phổ IR, phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân, phương pháp EDX, phương pháp phân tích nhiệt, phương pháp phổ khối… Tuy nhiên, do các phối tử có nhiều trung tâm tạo phức, nguyên tử kim l
Trang 1tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo; đặc biệt, tôi xin cảm ơn
TS Lê Thị Hồng Hải và TS Ngô Tuấn Cường đã quan tâm, giúp đỡ và
tạo điều kiện để tôi có cơ hội học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Bam giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Hóa học, phòng quản lý sau Đại học và các thầy cô giáo của trường Đại học
sư phạm Hà Nội cũng như các thầy cô giáo của trường Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Sau cùng tôi gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn luôn quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ này!
Hà nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Hải
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QAm :1-metyl-5-bromo-6-hiđroxi-7-etylenđiamin-3-sunfoquinolin DMSO :Đimetyl sunfoxit
DMF :Dimethylformamide
STT :Số thứ tự
s :singlet (vân đơn)
d : doublet (vân đôi)
t : triplet (vân ba)
q : quartet (vân bốn)
terpy : terpyridine
H2dapp : 2,6-diacetylpyridinebis(2'-pyridylhydrazone)
QuinH : quialdic
Trang 3DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1: Cấu tạo của các phối tử LH1, LH2 6
Hình 1.2: Cấu trúc phân tử của các phức chất Zn2(LH1)4 và Cd2(LH2)4 .6
Hình 1.3: Cấu trúc phân tử phức chất Zn(LH2)2 7
Hình 1.4: Các phối tử bis-8-hydroxyquinolin 7
Hình 1.5: Phức chất của Zn (II) với phối tử 3 8
Hình 1.6: Cấu trúc phân tử của phức chất [Cd(quin)2(DMSO)2] 8
Hình 1.7: Công thức cấu tạo của phức chất ZnQ và CdQ 9
Hình 1.8 : Sơ đồ tổng hợp phối tử HMeOQMAMQ 10
Hình 1.9: Cấu trúc phức chất của thấy Zn(II), Cd(II) và Hg(II) với phối tử HMeOQMAMQ 10
Hình 1.10: Sơ đồ tổng hợp các phối tử ancol (imino) pyridyl 12
Hình 1.11: Sơ đồ tổng hợp phức palađi 1d và 2d 13
Hình 1.12: Cấu trúc phân tử của phức 2d 14
Hình 1.13: Cấu trúc phân tử của phức 1a .14
Hình 1.14: Công thức cấu tạo của các phức chất với phối tử H2L 14
Hình 1.15: Ảnh hưởng của tỉ lệ mol trong phức Pd(II)-istainic 15
Hình 1.16: Sơ đồ tổng hợp phối tử L1-L3 16
Hình 1.17: Phức chất palađi và platin với các phối tử pyrazole và pyrazolyl .17
Hình 1.18: Cấu trúc tinh thể của phức chất 1 và 2 18
Hình 2.1 : Kết quả đo EDX của phức chất CdA 30
Hình 2.2: Kết quả đo EDX của phức chất PdA 30
Hình 2.3: Phổ phân tích nhiệt của phức chất CdA 32
Hình 2.4: Phổ IR của phối tử QAm……… 35
Trang 4Hình 2.6: Phổ hồng ngoại của phức chất CdA 37
Hình 2.7: Phổ hồng ngoại của phức chất PdA 38
Hình 2.8: Phổ 1H NMR của phối tử QAm 43
Hình 2.9: Phổ 1H NMR của phức chất ZnA 44
Hình 2.10: Phổ 1H NMR của phức chất CdA 45
Hình 2.11: Phổ 1 H NMR của phức chất PdA 45
Hình 3.1.cấu trúc dự kiến 1 52
Hình 3.2 Cấu trúc dự kiến 2 52
Hình 3.3 Cấu trúc 2 53
Hình 3.4 Cấu trúc 1 54
Hình 3.5.Cấu trúc phức Pd dự kiến 1……… 55
Hình 3.6 Cấu trúc phức Pd dự kiến 2……… ……57
Hình 3.7 Cấu trúc tối ƣu Pd 1a……… ….58
Hình 3.8 Cấu trúc tối ƣu Pd 2……… …59
Hình 3.9 Cấu trúc so sánh 1……… 61
Hình 3.10 Cấu trúc so sánh 2………
Trang 5cloroquin (III), plasmoquin (IV) và acriquin (V)
CH2
R = OCH3: quinin(I)
R = H: Xinkhonin(II)
Trong thời gian gần đây, nhóm tổng hợp dị vòng Bộ môn Hóa Hữu
cơ trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổng hợp được dẫn xuất mới của quinolin đi từ eugenol là axit 6-hiđroxi-3-sunfoquinol-7-yloxiaxetic, kí hiệu là Q Chất này đã được xác định là có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm khá cao Từ Q có thể tổng hợp ra nhiều dẫn xuất mới như axit 5-bromo-6-hiđroxi-3-sunfoquinol-7-yloxiaxetic, axit 5-cloro-6-hiđroxi-3-sunfoquinol-7-yloxiaxetic, axit 5,6-đioxo-3-sunfoquinol-7-yloxiaxetic, axit 5,6-đihiđroxi-3-sunfoquinol-7-yloxiaxetic
Phức chất của một số kim loại chuyển tiếp như Zn(II), Cd(II), Ni(II), Co(III) với các phối tử trên bước đầu cũng đã được nghiên cứu Thành phần cấu tạo của các phức chất này đã được nghiên cứu bằng các phương pháp vật lý và hóa lý như: phương pháp phổ hấp thụ hồng ngoại
Trang 6(phổ IR), phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân, phương pháp EDX, phương pháp phân tích nhiệt, phương pháp phổ khối…
Tuy nhiên, do các phối tử có nhiều trung tâm tạo phức, nguyên tử kim loại trung tâm có thể phối trí qua nguyên tử O của nhóm -OH, -SO3;
có thể qua nguyên tử N của dị vòng, nguyên tử N của nhóm amin nên dựa vào những phương pháp nói trên các tác giả mới đang đề xuất một số kiểu cấu trúc cho các phức chất Để xác định chính xác cấu trúc của các phức chất thì cần đo nhiễu xạ tia X đơn tinh thể Tuy nhiên để thực hiện phép
đo này cần phải kết tinh được đơn tinh thể và cần nhiều kinh phí
Bên cạnh đó, phương pháp tính toán lý thuyết bằng hóa lượng tử đang ngày càng phát triển, nó cho phép tính toán, tối ưu hóa cấu trúc cho những các phân tử phức tạp Kết quả tính toán này có thể giúp xác định kiểu cấu trúc thích hợp cho mỗi phức chất, giải quyết được khó khăn trên
Vì vậy chúng tôi chọn đề tài ‘‘Nghiên cứu cấu trúc một số phức chất của Zn(II), Cd(II), Pd(II) với phối tử là dẫn xuất của Quinolin bằng phương pháp phiếm hàm mật độ và phương pháp phổ’’
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cấu trúc một số phức chất của Zn(II), Cd(II), Pd(II) với phối
tử 1-metyl-5-bromo-6-hiđroxi-7-etylenđiamin-3-sunfoquinolin (ký hiệu là QAm)) bằng một số phương pháp vật lý, hóa lý
- Sử dụng phương pháp tính hóa lượng tử để tính toán và đưa ra một số cấu
phức chất của Zn(II), Cd(II), Pd(II) với phối tử QAm
- So sánh kết quả tính toán lý thuyết với kết quả thực nghiệm
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Phức chất của kim loại Pd, Zn, Cd với phối tử hiđroxi-7-etylenđiamin-3-sunfoquinolin (ký hiệu là QAm))
1-metyl-5-bromo-6 Các phương pháp tính toán hóa học lượng tử
Trang 74 Nhiệm vụ của đề tài :
- Tổng quan tài liệu về phức chất của Zn(II), Cd(II), Pd(II) với phối tử
là dẫn xuất của Quinolin
- Nghiên cứu thành phần, cấu trúc của các phân tử phức chất Zn(II),
Cd(II), Pd(II) với phối tử QAm bằng một số phương pháp vật lý và hóa học như: phương pháp EDX; phương pháp phân tích nhiệt; phương pháp phổ hấp thụ hồng ngoại (phổ IR); phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân
- Dùng phần mềm Gausian để tối ưu hình học, đưa ra các kiểu cấu
trúc bền của phức chất Zn(II), Cd(II), Pd(II) với phối tử QAm
- So sánh kết quả lý thuyết với thực nghiệm để xác định cấu trúc
của các phân tử phức chất nghiên cứu
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ PHỨC CHẤT CỦA Zn(II), Cd(II), Pd(II) VỚI PHỐI TỬ LÀ DẪN XUẤT CỦA QUINOLIN
Phức chất của kim loại chuyển tiếp nói chung và của Zn(II), Cd(II), Pd(II) nói riêng với phối tử họ quinolin gần đây đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu do có sự tạo phức đa dạng, phong phú cũng như có nhiều ứng dụng quan trọng của chúng trong các lĩnh vực như hóa phân tích, hóa dược
1.1.1 Phức chất của Zn(II), Cd(II)
Kẽm là nguyên tố thuộc chu kỳ 4, nhóm IIB, số hiệu nguyên tử là 30 với cấu hình electron 1s2
2s22p63s23p6 3d104s2 Ion Zn2+ có cấu hình electron [Ar]3d10 với năng lượng bền hóa bởi trường phối tử bằng không, do đó nó không ưu tiên một dạng hóa lập thể nào
Nó thể hiện số các phối trí và dạng hình học đa dạng tùy thuộc vào tương quan giữa lực tương tác tĩnh điện, lực cộng hóa trị và các yếu tố không gian, lập thể Nói chung, kẽm có số phối trí từ 2 đến 7, trong đó các số phối trí 2, 4
và 6 là phổ biến hơn cả
Trong dung dịch muối, Zn2+
tồn tại dưới dạng phức chất bát diện [Zn(H2O)6]2+, còn trong dung dịch kiềm thì nó tồn tại dưới dạng phức chất tứ diện [Zn(OH)4]2- Trong dung dịch chứa phối tử mạnh như NH3, Zn2+ có thể tạo thành hai loại phức chất là [Zn(NH3)6]2+ và [Zn(NH3)4]2+ Phức chất axetylaxetonat của kẽm [Zn(acac)2].H2O (acac: axetylaxetonat) có cấu tạo chóp đáy vuông Trong khi đó các phức chất [ZnCl4]2-, [ZnBr4]2- đều có dạng
tứ diện đều Trong dung dịch ZnCl2 đặc tồn tại đồng thời các phức chất [ZnCl4]2-, [ZnCl4(H2O)2]2- và [Zn(H2O)6]2+ Ngoài ra Zn cũng tạo ra các phức chất trong đó nguyên tử kim loại trung tâm có số phối trí 5 như: [Zn(terpy)Cl2] có dạng lưỡng chóp tam giác, [Zn(S2CNEt2)2]2 có dạng chóp
Trang 9đáy vuông Phức chất mà trong đó Zn có số phối trí 7 phải kể đến hợp chất [Zn(H2dapp)(H2O)]
Kẽm không tạo thành phức chất cacbonyl và phức chất với hyđrocacbon không no, nói chung là các phức chất với các phối tử π Đây là dấu hiệu quan trọng nhất chứng tỏ rằng kẽm không thể hiện tinh chất của một kim loại chuyển tiếp, do có phân lớp d chứa đầy electron (d10
Với cấu hình electron [Ne]4d10
(đã bão hòa phân lớp d), Cd2+ không ưu tiên một dạng hóa lập thể nào khi tạo phức (do năng lượng bền hóa bởi các phối tử bằng không) Tùy thuộc vào bản chất của các các phối tử mà trong phức chất tạo thành, nguyên tử kim loại trung tâm có thể có số phối trí từ 2 đến 7 phối tử với nhiều dạng hình học khác nhau: như CdEt2 có dạng đường thẳng; [CdCl4]2- có dạng tứ diện đều; phức chất với số phối trí 5 của Cd có [Cd(S2CNEt2)2]2 (dạng chóp đáy vuông) và [CdCl5]3- (lưỡng tháp tam giác) Khác với Zn, phức amin của Cd chỉ tồn tại ở dạng bát diện [Cd(NH3)6]2+ Khi tạo phức với phối tử quinH, Cd tạo thành hợp chất [Cd(quin)2(NO3)2H2O] có dạng lưỡng chóp ngũ giác trong đó nguyên tử Cd có số phối trí 7
Do có bán kính lớn hơn Zn2+
nên Cd2+ có khả năng tạo phức chất có số phối trí lớn hơn Zn2+ Cũng giống như Zn, Cd không tạo thành các phức chất với phối tử π
Trong những năm gần đây nhờ sự phát triển của các phương pháp vật lý, kĩ thuật đo hiện đại đã có nhiều công bố về cấu trúc mới của các phức chất Zn(II), Cd(II)
Năm 2000, bằng phương pháp nhiễu xạ tia X đơn tinh thể, Matsyas Czugler [25] đã tổng hợp và xác định được cấu trúc tinh thể các phức chất của
Trang 10Zn(II), Cd(II) với phối tử 2-nonyl-8-hydroxylquinoline (LH1) và hydroxylquinaline (LH2) (Hình 1.1)
7-nonyl-8-Hình 1.1: Cấu tạo của các phối tử LH1, LH2 Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phức chất của Zn với phối tử LH1 và
Cd với LH2 là phức chất hai nhân có công thức phân tử là M2X4 (M là Zn, Cd) Trong các phức chất này nguyên tử kim loại trung tâm là Zn và Cd đều
có số phối trí 5, các liên kết phối trí đƣợc thực hiện qua nguyên tử O, N ( hình 1.2); Còn phức chất của Zn với phối tử LH2 lại là phức đơn nhân, nguyên tử trung tâm phối trí 4 (hình 1.3)
Hình 1.2: Cấu trúc phân tử của các phức chất Zn2(LH1)4 (hình a) Cd2(LH2)4
(hình b)
Trang 11Hình 1.3: Cấu trúc phân tử phức chất Zn(LH2)2 Năm 2008, nhóm nghiên cứu người Pháp [18] đã tổng hợp và nghiên cứu phức vòng càng mới của poly-8-hydroxyquinolin dùng làm chất kháng virut Alzheimer
Các tác giả đã tổng hợp các phối tử bis 8-hydroxyquinolin theo sơ đồ sau:
Hình 1.4: Các phối tử bis-8-hydroxyquinolin (a: (CH3COO)2Ni, CH3OH, 60oC; b: CH3I, NaOH, CH3OH; c: HCl, C2H5OH,
H2O; d: muối florua, CH3CN; e: NaHCO3, H2O, THF)
Phức chất của Zn(II) với phối tử 3 được tổng hợp từ ZnSO4 trong hỗn hợp dung môi H2O/DMSO thu được phức chất có cấu trúc như hình 1.5 Cấu trúc của phức chất được xác định bằng nhiễu xạ tia X, trong đó Zn có số phối trí là 5
Trang 12Hình 1.5: Phức chất của Zn (II) với phối tử 3 Năm 2011, nhóm nghiên cứu Boris-Marko Kokovec [17] đã tổng hợp
và nghiên cứu cấu trúc, tính chất của phức chất giữa Cd(II) với axit quialdic (kí hiệu là quinH)
Phức chất [Cd(quin)2(H2O)2] được tổng hợp từ phản ứng giữa Cd(CH3COO)2 với quinH trong hỗn hợp dung môi C2H5OH : H2O = 1:1 Phức chất [Cd(quin)2(DMSO)2] được điều chế bằng cách kết tinh lại [Cd(quin)2(H2O)2] trong dung môi DMSO
Kết quả nghiên cứu cho thấy các phức chất này có cấu trúc bát diện, tỉ
lệ mol Cd : quinH = 1:2, Cd2+
liên kết với phối tử quinH qua nguyên tử N của vòng quinolin và O của nhóm -COO- Hai phối vị còn lại là do dung môi đảm nhận Bằng phương pháp nhiễu xạ tia X, các tác giả đã xác định được cấu trúc của phức chất [Cd(quin)2(DMSO)2] như hình 1.6
Hình 1.6: Cấu trúc phân tử của phức chất [Cd(quin)2(DMSO)2]
Trang 13Gần đây nhóm phức chất Bộ môn Hóa vô cơ trường Đại học Sư phạm Hà Nội [9,10,11,15] đã nghiên cứu sự tạo phức của phối tử axit 6-hiđroxi-3-sunfoquinol-7-yloxiaxetic (Q) với các kim loại chuyển tiếp như
Zn, Cd, Hg, Cr, Co, Fe,…
Các phức chất được tổng hợp bằng cách cho dung dịch muối của các ion kim loại (Zn(II), Cd(II), Hg(II), Cr(III), Co(II), Fe(III)) vào dung dịch phối
tử Q hòa tan trong NaOH, phản ứng được thực hiện ở nhiệt độ thường Lọc,
bỏ kết tủa Phần nước lọc để trong tủ lạnh sau một ngày xuất hiện bột, lọc rửa sản phẩm bằng nước, etanol, sấy ở 50oC kí hiệu MQ (với M là Zn, Cd, Hg…)
Dựa vào kết quả đo IR, 1
H NMR, 13C NMR, UV-Vis các tác giả cho rằng trong các phức chất của Zn, Cd có số phối trí 4 Các dữ kiện về phổ IR,
1H NMR cho thấy trong phức chất, nguyên tử kim loại trung tâm liên kết với phối tử Q qua nguyên tử O của nhóm -OH phenol và nguyên tử O của nhóm cacboxylat Hai phối vị còn lại do hai phân tử H2O đảm nhận Bằng các phương pháp vật lý, hóa học đã xác định được công thức cấu tạo của các phức chất thu được như sau:
OH2O
Hình 1.7: Công thức cấu tạo của phức chất ZnQ và CdQ
Năm 2012, nhóm nghiên cứu người Ấn Độ đã nghiên cứu và tổng hợp thành công 3-[(2-hydroxy-6-methoxyquinolin-3-ylmethylene)-amino]-2-
Trang 14methyl-3H-quinazoline-4-one (kí hiệu là HMeOQMAMQ) từ methylquinazoline-4-one và 3-formyl-2-hydroxy-6-methoxyquinoline theo sơ
3-amino-2-đồ sau:
Hình 1.8 : Sơ đồ tổng hợp phối tử HMeOQMAMQ Kết quả nghiên cứu cho thấy Zn(II), Cd(II) và Hg(II) phản ứng với HMeOQMAMQ theo tỉ lệ số mol 1: 1, phức chất thu đƣợc có cấu trúc tứ diện
Hình 1.9: Cấu trúc phức chất của thấy Zn(II), Cd(II) và Hg(II) với phối tử
HMeOQMAMQ
Kết quả Hình 1.9: Cấu trúc phức chất của thấy Zn(II), Cd(II) và Hg(II) với phối tử HMeOQMAMQ nghiên cứu cho thấy các phức chất đều có khả năng kháng khuẩn
Trang 151.1.2 Phức chất của Pd(II)
Paladi là kim loại chuyển tiếp nằm ở ô 46, chu kì 5 Do sự chênh lệch mức năng lượng giữa 4d và 5s nhỏ nên Palađi có cấu hình electron là [Kr]4d105s0 (khác với Ni (3d84s2))
Các mức oxi hóa có thể có của Paladi là 0 ([Pd(PPh3)3]), +1 ([Pd2(PMe3)6]2+), +2 ([Pd(CN)4]2-), +3 ([Pd2(hpp)4]Cl2), +4 ([PdCl6]2-), trong
đó mức oxi hóa chính là +2 và +4, trong đó mức +2 bền nhất, các hợp chất đơn giản và phức chất của Pd(II) đều bền Các hợp chất đơn giản của Pd(IV)
có tính oxi hóa cao, dễ chuyển hóa thành hợp chất Pd(II) Các phức chất của Pd(IV) bền hơn so với hợp chất Pd(IV) đơn giản tuy nhiên số lượng của chúng là tương đối ít
Bên cạnh đó, Pd0
; Pd3+, Pd4+ cũng có khả năng tạo phức, ví dụ như: Pd(PF3)4 có cấu trúc tứ diện đều; Pd2(hpp)4Cl2; PdCl6
đều có cấu trúc bát diện Trong các nghiên cứu về phức chất Pd(II) với phối tử là dẫn xuất của quinolin cho thấy ion kim loại này vẫn chủ yếu tạo ra các phức chất vuông phẳng trong cả phức chất đơn nhân và đa nhân
Năm 2011, các tác giả trong tài liệu [29] đã tổng hợp được phức chất của palađi với các phối tử ancol (imino)pyridyl tridentate [N,N,O], 2-(ArN≡CMe)-6-{(HO)CR2}C5H3N (L1-L4) Các phối tử ancol (imino)pyridyl 2-(ArN≡CMe)-6-{(HO)CMe2}C5H3N(Ar=2,6-i-Pr2C6H3, L1; 2,6-Et2C6H3,
Trang 16L2; 2,4,6-Me3C6H2, L3) được tổng hợp bằng cách thêm từ từ dung dịch MeLi trong THF vào các dung dịch 2-cacboxylat-6-iminopyridin (1-3) trong THF ở
0oC, khuấy ở nhiệt độ phòng; sau đó sử dụng sắc ký cột tách hợp chất với độ tinh khiết cao (hình 1.10)
Phối tử L4, 2-(2,6-i-Pr2C6H3N≡CMe)-6-(CH2OH)C5H3N được tổng hợp bằng cách khử hợp chất 1 bằng NaBH4/CaCl2 trong methanol
Hình 1.10: Sơ đồ tổng hợp các phối tử ancol (imino) pyridyl
Phức {[2-(2,6-i-Pr2C6H3N≡CMe)-6-{(HO)CMe2}C5H3N]PdCl}2[PdCl4] (1d) được tổng hợp bằng cách thêm từ từ 0,0364 g PdCl2 (0,20 mmol) vào 20
ml dung dịch chứa 0,0684 g L1 (0,20 mmol) trong etanol khan, phản ứng được khuấy ở nhiệt độ phòng qua đêm, tuy nhiên PdCl2 không phản ứng Khi tăng nhiệt độ phản ứng lên 60oC và khuấy trong 3h thì thu được dung dịch đồng nhất màu nâu Thêm 2ml đietyl ete vào dung dịch trên thấy sản phẩm tách ra Lọc chất rắn màu nâu, rửa bằng đietyl ete và sấy trong chân không (hiệu suất 55,7%) Phức chất {[2-(2,6-Et2C6H3N≡CMe)-6-{(HO)CMe2}C5H3N]PdCl}2[PdCl4] (2d) được tổng hợp tương tự phức 1d, là bột màu nâu với hiệu suất 84,9%
Trang 17Hình 1.11: Sơ đồ tổng hợp phức palađi 1d và 2d Kết quả đo nhiễu xạ tia X đơn tinh thể cho thấy các nguyên tử N, N và
O của phối tử đều phối trí với kim loại trung tâm: phức chất 1a có cấu trúc lưỡng tháp tam giác (hình 1.13), phức chất 2d là phức vuông phẳng (hình 1.12)
Trên phổ hồng ngoại của các phức chất, vân hấp thụ đặc trưng cho dao động hóa trị C=N đã dịch chuyển về số sóng thấp hơn so với phối tử tự do Điều này chứng tỏ trong các phức chất này, nguyên tử kim loại trung tâm liên kết với phối tử qua nguyên tử N của nhóm imino
Tất cả các phức chất của Pd(II) nêu trên đều có hoạt tính xúc tác cao và đều được dùng làm xúc tác cho phản ứng trùng hợp vinyl
Năm 2011, Hussein S Seleem đã báo cáo về tổng hợp và nghiên cứu hoạt tính sinh học của phức chất một số kim loại chuyển tiếp như ion Fe(III), Co(II), Ni(II), Cu(II), VO(II) và Pd(II) với một phối tử isatinic quinolyl hydrazon mới; 3-[2-(4-metyl quinolin-2-yl) hydrazono] indolin-2-on (kí hiệu
là H2L) [23]
Các phức chất được tổng hợp bằng cách cho dung dịch muối kim loại và phối tử H2L phản ứng với nhau theo tỉ lệ mol 1:1 trong dung môi etanol, đun hồi lưu trong 2÷4 giờ tùy thuộc vào ion kim loại Tác giả đã tổng hợp được các phức chất của Cu, Fe, V, Co, Ni với phối tử H2L, công thức cấu tạo của các phức chất được trình bày ở hình 1.14
Trang 18Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu tương tác của PdCl2 với phối tử H2L theo tỉ lệ mol 1:1, 1:2 và 2:1, thu được phức chất 6, 7 và 8 (hình 1.15) Các sản phẩm kết tủa được lọc, rửa sạch với etanol, ete và sấy khô Tất cả các phức được tách ra bền ở nhiệt độ phòng, không hút ẩm và không tan trong nước, rượu và tan trong DMSO và DMF
Hình 1.12: Cấu trúc của phức 2d Hình 1.13: Cấu trúc của phức 1a Các nghiên cứu cho thấy tất cả các phức Pd (II) thu được đều có cấu trúc vuông phẳng và phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ mol (M:L)
Hình 1.14: Công thức cấu tạo của các phức chất với phối tử H2L
Trang 19Hình 1.15: Ảnh hưởng của tỉ lệ mol trong phức Pd(II)-istainic
Các phức chất trên đều được sử dụng dùng làm chất kháng khuẩn Hoạt tính kháng khuẩn của các phối tử và phức kim loại của nó đã được tóm tắt trong bảng 1.1 Kết quả thử hoạt tính cho thấy như sau: a) phối tử H2L không kháng khuẩn b) Ngoài ra, phức 1, 2 và 4 không kháng khuẩn đối với các vi khuẩn Gram âm c) Phức hai nhân của Pd(II) (8) chống lại vi khuẩn S pyogenes cao d) Các hoạt tính kháng khuẩn được đánh giá cao ảnh hưởng bởi bản chất của ion kim loại và thứ tự cho các vi khuẩn Gram dương (S aureus)
là như sau: Niken (II) > Vanadyl (II) > Coban (II) > đồng (II) ≈ Palađi (II) >> Sắt (III)
Bảng 1.1: Khả năng kháng khuẩn của phối tử H 2 L và các phức chất
Trang 20Phức chất của palađi (II) và platin (II) với phối tử pyrazole đã được tổng hợp và nghiên cứu tính chất
Phối tử pyrazole (L1-L3) được tổng hợp bằng phản ứng alkylaminoalkylation như sau: cho pyrazole hoặc 3,5-đimetylpyrazole phản ứng với paraformaldehyde và etylamin hoặc isopropylamin
Hình 1.16: Sơ đồ tổng hợp phối tử L1-L3 Phức chất palađi (II) và platin (II) được tổng hợp bằng cách cho [PdCl2(NCMe)2] hoặc [K2PtCl4] tương tác với các phối tử L1-L3
Tổng hợp bis-(3,5-đimetyl-4-(etylamino)metylpyrazole)paladi(II) (C1):
L1 (0.12 g, 0.77 mmol) trong 3ml CH2Cl2 vào bình cầu có nhánh Sau đó thêm 0.1 g (0.385 mmol) [PdCl2(NCMe)2] trong 20ml CH2Cl2 vào bình cầu trên Hỗn hợp phản ứng đã được khử khí và khuấy ở nhiệt độ phòng trong 6 giờ, tạo ra sản phẩm là chất kết tủa không tan trong CH2Cl2
Ngoài ra, tác giả còn tổng hợp phức chất palađi và platin với các phối tử pyrazole và pyrazolyl có sẵn (phức 1-5, hình 1.21) Phức palađi 1, 2, 5, thu được từ phản ứng của pyrazol, 3,5-dimethylpyrazole và axit 3,5-đimetylpyrazolylacetic với [PdCl2(NCMe)2]; trong khi phức platin, 3 và 4 thu được từ phản ứng của pyrazol, 3 ,5-dimethylpyrazole với [K2PtCl4] Cấu trúc của các phức chất đã được nghiên cứu và mô tả như hình 1.17
Trang 21Hình 1.17: Phức chất palađi và platin với các phối tử pyrazole và pyrazolyl Năm 2012, Liangliang Yan [24] đã tổng hợp được phức chất palađi (II) với các dẫn xuất 8-aminoquinoline và nghiên cứu tương tác của phức chất với
huyết thanh của người Hai phức palađi (II) (1 và 2) có công thức [PdLn
Cl]
[L1 = N-(tert-butoxycarbonyl)-L-methionine-N’-8-quinolylamide, L2 = alanine-N’-8-quinolylamide] được tổng hợp như sau:
- Phức chất 1: Trộn PdCl2 (0.5 mmol, 88.7 mg) và L1 trong CHCl3 với tỉ lệ mol 1:1,2 Khuấy hỗn hợp ở nhiệt độ phòng trong 24h, lọc và tinh chế bằng sắc ký cột silicagel với dung môi là etyl axetat/ete (4/1, v/v) Đơn tinh thể
hình kim màu đỏ của phức chất 1 đã thu được bằng cách làm bay hơi chậm
của dung dịch methanol của nó
Hai phức palađi (II) (1 và 2) có công thức [PdLn
Cl] [L1butoxycarbonyl)-L-methionine-N’-8-quinolylamide, L2=L-alanine-N’-8-quinolylamide] được tổng hợp như sau:
- Phức chất 1: Trộn PdCl2 (0.5 mmol, 88.7 mg) và L1 trong CHCl3 với tỉ lệ mol 1:1,2 Khuấy hỗn hợp ở nhiệt độ phòng trong 24h, lọc và tinh chế bằng sắc ký cột silicagel với dung môi là etyl axetat/ete (4/1, v/v) Đơn tinh thể
hình kim màu đỏ của phức chất 1 đã thu được bằng cách làm bay hơi chậm
của dung dịch methanol của nó
Trang 22Các phức chất được xác định bằng phương pháp nhiễu xạ tia X đơn tinh thể và được mô tả như hình 1.18
Hình 1.18: Cấu trúc tinh thể của phức chất 1 và 2 Trong các phức chất nguyên tử kim loại trung tâm Pd đều có số phối trí
4, cấu trúc vuông phẳng Phức chất 1, palađi đã phối trí với hai nguyên tử N
và một nguyên tử S của L1
và một anion clorua; Phức chất 2, palađi liên kết với ba nguyên tử N của L2
và một anion clorua
Hoạt tính chống ung thư của phức 1 và 2 đã được thử nghiệm trên ba
dòng tế bào của người, gồm dòng tế bào ung thư cổ tử cung (HeLa), dòng tế bào ung thư vú (MCF-7) và dòng tế bào ung thư phổi (A-549), cisplatin được
dùng làm đối chứng Kết quả cho thấy, phức 1 là một độc tế bào tương đương
với cisplatin chống lại dòng tế bào A-549 và MCF-7, và cao hơn cisplatin đối
với dòng tế bào HeLa Phức 2 ít hoạt động hơn nhiều so với cisplatin trong cả
Trang 23được họp bởi thế hút của hạt nhân và thế đẩy trung bình hoá do tất cả các electron khác sinh ra
Hàm sóng phản đối xứng đơn giản nhất được sử dụng để mô tả trạng thái cơ bản của một hệ N electron là một định thức Slater đơn
aN a1 a2 el
ψ = χ χ χ (1) Theo nguyên lý biến phân, hàm sóng tốt nhất ứng với hàm cho năng lượng thấp nhất: E = ψ H ψ (2) el elTrong đó : Ĥ là toán tử Hamilton electron đầy đủ Bằng việc tối ưu Eovới sự lựa chọn obitan-spin trong (2) ta nhận được một phương trình, được gọi là phương trình HF Phương trình này sẽ xác định obitan-spin tối ưu , có dạng:
f(1)ψ (1) = ε ψ (1)i i 1 (3) Trong đó:
Z1
f(1)= - - + υ (1)
2 r ( 4)
N 2 (HF)
Trang 24+ Jj(1) là toán tử Coulomb, thay thế thế năng tĩnh điện khu trú trung bình ở τ1 gây ra bởi một electron ở ψj
+ Kj (1) là toán tử trao đổi, được xem như toán tử giải tỏa vì không có tồn tại thế năng đơn giản K (τ )j 1 duy nhất được xác định ở điểm khu trú trong không gian τ1
Thế năng HF, υ (1) phụ thuộc vào những obitan-spin của những HF
electron khác với electron khảo sát Phương trình HF (2) không tuyến tính và phải giải bằng phương pháp lặp Thủ tục giải phương trình này được gọi là phương pháp trường tự hợp (SCF) Thủ tục giải phương pháp SCF khá đơn giản: bằng việc đưa vào obitan-spin ban đầu, ta tính toán phương trung bình
HF
υ (1) , sau đó giải phương trình trị riêng (2) để nhận bộ obitan-spin mới Sử dụng bộ này để đạt được phương mới và lặp lại thủ tục trên cho đến khi SCF đạt được (trường không còn thay đổi nữa và obitan-spin giống như hàm riêng của toán tử Fock)
Phương pháp Hartree-Fock có nhược điểm là chỉ áp dụng được cho hệ nguyên tử, nhưng khó áp dụng với hệ phân tử, vì đối với nguyên tử ta có thể trung bình hoá các thế hiệu dụng 1e- sao cho chúng có đối xứng xuyên tâm
để phương trình 1e- có 3 biến trở thành phương trình chỉ có một biến Nhưng đối với phân tử thì phương trình 1e- vẫn khó giải vì thế 1e-trong phân tử không có đối xứng xuyên tâm Roothaan đã khắc phục được những hạn chế của phương pháp Hartree-Fock về việc giải được phương trình 1e-trong phân tử bằng cách thay thế các AO trong phương trình Hartree-Fock bằng các MO-LCAO và MO-LCAO tốt nhất là MO-LCAO-SCF thu được khi
áp dụng phương pháp trường tự hợp Hartree-Fock phương pháp này còn được gọi là phương pháp MO-LCAO
Trang 251.2.2 Phương pháp phiếm hàm mật độ (DFT-Density Functional Theory)
Thuyết DFT cho phép mô tả trạng thái hệ N electron theo hàm sóng ψ(r) và phương trình Schrodinger tương ứng với hàm mật độ ρ(r) và những tính toán liên quan đến việc sử dụng hàm này, xuất phát từ quan điểm cho rằng năng lượng của một hệ các electron có thể được biểu thị như một hàm của mật độ electron ρ(r) Do đó, năng lượng của hệ các electron E[ ρ(r) ] à một phiếm hàm đơn trị của mật độ electron
1.2.2.1 Mô hình Thomas-Fermi
Năm 1927, Thomas và Fermi chỉ ra sự tồn tại của một phiếm hàm năng lượng,và tìm ra một biểu thức năng lượng Thomas - Fermi cho nguyên tử dựa trên mật độ electron là:
là vectơ tọa độ electron Phương trình này chỉ dùng cho nguyên tử (có một hạt nhân) Mô hình Thomas - Fermi quá đơn giản, không dùng được cho phân tử,
độ chính xác khi dùng cho các nguyên tử cũng không cao, chỉ nghiệm đúng trong một số ít trường hợp (coi electron là các hạt độc lập)
1.2.2.2 Các định lý Hohenberg-Kohn
Hohenberg và Kohn đã đưa ra những định lý cơ bản để chỉ ra rằng trạng thái cơ bản trong mô hình Thomas-Fermi có thể được xem như một sự xấp xỉ đối với một lý thuyết chính xác - lý thuyết phiếm hàm mật độ Họ đã chỉ ra rằng một hệ lượng tử N electron chuyển động trong một trường thế ngoài V(r) ứng với toán tử halmiton H có một trị riêng năng lượng và hàm sóng ở trạng thái cơ bản được xácđịnh hoàn toàn bằng cách tối thiểu hóa năng lượng toàn phần như một phiếm hàm của hàm sóng
Trang 261.2.2.3 Các phương trình Hohenberg-Kohn
Ý tưởng của phương pháp này là thay bài toán nhiều electron bằng một tập hợp tương đương chính xác các phương trình tự hợp 1 electron Ưu điểm của phương pháp là bao hàm đầy đủ hiệu ứng trao đổi, tương quan năng lượng electron
Xét hệ có N electron đã được ghép đôi Năng lượng của hệ theo Sham ở trạng thái cơ bản được xác định theo biểu thức:
ρ(r)ρ(R)1
E[ρ(r) ]= T[ρ(r)] + drdR + E [ρ(r)] + ρ(r)V (r)dr
Trang 272 (12) + ψ (r)i là hàm không gian 1 electron, còn gọi là obitan Kohn-Sham + Số hạng thứ hai E [ρ(r)] : là năng lượng tương quan trao đổi của hệ xc+ Số hạng thứ ba: biểu thị năng lượng tương tác Coulomb giữa 2 mật
độ electron toàn phần ρ(r ); ρ(r )1 2
+ Số hạng cuối biểu thị năng lượng hút giữa hạt nhân và electron Áp dụng nguyên lý biến phân cho năng lượng electron toàn phần, ta thu được phương trình Kohn-Sham:
2 2
M 2
+ εi là năng lượng obitan Kohn-Sham
+ VXC là thế tương quan trao đổi và XC
XC
δE [ρ]
V =
dρNếu EXC[ρ] đã được biết thì thu được V [ρ]XC Nhưng dạng của E [ρ]XCcũng chưa biết Hiện tại mới chỉ đưa ra ở dạng gần đúng Khi có dạng của
XC
E [ρ]thì (13) cũng được giải theo phương pháp trường tự hợp SCF thu được các obitan không gian 1 electron là ψ (r )i 1 Từ các obitan Kohn-Sham có thể tính được ρ(r) theo biểu thức: ρ(r) =
1 i i=1
ψ (r )
Trang 28Sự phát triển của lí thuyết DFT ngày nay là tập trung vào việc làm sao
để có phiếm hàm V [ρ]XC ngày càng tốt hơn Các phương pháp DFT khác nhau ở dạng của V [ρ]XC Các phiếm hàm đó thường được xây dựng dựa vào việc so sánh với kết quả thực nghiệm hoặc so sánh với kết quả tính theo lí thuyết ở mức cao Thông thường năng lượng trao đổi - tương quan Exc được tách thành hai phần riêng biệt, phần trao đổi Ex và phần tương quan Ec Sau đây là một số phiếm hàm đang được sử dụng rộng rãi
1.2.2.4 Một số phiếm hàm trao đổi
Các hàm trao đổi được dùng phổ biến nhất là LDA, LSDA, B88 và PW91
- Hàm trao đổi được xây dựng bởi Slater:
(1+δ) -(1-δ) -2 f(δ) =
; A = ( ) β = 0,0042
4 πρ
Trang 29- Hàm trao đổi Perdew-Wang (PW91) [45, 46]
a = 0,19645; a = 7,7956; a =0,2743; a =-0,1508; a = 0,004
s =
1.2.2.5 Một số phiếm hàm tương quan
- Hàm tương quan Vosko, Wilk và Nusair (VWN)
3
2 w
Trang 30- Phiếm hàm Half-and-Half: năng lượng trao đổi HF góp một nửa và năng lượng trao đổi - tương quan LSDA góp một nửa vào phiếm hàm trao đổi – tương quan: H+H HF LSDA LSDA
- Phiếm hàm B3: là phiếm hàm 3 thông số của Becke:
EB3xc = (1-a)ELSDAx + a.EHFx +b.E +EBx LSDAc + c.ΔEGGAc (24)
a, b, c là các hệ số Becke: a= 0,2; b = 0,7; c = 0,8
1.2.2.7 Một số phương pháp DFT thường dùng
Mỗi một phương pháp DFT là sự kết hợp thích ứng giữa các dạng cụ thể của phiếm hàm trao đổi và phiếm hàm tương quan
- Phương pháp BLYP là một phương pháp DFT thuần khiết, trong đó
sử dụng phiếm hàm trao đổi B88 và phiếm hàm tương quan LYP
- Phương pháp B3LYP chứa phiếm hàm hỗn hợp B3, trong đó phiếm hàm tương quan GGA là phiếm hàm LYP, ta có biểu thức:
xc = a.Ex + (1-a).Ex + b.Ex + Ec + c.ΔEc
Trang 31CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC MỘT SỐ PHỨC CHẤT CỦA Zn(II), Cd(II), Pd(II) BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÓA LÝ
2.1 Tổng hợp phối tử và phức chất
2.1.1 Tổng hợp phối tử
Phối tử 1-metyl-5-bromo-6-hiđroxi-7-etylenđiamin-3-sunfoquinolin (QAm) được tổng hợp theo cách thức được mô tả trong tài liệu [3] Quy trình tổng hợp được mô tả theo sơ đồ sau:
OH O
OCH2COOH O
OCH2COOH O
N OH
HNO
3 /AcOH
1) Na2S2O42) H +
Br2/DMSO
Me2SO 4
Amin: NH2CH2CH2NH2
2.1.2 Tổng hợp phức chất
Trang 32Các phức chất của Zn(II), Cd(II), Pd(II) với phối tử QAm được tổng hợp theo cách thức được mô tả trong tài liệu [ 8]
Phức chất của Cd(II) với phối tử QAm được tổng hợp như sau:
Cho 0,0376g QAm (0,1mmol) vào 5ml H2O, thêm từ từ dung dịch KOH 1M khuấy cho QAm tan hoàn toàn, thu được dung dịch 1 có màu vàng, pH ≈
9 Hòa tan 0,0266g Cd(CH3COO)2 (0,1 mmol) vào 5 ml H2O thu được dung dịch 2 không màu Nhỏ từ từ dung dịch 2 vào dung dịch 1, xuất hiện kết tủa màu vàng cam, khuấy tiếp phản ứng trong 2h ở nhiệt độ phòng Lọc, rửa kết tủa bằng nước nóng, etanol, sấy ở 500C, kí hiệu CdA
Phức chất của Zn(II) với phối tử QAm được tổng hợp như sau:
Cho 0,0376g QAm (0,1mmol) vào 5ml H2O, thêm từ từ dung dịch KOH 1M khuấy cho QAm tan hoàn toàn, thu được dung dịch 1 có màu
vàng, pH ≈ 9 Hòa tan 0,0183 gam Zn(CH3COO)2 (0,1 mmol) vào 5 ml H2O thu được dung dịch 2 không màu Nhỏ từ từ dung dịch 2 vào dung dịch 1, xuất hiện kết tủa màu vàng cam, khuấy tiếp phản ứng trong 2h ở nhiệt độ phòng Lọc, rửa kết tủa bằng nước nóng, etanol, sấy ở 500C, kí hiệu ZnA Tổng hợp phức chất của Pd(II) với phối tử QAm
Cho 0,0752 gam QAm (0,2 mmol) và 6 ml H2O vào bình cầu, đun hồi lưu ở 60oC, chất rắn không tan hết, dung dịch có màu vàng, kí hiệu dung dịch 1 Hòa tan 0,0326 gam K2PdCl4 (0,1 mmol) vào 2 ml H2O, thu được dung dịch màu vàng nâu, kí hiệu dung dịch 2 Nhỏ từ từ dung dịch 2 vào dung dịch 1 thấy dung dịch chuyển sang màu đỏ, chất rắn màu đỏ Khuấy tiếp phản ứng, đun hồi lưu trên bếp cách thủy ở 60◦C trong 5 giờ Lọc, rửa chất rắn bằng nước nóng, axeton, sấy ở 50◦C, kí hiệu PdA
Trang 332.2 Nghiên cứu cấu trúc các phức chất bằng một số phương pháp phổ
ra Quá trình này phát ra tia bức xạ (tia X) đặc trưng cho nguyên tử Mỗi nguyên
tố thường phát ra một vài tia bức xạ, có năng lượng xác định, đặc trưng riêng cho nguyên tố, nên chúng được gọi là tia đặc trưng Từ giá trị năng lượng của tia đặc trưng trên phổ, so sánh với ngân hàng phổ chuẩn đã được xây dựng sẵn, người ta xác định các nguyên tố có trong mẫu đo
Để định lượng các nguyên tố trong mẫu đo, người ta so sánh cường độ tương đối của tia đặc trưng của các nguyên tố cần phân tích Tuy nhiên, máy chỉ xác định được phổ tia X của các nguyên tố có Z 6 Các nguyên tố càng
có Z lớn thì độ chính xác của phép đo càng cao và năng lượng của tia đặc trưng càng lớn, ít bị lẫn với tia đặc trưng của nguyên tố khác
Phương pháp này cho phép xác định các nguyên tố có mặt trong phân
tử cũng như tính toán tỷ lệ các nguyên tử trong phân tử
2.2.1.2 Nghiên cứu cấu trúc của các phức chất bằng phương pháp phổ EDX
Các phức chất của chúng tôi có chứa các nguyên tố H, C, O, N, S,
Br và các nguyên tố kim loại Zn, Cd, Pd Trừ H không xuất hiện trên phổ, còn các nguyên tố C, N, O thường cho giá trị % với sai số lớn, nên chúng tôi chỉ tính tỉ lệ nguyên tử của các nguyên tố kim loại và S với nhau (nguyên tố có Z lớn) Kết quả đo EDX của CdA và PdA được trình bày ở hình 2.1 và 2.2
Trang 340.00 1.00 2.00 3.00 4.00 5.00 6.00 7.00 8.00 9.00 10.00
keV 0
100 200 300 400 500 600 700 800 900 1000
Hình 2.1 : Kết quả đo EDX của phức chất CdA
Hình 2.2: Kết quả đo EDX của phức chất PdA
ZAF Method Standardless Quantitative Analysis
Trang 35Kết quả đo EDX phức chất của Cd (II) với phối tử QAm (hình 2.1) cho thấy trong phức chất có mặt các nguyên tố C, O, N, S, Br, Cd, trong đó tỉ lệ nguyên tử Cd : S = 4,16: 3,56 ≈ 1:1 Do vậy chúng tôi cho rằng Cd (II) đã tạo phức với phối tử QAm theo tỷ lệ 1:1
Do Cd2+ và Zn2+ có nhiều đặc điểm giống nhau nên chúng tôi dự đoán
Zn cũng tạo phức với phối tử theo tỷ lệ số mol 1:1
Kết quả đo EDX của phức chất PdA (hình 2.2) cho thấy trong PdA có mặt các nguyên tố C, O, N, S, Pd và tỉ lệ nguyên tử Pd : S là 1,66:3,02 1:2 Như vậy
trong phức chất này paladi đã tạo phức với phối tử QAm theo tỉ lệ số mol là 1:2
2.2.2 Phương pháp phân tích nhiệt
* Cơ sở lý thuyết
- Khái niệm: Phương pháp phân tích một số thông số vật lý nào đó của
hệ nghiên cứu vào nhiệt độ được gọi là phương pháp phân tích nhiệt
Kết quả phân tích nhiệt thường được ghi lại dưới dạng giản đồ phân tích nhiệt
Giản đồ phân tích nhiệt biểu thị sự biến đổi tính chất của chất phân tích trong hệ tọa độ nhiệt độ - thời gian, nó bao gồm 4 đường:
+ Đường T (nhiệt độ): biểu diễn sự biến đổi nhiệt độ của mẫu phân tích theo thời gian, nó cho biết nhiệt độ xảy ra sự biến đổi
+ Đường TGA: Đường này cho biết sự biến thiên khối lượng mẫu phân tích trong quá trình đun nóng (tăng nhiệt độ) Nếu quá trình làm giảm khối lượng (mất khối lượng) của mẫu thì đường này có dạng thang dốc, từ đó có thể suy luận sự thay đổi thành phần của chất cần phân tích
+ Đường DTG: Đường này ghi lại đạo hàm sự thay đổi khối lượng của mẫu theo nhiệt độ, đường này chứa các pic cực tiểu biểu thị sự mất khối lượng của mẫu
Trang 36+ Đường DTA: biểu diễn sự biến đổi nhiệt độ của mẫu theo thời gian Nếu đường này có cực tiểu tức là quá trình biến đổi của mẫu chất cần phân tích có hiệu ứng thu nhiệt và nếu có cực đại thì quá trình biến đổi của chất có hiệu ứng tỏa nhiệt
Dựa vào phổ phân tích nhiệt mà người ta có thể phát hiện trong phức chất có nước hay không và có thể xác định được nước ẩm, nước kết tinh hay nước phối trí trong cầu nội
Khi nghiên cứu các chất cần xem xét cả 4 đường trên để có kết quả chính xác nhất
*Giản đồ phân tích nhiệt của phức chất CdA
Hình 2.3: Giản đồ phân tích nhiệt của phức chất CdA
Trên giản đồ phân hủy nhiệt của phức chất CdA xuất hiện hiệu ứng đầu tiên là hiệu ứng thu nhiệt trên đường DTA, cực tiểu trên đường DTG kèm theo sự giảm khối lượng trên đường TGA trong khoảng nhiệt độ 50-150o
C, điều này chứng tỏ trong phức chất có nước kết tinh Khối lượng giảm theo thực nghiệm là 8,75%