Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam đó thểchế ở mức cao một nhu cầu rất cơ bản về an sinh xã hội của con người baogồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, trong đóBHXH tự ngu
Trang 1MỤC LỤC
I Lời mở đầu
II Vài nét về BHXH
1 Khái niệm về BHXH
2 Đối tượng và phạm vi của BHXH
3 Sự cần thiết khách quan của BHXH
4 Bản chất và chức năng của BHXH
III Những vấn đề cơ bản về BHXH khu vực phi chính thức
1 Khái niệm khu vực lao động phi chính thức
2 Vị trí và vai trò của khu vực lao động phi chính thức trong nền kinh tế-xã hội
3 Khái niệm BHXH tự nguyện
4 Hạn chế của chính sách an sinh xã hội đến khu vực lao động phi chính thức
IV Thực trạng BHXH khu vực phi chính thức
Trang 2I Lời mở đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một bộ phận lớn nhất trong hệ thống an sinh xãhội (ASXH), là trụ cột cơ bản của ASXH BHXH được hình thành từ hàngtrăm năm trước đây, khi kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển BHXH đãtrải qua một quá trình phát triển và thay đổi cả về mô hình nội dung và hìnhthức thực hiện, từ chế độ BHXH đầu tiên được thực hiện là chế độ bảo hiểmkhi ốm đau đến nay đã có 9 chế độ BHXH được thực hiện trên thế giới, đồngthời đối tượng tham gia BHXH cũng được mở rộng theo Một trong nhữngmục tiêu và triết lý của BHXH là ổn định và phát triển xã hội, đảm bảo cácđiều kiện cơ bản, thiết yếu của đời sống con người
Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt nỗ lực hướng vào và phát huymọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao khảnăng cạnh tranh của nền kinh tế, tạo ra bước phát triển bền vững và ngàycàng phồn vinh cho đất nước; mặt khác, không ngừng hoàn thiện hệ thốngASXH, trước hết là BHXH để giúp cho con người, người lao động có khảnăng chống đỡ với các rủi ro xã hội, đặc biệt là rủi ro trong kinh tế thị trường
và rủi ro xã hội khác Kinh tế ngày càng phát triển theo hướng thị trường, thìASXH càng phải đảm bảo tốt hơn
Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng thực hiện cácchính sách xã hội đối với người lao động Chính vì vậy, ngay từ khi thànhlập nước, Chính phủ đã ban hành các đạo luật về BHXH Chính sách BHXHtrong từng thời kỳ đã đóng vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo ASXH chođất nước Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài chính sách BHXH cũng chỉphục vụ đối tượng người lao động thuộc các cơ quan và doanh nghiệp nhànước Đến năm 1995, khi Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 1tháng 1 năm 1995, tại Điều 140 đó quy định các loại hình bảo hiểm xã hộibắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với từng loại đối tượng và từngloại doanh nghiệp để bảo đảm cho người lao động được hưởng các chế độbảo hiểm thích hợp
Trang 3 Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập sâuvào nền kinh tế thế giới, thì hệ thống an sinh xã hội, nhất là BHXH phảiđược phát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của người lao động, của nhândân, là một trong những nhu cầu rất cơ bản của con người Bên cạnh việcban hành các chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, Nhànước luôn quan tâm và coi trọng thực hiện các chính sách xã hội đối vớingười lao động Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
đã chỉ rõ: "Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống bảo hiểm xã hội và an
sinh xã hội Tiến tới áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân" Vì vậy, việc thực hiện chính sách BHXH tự
nguyện đối với người lao động khu vực phi chính thức là hết sức cần thiết
Luật BHXH ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007 Riêng chế độ BHXH tựnguyện được áp dụng từ năm 2008 Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam đó thểchế ở mức cao một nhu cầu rất cơ bản về an sinh xã hội của con người (baogồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), trong đóBHXH tự nguyện chủ yếu cho đối tượng là người lao động khu vực phichính thức tức là người lao động làm việc không thuộc phạm vi tham giaBHXH bắt buộc Như vậy, lần đầu tiên người lao động ở mọi khu vực cóquyền lợi trong tham gia BHXH và thụ hưởng chính sách BHXH
Tuy nhiên, qua nhiều năm việc thực hiện chính sách BHXH ở khu vực phichính thức vẫn nhiều nhiều vấn đề bất cập và hạn chế như : làm thế nào đểngười lao động nhận thức được sự cần thiết tham gia BHXH, giải pháp nàogiải quyết việc tham gia BHXH của người lao động khi thu nhập bấp bênh,vấn đề thể chế và tổ chức thực hiện, đội ngũ cán bộ thi hành,…
Nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về BHXH, mà cụ thể là BHXH tự nguyệnkhu vực phi chính thức cũng như hoàn thành bài tiểu luận cuối kỳ môn chính
sách xã hội, tôi đã chọn đề tài: “ Tìm hiểu về bảo hiểm xã hội tự nguyện
khu vực phi chính thức ”.
Trang 4II Vài nét về BHXH
1 Khái niệm về BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngườilao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng laođộng, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tậptrung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phầnđảm bảo an toàn xã hội
2 Đối tượng và phạm vi BHXH
a) Đối tượng của BHXH
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm vàđến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới Tuy BHXH ra đờisớm như vậy nhưng một số khái niệm cơ bản của chúng như: đối tượng thamgia, đối tượng được bảo hiểm, đối tượng thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm đôikhi còn có sự nhầm lẫn và có nhiều quan điểm chưa thống nhất Có nhiều lúccòn lẫn lỗn giữa đối tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH
Như chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bịgiảm hoặc mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm vì các nguyên nhân như: ốm đâu, tai nạn, già yếu…Chính vìvậy, đối tượng bảo hiểm xã hội chính là thu nhập của người lao động bị biếnđộng giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việclàm
Người lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tượng tham gia, vừa là đốitượng được bảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH(chiếm phần lớn trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm BHXH)
Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có người sửdụng lao động và Nhà nước Sở dĩ người sử dụng lao động tham gia vàoBHXH là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, mộtphần là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua cac văn bản quy phạm phápluật Đối với Nhà nước thì khác, họ tham gia BHXH với tư cách là : chủ sở
Trang 5hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức và những người hưởnglương từ ngân sách Nhà nước là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể làbảo hộ giá trị của quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ nhằm tạo
sự ổn định cho quỹ và sự phát triển xã hội
Đối tượng được bảo hiểm xã hội trong quan hệ BHXH ngoài người lao độngcòn có người sử dụng lao động Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thìngười sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ Điều này có nghĩa là
họ phải bỏ ra một khoản chi phí cho người lao động, nhưng thực tế chi phínày nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại
Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là người lao động trong trường hợp
họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,hưu trí Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thìđối tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hôi lại là thân nhân của người laođộng như: bố, mẹ, con, vợ (chồng)
Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Tùy điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơ-ne-vơ thựchiện kiến nghị đó ở mức độ khác nhau
Trang 6Ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
3 Sự cần thiết khách quan của BHXH
Con người muốn tồn tài và phát triển được trước hết phải ăn, ở và đi lại,…
Để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ranhững sản phẩm cần thiết Khi sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều thì đời sốngcon người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn.Như vậy, việc thỏa mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của conngười phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhưng trong thực tế,con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọiđiều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khănbất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thunhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Khi rơi vào những trường hợp này,các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cáicòn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới khác Bởivậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phảitìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùmbọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay;mượn hoặc dựa vào sự cứutrợ của Nhà nước,…Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và khôngchắc chắn
Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổbiến Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phảicam kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họtrang trải những nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản,…Nhưngthực tế, nhiều trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi trảđồng nào Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ratrong một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn Vì thế, mâu thuẫnchủ-thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam
Trang 7kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặtđến đời sống kt-xh Do vậy, Nhà nước phải đứng ra can thiệp và điều hòamâu thuẫn.
Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cácgiới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng thángđược tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với ngườilàm thuê Số tiền đống góp này hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trênphạm vi quốc gia Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cầnthiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cốbất lợi Chính vì thế, cuộc sống của người lao động và gia định họ ngày càngđược đảm bảo ổn định, giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sảnxuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cầnthiết
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đượcthế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy, BHXH là sựđảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họgặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làmtrên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đờisống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội
4 Bản chất và chức năng của BHXH
a) Bản chất của BHXH
BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong
xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệthuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế càng pháttriển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nềntảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước
Mối quan hệ giữa cái bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động
và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH
Trang 8Bên tham gia là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng laođộng Bên BHXH là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ.Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiệnràng buộc cần thiết.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trongBHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái ý muốn trái với chủ quan củacon người như : ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,…Hoặc cũng cóthể là trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,
…Đồng thời những biến cố đó có thế diễn ra cả trong và ngoài lao động
Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải nhữngbiến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tập trungđược tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủyếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ của Nhà nước
Mục tiêu của BHXH là nhằm thõa mãn những nhu cầu cần thiết của ngườilao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm
b) Chức năng của BHXH
BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội của Đảng
và Nhà nước ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham giaBHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặcmất việc làm
Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham giaBHXH, góp phần thực hiện công bằng xã hội
Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng caonăng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa ngườilao động với xã hội
Trang 9III Những vấn đề cơ bản về BHXH khu vực phi chính thức
1 Khái niệm khu vực lao động phi chính thức
Theo ILO (tổ chức lao động quốc tế), khu vực phi chính thức hiểu một cáchchung nhất là một tập hợp các đơn vị sản xuất kinh doanh ra sản phẩm vậtchất và dịch vụ với mục tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm và thunhập cho những người có liên quan Khái niệm của ILO về khu vực phichính thức đã coi các đơn vị sản xuất kinh doanh là đơn vị quan sát Các đơn
vị này mang những đặc điểm của hộ sản xuất kinh doanh, không có tư cáchpháp nhân, chưa đăng ký hoặc có quy mô nhỏ Định nghĩa của ILO cũng loạitrừ lĩnh vực nông nghiệp ra khỏi khu vực phi chính thức
Hiện nay, có nhiều quan niệm về khu vực phi chính thức, tuy nhiên cácnghiên cứu đều ngụ ý rằng khu vực không chính thức bao gồm những cơ sởsản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ, không đăng ký kinh doanh, không chịu
sự điều chỉnh của Luật lao động, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, khôngđóng bảo hiểm xã hội (BHXH) và không bao gồm các hoạt động nông lâmngư nghiệp vì các đặc điểm của khu vực phi chính thức rất khác so với hoạtđộng nông nghiệp về mùa vụ, tổ chức lao động, mức tạo thu nhập và tínhpháp lý…
2 Vị trí và vai trò của khu vực lao động phi chính thức trong nền kinh tế-xã hội
Năm 2010, lực lượng lao động của nước ta vào khoảng 48 triệu người, trong
đó lao động khu vực chính thức chiếm 13 triệu người, lao động khu vựckhông chính chức chiếm 11 triệu người, còn lại có gần 24 triệu người làmviệc trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp-chiếm 49% tổng việc làm trongnền kinh tế Cả nước có 8,4 triệu hộ sản xuất, kinh doanh phi chính thức,trong đó 7,4 triệu hộ xem hoạt động trong khu vực này của mình là việc làmchính và 1 triệu hộ xem đó là việc làm thứ hai Thu nhập từ khu vực việc làmphi chính thức chiếm khoảng 30 – 60% tổng thu nhập quốc gia, đóng góp
Trang 1020% tổng GDP của cả nước Nếu nghề nông và việc làm nông nghiệp đượctính vào thì khoảng 73% số việc làm là do kinh tế hộ gia đình cung cấp.
Những người làm việc trong khu vực không chính thức là những lao động tự
do, bao gồm: Thợ uốn tóc, thợ may tại nhà, buôn bán rong, thợ xây dựng tự
do, người hành nghề xe ôm, người giúp việc gia đình… và những người tựnguyện làm công cho người khác mà không được ký hợp đồng lao động.Những hoạt động này ở Việt Nam hiện thu hút được nhiều lao động Nócũng lấp được khoảng trống thiếu hụt về việc làm và thu nhập đối với một bộphần lớn người dân Hiện việc làm trong khu vực không chính thức có gần10,9 triệu người, chiếm 23,5% tổng việc làm Trong đó lao động tự làm là15%, lao động làm thuê là 5,7%, lao động gia đình không hưởng lương 1,9%
và người sử dụng lao động là 0,9%
Trong thời kỳ suy giảm kinh tế vừa qua, khu vực không chính thức đã “gánhđỡ” nhiều cho nền kinh tế của Việt Nam Trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở cácnước đều tăng trước tác động của biến động kinh tế toàn cầu thì tại Việt Nam
số đó lại giảm Đặc biệt, nhờ khởi nguồn từ khu vực này mà không ít doanhnghiệp còn phát đạt, thành công và cung cấp một nguồn việc làm rất lớn.Đơn cử như tại Hà Nội và TP.HCM, khu vực phi chính thức vẫn là nguồncung cấp việc làm lớn nhất (hơn 1 triệu ở Hà Nội và hơn 1,3 triệu ởTP.HCM), chiếm tương ứng 32% và 34% tổng số việc làm ở mỗi thành phố.Giá trị tăng thêm tạo ra bởi khu vực này là 34.000 tỷ đồng ở Hà Nội và40.000 tỷ đồng ở TP.HCM
Đặc điểm của lao động và việc làm trong khu vực phi chính thức thể hiện là
lao động thuộc khu vực phi chính thức và nông thôn có nhiều ở nông thôn vàngoại thành hơn là nội thành: chiếm 67%, tuổi bình quân của lao động khuvực phi chính thức giống như tuổi bình quân của lao động nói chung nhưngtập trung nhiều ở lao động trẻ tuổi và cao tuổi hơn Tỷ lệ phụ nữ của khu vựckhông chính thức thấp hơn đôi chút so với tỷ lệ chung ( ở mức gần 50%)