1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi

34 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 5,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368Báo cáo khoa học Đề tài NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN DỊ TRẦM TÍCH BÃI TRIỀU KHI CHUYỂN ĐỔI MÔI TRƯỜNG RỪNG NGẬP MẶN THÀNH ĐẦM

Trang 1

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

Báo cáo khoa học

Đề tài

NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN DỊ TRẦM TÍCH BÃI TRIỀU KHI CHUYỂN ĐỔI MÔI TRƯỜNG RỪNG NGẬP MẶN THÀNH ĐẦM NUÔI TÔM BẰNG

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN CHÍNH

Trang 2

Chơng 1: Điều kiện địa lý tự nhiên và nhân sinh ảnh hởng tới môi trờng

Trang 3

MỞ ĐẦU

Đất nước Việt Nam có diện tích biển 3.500.000 km2 với độ dài đường bờ là3.260 km rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển, đặc biệt là khai thác nguồntài nguyên đất ngập nước

Các vùng đất ngập nước ven biển thường là nơi cư trú, bãi sinh sản, nơiươm nuôi nguồn giống hải sản cho các vùng nước lợ và các vùng lân cận, cungcấp thức ăn phong phú cho các động vật vùng triều

Không những thế, hệ sinh thái đất ngập nước ven biển còn đóng vai tròquan trọng trong việc chống sóng, bão, chắn gió, điều hòa khí hậu, điều tiết nướcngầm, chống xói lở bờ biển, bờ sông…Ngoài ra, các vùng đất ngập nước ven biểncòn là đối tượng du lịch sinh thái quan trọng đem lại nguồn lợi ích khổng lồ chođất nước Đồng thời, với tốc độ lắng đọng trầm tích cao làm cho quĩ đất ngày càng

mở rộng (chẳng hạn như cửa sông Hồng có tốc độ trầm tích lấn biển ~ 50 – 100m/năm ) góp phần làm tăng diện tích đất sử dụng cho đời sống và sản xuất

Mặc dù đất ngập nước ven bờ có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với nước ta,song do sự phát triển quá nhanh của dân số ở vùng cửa sông ven biển và do việcquản lí còn lỏng lẻo hoặc chưa được quan tâm đúng mức nên các hệ sinh thái venbiển đã và đang bị suy thoái một cách nghiêm trọng Phần lớn các rừng ngập mặnrộng lớn đã bị phá để phát triển khu dân cư, đô thị…đăc biệt là để nuôi tôm quảngcanh thô sơ dẫn đến tình trạng đất hoang hóa ngày càng tăng, môi trường nước bị

ô nhiễm nghiêm trọng, xói lở vùng cửa sông và bờ biển ngày càng lớn

Trước tình trạng khai thác thiếu kiểm soát trên, việc nghiên cứu sự biến đổiđịa hóa môi trường trầm tích ven bờ đã góp phần vào việc xác định mức độ ônhiễm của môi trường Từ đó, đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời nhằm quihoạch để sử dụng, khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường ven biển một cáchhợp lý, giảm thiểu tác hại của các hoạt động nhân sinh

Xuất phát từ những định hướng đầu tiên và cơ bản đó, mục tiêu và nhiệm

vụ của đề tài được xác định là:

1 Mục tiêu:

Tính toán các thông số thu được bằng phương pháp phân tích thành phầnchính nhằm tìm ra các xu hướng biến đổi địa hóa của môi trường, cho phép dựđoán và đặt ra các giả thiết về sự biến động đó

Trang 4

2 Nhiệm vụ:

- Xác định vai trò của các yếu tố địa phương tới trầm tích ven biển (sosánh các dấu ấn lưu lại trong trầm tích ở 3 khu vực khác nhau về kiểuđường bờ, nền địa chất, mức độ trưởng thành của thực vật ngập mặn,hoạt động nhân sinh, …để xác định sự tác động của từng yếu tố địaphương)

- Xác định khả năng ô nhiễm ở mỗi khu vực (so sánh hàm lượng KLNvới chuẩn Canada)

- Xác định sự phân dị môi trường khi chuyển hóa RNM thành ĐNT về:

 Điều kiện thủy thạch động lực và mức độ phong hóa củanguồn trầm tích (phản ánh qua thông số độ hạt)

 Nguồn vật liệu hữu cơ (phản ánh qua thông số cacbon hữucơ) (nếu có)

 Địa hóa học (các nguyên tố đa lượng)

 Các chất ô nhiễm vi lượng (các kim loại nặng)

- Nghiên cứu sự phân dị ở 3 khu vực khác nhau để xác định tính phổbiến của các xu hướng

Các kết quả xác minh sự phân dị này sẽ giúp cho việc phát hiện các nguyên nhân gốc rễ dẫn đến việc suy thoái môi trường, giảm năng suất thủy – hải sản

Đó cũng chính là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp sử dụng khôn khéo tài nguyên và môi trường ven biển, phục vụ phát triển bền vững kinh tế -

xã hội

Trang 5

Chương 1

ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NHÂN SINH ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI

TRƯỜNG TRẦM TÍCH KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1 Cửa sông Hồng

Đồng bằng sông Hồng thuộc Bắc bộ Việt Nam nằm ngay cạnh phía Namcủa đường Bắc chí tuyến, giữa vĩ độ 22°00’ và 20°30’ Bắc với kinh độ 105°30’ và107°00’ Đông Nó có hình dáng điển hình của vùng châu thổ (Ảnh 1), với đáy làđường bờ biển kéo dài 130 km từ trung tâm mỏ than và cảng thành phố Hạ Long ởphía Bắc, đến điểm cực Nam của tỉnh Ninh Bình ở phía Nam Nếu coi đỉnh tamgiác là ở Việt Trì, thì diện tích tổng cộng của đồng bằng sông Hồng khoảng16.644 km2

Ảnh 1 Châu thổ sông Hồng nhìn từ vệ tinh Nguồn: Google Earth 2007

Trang 6

Khu trung tâm của vùng đồng đồng bằng sông Hồng rất bằng phẳng, phầnlớn nằm ở độ cao từ 0,4m đến 12m so với mực nước biển, với 56% độ cao thấphơn 2m Tuy nhiên, cũng có những khu vực đất cao, dưới dạng cacxtơ đá vôi hìnhthành các đồi riêng biệt giống như các đỉnh núi nhọn và những dãy đồi núi chạydọc theo 2 cánh Tây – Nam và Đông – Bắc của vùng.

Khí hậu là nhiệt đới và cận nhiệt đới, với gió mùa của vùng Đông Á đóngvai trò chủ đạo Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 22,5°C - 23,5° C vàlượng mưa trung bình năm 1400 mm – 2000 mm

Hệ thống sông Hồng bao gồm các cửa : Ba Lạt ở bờ biển giáp ranh hai tỉnh Nam Định và Thái Bình và các cửa phụ : Lạch Giang (sông Ninh Cơ tỉnh Nam

Định, cửa Đáy (sông Đáytỉnh Ninh Bình), cửa Lân ( Thái Bình), cửa Trà Lý (sôngTrà Lý tỉnh Thái Bình), cửa Diêm Điền (sông Diêm Điền, tỉnh Thái Bình) và cửa

Hà Lận (tỉnh Nam Định) Sông Hồng có chiều dài 1142 km, là kênh dẫn nước vàvật liệu trầm tích từ khắp vùng lưu vực rộng lớn đổ ra biển Tải lượng phù sa đạttới 114.000 tấn/m3, lắng đọng chủ yếu tại khu vực cửa sông, làm cho tốc độ mởrộng đất lấn biển tại cửa chính Ba lạt đạt tới 50 – 100 m / năm

Vùng cửa sông và ven biển châu thổ sông Hồng là nơi có tiềm năng lớn vềthủy sản cùng với hệ sinh thái đa dạng của rừng ngập măn nước, các vùng bãi triềucũng như các sinh cảnh khác đặc biệt là các rừng ngập mặn Tuy nhiên rừng ngậpmặn bao phủ ở Việt Nam đã giảm từ 400,000 – 500,000 ha từ năm 1943 xuốngcòn 180,000 – 200,000 ha năm 1995 và còn tiếp tục suy giảm cho tới ngày nay

Tiềm năng thủy sản lớn, tiềm năng du lịch

Mật độ dân cư ở đồng bằng châu thổ là cao nhất Việt Nam (1.192người/km2) với tổng dân số của vùng là 17.649.700 nghìn người Chính điều nàycùng với việc gia tăng dân số nhanh cộng với tăng trưởng kinh tế làm cho việc sửdụng các nguồn tài nguyên ở các vùng ven biển và cửa sông bị quá mức và thiếu

ổn định Việc thay thế chặt phá các khu rừng ngập mặn để làm đầm nuôi thủy sản

và sự khai thác thủy sản thiếu tính bền vững đã gây ra quá trình suy thoái môitrường, giảm năng suất thủy hải sản, ảnh hưởng xấu đến sự đa dạng sinh học.Ngoài ra, việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp trên khắp lưu vực sông Hồng

đã tạo ra nguồn thải lớn, chứa nhiều chất ô nhiễm độc hại (kim loại nặng, thuốc trừsâu) có thể theo các kênh dẫn và hệ thống sông đưa ra lắng đọng ven biển

Các yếu tố này đều có thể là nguyên nhân dẫn đến các biến đổi địa hóa môi trường trong trầm tích ven biển

Trang 7

Bảng 1.1 Những hệ số cơ bản trong sự hình thành và hoàn thiện trầm tích ven biển

Lạnh vào mùa đông

Mùa mưa vào mùa hèMùa khô vào mùa đông

II Đại dương học

Trung bình: 1.9 – 2.6 mCao nhất: 3.2 – 4 m

Diễn ra không theo chu kì nhất địnhTrung bình: 0.5 m

Cao nhất: 1.5 – 2 m

Độ cao trung bình: 0.73 m

Độ cao lớn nhất: 5.6 mTrong giông bão: 7 – 8 m

Dọc theo đường bờ: (3)Cao trung bình: 1.0 mCao nhất: 3.5 mTrong giông bão: 7 – 12 m

Độ pH của nước

biển:

8.0 - 8.4

III Thủy văn

~ 1cm/năm ở đầm nuôi tôm

0.05 – 0.1 cm/ năm trong các khiên bờ biển (3)

~0.03 cm/năm

~0.02 cm/năm

~0.02 cm/năm Vòng đổi mực

Trang 8

Khu vực Đầm Môn nằm trong vịnh Văn Phong và thuộc bán đảo Hòn Gốm.

Ảnh 2: Khu vực Đầm Môn nhìn từ vệ tinh Nguồn: Google Earth 2007

Đầm Môn có diện tích khoảng 128 km2, và số dân 4.300 người Đây là nơi

có rất nhiều thuận lợi về kinh tế và du lịch nhờ thiên nhiên ưu đãi Nằm cách thànhphố Nha Trang khoảng 80 km về phía Bắc, Đầm Môn gắn liền với hệ thống nhữngcồn cát chạy dài và khoảng 20 đảo lớn nhỏ Nơi đây còn đặc trưng bởi những khurừng nguyên sinh và những cánh rừng ngập mặn hàng trăm năm tuổi là nơi có đadạng sinh học khá cao

Do cấu tạo đường bờ của khu vực tạo ra nhiều vũng vịnh, bãi triều cửa sôngven biển rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản đặc biệt là tôm, cá con và nuôi

Trang 9

trai ngọc Tuy nhiên, do sự phát triển ồ ạt, công tác quy hoạch vùng nuôi và xử lýmôi trường của các đầm tôm chưa theo kịp nên đã xảy ra tình trạng ô nhiễm môitrường Hàng trăm hecta rừng ngập mặn và rừng phòng hộ bị chặt phá để lấy diệntích canh nuôi đã gây ra những tác hại lớn đến môi trường Hiện nay chỉ còn lại 25hecta rừng ngập mặn phân bố ven dọc bờ bán đảo Hòn Gốm, điển hình như ở thônTuần Lễ Đây cũng chính là vị trí lấy mẫu phân tích để thực hiện các mục tiêu củabáo cáo (Ảnh 2 ).

Khí hậu, thủy hải văn của vùng được tổng kết rất đầy đủ trong bảng 1.1

Trang 10

nguồn gốc từ các con sông này và từ sự phong hóa các sản phẩm của các dãy núibao quanh.

Khác với khu vực cửa sông Hồng tiếp xúc trực tiếp với biển, các trầm tíchtrong đầm Nha Phu bị che chắn bởi chính hệ đầm phá và các đảo nhỏ, do đó cóchế độ đối lưu nước kém hơn

Các trầm tích ven biển cũng gắn liền với đường bờ dốc núi và delta nhỏ, lànơi tập trung dân cư Rừng ngập mặn ở đây phát triển khá phong phú, có tuổikhoảng 20 – 30 năm, tuy nhiên từ những năm 1980 trở lại đây đã bị khai thácmạnh mẽ để làm đầm nuôi trồng thủy sản

Cự, 1998, 1999; Nguyễn Thị Minh Ngọc, 2006, Nguyễn Thị Thục Anh, 2007 vv.).Tuy nhiên, các tài liệu này đều chưa sử dụng phương pháp phân tích xu hướngphân dị dựa vào tương quan giữa các thông số

Vào những năm 40 của thế kỉ XX các phương pháp toán học bắt đầu xâmnhập vào địa chất học Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ của máy tính điện tử, toán họcngày càng được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của ngành khoa họcnày, và góp phần quan trọng vào sự phát triển rực rỡ của khoa học Địa Chất trongthời đại này Các phương pháp toán như phân tích thống kê, lập ma trận tươngquan, phân tích thành phần chính được sử dụng khá rộng rãi cho các thông số phântích của địa chất nội sinh Đối với các thành tạo ngoại sinh như trầm tích ven biển

Trang 11

thì các phương pháp phân tích thống kê và lập ma trận tương quan hầu như chỉđược sử dụng cho số liệu độ hạt.

Do vậy, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu sự phân dị địa hóa của môi trường bãitriều chịu tác động nhân sinh bằng phương pháp phân tích thành phần chính, nhằmmục đích xác minh các quá trình biến đổi và nguyên nhân gốc rễ của chúng

2.2.Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp phân tích

Đối tượng khảo sát chú trọng vào tầng trầm tích bề mặt tới độ sâu 1m, tươngứng với khoảng 50 năm bồi tích ở cửa sông Hồng và < 500 năm bồi tích ở đới bờNam Trung Bộ

- Phân tích thành phần độ hạt bằng phương pháp nhiễu xạ Laser, sử dụngmáy đo Analysette 22

- Phân tích thành phần hóa học bằng phương pháp nhiễu xạ hình quang tia X,

sử dụng máy đo X – Ray Fluorescence

- Các nguyên tố chính (SiO2, MgO, FeO, Al2O3, ), nguyên tố vết ( các kimloại nặng ) được phân tích bằng phương pháp nhiễu xạ hình quang sử dụngmáy đo Philips PW 2404

- Phân tích hàm lượng cacbon hữu cơ bằng phương pháp p/t C-S với sự hỗtrợ của máy đo C-S 500

Các thông số chúng tôi dùng cho việc tính toán trong đề tài này được dựa trênkết quả phân tích nêu trong tài liệu của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2006)

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

a Phân tích thống kê

Đối với mỗi môi trường trầm tích, chúng tôi thực hiện tính giá trị trungbình, giá trị lớn nhất (max), giá trị nhỏ nhất (min) và độ lệch chuẩn (stdv) bằngphần mềm Excel

b Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA)

Số liệu được phân tích bằng phương pháp phân tích thành phần chính dựa trên sự hỗtrợ của các phần mềm SPSS và Origin Vậy phương pháp phân tích thành phần chính là gì?

Phương pháp phân tích thành phấn chính là một phương pháp toán dùng để thu gọn hệ đa biến các thông số phân tích thành một số ít các nhóm thông số tương quan chặt với nhau, tương ứng

Trang 12

với các xu hướng tiềm ẩn chi phối toàn bộ tập số liệu Đây là một trong những phương pháp có hiệu lực nhất để phân tích các tham số chính yếu.

Ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là ở chỗ từ những tham số ít đăc trưng tạo rađược những tham số đặc trưng hơn và có thể rút bớt tham số nhận dạng mà lượng thông tin mất đikhông đáng kể

Giả sử trên một đối tượng Địa chất, ta quan trắc m tham số và được bộ m vectơ (x1, x2,

….,xm) Vấn đề đặt ra là tìm phép biến đổi tuyến tính m vectơ ngẫu nhiên đó thành p véctơ mới (z 1, z2,

…,zp), với p < m, sao cho mỗi vectơ này (vectơ mới) chứa nhiều thông tin ban đầu nhất Các biến đóđược viết dưới dạng:

z1 = α11x1 + α12x2 + … + α1mxm

z2 = α21x1 + α22x2 + … +α2mxm

………

zp = αp1x1 + αp2x2 + … +αpmxm

z1, z2, ……, zp được gọi là các thành phần chính Trong mỗi thành phần chính, các thông

số có tương quan chặt với nhau và các thành phần chính thì độc lập tuyến tính với nhau

Trong thực tế, p thường được chọn bé hơn m, nhưng lượng thông tin chứa trong đó vẫntương đối đầy đủ Khả năng chứa đựng thông tin của các thành phần chính so với các giá trị thông sốban đầu được xác định bằng tham số V (%) (total variance explained) Do vậy, phương pháp thànhphần chính cho phép rút bớt tham số nhận dạng một cách đáng kể Điều đó làm nhẹ nhàng các côngthức tính toán, tránh được các nhiễu loạn ngẫu nhiên Ngoài ra việc nhận dạng dựa trên thành phầnchính lại dễ dàng và chính xác Trong nghiên cứu Địa Chất ta thường lựa chọn hai thành phần chínhthứ nhất và thứ hai để quy chiếu tập số liệu (khả năng chứa đựng thông tin C = ~ 70 - 90%) và dovậy có thể đưa lên hệ trục tọa độ vuông góc, thuận lợi cho việc bình luận kết quả Trên biểu đồ này,các thông số được biểu diễn bằng vectơ và quy chiếu vào trục loading của 2 thành phần chính

Các thông số càng có tương quan chặt tương ứng với các vectơ có vị trí đỉnh mũi tên cànggần nhau Các tham biến (tương ứng với trọng số giá trị phân tích của mỗi mẫu trầm tích) được biểudiễn bằng điểm (xy), và quy chiếu vào trục score của 2 thành phần chính Các tham biến càng cótương quan chặt tương ứng với các điểm có tọa độ càng gần nhau

Các số liệu dùng cho phân tích thành phần chính bao gồm 2 nhóm chính:

Trang 13

- Phân tích 3 bộ các thông số trầm tích tương ứng với 3 khu vực: cửa sôngHồng, Đầm Môn, Nha Phu nhằm mục đích xác định xu hướng phân dị dọc

bờ biển Việt Nam, liên quan với các yếu tố khác nhau về địa hình, địa chất,thủy – hải văn, lưu vực đi kèm, hoạt động nhân sinh, mức độ trưởng thànhcủa rừng ngập mặn,…

- Tại mỗi khu vực, phân tích xu hướng phân dị giữa các thông số của trầmtích bãi triều thấp, rừng ngập mặn và đầm nuôi tôm nhằm mục đích xácđịnh xu hướng phân dị địa hóa do các quá trình biến đổi môi trường gây ra Cùng với sự hỗ trợ của các phần mềm SPSS và Origin, phương pháp phân tích thành phần chính

đã cho phép chúng tôi thu được nhưng kết quả khả quan về sự phân dị thành phần hóa học cũng nhưthành phần độ hạt, các kim loại nặng ở 3 khu vực nghiên cứu, phục vụ đắc lực cho việc đánh giá mức

độ, tác hại của việc chuyển hóa rừng ngập mặn thành đầm nuôi tôm Kết quả này sẽ được nêu rõ ởchương 3

Chương 3

TỔNG HỢP VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

3.1 So sánh sự phân dị giữa ba khu vực – vai trò của các yếu tố địa phương

3.1.1 Sự phân dị cấp hạt giữa 3 khu vực

Kết quả phân tích thành phần chính cho ba nhóm thông số độ hạt của trầmtích 3 khu vực cửa sông Hồng (RRD), Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP)được chỉ ra trong hình 3.1

Có thể thấy các thông số độ hạt có xu hướng tách thành 3 nhóm:

- cấp 200 – 630 µm đi cùng với > 630 µm, tương ứng với các cấp hạt cát thô

- cấp 20 – 63 µm đi cùng với 63 - 200 µm, tương ứng với các cấp hạt bột –cát mịn

- cấp < 2 µm đi cùng với 2 – 6.3 µm và 6.3 – 20 µm, tương ứng với các cấphạt bột – sét

Điều này phản ánh khả năng có 3 quá trình thủy thạch động lực chính đã đượclưu dấu lại bằng sự phân dị này Chúng tôi dự đoán là: tác động do gió mang cát từcác đảo đến (ứng với các cấp hạt cát thô), tác động do thủy triều - biển (ứng với

Trang 14

các cấp hạt bột – cát mịn) và tác động do sông – đất liền (tương ứng với các cấphạt bột – sét) Tuy nhiên, để khẳng định thì cần phải có các nghiên cứu chi tiết hơn

về các thông số thủy – hải văn

Hình 3.1 Biểu đồ phân dị thành phần độ hạt giữa 3 khu vực: cửa sông Hồng

(RRD), Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP) C = 85.6%

Mặt khác, quan sát trên biểu đồ ở hình 3.1 còn có thể thấy vị trí trọng sốcủa các mẫu ở Đầm Môn gần với vị trí các thông số cấp hạt cát thô, trong khitrọng số các mẫu ở cửa sông Hồng gần với vị trí các thông số cấp hạt mịn, vàtrọng số mẫu ở Nha Phu thì lại nằm ở vị trí trung gian giữa 2 khu vực Đầm Môn

Trang 15

So sánh với số liệu trung bình nêu trong bảng 3.1 thì thấy hàm lượng cát ởbãi triều Đầm Môn (74%) cao hơn nhiều so với bãi triều đầm Nha Phu (43%) vàcửa sông Hồng (5%) Trong khi hàm lượng sét ở cửa Sông Hồng (25%) lại caohơn hẳn Nha Phu (13%) và Đầm Môn (6%).

Điều này cho thấy rằng các yếu tố địa phương đã để lại dấu ấn rất rõ rệt vềmặt độ hạt tại các khu vực tương ứng này Khu vực Đầm Môn chịu tác động chủyếu của sự biến động cấp hạt thô, do đây là vùng ven bán đảo chịu ảnh hưởng chủyếu bởi cát biển và cát từ đảo được gió biển chuyển đến Khu vực cửa sông Hồnggắn liền với đồng bằng châu thổ rộng lớn, hệ thống các sông dài và con sông Hồng

có tải lượng phù sa rất lớn (114.000 tấn/ năm), tốc độ bồi tụ trầm tích lục nguyênlớn nên được đặc trưng bởi vật liệu trầm tích hạt mịn bột – sét Còn đầm Nha Phu,vừa chịu tác động của đường bờ dốc núi ven biển, vừa gắn với châu thổ nhỏ nênmang đặc tính trung gian về cấp hạt so với Đầm Môn và cửa sông Hồng

3.1.2 Sự phân dị địa hóa giữa 3 khu vực

Hình 3.2 Biểu đồ phân dị hóa học giữa 3 khu vực: cửa sông Hồng (RRD),

Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP) C = 84.457%

Nhìn vào biểu đồ hình 3.2 có thể nhận thấy có sự phân dị về địa hóa giữa 3khu vực, gắn liền với 3 xu hướng khá rõ rệt, đó là :

Trang 16

- Khu vực Đầm Môn gắn liền với biến động Si, khu vực cửa sông Hồng gắnliền với biến động Mn và Ti trong khi khu vực đầm Nha Phu gắn liền với biếnđộng Ca, Na, Mg.

- Đầm Môn và Nha Phu có thành phần hóa học gần gũi với nhau hơn, sovới cửa sông Hồng Điều này phản ánh sự tác động của yếu tố nền địa chất địaphương

Bảng 3.2 Giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố đa lượng 3 khu vực

So sánh với giá trị hóa học trung bình (bảng 3.2) thấy khu vực Đầm Môngiàu SiO2 hơn 2 khu vực còn lại, chứng tỏ sự gắn liền với cát thạch anh Cửa sôngHồng có sự tăng lên của Mn và Ti, phản ánh khả năng có quá trình tái phân bố của

sa khoáng chứa Ti hoặc keo Mn, cần nghiên cứu thêm Nha Phu giàu Ca, Na liênquan đến các khoáng vật fenspat phong hóa và chuyển tới từ các núi ven biển

Các xu hướng trên gắn liền với các yếu tố địa chất mang tính địa phươngcủa từng vùng Khu vực cửa sông Hồng đặc trưng là địa hình đồng bằng rộng lớnvới quá trình lắng đọng trầm tích luc nguyên, cùng với hoạt động nhân sinh caonên có sự phân dị rất lớn về thành phần hóa học, khác hẳn 2 khu vực còn lại Đặctrưng là xu hướng tăng làm lượng MnO và TiO2.Còn ở khu vực Đầm Môn và NhaPhu do hoạt động nhân sinh yếu nên độ phân dị cũng không đáng kể Đầm Mônđăc trưng là quá trình tăng hàm lượng cát thạch anh, còn đầm Nha Phu lai đặctrưng với quá trình làm giàu khoáng fenspat chứa Na, K, Ca

3.1.3 Sự phân dị hàm lượng nguyên tố vi lượng giữa 3 khu vực

Trang 17

Hình 3.3 Biểu đồ phân dị hàm lượng nguyên tố vi lượng giữa 3 khu vực:cửa Sông Hồng (RRD), Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP) C = 85.43%

Nhìn vào biểu đồ hình 3.3 ta thấy có 3 xu hướng phân dị Trong đó khu vựccửa sông Hồng có sự phân dị rõ ràng nhất còn 2 khu vực còn lại tuy có sự phân dịnhưng là không đáng kể

Khu vực cửa Sông Hồng đặc trưng bởi trầm tích bùn lục nguyên tương đốiđồng nhất, chứa ít vật liệu hữu cơ nhưng lại có sự làm giàu của các kim loại nặng(Cu, Pb, Zn, Cr…) do sự tích tụ của trầm tích bùn ở cửa sông, bãi triều thấp Thậmchí hàm lượng kim loại nặng ở đây còn cao hơn so với tiêu chuẩn Canada (hàmlượng Pb trung bình ở cửa sông Hồng là 103 cao hơn so với tiêu chuẩn Canada

Bảng 3.3 giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố vi lượng 3 khu vực

Ở Đầm Môn và Nha Phu trầm tích gắn liền với sự tích tụ do gió của cácthành tạo cát thạch anh và các hoạt động dịch chuyển của các cồn cát, do đó tốc độ

Ngày đăng: 19/12/2014, 08:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Những hệ số cơ bản trong sự hình thành và hoàn thiện trầm tích ven biển - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Bảng 1.1 Những hệ số cơ bản trong sự hình thành và hoàn thiện trầm tích ven biển (Trang 7)
Hình 3.1 Biểu đồ phân dị thành phần độ hạt giữa 3 khu vực: cửa sông Hồng (RRD), Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP) - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.1 Biểu đồ phân dị thành phần độ hạt giữa 3 khu vực: cửa sông Hồng (RRD), Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP) (Trang 14)
Bảng 3.1 giá trị trung bình độ hạt 3 khu vực - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Bảng 3.1 giá trị trung bình độ hạt 3 khu vực (Trang 14)
Hình 3.2 Biểu đồ phân dị hóa học giữa 3 khu vực: cửa sông Hồng (RRD),  Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP) - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.2 Biểu đồ phân dị hóa học giữa 3 khu vực: cửa sông Hồng (RRD), Đầm Môn (DM) và đầm Nha Phu (NP) (Trang 15)
Bảng 3.2 Giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố đa lượng 3 khu vực So sánh với giá trị hóa học trung bình (bảng 3.2) thấy khu vực Đầm Môn giàu SiO 2  hơn 2 khu vực còn lại, chứng tỏ sự gắn liền với cát thạch anh - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Bảng 3.2 Giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố đa lượng 3 khu vực So sánh với giá trị hóa học trung bình (bảng 3.2) thấy khu vực Đầm Môn giàu SiO 2 hơn 2 khu vực còn lại, chứng tỏ sự gắn liền với cát thạch anh (Trang 16)
Hình 3.3 Biểu đồ phân dị hàm lượng nguyên tố vi lượng giữa 3 khu vực: - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.3 Biểu đồ phân dị hàm lượng nguyên tố vi lượng giữa 3 khu vực: (Trang 17)
Bảng 3.3 giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố vi lượng 3 khu vực Ở Đầm Môn và Nha Phu trầm tích gắn liền với sự tích tụ do gió của các thành tạo cát thạch anh và các hoạt động dịch chuyển của các cồn cát, do đó tốc độ - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Bảng 3.3 giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố vi lượng 3 khu vực Ở Đầm Môn và Nha Phu trầm tích gắn liền với sự tích tụ do gió của các thành tạo cát thạch anh và các hoạt động dịch chuyển của các cồn cát, do đó tốc độ (Trang 17)
Hình 3.4 Biểu đồ phân dị thành phần độ hạt khu vực Đầm Môn - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.4 Biểu đồ phân dị thành phần độ hạt khu vực Đầm Môn (Trang 19)
Hình 3.5 Biểu đồ phân dị thành phần độ hạt lhu vực Nha Phu - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.5 Biểu đồ phân dị thành phần độ hạt lhu vực Nha Phu (Trang 20)
Hình 3.6 Biểu đồ phân dị các nguyên tố đa lượng khu vực cửa sông Hồng Tại khu vực đồng bằng cửa sông Hồng, do sự tập trung đông dân cư cùng với các tác động nhân sinh lên tầng trầm tích bề mặt rất lớn với tốc độ cao đã khiến cho sự phân dị về thành phần h - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.6 Biểu đồ phân dị các nguyên tố đa lượng khu vực cửa sông Hồng Tại khu vực đồng bằng cửa sông Hồng, do sự tập trung đông dân cư cùng với các tác động nhân sinh lên tầng trầm tích bề mặt rất lớn với tốc độ cao đã khiến cho sự phân dị về thành phần h (Trang 21)
Hình 3.7 Biểu đồ phân dị các nguyên tố đa lượng khu vực Đầm Môn - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.7 Biểu đồ phân dị các nguyên tố đa lượng khu vực Đầm Môn (Trang 22)
Bảng 3.4 Giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố đa lượng khu vực Đầm Môn - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Bảng 3.4 Giá trị trung bình hàm lượng các nguyên tố đa lượng khu vực Đầm Môn (Trang 22)
Hình 3.8 Biểu đồ phân dị các nguyên tố đa lượng khu vực Nha Phu - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.8 Biểu đồ phân dị các nguyên tố đa lượng khu vực Nha Phu (Trang 23)
Bảng 3.5 Giá trị trung bình các nguyên tố đa lượng khu vực đầm Nha Phu Từ bảng 3.5 ta thấy khi chuyển đổi từ môi trường RNM thành ĐNT thì hàm lượng Ca tăng từ 1.41% lên 1.50%, Na tăng từ 1.57% lên 1.90% chứng tỏ có quá trình làm giàu khoáng fenspat có chứ - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Bảng 3.5 Giá trị trung bình các nguyên tố đa lượng khu vực đầm Nha Phu Từ bảng 3.5 ta thấy khi chuyển đổi từ môi trường RNM thành ĐNT thì hàm lượng Ca tăng từ 1.41% lên 1.50%, Na tăng từ 1.57% lên 1.90% chứng tỏ có quá trình làm giàu khoáng fenspat có chứ (Trang 24)
Hình 3.9 Biểu đồ phân dị các nguyên tố vi lượng khu vực cửa Sông Hồng Xu hướng phân bố theo độ sâu cột trầm tích đã bị biến đổi khi chuyển hóa RNM thành ĐNM - nghiên cứu sự phân dị trầm tích bãi triều khi chuyển đổi môi
Hình 3.9 Biểu đồ phân dị các nguyên tố vi lượng khu vực cửa Sông Hồng Xu hướng phân bố theo độ sâu cột trầm tích đã bị biến đổi khi chuyển hóa RNM thành ĐNM (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w