị trí rất quan trọng trong toàn bộ
hoạt động kinh tế đối ngoại và trở thành nguồn tích luỹ, bổ sung chủ yếu cho
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Nhận thức được tầm quan
trọng đó, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Nhiệm vụ ổn định và phát triển
kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự phát triển kinh tế trong kỹ thuật
và công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa cuả nước ta tiến hành nhanh hay chậm,
điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng, nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại”
Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước, điện năng là ngành công
nghiệp quan trọng, được coi là dòng máu giúp cơ thể vận động Một nhu cầu cấp
thiết được đặt ra là việc cung cấp các thiết bị điện phục vụ cho ngành điện - một
ngành công nghiệp mà chúng ta chưa đủ khả năng để sản xuất máy móc, thiết bị
nhằm đáp ứng nhu cầu đó Hiện nay Nhà nước cũng đã cho phép các đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu được trực tiếp nhập khẩu mặt hàng máy móc thiết bị phục
vụ cho các ngành, do đó đã đáp ứng được tương đối tốt nhu cầu đó Tuy nhiên,
do hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu còn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ
với một số các doanh nghiệp Việt Nam, nên trên thực tế các doanh nghiệp đã
phải gánh chịu các hậu quả khôn lường Những thiệt hại về tài chính, sự mất uy
Trang 2tín trong quan hệ kinh doanh và nhiều các thua thiệt khác của các doanh nghiệp
do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Nhưng trong đó, chủ yếu vẫn là
việc thiếu kinh nghiệm, kiến thức và chưa chú trọng đúng mức đến tầm quan
trọng của quá trình thực hiện quy trình nhập khẩu Bởi vậy, việc nghiên cứu để
xây dựng, củng cố và hoàn thiện quy trình nhập khẩu đã và đang trở thành vấn
đề có tính cấp thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hoạt
động kinh doanh quốc tế
Với tinh thần hội nhập quốc tế sâu rộng, tính cho đến nay Việt Nam
đã có quan hệ quốc tế và hợp tác kinh doanh tốt đẹp với rất nhiều các quốc gia
trên thế giới Đây chính là tiền đề tạo nên triển vọng vàng cho các doanh nghiệp
Việt Nam trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như đa dạng hoá hướng
tiếp cận với các thị trường nhập khẩu tiềm năng, chất lượng Nhưng vấn đề đặt
ra và cũng chính là thách thức với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
kinh tế ngoại thương Việt Nam như đã nói ở trên đó là sự yếu kém về kinh
nghiệm thậm chí tồn tại một thực trạng đáng buồn tại không ít các doanh nghiệp
ngoại thương trong nước đó là sự chưa chú trọng hoặc dành sự quan tâm chưa
thích đáng đối với việc xây dựng và hoàn thiện quy trình nhập khẩu thực sự hiệu
quả và phù hợp với tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp Trong quá trình thực
tập tại công ty thiết bị điện Việt á em đã có cơ hội tiếp xúc và làm quen bước
đầu với công tác nhập khẩu tại công ty Thiết nghĩ với lộ trình hội nhập sâu rộng
và toàn diện đang đặt ra với Việt Nam nói chung và đối với các doanh nghiệp
Việt Nam nói riêng, vấn đề đáng được quan tâm hàng đầu đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương là công tác xây dựng và hoàn
thiện quy trình nhập khẩu, xuất khẩu tại Doanh nghiệp mình Xuất phát từ thực
tế và đặc điểm kinh doanh tại công ty thiết bị điện Việt á( Một doanh nghiệp với
nghiệp vụ chính là nghiệp vụ nhập khẩu) em mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và đề
xuất những kiến nghị nhằm từng bước hoàn thiện quy trình nhập khẩu tại công
ty thiết bị điện Việt á Em chọn đề tài “Quy trình nhập khẩu tại công ty thiết
bị điện Việt Á - thực trạng và giải pháp”
Trang 3Về nội dung_ xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, báo cáo thực tập của em
được chia thành những phần mục nội dung cụ thể như sau:
Chương I: Giới thiệu chung về công ty thiết bị điện Việt á
Chương II:Thực trạng quy trình nhập khẩu thiết bị điện tại công ty thiết bị điện
Việt Á
Chương III Những giải phỏp nhằm hoàn thiện quy trỡnh nhập khẩu ở cụng ty
thiết bị điện Việt Á
Mục tiêu chính của đề tài là đi sâu phân tích và tìm hiểu quy trình nhập
khẩu tại công ty thiết bị điện Việt á từ đó tìm ra những nhược điểm còn tồn tại
trong việc thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu tại công ty và kiến nghị giải pháp khắc
phục Với lượng kiến thức, kinh nghiệm có hạn, trong quá trình hoàn thành báo
cáo thực tập này em không thể tránh khỏi những sai sót, nhưng nhờ sự hướng
dẫn tận tâm của thầy giáo hướng dẫn cùng sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các anh
chị làm việc tại công ty thiết bị điện Việt á em đã hoàn thành báo cáo thực tập
này Nhân đây em cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới Thầy và các anh, các chị
làm việc tại phòng vật tư xuất nhập khẩu công ty thiết bị điện Việt á đã rất tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình em thực hiện báo cáo thực tập này
Trang 4
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH
THIẾT BỊ ĐIỆN VIỆT Á
I Quá trình hình thành và phát triển của công ty thiết bị điện Việt á
Công ty TNHH Thiết bị điện Việt á thuộc tập đoàn Việt á, tên giao dịch
quốc tế của công ty là:
VIET A ELECTRICAL ENGINEERING COMPANY LIMITED Viết tắt : VAE
Địa chỉ: số 2/2 ngõ 370 đường Cầu Giấy - Q.Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 84 4 7931666 ; Fax: 84 4 7545743
Ngay từ khi mới được thành lập ( vào năm 1995), ban lãnh đạo công ty đã
nhìn thấy tiềm năng của một thị trường rất lớn tại Việt Nam - đó là thị trường
cung cấp vật tư thiết bị (VTTB) cho ngành Điện lực Tuy nhiên cũng cần thấy
rằng, nếu chỉ dừng lại ở việc cung cấp một số mặt hàng thông thường cho ngành
Điện lực thì tại Việt Nam đã có một số lượng tương đối lớn các cửa hàng hay
các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân chuyên về lĩnh vực này, chính vì vậy ban
lãnh đạo công ty đã mạnh dạn đưa ra quyết định mở rộng mạng lưới kinh doanh,
cung cấp VTTB có đặc tính kỹ thuật cao và bước vào sản xuất lắp ráp các loại tủ
điện và trạm biến áp
Qua nhiều khó khăn ban đầu, hiện nay Việt á đã chiếm được một thị phần
tương đối lớn trong việc cung cấp VTTB cho ngành Điện lực và trở thành một
nhà thầu tên tuổi bên cạnh các nhà thầu nước ngoài cung cấp VTTB cho các dự
án lưới điện quốc gia do Tổng Công ty Điện lực Việt Nam mời thầu Điều này
bắt nguồn từ tính hiệu quả của một số hoạt động chính của công ty: đó là đấu
thầu, nhập khẩu và sản xuất Trên thực tế đây cũng là ba giai đoạn chính để Việt
á tìm kiếm khách hàng và cung cấp VTTB với nhiều chủng loại phong phú
Hằng năm, Tổng công ty Điện lực Việt Nam và các công ty trực thuộc
thường tiến hành việc gọi thầu cung cấp VTTB cho các dự án làm mới, bổ sung
Trang 5hay mở rộng, điều này đã tạo ra cơ hội cho tất cả các nhà thầu trong nước tham
gia rộng rãi Tuy nhiên, dựa trên tiềm lực và uy tín của mình, Việt á đã nhanh
chóng đạt được thành công trong nhiều dự án đấu thầu, chẳng hạn như dự án
cung cấp VTTB cho trạm 110kV Thanh Đa (TPHCM), Vĩnh Bảo, Lộc Trù,
Quán Trữ (Hải Phòng), Nông Cống (Thanh Hoá), Trình Xuyên (Nam Định),
Vân Đình (Hà Tây), Đô Lương, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, đặc biệt là những
dự án lớn như dự án 75 trạm biến áp cho lưới điện quốc gia…
II Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây:
Kết quả hoạt động kinh doanh những năm gần đây
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty (2004 - 2006)
Lợi nhuận thuần từ
hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận sau thuế 2,125,493,003 2,709,652,320 4,739,280,768
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004-2006 công ty thiết bị điện Việt á
Nhìn vào bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm
(2004-2006), ta thấy:
Tổng doanh thu của công ty các năm sau tăng hơn so với năm trước tốc
độ tăng trung bình qua các năm là 102% - đó là một con số kỷ lục, năm 2005
tăng 154% so với năm 2004 hay tăng tương ứng về số tuyệt đối là 24.634 tỷ
đồng, năm 2006 tăng 50% so với năm 2005 tương ứng với số tuyệt đối là 20.116
tỷ đồng Giải thích cho tốc độ tăng trưởng kỷ lục này là do công ty đã bước qua
giai đoạn thâm nhập thị trường và đang trong giai đoạn phát triển, đồng thời
Trang 6công ty đang dần mở rộng dần thị trường tiêu thụ ra nước ngoài như Lào,
Campuchia… Đây cũng là một nỗ lực vượt bậc của các cán bộ công nhân viên
trong toàn công ty Ngoài ra hàng năm công ty đều hoàn thành vượt mức tổng
các khoản nộp ngân sách Nhà nước Các khoản nộp ngân sách Nhà nước ngày
càng tăng tỷ lệ với doanh thu, điều đó cho thấy công ty có mức đóng góp ngày
càng lớn cho sự nghiệp xây dựng đất nước giàu đẹp hơn
Lợi nhuận sau thuế của công ty cũng ngày càng tăng lên qua các năm Tốc
độ tăng trưởng trung bình là 51%, trong đó năm 2005 lợi nhuận sau thuế là
2,125,493,003đ, so với năm 2004 đã tăng 27% và tương ứng với số tuyệt đối là
584,159,317đ, đến năm 2006 con số này đã là 4,739,280,768đ bằng gần 2 lần
năm 2005, tăng 75% tương ứng với số tuyệt đối là 2,029,628,448đ Tuy nhiên
nếu so sánh với tổng doanh thu qua các năm thì con số này là quá nhỏ, chính vì
vậy, công ty cần phải kiểm tra, đánh giá lại các nguyên liệu, linh kiện đầu vào
sao cho hạ giá đầu vào mà vẫn đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh, giảm tối
đa các chi phí trong quá trình hoạt động, đặc biệt cần quản lý tốt sự lưu chuyển
nguồn vốn trong công ty để tăng lợi nhuận
Về vốn, công ty đã thực hiện nhiều biện pháp để huy động thêm các
nguồn vốn khác ngoài vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay từ ngân hàng công ty
đã huy động vốn từ các cán bộ công nhân viên trong công ty từ việc bán cổ
phiếu, do đó số vốn của công ty luôn được bảo toàn và phát triển Tình hình vốn
của công ty như sau:
Trang 7Bảng 2: Tổng số vốn kinh doanh của công ty qua các năm 2004-2006
Tỷ
lệ (%) Số tiền
Tỷ
lệ (%) Tổng
vốn
6,103,367,092 100 21,350,106,333 100 44,750,193,225 100
1,911,478,220 31
4,293,297,438 20 16,557,571,295 37 Vốn LĐ 4,191,888,872 69 17,056,808,895 80 28,192,621,93
0
63
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2004-2006
Ta nhận thấy tổng số vốn của công ty tăng lên rất nhanh qua các năm,
điều này chứng tỏ qua nhiều năm hoạt động công ty càng có kinh nghiệm hơn
trong hoạt động kinh doanh của mình Tỷ trọng vốn lưu động bao giờ cũng lớn
hơn tỷ trọng vốn cố định, điều này hoàn toàn hợp lý vì chức năng chính của
công ty là kinh doanh nên tỷ trọng vốn lưu động lớn hơn là tốt
III Cơ cấu tổ chức của công ty thiết bị điện Việt á
Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty
Trang 8Với tốc độ phát triển ngày càng nhanh, công ty Việt á không ngừng tự đổi mới
và hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức và nhân sự, được BVQI (Viện chứng nhận phù
hợp tiêu chuẩn quốc tế) và QUACERT (Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu
chuẩn Việt Nam) cấp chứng chỉ chất lượng ISO 9001 Các bộ phận, phòng ban
của Việt á ngày càng được chấn chỉnh cho phù hợp với chức năng và nhiệm vụ
riêng để có thể đáp ứng nhu cầu kinh doanh
Trong cơ cấu tổ chức của công ty thì phòng Vật tư – XNK thuộc phòng kế
hoạch vật tư và nhiệm vụ chính của phòng là: Tổ chức mua sắm vật tư thiết bị đầu
vào cho dự án( thực hiện các mua sắm vật tư thiết bị trong nước và nhập khẩu )
căn cứ theo yêu cầu của hợp đồng đầu ra và thiết kế của phòng kỹ thuật đặc biệt là
thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu các vật tư thiết bị điện phục vụ cho các dự án
IV Các hoạt động chính của công ty thiết bị điện Việt á
4.1 Chức năng hoạt động chính của công ty thiết bị điện Việt á
Công ty thiết bị điện Việt á có chức năng tổ chức sản xuất, lắp ráp tất cả
các sản phẩm điện theo kế hoạch của Tập đoàn giao như: tủ bảng điện ( tủ trung
thế, tủ hạ thế, tủ điều khiển…), cầu dao cách ly và các thiết bị về điện và
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
XƯỞNG SƠN
KHỐI
KỸ THUẬT
NHÀ MÁY ĐIỆN
PHÒNG
QC
NHÀ MÁY
CƠ KHÍ
PHÒNG TC-KT
PHÒNG
KẾ TOÁN
PHÒNG KẾ HOẠCH VẬT TƯ
Trang 9đặc biệt phải đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO 9001- 200
4.2 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu:
Công ty TNHH thiết bị điện Việt á thường xuyên thay đổi, bổ sung vào cơ
cấu mặt hàng nhập khẩu để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường
trong nước, phù hợp với phương hướng kinh doanh của công ty Điều này được
thể hiện khá rõ qua bảng cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của công ty từ năm 2004
0 22,849,320,9 00
75.87 29,595,389, 380 86.83
9
8,443,676,45
0
24.63
8,960,387,8
40 26.29
6
4,059,263,60
0
11.69
7,263,830,1
00 21.31
3
Biến điện áp các
loại
536,009,40
0
7.00
1,310,521,30
0
5.01
4,287,258,4
20 12.58
4 Biến dòng điện các loại
597,074,80
0
7.80
1,122,878,80
0
4.29 27,165,300 0.08
5
Chống sét van
các loại
3,903,200
0.05
289,778,900
1.11
368,532,680
1.08
6 Rơ le bảo vệ các loại
527,924,20
0
6.89
1,799,935,20
0
6.88
2,406,360,7
40
7.06
7 Tủ trung thế
770,800
0.01
2,467,051,20
0
9.43
3,480,024,6
60 10.21
Trang 10Bảng 3: Kim ngạch nhập khẩu theo cơ cấu mặt hàng từ năm 2004 - 2006
Đơn vị : VNĐ
Nguồn: Các mặt hàng nhập khẩu từ 2004-2006
KNNK: kim ngạch nhập khẩu
TT: tỷ trọng = KNNK/ tổng giá trị vật tư nhập khẩu và mua trong nước
Qua bảng cơ cấu hàng nhập khẩu của công ty ta có thể thấy:
Thiết bị thành phẩm là loại mặt hàng nhập khẩu chính của công ty, chiếm
tỷ trọng cao (trên 80%) Trong việc nhập khẩu thiết bị thành phẩm thì mặt hàng
nhập khẩu chính của công ty là các loại máy cắt, cầu dao, cầu chì tự rơi và tủ
trung thế, rơle Các loại cầu chỉ tự rơi là mặt hàng truyền thống được đưa vào
kinh doanh từ năm 1995 cùng với sự ra đời của công ty, tủ bảng điện
Hạ thế và thiết bị Trung thế là mặt hàng mới của công ty được công ty đưa vào
mặt hàng kinh doanh năm 1999
Qua bảng cơ cấu mặt hàng nhập khẩu chứng tỏ công ty đã có được định
hướng, có bước đi đúng đắn trong việc xác định mặt hàng nhập khẩu chiến lược
Tuy nhiên để có thể tồn tại và phát triển được trong môi trường cạnh tranh ngày
càng khốc liệt, công ty vẫn phải nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài nước
để mở rộng số lượng mặt hàng, tăng số mặt hàng chiến lược để góp phần ổn
định và phát triển hơn nữa hoạt động nhập khẩu của mình
4.3 Thị trường nhập khẩu của công ty:
0.05
182,792,350
0.70
211,885,660
0.62
9 Thiết bị đo đếm
325,777,80
0
4.25
1,143,266,85
0
4.37
1,417,914,5
80
4.16
10 Phụ kiện cáp
308,656,20
0
4.03
1,279,309,95
0
4.89
149,630,180
0.44
11 Aptomat
173,872,80
0
2.27 750,846,300 2.87
1,022,399,2
20
3.00
Trang 11Công ty TNHH thiết bị điện Việt á không ngừng đẩy mạnh kinh
doanh,tìm kiếm thị trường nhập khẩu chất lượng cũng như các nhà cung cấp ổn
định có khả năng cung cấp các mặt hàng đạt tiêu chuẩn tại mức giá tốt, do vậy
thị trường nhập khẩu và thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng, đồng thời
công ty có thêm ngày càng nhiều bạn hàng trong và ngoài nước Nếu trước đây
thị trường nhập khẩu của công ty chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ tại các nước
trong khu vực như Singapore, Trung Quốc…thì hiện tại thị trường của công ty
đã được mở rộng sang cả các quốc gia có nền công nghiệp phát triển rất mạnh
như Nhật Bản, EU, Mỹ
Trang 12Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu theo thị trường từ năm 2004-2006
Đơn vị: Đô la Mỹ (USD)
2 Bắc Âu 72,549.10 18% 248,631.96 20% 383,448 23%
3 Hàn
Quốc
26,439.40 7%
72,915.42 6% 113,923 7%
21,062.60 5%
56,671.44 5% 67,798 4%
17,360.20 4%
47,369.19 4% 64,833 4%
6 Indonesi
a
21,819.20 5%
61,629.48 5% 11,170 1%
0
100
% 1,668,51 3 100 %
Nguồn: Báo cáo tình hình nhập khẩu từ 2004-2006
Qua bảng trên ta thấy EU và các nước Bắc Âu là những thị trường nhập
khẩu chính của công ty, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của
công ty, bởi đây chính là những thị trường có khả năng cung cấp các loại thiết bị
điện có chất lượng cao Bên cạnh đó các thị trường khác như ấn Độ, Malaysia,
Indonesia, Đài Loan là những thị trường có khả năng cung cấp những thiết bị có
tính năng sử dụng phù hợp với môi trường Việt Nam, giá cả hợp lý Ngoài ra các
quốc gia khu vực Bắc Âu thì lại có quan hệ thương mại và ngoại giao tương đối
Trang 13tốt đối với Việt Nam, do đó trong tương lai công ty cần nghiên cứu để khai thác
triệt để thị trường này
Trang 14CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUI TRÌNH NHẬP KHẨU THIẾT BỊ
ĐIỆN TẠI CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ ĐIỆN VIỆT Á
I Thực trạng quy trình nhập khẩu tại công ty thiết bị điện Việt Á
1 Nghiên cứu thị trường
Quá trình nghiên cứu thị trường của công ty TNHH thiết bị điện Việt á
gồm hai quá trình đó là nghiên cứu thị trường trong nước và nghiên cứu thị
trường nhập khẩu
1.1 Nghiên cứu thị trường trong nước
Công ty TNHH thiết bị điện Việt á nghiên cứu thị trường trong nước với
mục tiêu nắm bắt được nhu cầu trong nước, kết nối công ty và khách hàng Do
công ty không có phòng Marketing nên quá trình này do các cán bộ phòng kinh
doanh thực hiện có sự phối hợp của phòng kỹ thuật và phòng vật tư xuất nhập
khẩu
Thực chất nghiên cứu thị trường trong nước chính là nghiên cứu yêu cầu
của các dự án công ty được mời thầu Mỗi dự án công ty tham gia đấu thầu do
một cán bộ trong phòng kinh doanh phụ trách, người này là chủ nhiệm dự án,
sau khi tiếp nhận những yêu cầu của bên mời thầu chủ nhiệm dự án yêu cầu
phòng kỹ thuật bóc tách vật tư thiết bị để hình thành một bản dự toán thiết kế
chào thầu Bản dự toán thiết kế chào thầu này bao gồm các thông số kỹ thuật của
các vật tư thiết bị dùng trong dự án cũng như mức giá chào thầu của các vật tư
thiết bị này, để dự án có thể trúng thầu thì ngoài việc đảm bảo các yếu tố
kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của bên mời thầu thì yếu tố quan trọng nhât
quyết định việc trúng thầu là giá của các vật tư thiết bị dùng cho các trạm biến
áp hay các tủ AC, DC…mà Việt á tham gia chào thầu Chính bởi vậy phòng kỹ
thuật và chủ nhiệm dự án cần phối hợp cùng phòng vật tư xuất nhập khẩu để có
Trang 15thể chào thầu các vật tư thiết bị đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật của bên mời
thầu với mức giá tốt Khi đó sẽ có hai trường hợp xảy ra:
- Nếu các vật tư thiết bị cần thiết trong các dự án chào thầu là các vật tư
thiết bị Việt á đã từng dùng cho các dự án trước thì phòng vật tư – XNK lấy báo
giá của các các dự án đó làm căn cứ để chào thầu sau khi đã trao đổi lại với các
nhà cung cấp để có thể có một khoảng giá về vật tư thiết bị đó ( do giá trên thị
trường luôn biến động nên nhà cung cấp sẽ không đưa ra một mức giá cố định
do thời gian từ lúc tham gia đấu thầu đến lúc trúng thầu có thể kéo dài vài
tháng ) Khoảng giá này sẽ được chuyển lại cho phòng kinh doanh và phòng
kinh doanh sẽ lấy mức giá cận trên trong khoảng giá để chào thầu
- Nếu Các vật tư thiết bị trong dự án chào thầu là các vật tư chưa từng
dùng thì phòng vật tư tìm kiếm các nhà cung cấp thông qua mạng internet và
đưa danh sách các nhà cung cấp này cho phòng kinh doanh đàm phán giá Lý do
giải thích cho việc tại sao phòng vật tư không trực tiếp đàm phán giá là do nếu
phòng vật tư đàm phán giá thì bên cung cấp hiểu rằng các dự án đó đã trúng thầu
và phòng vật tư chỉ còn cách mua các vật tư này để có thể đáp ứng đúng tên các
nhà cung cấp trong thiết kế đã đem chào thầu của mình, còn nếu phòng kinh
doanh đàm phán giá thì phòng kinh doanh có thể yêu cầu các nhà cung cấp hỗ
trợ bằng cách cung cấp cho các vật tư thiết bị này tại mức giá tốt để các dự án có
thể trúng thầu, chính bởi vậy nên ở giai đoạn này phòng kinh doanh đàm phán
với nhà cung cấp sẽ có được mức giá cạnh tranh hơn so với phòng vật tư – XNK
Kết quả của quá trình nghiên cứu thị trường trong nước chính là các dự án đã
trúng thầu thể hiện dưới dạng các hợp đồng kí giữa Việt á và bên mời thầu về
việc cung cấp các vật tư thiết bị này cho các dự án, các hợp đồng này được gọi
là hợp đồng đầu ra
1.2 Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Trang 16Nghiên cứu thị trường nhập khẩu do phòng vật tư – XNK đảm nhiệm với
mục đích nhập khẩu được các vật tư thiết bị đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của các dự
án đã trúng thầu tại mức giá tốt ( luôn nhỏ hơn mức giá trong dự toán thiết kế
chào thầu thì dự án đó mới có lãi) và tìm được các nhà cung cấp có khả năng
cung cấp hàng đảm bảo chất lượng, ổn định với mức giá cạnh tranh
Bên cạnh các nhà cung cấp truyền thống như ABB cung cấp rơle, aptomat,
Areva cung cấp rơle, Siemens cung cấp các loại đồng hồ đa chức năng… thì
phòng vật tư – XNK không ngừng tìm kiếm thêm các nhà cung cấp mới, trung
bình mỗi năm phòng đã tìm kiếm thêm được 40 nhà cung cấp mới bao gồm cả
nhà cung cấp trong nước cho các vật tư thiết bị trong nước và nhà cung cấp nước
ngoài cho các vật tư thiết bị cần nhập khẩu Phương tiện tìm kiếm các nhà cung
cấp phòng sử dụng thường qua sách, báo, mạng internet… Trong trường hợp
cần tìm kiếm nhà cung cấp các vật tư thiết bị có giá trị lớn như máy cắt, hay hệ
thống dây chuyền để phục vụ việc lắp ráp các linh kiện cho các dự án lớn thì sau
khi phòng vật tư tìm kiếm được nhà cung cấp và sau một thời gian trao đổi qua
điện thoại và internet thấy mặt hàng nhà cung cấp chào đáp ứng được yêu cầu kỹ
thuật, cán bộ phòng vật tư cùng cán bộ phòng kỹ thuật và giám đốc đến tận điạ
chỉ nhà cung cấp tại nước ngoài để xem xét các yếu tố kỹ thuật thực tế
Kết quả của quá trình nghiên cứu thị trường nhập khẩu chính là danh
sách các nhà cung cấp vật tư thiết bị đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật với mức giá
tốt để chào thầu đồng thời được nhập khẩu sau khi dự án đã trúng thầu, cũng
như đã tạo được thị trường cung cấp ổn định các vật tư thiết bị cần nhập khẩu
Sau khi đã nghiên cứu kỹ thị trường trong nước, biết được những loại thiết bị
nào thị trường trong nước đang cần, đang thiếu và có thể thoả mãn tốt nhất nhu
cầu thị trường và khách hàng trong nước thì công ty bắt đầu xây dựng các kế
hoạch để nhập khẩu những thiết bị đó Và bước tiếp sau bước nghiên cứu thị
trường trong nước mà công ty thực hiện đó là xin giấy phép nhập khẩu để đề
phòng trường hợp sau khi đã giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng mà không
xin được giấy phép nhập khẩu Điều này sẽ gây nên rất nhiều phiền phức và
Trang 17thiệt hại bởi như thế có nghĩa là công ty đã tự động huỷ hợp đồng sau khi đã
đồng ý ký với đối tác, do đó bên đối tác có quyền kiện và đòi bồi thường Bởi
vậy, đối với những mặt hàng cần phải xin giấy phép nhập khẩu công ty đã tiến
hành xin giấy phép nhập khẩu trước khi tiến hành giao dịch, đàm phán và ký kết
hợp đồng
Nhưng mặt hàng kinh doanh của công ty chủ yếu là các thiết bị điện như
cáp điện, cầu chì tự rơi, cầu dao cách ly, aptomat, máy cắt, rơ le và những
hàng hoá này nằm trong danh mục hàng được Nhà nước cho phép nhập khẩu
với mục tiêu: công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước vì vậy công ty thường
tiến hành đăng ký kinh doanh những mặt hàng này trong giấy phép kinh
doanh của mình Điều này giúp cho công ty thuận tiện rất nhiều bởi không
phải xin giấy phép nhập khẩu nhiều lần, thuận lợi cho quá trình tổ chức và
thực hiện hợp đồng nhập khẩu
2 Đàm phán và ký kết hợp đồng
Sau khi phòng kinh doanh ký kết được các hợp đồng đầu ra dưới sự hỗ trợ
của phòng kỹ thuật và phòng vật tư – XNK hay nói cách khác các dự án tham
gia chào thầu đã trúng thầu thì phòng kinh doanh chuyển các hợp đồng đầu ra
này cho phòng kỹ thuật để phòng kỹ thuật bóc tách chi tiết các thông số Kỹ
thuật của các vật tư thiết bị cần thiết trong dự án, chuyển cho phòng vật tư –
XNK để phòng vật tư lên kế hoạch mua hàng, chuyển cho phòng kế hoạch vật
tư dưới nhà máy để lên kế hoạch sản xuất cũng như lắp ráp hàng hoá để giao
hàng đúng thời hạn như đã cam kết trong hợp đồng đầu ra
Sau khi nhận được hợp đồng đầu ra từ phòng kinh doanh chuyển sang
phòng vật tư – XNK tổ chức mua vật tư đáp ứng yêu cầu của các dự án đã chào
thầu cả về yếu tố kỹ thuật cũng như yếu tố giá cả
Trang 182.1 Tổng hợp vật tư cần mua.
Phòng kỹ thuật nhận được hợp đồng đầu ra từ phòng kinh doanh sẽ bóc
tách chi tiết các thông số kỹ thuật của các vật tư trong dự án và chuyển cho
phòng vật tư để tổ chức mua hàng
Phòng vật tư- XNK giao dự án cho một cán bộ trong phòng phụ trách cụ
thể Thông thường cán bộ vật tư tổng hợp vật tư của nhiều dự án đã trúng thầu
và đã được phòng kỹ thuật bóc tách thông số kỹ thuật chi tiết để đặt ghép trong
một hợp đồng hoặc trong một đơn đặt hàng để tiết kiệm thời gian cũng như chi
phí trong quá trình đàm phán, ký kết, vận tải và làm thủ tục hải quan
Khi nhận được các bản bóc tách thông số kỹ thuật của các dự án từ phòng
kỹ thuật gửi sang cán bộ vật tư sẽ lập một bảng tổng hợp danh mục vật tư cần
mua cho các dự án, đây chính là cơ sở để mua hàng nên bảng này cần độ chính
xác rất cao Bảng bao gồm: tên các dự án, tên vật tư, thông số kỹ thuật, tên nhà
cung cấp, đặc biệt trong một loại vật tư cần nêu rõ số lượng cần
mua cho từng dự án để có thể tiện kiểm tra cũng như phân bổ vật tư cho từng dự
án khi hàng về, tổng hợp số lượng cần mua cho từng loại vật tư
Để đảm bảo độ chính xác của bảng tổng hợp vật tư cần chú ý những điểm
sau:
-Trong một số dự án tên hàng có thể giống nhau nhưng mã thiết bị lại
khác nhau mà các thông số kỹ thuật của một thiết bị được thể hiện thông qua mã
của thiết bị đó Vậy khi tổng hợp vật tư để đặt ghép cho các dự án cần quan tâm
nhiều đến mã thiết bị hơn là tên hàng
- Do cột tổng hợp số lượng cần mua của từng loại vật tư tính được bằng
hàm sum trong excel nên cần copy cột tổng hợp này sang cột bên cạnh để lấy cơ
sở đối chiếu khi hai cột có mâu thuẫn về số lượng, do chỉ cần thay đổi một số
liệu trong bảng tổng hợp sẽ khiến cột tổng hợp dùng hàm sum tự thay đổi số
lượng
Trang 192.2 Hỏi hàng và đàm phán giá
Sau khi tổng hợp xong danh mục vật tư của các dự án cán bộ vật tư bắt
đầu thực hiện việc hỏi hàng để có bảng báo giá vật tư từ các nhà cung cấp
Khi thực hiện việc hỏi hàng, yêu cầu báo giá để mở hợp đồng cần chú ý
đến thứ tự ưu tiên về thời gian hỏi hàng cho từng vật tư Với các nhà cung cấp
như Siemens ( cung cấp rơle giám sát mạch cắt và rơle đi cắt và khoá) thì sau
khi mở L/C mới sản xuất hàng nên cần phải ưu tiên hỏi hàng và mở hợp đồng
sớm để hàng về kịp tiến độ giao hàng
- Đối với các dự án mà chủ nhiệm dự án tham gia thầu đã được khách
hàng chọn nhà cung cấp thì cán bộ vật tư không cần tìm nhà cung cấp mà hỏi
hàng luôn Cán bộ vật tư thông báo cho nhà cung cấp tên hàng, thông số kỹ thuât,
để yêu cầu báo giá
Báo giá nhận được sẽ bao gồm đơn giá cho từng thiết bị kèm theo điều
kiện giao hàng ( CIF, FOB, CIP…), thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng,
phương thức thanh toán , thời gian hiệu lực của báo giá Sau khi nhận được bản
báo giá từ nhà cung cấp cán bộ vật tư tiến hành so sánh giá của nhà cung cấp
chào với giá vật tư khi chào thầu với mục đích kiểm tra giá chào đó có cao hơn
giá thiết kế chào thầu không, nếu cao hơn thì dự án sẽ lỗ do giá chào thầu chính
là giá của hợp đồng đầu ra bán cho khách hàng, so sánh với giá mua của các dự
án đã thực hiện để xem mức giá chào như thế đã tốt chưa, nếu cao hơn giá chào
thầu và giá đã từng mua thì cần đàm phán Đàm phán giữa cán bộ vật tư và nhà
cung cấp thường tiến hành qua email hoặc điện thoại
Sau khi so sánh nếu thấy giá vật tư cao hơn giá chào thầu thì cán bộ vật tư
chủ động đàm phán với nhà cung cấp Trong quá trình đàm phán nếu nhà cung
cấp nhất định không giảm giá để có được mức gía thấp hơn hoặc ít nhất là bằng
giá chào thầu thì cán bộ vật tư cần yêu cầu chủ nhiệm dự án đưa ra báo giá nhà
cung cấp đã chào cho chủ nhiệm dự án khi chủ nhiệm dự án chào thầu để làm
Trang 20căn cứ yêu cầu nhà cung cấp phải giảm giá Đối với các trường hợp đặc biệt do
giá thị trường biến động quá mạnh nhà cung cấp không thể giữ mức giá như đã
chào cho chủ nhiệm dự án thì cán bộ vật tư đàm phán với nhà cung cấp để phần
chênh lệch giữa giá chào thầu và giá nhà cung cấp báo giá cho cán bộ vật tư khi
hỏi hàng mỗi bên phải chịu một nửa để đảm bảo quyền lợi của hai bên cùng như
duy trì sự hợp tác lâu dài và tốt đẹp giữa nhà cung cấp và Việt á
- Đối với trường hợp trong hợp đồng đầu ra chưa qui định rõ tên nhà cung
cấp thì cán bộ vật tư sẽ phải tìm ít nhất 3 nhà cung cấp để so sánh ( trừ trường
hợp ngoại lệ như hàng đặc chủng không đủ 3 nhà cung cấp hoặc hàng có giá trị
quá thấp) Sau khi nhận được báo giá từ nhà cung cấp cán bộ vật tư sẽ lập bảng
đánh giá nhà cung cấp Bảng này bao gồm tên nhà cung cấp, tên
thiết bị cùng thông số kỹ thuật, mức giá từng nhà cung cấp chào, ghi chú những
điều kiện ưu tiên nhà cung cấp, ví dụ: khi mua cáp điện điểm ưu tiên khi lựa
chọn nhà cung cấp là mầu của cáp để dễ nhận biết cho thợ khi nối dây Sau khi
lập xong bảng đánh giá nhà cung cấp cán bộ vật tư sẽ trình cho trưởng phòng để
cùng thảo luận và lựa chọn nhà cung cấp và nhà cung cấp được lựa chọn cần có
sự phê duyệt của trưởng phòng, giám đốc Khi đã lựa chọn được nhà cung cấp
cũng như thống nhất được mức giá phù hợp với yêu cầu của hợp đồng đầu ra thì
cán bộ vật tư sẽ tiến hành mở hợp đồng hoặc đơn hàng
2.3 Đàm phán các điều khoản trong hợp đồng hợp đồng
Sau khi đã thống nhất được mức giá với nhà cung cấp thì cán bộ vật tư
tiến hành đàm phán để mở hợp đông hoặc đơn hàng (mẫu hợp đồng xem phụ lục
số 1) Tổng giá trị vật tư đặt hàng nhỏ hơn 10,000 USD thì sẽ mở đơn hàng, lớn
hơn 10,000USD sẽ mở hợp đồng, nhưng trường hợp mở đơn hàng chủ yếu khi
mua vật tư thiết bị trong nước với tổng giá trị thấp còn khi nhập khẩu chủ yếu sẽ
phải mở hợp đồng nhập khẩu ( đơn hàng đơn giản hơn hợp đồng nhập khẩu ở
chỗ chỉ có địa chỉ bên mua, bán, danh mục vật tư cung cấp, tổng giá trị đơn hàng,
thời hạn giao hàng, địa chỉ giao hàng tại kho bên bán, và chủ yếu thanh toán
bằng T.T.R
Trang 21- Trong quá trình ký kết hợp đồng cần chú ý kiểm tra lại danh mục vật tư
đặt hàng xem đã khớp với danh mục vật tư tổng hợp các dự án để đặt ghép trong
một hợp đồng và kiểm tra lại số lượng vật tư yêu cầu đặt hàng trong từng dự án
để tránh sai sót đặt nhầm, đặt thiếu
- Các hợp đồng nhập khẩu Việt á thường ký với điều kiện cơ sở giao
hàng là CIP Nội Bài, CIF Hải Phòng, FOB, hay EXW, với các điều kiện CIP,
CIF thì người bán sẽ phải làm thủ tục thông quan tại nước xuất khẩu, mua bảo
hiểm cho hàng hoá cũng như chịu nghĩa vụ vận chuyển hàng, còn với điều kiện
FOB hay EXW thì nghĩa vụ mua bảo hiểm và vận tải là Việt á phải thực hiện,
ngoài ra với điều kiện EXW thì Việt á còn phải thực hiện thông quan hàng hoá
tại nước xuất khẩu Do vậy với các điều kiện FOB, EXW Việt á cần chủ động
liên hệ tìm hiểu cước vận tải trước khi kí kết Khi tìm hiểu cước vận tải, nếu
chưa có các thông số về kích cỡ hàng hoá, trọng lượng, chiều cao của hàng, cán
bộ vật tư cần tham khảo các hợp đồng mua các vật tư thiết bị đã ký để biết trọng
lượng cũng như kích cỡ hàng hoá để từ đó có được giá tham khảo cước vận
chuyển hàng hoá và hỏi giá tối thiểu 3 hãng vận tải
Ngoài ra biết được mức cước vận chuyển hàng hoá còn giúp cho Việt á có
cơ sở để quyết định có nên nhờ người bán thuê hộ hãng vận tải khi ký hợp đồng
mua theo cơ sở giao hàng FOB và EXW hay không, Ví dụ : trong hợp đồng
CT-47L/VAE-CEWE, Việt á mua theo điều kiện cơ sở giao hàng EXW từ hãng
CEWE Instrument AB ( hãng này cung cấp hàng đồng hồ volt và ampe ) CEWE
có đề nghị thuê hộ phương tiện vận tải cho Việt á với giá 370 EUR nhưng Việt á
đã từ chối do tham khảo các hợp đồng đã từng kí với CEWE về loại đồng hồ
trên và những hợp đồng này cũng đã kí theo điều kiện cơ sở giao hàng EXW thì
cước phí vận tải Việt á tự thuê của Vietfracht chỉ là 350USD – một sự chênh
lệch khá lớn
- Trong điều kiện thanh toán cần chú ý xem phương thức thanh toán là
T.T.R hay qua L/C Thông thường các hợp đồng nhập khẩu Việt á thường thanh
toán qua L/ C để có thời gian sử dụng vốn hiệu quả hơn ( do nếu thanh toán qua
Trang 22T.T.R thì 100% sẽ phải thanh toán trước, với những hợp đồng có giá trị lớn sẽ
gây khó khăn trong việc huy động vốn do trong kinh doanh vốn tự có không đủ
để thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh mà cần phải vay thêm vốn ngân hàng
– những thủ tục vay vốn này rất phức tạp )
- Cần chú ý đến bộ chứng từ xuất trình khi thanh toán, bộ chứng từ này
thường bao gồm ( cơ sở để yêu cầu một bộ chứng từ như vậy xuất phát từ yêu
cầu về chứng từ trong hợp đồng đầu ra của bên mua ( hợp đồng Việt á kí với bên
mời thầu khi đã trúng thầu các dự án)):
+ 2/3 bộ vận đơn gốc B/L ( nếu vận chuyển bằng đường biển) hoặc AWB
( nếu vận chuyển bằng đường hàng không ) “ order of the L/C issuing bank “,
cước đã trả
+ Hoá đơn thương mại đã kí ( signed commercial invoice ) 3 bản gốc, 3
bản copy
+ Hoá đơn đóng gói chi tiết ( detail packing list) 3 bản gốc, 3 bản copy
+ Chứng từ bảo hiểm nếu mua theo điều kiện CIP hoặc CIF ( certificate of
insurance ) 2 bản gốc
+ Chứng nhận xuất xứ hàng hoá C/O 1 bản gốc và 2 bản copy
+ Chứng nhận bảo hành của nhà sản xuất ( C/ W) , chứng từ này đặc biệt
quan trọng vì các thiết bị Việt á nhập khẩu là các thiết bị kỹ thuật nên thời gian
và chi phí bảo hành cần được chú ý và thoả thuận rõ ràng, thời gian bảo hành
thường là 18-24 tháng tính từ ngày vận đơn
+ Chứng chỉ kiểm tra xuất xưởng của nhà sản xuất (test report) - điều này
là cần thiết do các thiết bị Việt á nhập khẩu có hàm lượng kĩ thuật cao, chứng
chỉ này chính là cơ sở để kiểm tra chất lượng kĩ thuật của thiết bị và là cơ sở để
giải quyết nếu xảy ra tranh chấp
- Cần chú ý thời gian giao hàng, do thời gian giao hàng sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến việc có giao hàng kịp thời gian đã kí trong hợp đồng đầu ra hay không.,
nếu giao hàng không kịp dự án sẽ chậm trễ và bị phạt rất nặng Thông thường,
nếu hợp đồng đầu ra đặt <10 tủ trung thế, hạ thế hoặc tủ điều khiển bảo vệ thì bộ
Trang 23phận sản xuất của nhà máy cần 2 tuần để lắp ráp và giao hàng, nhưng nếu >10 tủ
thì cần 1 tháng, do vậy cần chú ý thời gian giao hàng để có vật tư về đúng tiến
độ sao cho nhà máy kịp lắp và giao hàng đúng thời gian cam kết trong hợp đồng
đầu ra
- Đối với điều khoản bảo hành, do đặc điểm hàng nhập khẩu của Việt á là
hàng thiết bị kỹ thuật có hàm lượng công nghệ cao nên điều khoản bảo hành rất
quan trọng, nó liên quan đến chi phí bảo hành và thời hạn bảo hành Khi soạn
điều khoản này cán bộ vật tư rất chú ý tới những cam kết về điều khoản bảo
hành trong hợp đồng đầu ra Việt á từ đó đàm phán với nhà cung cấp cho phù
hợp Thông thường nếu mua hàng theo điều kiện cơ sở giao hàng nào thì sẽ bảo
hành theo điều kiện cơ sở giao hàng đó, nhưng với một số nhà cung cấp như
AREVA, Siemens cán bộ vật tư đã đàm phán được hàng bảo hành sẽ giao theo
điều kiện DDP, điều này đã tiết kiệm được cho Việt á rất nhiều tiền vận chuyển
cũng như các thủ tục phức tạp như thông quan hàng bảo hành ( thuộc nhóm hàng
phi mậu dịch )
- Điều khoản ký mã hiệu và đóng gói ngoài việc đảm bảo các yêu cầu
trong vận chuyển cũng cần qui định cụ thể phù hợp với hợp đồng cũng như với
qui định hải quan để giúp cho quá trình làm thủ tục hải quan được nhanh chóng
và thuận lợi
Điều đặc biệt lưu ý khi mở hợp đồng là cần phải xem xét kĩ hợp đồng đầu
ra để trong hợp đồng với nhà cung cấp ( hợp đồng đầu vào ) qui định được đầy
đủ các điều kiện về chứng từ, về thời hạn giao hàng, cũng như về điều kiện bảo
hành đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng trong hợp đồng đầu ra để tạo
điều kiện thuận lợi cho Việt á trong qua trình thực hiện hợp đồng
2.4 Ký kết hợp đồng nhập khẩu
Sau khi công ty và đối tác đã hoàn thành việc đàm phán thì tiến hành ký
kết hợp đồng Khi ký hợp đồng với phía đối tác nước ngoài công ty luôn chú ý:
Trang 24- Khi ký hợp đồng với đại diện văn phòng nước ngoài ở Việt Nam, yêu
cầu phải có giấy uỷ quyền cuả Giám đốc công ty đó và Giám đốc công ty đó sẽ
đứng tên người bán trong hợp đồng
Do mặt hàng kinh doanh của công ty là thiết bị điện cần có sự chính xác
cao về chi tiết kỹ thuật, điều kiện chất lượng luôn được đặt lên hàng đầu nên
điều khoản về hàng hoá, bảo hành, kiểm tra phải được lập chi tiết, cụ thể và rõ
ràng, từ ngữ dùng phải thoát ý, tránh hiểu nhầm, hiểu sai.Chi tiết cụ thể của hợp
đồng tham khảo phần Phụ lục Mọi hợp đồng của công ty đều được ký trên văn
bản Riêng với những hợp đồng ký bằng fax ( áp dụng với những hợp đồng có
giá trị nhỏ ), ngay sau khi ký thì phải gửi ngay văn bản gốc cho đối tác để đối tác
ký và gửi trả lại cho công ty nhằm có bộ hồ sơ gốc lưu trữ lâu dài, đề phòng có
những bất trắc trong tranh chấp về sau
Bảng 5: Số lượng hợp đồng, kim ngạch nhập khẩu được thực hiện
Nguồn: Báo cáo tình hình nhập khẩu của công ty từ năm 2004 đến 2006
Nhìn vào bảng trên ta thấy số lượng của các hợp đồng được ký kết tăng
lên theo các năm, chứng tỏ hiệu quả kinh doanh cũng như uy tín của công ty tới
mặt hàng thiết bị điện ngày càng tăng
3 Tổ chức thực hiện hợp đồng
3.1 Lập phương án vay vốn
Sau khi mở được tất cả các hợp đồng nhập khẩu và hợp đồng cũng như
đơn hàng trong nước thì cán bộ vật tư phụ trách dự án phải lên một phương án
vay vốn để chuyển cho phòng kế toán để phòng kế toán thực hiện vay vốn ngân
hàng ( nếu vốn tự có của công ty không đủ để thanh toán toàn bộ giá trị hợp
Trang 25đồng đầu vào ) hoặc dùng vốn tự có, nếu vay vốn ngân hàng cần chú ý vốn vay
không được vượt quá 75% giá trị hợp đồng đầu ra
Trong phương án vốn cán bộ vật tư phải nêu rõ được số hợp đồng, tên nhà
cung cấp/ thiết bị nhập khẩu hoặc mua trong nước, giá trị hợp đồng, phương
thức thanh toán ( qua L/ C hay T.T.R) thời hạn mở L/ C hay thời hạn chuyển
tiền, ghi chú ( do một số nhà cung cấp như ABB chỉ giao hàng rơle 10 tuần sau
ngày mở L/ C hoặc T.T.R, Siemens chỉ sản xuất hàng sau khi mở L/C, nên cần
chú ý kế toán để mở L/C hoặc chuyển tiền cho đúng thời hạn yêu cầu )
Sau khi lập xong phương án vốn cán bộ vật tư chuyển các bản copy hợp
đồng và đơn hàng cho kế toán ngân hàng để kế toán ngân hàng làm thủ tục vay
vốn ngân hàng Còn bản gốc được chuyển cho kế toán vật tư (chú ý yêu cầu kế
toán kí nhận) để kế toán sẽ làm thủ tục thanh toán cho nhà cung cấp, cán bộ vật
tư giữ lại một bộ copy hợp đồng và đơn hàng để theo dõi hàng
3.2 Mở L/C hoặc chuyển tiền T.T.R
- Mở L/C là việc đầu tiên và quan trọng để người nhập khẩu thực hiện
được các hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng L/C Đối với các hợp
đồng thanh toán qua L/C thì cán bộ vật tư cần lập đơn đề nghị mở L/C gửi cho
phòng kế toán để phòng kế toán chịu trách nhiệm mở L/C thanh toán cho nhà
cung cấp ( đơn đề nghị mở L/C xem phụ lục số 2 ) Theo như việc đàm phán
trước khi ký hợp đồng, công ty và đối tác nước ngoài đã thoả thuận mở L/C tại
ngân hàng xác định, do đó sau khi ký hợp đồng công ty chỉ việc chuẩn bị các
giấy tờ cần thiết mang đến ngân hàng đó để làm thủ tục xin mở L/C Các ngân
hàng mà công ty Việt á thường mở là ngân hàng Cổ phần thương mại quân đội
(MCSB), ngân hàng cổ phần nhà Hà Nội (HABUBANK), các ngân hàng đầu tư
và phát triển, ngân hàng ngoại thương ( Vietcombank)
Để tiến hành mở L/C, công ty căn cứ vào các điều khoản của hợp đồng
nhập khẩu để đến ngân hàng làm đơn xin mở L/C (theo mẫu in sẵn của từng
ngân hàng) Trong đơn xin mở L/C phải đề cập đầy đủ những nội dung chính
Trang 26theo quy định Ngoài đơn xin mở L/C cùng với các chứng từ khác như bản sao
hợp đồng nhập khẩu, giấy cam kết thanh toán của công ty được chuyển đến ngân
hàng mở L/C cùng với 2 uỷ nhiệm chi: một uỷ nhiệm chi để ký quỹ theo quy
định về việc mở L/C và một uỷ nhiệm chi nữa để trả thủ tục phí cho ngân hàng
về việc mở L/C Thông thường phí để trả cho ngân hàng về việc mở L/C là
0,35% giá trị hợp đồng, mức ký quỹ là 10% giá trị hợp đồng đối với những hợp
đồng được mở tại ngân hàng Cổ phần thương mại quân đội, ngân hàng cổ phần
nhà Hà Nội (HABUBANK), các ngân hàng đầu tư và phát triển Cũng có trường
hợp công ty không cần ký quỹ khi công ty và ngân hàng có quan hệ giao dịch
thường xuyên và đã hoàn toàn tin tưởng vào nhau như ngân hàng Ngoại thương
(VIETCOMBANK) Hoặc cũng có trường hợp công ty phải ký quỹ 100% khi
công ty và ngân hàng lần đầu tiên giao dịch với nhau hoặc hai bên chưa có đủ độ
tin cậy nhất định Ví dụ trong hợp đồng số 02-CT-005/VA-
oristar ngày 23 tháng 4 năm 2002, oristar là đối tác mới, độ tin cậy chưa cao và
đối tác lại yêu cầu mở L/C tại ngân hàng thương mại cổ phần á Châu Hà Nội
(ACB Hà Nội) là ngân hàng mà công ty chưa mở tài khoản nên khi tiến hành mở
L/C công ty phải ký quỹ 100%
Sau khi đã làm xong mọi thủ tục mở L/C, ngân hàng sẽ phát hành một
L/C, công ty phải kiểm tra nếu thấy L/C đúng thì yêu cầu ngân hàng chuyển cho
bên xuất khẩu, nếu thấy chưa đúng yêu cầu ngân hàng sửa đổi ( mẫu L/C xem
phụ lục số 3)
- Với những hợp đồng thanh toán bằng phương thức chuyển tiền
thì cán bộ vật tư làm đơn đề nghị chuyển tiền rồi chuyển lên cho
kế toán để kế toán làm thủ tục chuyển tiền Sau khi chuyển tiền cán bộ vật tư cần bản T.T.R ngân hàng chứng nhận đã chuyển tiền vào tài khoản người hưởng lợi để scan lên rồi gửi cho nhà cung cấp làm bằng chứng mình đã chuyển tiền và yêu
Trang 27cầu nhà cung cấp chuyển hàng và gửi invoice, packing list để cán bộ vật tư liên
hệ với hãng vận tải để thuê phương tiện vận tải ( với những hợp đồng nhập khẩu
theo điều kiện cơ sở giao hàng EXW hay FOB) ( mẫu T.T.R xem phụ lục số 4 )
3.3 Thuê phương tiện vận tải
Khi kí kết các hợp đồng nhập khẩu theo điều kiện cơ sở giao hàng EXW
hay FOB thì Việt á cần liên hệ với các hãng vận tải để thuê phương tiện vận tải
Bảng 6: Số lượng hợp đồng được thực hiện
Nguồn: báo cáo tình hình nhập khẩu từ năm 2004-2006
Một số công ty hàng hải mà công ty có quan hệ giao dịch đó là: công ty
thuê tàu và môi giới hàng hoá (Vietfracht), công ty đại lý tàu biển (VOSA) và
các hãng vận tải nước ngoài có đại lý tại Việt Nam
Khi nhà cung cấp thông báo hàng đã sẵn sàng được giao thì cán bộ vật tư
sẽ yêu cầu nhà cung cấp cung cấp những thông tin cần thiết như trọng lượng
hàng, kích thước của hàng ( chiều dài, chiều rộng, chiều cao ) để có thông tin
yêu cầu các hãng vận tải báo mức cước phí, cán bộ vật tư cần yêu cầu ít nhất 3
hãng vận tải báo cước phí vận tải Sau khi nhận được báo giá của các hãng vận
tải cán bộ vật tư lập bảng đánh giá nhà cung cấp để so sánh lựa chọn hãng vận
tải phù hợp nhất đó là hãng vận tải chào được mức cước tốt nhất cũng như có
khả năng giao hàng cho Việt á trong thời gian ngắn nhất Sau khi chọn được
hãng vận tải phù hợp, cán bộ vật tư gửi chấp nhận chào giá vận tải cho hãng tàu,
khi hãng tàu nhận được thông báo chấp nhận chào giá vận tải của Việt á thì hãng
tàu sẽ fax cho Việt á “ booking note “ ( mẫu booking note xem phụ lục số 5) lúc
này có thể coi như hợp đồng vận tải đã được kí kết giữa hãng tàu và Việt á
3.4 Mua bảo hiểm hàng hoá
Trang 28Khi kí kết các hợp đồng nhập khẩu theo điều kiện cơ sở giao hàng CIP
hay CIF thì Việt á sẽ thực hiện nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hoá
Công ty TNHH thiết bị điện Việt á thường mua bảo hiểm hàng hoá nhập
khẩu tại công ty bảo hiểm Việt Nam - Bảo Việt, do đây là công ty Nhà nước
được công ty tín nhiệm, bên cạnh đó công ty cũng mua bảo hiểm của công ty cổ
phần bảo hiểm Bưu điện Thông thường công ty mua bảo hiểm chuyến, với trách
nhiệm đối với tổn thất cả hàng nhập khẩu của công ty trong phạm vi một chuyến
hàng theo điều khoản từ kho đến kho, còn công ty cũng có nghĩa vụ phải nộp phí
bảo hiểm cho chuyến hàng đó, với công ty Bảo Việt thì tỷ lệ phí bảo hiểm là
0,35% giá trị bảo hiểm, còn đối với công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện thì tỷ lệ
phí bảo hiểm là 0,50% giá trị bảo hiểm Khi đó, công ty Việt á gửi “giấy yêu cầu
bảo hiểm hàng hoá” đến công ty Bảo Việt theo mẫu của họ để yêu cầu bảo hiểm
cho hàng nhập khẩu trong chuyến đó Sau đó, công ty bảo hiểm sẽ cung cấp cho
công ty một “đơn bảo hiểm hàng hoá” dựa theo giấy yêu cầu bảo hiểm mà công
ty gửi đến Nội dung của đơn bảo hiểm dựa theo giấy yêu cầu bảo hiểm mà công
ty gửi đến
Trong quá trình thực hiện khâu này, công ty luôn cố gắng để mua được
bảo hiểm một cách sớm nhất có thể, nộp phí và lệ phí bảo hiểm đầy đủ và đúng
hạn đề phòng những bất trắc có thể xảy ra Khi lập chứng từ bảo hiểm cán bộ
công ty thường lưu ý các điểm sau:
+ Giá trị bảo hiểm thường bằng 110% trị giá CIF hoặc CIP của hàng nhập
khẩu
+ Đồng tiền sử dụng trong đơn bảo hiểm phải cùng loại với đồng tiền sử
dụng trong L/C
+ Tên tàu chở hàng và cảng đến phải được nêu đích xác
+ Các rủi ro được bảo hiểm phải khớp với các điều quy định của L/C
+ Các đặc điểm của hàng phải khớp với các đặc điểm ghi trong vận đơn