MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU: Mục đích: Giúp mọi người hiểu rõ hơn về bản chất của ứng xử tronggiao tiếp giữa thầy và trò theo quan điểm hoạt động và giáo dục, đồng thờicũng chỉ ra một số khó kh
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo dục luôn đóng một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triểncủa đất nước và sự tiến bộ xã hội Mục tiêu của giáo dục là dạy làm người,nghĩa là rèn luyện đạo đức và nhân cách con người Giáo dục đồng thời cungcấp kiến thức, kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, vănminh
Trong đó, nhà trường Trung học Phổ thông luôn nhận được nhiều sựquan tâm hơn cả của cộng đồng xã hội, bởi lẽ đối tượng giáo dục trong môitrường Trung học Phổ thông chính là những chủ nhân tương lai của đất nước,trực tiếp giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng, phát triển xã hội Đặcđiểm ở lứa tuổi này là “cái tôi” được hình thành, rất năng động, nhanh nhẹn,sáng tạo nhưng cũng đồng thời thích tự khẳng định mình, nhạy bén với cáimới Bởi vậy, để đạt được chất lượng giáo dục tối ưu, không chỉ quan tâmtới phương pháp dạy học mà đồng thời, đối với người dạy- giáo viên, còn cầnthỏa mãn yêu cầu về phong cách ngôn ngữ và năng lực sư phạm, mà chủ yếu
là khả năng ứng xử trước các tình huống sư phạm
Do vậy, xây dựng văn hóa ứng xử sư phạm trong nhà trường Trung họcPhổ thông có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục Qua việcnhìn nhận, đánh giá chính xác được tầm quan trọng của kỹ năng này, ngườilàm công tác giáo dục cũng như học sinh, sinh viên sẽ tham gia vào xây dựnghoạt động giáo dục trong thực tiễn một cách có hiệu quả hơn
2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:
Mục đích: Giúp mọi người hiểu rõ hơn về bản chất của ứng xử tronggiao tiếp giữa thầy và trò theo quan điểm hoạt động và giáo dục, đồng thờicũng chỉ ra một số khó khăn mà giáo viên thường gặp phải khi giải quyết cáctình huống sư phạm trong hoạt động ứng xử ở phạm vi nhà trường Phổ thôngTrung học
Yêu cầu: Nắm vững được nội dung, lý thuyết về giao tiếp và ứng xử
sư phạm
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Người dạy- giáo viên, người học- học sinh, cùng các thành viên có liênquan đến việc dạy và học trong môi trường Phổ thông Trung học
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Kết hợp phương pháp logic với so sánh, phương pháp điều tra, phỏngvấn, phương pháp tổng hợp, phân tích, chứng minh
Trang 2Chương 2 Cơ sở lý thuyết trong giao tiếp và ứng xử sư phạm
Chương 3 Quy trình ứng xử sư phạm và một số nguyên nhân dẫn tới
khó khăn trong ứng xử sư phạm
7 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Nhận thức tầm quan trọng của giao tiếp và ứng xử sư phạm trong môitrường dạy- học Từ đó có kiến thức, có ý thức xây dựng môi trường giáo dục
có văn hóa, bảo vệ và khẳng định những cái tiến bộ, đẹp đẽ, phù hợp với thờiđại, đồng thời đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực
Trang 3PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ SƯ PHẠM
Không phải đến bối cảnh đất nước ta phát triển theo con đường côngnghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, văn hóa học đường nói chung và văn hóaứng xử sư phạm nói riêng mới được quan tâm, chú trọng, mà ngay từ thời xa
xưa, ông cha ta đã có câu: Tiên học lễ, hậu học văn Con người ta, muốn trở thành hiền tài, trước hết phải học cái lễ, học cách đối nhân xử thế, ứng xử sao
cho có đạo lý trong các mối quan hệ xã hội: gia đình, thầy trò, bạn bè Vàmối quan hệ giữa thầy và trò là yếu tố quan trọng nhất trong việc hình thành
và xây dựng văn hóa học đường
Trong hoạt động giáo dục và giáo dưỡng luôn có những tình huống nảysinh, yêu cầu người làm công tác giáo dục lẫn được giáo dục trong nhà trườngphải có những cách thức, phương thức giải quyết – đó chính là ứng xử sưphạm Ứng xử sư phạm được coi là một dạng hoạt động giao tiếp giữa thầy vàtrò, với mục đích giáo dục nói chung Họ là những con người cụ thể, ở những
vị trí xã hội khác nhau, có trách nhiệm quyền hạn và lợi ích xác định, đồngthời ở mỗi người trong họ có một hoàn cảnh về gia đình, đời sống tâm lý vànhững mối quan hệ riêng biệt; bởi vậy không phải lúc nào lý thuyết cũng ápdụng chính xác được trong thực tiễn
Do đó, vấn đề đặt ra trước hết là xây dựng hệ thống lý thuyết cơ bản vềứng xử sư phạm, sau đó vận dụng vào hoạt động thực tiễn sao cho phù hợp,dựa trên cả nhận thức lý tính lẫn cảm tính, kinh nghiệm ở cả hai phía ngườidạy và người học; từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục
Trang 4CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT TRONG GIAO TIẾP
VÀ ỨNG XỬ SƯ PHẠM
1.GIAO TIẾP VÀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM:
1.1 Khái niệm giao tiếp:
Giao tiếp là một trong những đặc trưng nổi bật, cơ bản tạo nên tínhngười, phản ánh bản chất của con người, vừa như là phương thức liên kết giữacon người với con người, giữa con người với tự nhiên, vừa như là kết quả của
sự phát triển thế giới vật chất và của các mối quan hệ xã hội Với ý nghĩa nhưvậy, hoạt động giao tiếp là nhu cầu tất yếu của mỗi người và toàn thể xã hội.Thông qua hoạt động giao tiếp mỗi cá nhân biểu hiện mình như một chủ thể, bộc
lộ tính cách, kinh nghiệm sống và rộng hơn là cả nhân cách của một chủ thể
Xét theo nghĩa rộng, giao tiếp là sự tiếp xúc giữa những cá thể trongcộng đồng để truyền đạt nội dung nào đó Bởi vậy giao tiếp chính là một đặctrưng của xã hội, phân biệt xã hội với những quần thể không phải xã hội
Còn nghĩa hẹp của giao tiếp, theo Berge, là quá trình thông tin diễn ragiữa ít nhất 2 người, trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tìnhhuống nhất định Trong đó, ngữ cảnh là thời gian, không gian, môi trường vănhóa mà ở đó người nói lấy sự việc, hiện tượng, cách thức để thực hiện giaotiếp; tình huống là khung sự việc được lặp đi lặp lại nhiều lần theo kịch bảncho sẵn
Thêm vào đó, theo cách hiểu tin học, giao tiếp là sự truyền thông tin từđiểm này đến điểm khác
Trang 51.2 Mô hình của giao tiếp:
Theo Jacobson, mô hình của giao tiếp được xây dựng như sau:
trong đó:
- Tiếp xúc : là đường kênh vật lý hoặc tâm lý giữa người phát và ngườinhận Có thể là sự tiếp xúc trực tiếp ( như chào, bắt tay, ôm ) hay tiếp xúcgián tiếp ( như qua email, tivi, báo chí )
- Mã : là hệ thống kí hiệu được quy ước giữa hai người ( như bộ quytắc ngữ pháp, hệ thống từ vựng, cử chỉ )
1.3 Khái niệm giao tiếp sư phạm:
Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính chất nghề nghiệp giữa giáo viênvới học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục, có chức năng sư phạmnhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng không khí tâm lý thuận lợi,cùng các quá trình tâm lý khác (chú ý, tư duy…) có thể tạo ra kết quả tối ưucủa quan hệ thầy trò, trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạycũng như hoạt động học
Giao tiếp sư phạm là một thành phần cơ bản của hoạt động sư phạm vìnhững hình thức cơ bản của dạy học và giáo dục như giảng bài trên lớp, phụđạo, thi cử… đều diễn ra trong điều kiện giao tiếp Nếu không có giao tiếp thìmối quan hệ thầy trò sẽ xa cách, rời rạc, khó đạt được mục đích giáo dục
Có thể hiểu rằng giao tiếp giữa con người với con người trong hoạtđộng sư phạm được gọi là giao tiếp sư phạm Vậy, hoạt động nào được gọi làhoạt động sư phạm ? Chúng ta biết rằng giáo dục là sự nghiệp của quầnchúng, nó được tiến hành ở mọi ngành, mọi cấp, trong từng khu phố, thôn
Thông điệp
nhậnNgữ cảnh
Tiếp xúcMã
Trang 6xóm và gia đình, ở tất cả các cơ sở kinh tế và văn hóa bên cạnh nhà trường,giáo dục còn được diễn ra ngoài xã hội, trong gia đình, tất nhiên giáo dục nhàtrường quyết định chiều hướn phát triển nhân cách học sinh Vì nhà trường là
cơ quan chuyên trách công tác giáo dục, là tổ chức xã hội dẫn đầu với nhữngphương pháp giảng dạy khoa học nhằm xây dựng cho con người một nhâncách phát triển toàn diện Như vậy, hoạt động giáo dục rộng lớn bao hàmtrong đó cả hoạt động sư phạm Hoạt động giáo dục chỉ diễn ra trong nhàtrường, trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Giáo viên
là người tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục trong nhà trường được gọi làchủ thể giao tiếp với nghĩa chung nhất Học sinh là người lĩnh hội tri thứckhoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp do giáo viên truyền đạt cho Với ýnghĩa này học sinh là khách thể trong hoạt động giao tiếp sư phạm Tuynhiên, để giáo dục, dạy học đạt kết quả cao, chúng ta không thể coi học sinh
là khách thể thụ động, mà các em thực sự là một chủ thể có ý thức, hoạt độngtích cực để đón nhận tri thức khoa học của giáo viên
Quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh bao gồm giữa giáo viên
và học sinh, giữa chủ thể và khách thể, giữa chủ thể giao tiếp và chủ thể tiếpnhận, giữa chủ thể và chủ thể Các tiếp xúc tâm lý mà giáo viên cần tạo ra chohọc sinh là tiếp cận được tâm tư; xây dựng không khí tâm lý thuận lợi là tạocho học sinh có được tâm lý thoải mái khi chuẩn bị tiếp thu những tri thứcmới, các em không bị ức chế khi phải tiếp nhận thông tin từ giáo viên; cácquá trình tâm lý khác ở đây được hiểu là trí tưởng tượng, kích thích trí nhớ, sự
tư duy và hoạt động của tri giác
Từ các vấn đề đó ta thấy rằng giao tiếp sư phạm là điều kiện đảm bảohoạt động sư phạm
Về mục đích của giao tiếp sư phạm thì nằm ngay chính trong khái niệmgiao tiếp sư phạm : Nhằm truyền đạt vốn sống, kinh nghiệm, những tri thứckhoa học, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen nghề nghiệp, xây dựng và phát triểnnhân cách toàn diện ở học sinh
Còn mục đích của giáo dục là nhằm khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức,năng lực, tình cảm và thái độ của người dạy và người học theo hướng tíchcực, góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức
Trang 7từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của conngười trong xã hội, nhằm xây dựng nguồn lực con người trở thành động lựccho sự phát triển bền vững.
Như đã đề cập ở trên: Hoạt động giáo dục chỉ diễn ra trong nhà trường,trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Muốn đạt đượcmục đích của giáo dục thì trước hết phải đạt được mục đích của giao tiếp sưphạm, chính vì vậy không có giao tiếp sư phạm thì không đạt được mục đíchgiáo dục
Giao tiếp sư phạm có vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạmcủa người giáo viên, là phương tiện thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáodục và phát triển Bác Hồ đã từng nói: “Không có thầy giáo thì không có giáodục, không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế và vănhóa” Bác khẳng đinh vai trò quang trọng, không thể thiếu của người giáoviên Người giáo viên có giỏi hay không được nhận định dựa trên năng lực sưphạm của họ, trong đó giao tiếp sự phạm có vị trí quan trọng
Giao tiếp nói chung có nhiều chức năng Trong hoạt động giao tiếp sưphạm cũng có nhiều chức năng, nó là phương tiện phục vụ công việc giảngdạy, là điều kiện xã hội – tâm lý bảo đảm quá trình giáo dục, là phương thức
tổ chức các mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò
Trong việc thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giao tiếp sư phạm đảmbảo sự tiếp xúc tâm lý với học sinh: hình thành động cơ học tập tích cực, tạo
ra hoàn cảnh tâm lý cho lớp học hay nhóm để tìm tòi, nhận thức và cùng nhausuy nghĩ
Trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, nhờ có giao tiếp sư phạm
mà có thể giải quyết tốt các mối quan hệ giáo dục và sư phạm, tiếp xúc tâm lýgiữa giáo viên và học sinh; hình thành xu hướng nhận thức trong nhân cách;vượt qua sự ngăn cách về tâm lý, hình thành các mối quan hệ trên nhân cáchtrong tập thể học sinh
Trang 8Trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển, giao tiếp sư phạm tạo ra cáchoàn cảnh tâm lý kích thích việc hoàn thiện bản thân và tự giáo dục nhâncách.
Từ đó, ta thấy rằng giao tiếp sư phạm có tác động khá rộng rãi trong hoạtđộng sư phạm Giao tiếp sư phạm giữ một vị trí hết sức quan trọng và nổi bậttrong cấu trúc năng lực sự phạm, trong dạy học và giáo dục
Giao tiếp sư phạm là một khâu quan trọng trong quá trình hình thànhnhân cách, phát triển tích cực nhận thức và xã hội của học sinh trong quá trìnhhình thành tập thể học sinh:
Giao tiếp sư phạm gồm những nguyên tắc, những biện pháp và kỹ xảotác động lẫn nhau giữa giáo viên với tập thể học sinh mà nội dung cơ bản của
nó là trao đổi thông tin, sự tác động về giáo dục và học tập, việc tổ chức mốiquan hệ lẫn nhau và cũng là quá trình người giáo viên xây dựng và phát triểnnhân cách của học sinh
Giao tiếp sư phạm có những đặc thù như sau: Thứ nhất, giáo viênkhông chỉ giao tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng mà họ mà còn phải làtấm gương sáng mẫu mực về nhân cách Phải thống nhất giữa lời nói, việclàm với hành vi ứng xử Có như vậy, giáo viên mới tạo cho mình có uy tín, uytín là phương tiện tinh thần giúp giáo viên thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quảcao Thứ nhì, trong giao tiếp sư phạm, giáo viên dùng các biện pháp giáo dụctình cảm, thuyết phục, vận động đối với học sinh Thứ ba, Nhà nước và xã hội
ta rất tôn trọng giáo viên Nhân dân ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, trọngđạo lí làm người nên rất tôn trọng đối với nghề thầy giáo: “ Muốn sang thì bắccầu kiều, Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy ”
Ngoài ra, giao tiếp sư phạm còn là một thành tố trong nội dung giáodưỡng đòi hỏi cần phải dạy cho học sinh Giáo viên còn cần phải dạy cho họcsinh cả nghệ thuật giao tiếp Sự gương mẫu là rất quan trọng cho sự thànhcông của dạy học và giáo dục
Trang 9Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy rằng hoạt động giao tiếp sưphạm là một khâu quan trọng, không thể thiếu đối với người giảng viên.
1.4 Văn hóa giao tiếp sư phạm:
Văn hóa giao tiếp là tất cả những yếu tố văn hóa được người phát vàngười nhận lựa chọn, sử dụng và biểu hiện trong quá trình giao tiếp, tạo nênnhững giá trị, chuẩn mực để duy trì và phát triển xã hội tốt đẹp hơn Bởi vậy,được nâng lên thành văn hóa, quá trình giao tiếp sư phạm giữa người dạy vàngười học phải hướng tới mặt tích cực, là những nét đẹp nơi học đường, phảiđạt tới giá trị chuẩn mực, được xã hội công nhận, và nhằm xây dựng một xãhội tốt đẹp hơn
Dựa trên mô hình giao tiếp của Jacobson, có thể xây dựng mô hình vănhóa giao tiếp sư phạm như sau:
Tiếp xúc Mã
Giữa người dạy và người học có sự trao đổi thông tin- chính là sự giáodục và giáo dưỡng, có tác động tới hoạt động nhận thức của cả hai phía Với
sự tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp, cùng mã- hệ thống ngôn ngữ và phi ngônngữ
Mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò trong trường học trong văn hóahọc đường đó là khi thầy cô có cảm hứng để thể hiện bài giảng một cách khúctriết nhất, rõ rang nhất và hấp dẫn nhất, còn học sinh tập trung tư tưởng lắngnghe thầy cô giáo giảng bài, ghi chép bài đầy đủ và hiểu bài ngay trên lớp Và
Môi trường học đường
Các yếu tố văn hóa
Thông điệp
Trang 10khi đó, văn hóa giao tiếp sư phạm đã đạt hiệu quả tối ưu Đó cũng được coi làthước đo chuẩn xác nhất cho văn hóa học đường hiện nay.
2 Ứng xử và ứng xử sư phạm:
2.1 Khái niệm ứng xử:
Những phản ứng đáp lại đối với tự nhiên (theo nghĩa là thế giới vật chấtbao quanh mỗi người và theo nghĩa là những con người khác, những mốiquan hệ khác, kể cả những sản phẩm do con người tạo ra) theo cách này haycách khác có thể coi là ứng xử
Ứng xử có thể hiểu theo nghĩa hẹp đối với giới động vật, bao gồm tất
cả những phản ứng thích nghi của một cơ thể có hệ thống thần kinh thực hiệnnhằm đáp trả lại những kích thích ngoại giới trong đó đang tồn tại cơ chếsống Những phản ứng của chủ thể (cơ chế sống) và những kích thích ngoạigiới là có thể quan sát được
Trong hiện thực của xã hội, dưới ảnh hưởng của điều kiện vật chất(mức độ sở hữu tư liệu, của cải; khả năng tiếp nhận và phân chia thành phẩmlao động,.v.v ) và đời sống tinh thần (truyền thống, văn hóa, tư tưởng, tậptục, tôn giáo,v.v ) chúng ta đều có một cảm nhận chung rằng sự phân chiađẳng cấp, giai cấp và những nhóm sắc tộc đã sản sinh ra những con người cómột số nét tương đồng về suy nghĩ, hành động theo những mực thước được cả
xã hội coi là giá trị và được thừa nhận Những mực thước đó giúp mỗi cánhân có được một định hướng riêng trong ứng xử phù hợp với cộng đồng, dântộc mà mình đang tồn tại và được gọi là khuôn mẫu ứng xử
Một ứng xử có thể trở thành khuôn mẫu khi nó được lặp lại thườngxuyên bởi nhiều cá nhân trong một cộng đồng bởi những lý do sau đây: Trướchết, cho dù mỗi cá nhân có nhu cầu về tinh thần vật chất khác nhau, có nhữngcách thức thỏa mãn nhu cầu của bản thân theo bản năng của riêng mình, songgiữa họ vẫn có những mối liên kết hoặc tự giác, hoặc tự phát nhằm bảo tồn vịtrí xã hội của mỗi cá nhân Chẳng hạn, ứng xử giữa con cái với cha mẹ, mặc
dù ngôn từ có thể diễn đạt khác nhau ở mỗi cộng đồng: bố, mẹ, thầy, u, cậu,
mợ, song cái chung nhất trong ngôn ngữ ứng xử giữa con cái với bố mẹ ở mọithời đại vẫn ẩn giấu sau nó đó là sự tôn kính và thương yêu Mặt khác, nhờ có
hệ thống di sản trong sự phát triển của cá nhân, những thế hệ sau luôn luônđược thừa hưởng những khuôn mẫu ứng xử vốn có do các thế hệ đi trướctruyền lại, đó là những ứng xử đã được tổng quát hóa, tiêu chuẩn hóa và hợp
Trang 11thức hóa dùng làm chuẩn mực để phân biệt những gì có thể chấp nhận được
và những gì không thểchấp nhận được Như vậy, một khi khuôn mẫu ứng xử
về một phạm vi nào đó trong đời sống xã hội được hình thành, nó không còn
là cái riêng, cái cụ thể trong mỗi cá nhân mà đã được khách thể hóa và đượccoi như một hệ thống tiêu chí giúp mọi người lấy đó làm thước đo cho cácmối quan hệ xã hội của bản thân mình Chính vì lẽ đó, đôi khi người ta còn
gọi khuôn mẫu ứng xử là những khuôn mẫu văn hóa bởi tính khách thể hóa
những tri thức tiềm ẩn trong khuôn mẫu ứng xử
Trong xã hội có bao nhiêu mối quan hệ thì có bấy nhiêu ứng xử vàthậm chí sốlượng ứng xử còn lớn hơn nhiều lần số lượng các mối quan hệ xãhội, song một ứng xử chỉ trở thành khuôn mẫu văn hóa (theo Đoàn Văn Chúc,tác giả cuốn Xã hội hóa văn hoá) khi nó thỏa mãn 4 yếu tố sau đây: "a/ ứng
xử thường xuyên được lặp đi lặp lại, tức là tính thời gian của ứng xử; bị ứng
xử được lặp lại tương đối theo cùng một cách bởi nhiều người, tức là tínhkhông gian của ứng xử; c/ ứng xử ấy có tác dụng chỉ nam, mẫu mực, hay quytắc cho các thành viên của một nhóm hay của một xã hội; dị ứng xử ấy chứađựng một ý nghĩa xã hội nào đó, tức là nó biểu thị kiến thức tư tưởng hoặctình cảm mà chủ thể đã đạt được nói một cách khác, nó là cái mang vác mộtgiá trị (kinh tế, chính trị, luân lý hay thẩm mỹ)
Có thể nói, hệ thống khuôn mẫu ứng xử với tính cách là một khuôn mẫu văn hóa chính là những quy chuẩn đảm bảo cho các mối quan hệ xã hội
được bền vững trong những nhóm xã hội khác nhau, là cơ sở xã hội cho việcxem xét các thể loại và hoạt động ứng xử Khuôn mẫu ứng xử sở dĩ có đượckhả năng thu phục sự chấp nhận của số đông người trong các nhóm xã hộichính bởi nó đã được tổng quát hóa từ các ứng xử của mỗi cá nhân rồi thôngqua tuyển chọn để điều chỉnh, bổ sung, tạo nên những quy chuẩn và cùng với
nó là từng bước hợp thức hóa những quy chuẩn trong mỗi khuôn mẫu ứng xửbằng các biện pháp cưỡng bức (luật định, quy chế, nội quy trong cơ quan nhànước, hương ước, gia phong trong làng bản và gia đình), hoặc khuyến khích
cổ vũ sự tự ý thức của mỗi cá nhân khi họ thực hiện các quan hệ ứng xử
2.2 Khái niệm về ứng xử sư phạm:
Ứng xử sư phạm (ƯXSP) là một dạng hoạt động giao tiếp giữa nhữngngười làm công tác giáo dục và được giáo dục trong nhà trường nhằm giảiquyết các tình huống nảy sinh trong hoạt động giáo dục và giáo dưỡng Như
Trang 12vậy ƯXSP được thực hiện bởi những nhân cách (nhân cách giáo viên và nhâncách học sinh) Thầy và trò là những con người cụ thể, ở những vị trí xã hộikhác nhau, có trách nhiệm quyền hạn và lợi ích xác định, đồng thời ở mỗingười trong họ có một hoàn cảnh về gia đình, đời sống tâm lý và những mốiquan hệ riêng biệt Tuy vậy, giữa những cá nhân này có một điểm chungtrong hoạt động là đều nhằm đạt tới mục đích giáo dục tổng thể trong việchình thành nhân cách con người mới XHCN Việt Nam, các hoạt động của họđều diễn ra trong môi trường sư phạm với những đặc trưng vốn có của nó nhưquan hệ thầy trò, cảnh quan trường lớp, thời gian học tập, vui chơi,.v.v…
Các ứng xử sư phạm được thực hiện chủ yếu trong các quan hệ qua lạigiữa người làm công tác giáo dục và học sinh hoặc tập thể học sinh, chịu sựquy định và điều tiết của những chuẩn mực xã hội, quy chế, nội quy của cácthể chế và cơ quan giáo dục ấn định cho mỗi vị trí xã hội mà giáo viên hoặchọc sinh có trách nhiệm thi hành; Trình độ nhận thức, kinh nghiệm và hệthống tri thức, kỹ năng cần cho mục đích và nội dung ứng xử; Thái độ giữachủ thể và đối tượng ứng xử
Ứng xử sư phạm là một quá trình đi từ nhận thức đến hành động:
Hoạt động ứng xử có được là nhờ ở sự xuất hiện những tình huốngtrong hoạt động giáo dục Giao tiếp sư phạm và ƯXSP đều nhằm đạt tới mụcđích nào đó về giáo dục, song cái khác trong ƯXSP chính là thái độ mangmàu sắc cá nhân và các thủ thuật biểu hiện thái độ đó qua từng cử chỉ, lời nói,sắc mặt,.v.v của các chủ thể tham gia ứng xử Tác giả Ngô Công Hoàn đãnhận định rất hợp lý rằng: "khi sử dụng khái niệm giao tiếp, là muốn địnhhướng vào mục tiêu công việc (nhằm vào đích đặt trước), còn ứng xử muốnđịnh hướng chính nào nội dung tâm lý, cái "bản chất xã hội" của cá nhân củahành vi giao tiếp"
2.3 Chức năng của ứng xử sư phạm:
Nói tới chức năng của ứng xử sư phạm là nói tới vai trò đặc trưng của
nó trong sự hình thành nhân cách cho học sinh thông qua các hoạt động giáo
Tìm hiểu đốitượng ứng xử
Quan sát vàvận dụng
Thực hiện hành
vi ứng xử
Trang 13dục Chức năng của ƯXSP được xác định trên mục đích giáo dục tổng thể vàmục tiêu cấp học Những định hướng lớn này bao trùm lên tất cả hoạt độnggiáo dục, chi phối việc xác định những chức năng của những hoạt động giáodục và giáo dưỡng khác Hoạt động ứng xử có mặt trong tất cả các hoạt độnggiáo dục, vì thế chức năng của ứng xử còn có cơ sở từ tính chất riêng biệt củahoạt động này Dưới đây chúng ta sẽ xem xét một số chức năng cơ bản củahoạt động ƯXSP.
Chức năng thông tin của ứng xử sư phạm
Hoạt động ứng xử về bản chất là một hoạt động giao tiếp xã hội thôngqua các phương tiện giao tiếp vật chất và phi vật chất và nhờ có nhữngphương tiện này (ngôn ngữ, vật thể, nhân cách của các cá nhân tham gia giaotiếp) mà con người có được những mối quan hệ mang tính xã hội Sự hiểu biếtlẫn nhau giữa các cá nhân được thực hiện nhờ các kênh thông tin chứa đựngtrong các phương tiện giao tiếp
Ứng xử sư phạm là một dạng giao tiếp xã hội diễn ra giữa 2 nhóm xãhội: Giáo viên và học sinh Thầy và trò có thể hiểu biết thấu đáo nhau hơnnhờ các thông tin phát ra trong quá trình ứng xử (trước, trong và sau quá trìnhứng xử) Những thông tin có trong ứng xử giúp cho giáo viên nhận biết đượctính cách, nhu cầu, sở thích năng lực chỗ mạnh, chỗ yếu của học sinh, củanhững nhóm xã hội mà học sinh tham gia, đồng thời cũng tư nhận biết nănglực và nghệ thuật sư phạm của bản thân mình Về phía học sinh, cũng chínhtrong quá trình ứng xử các em tiếp nhận được nhiều hơn hệ thống tri thức vềcuộc sống, cung cách đói nhân xử thế, hiểu rõ vị thế của mình trong tập thểquyền lợi và trách nhiệm của bản thân trước cộng đồng, biết được tính cáchcủa thầy nhờ sự biểu đạt của thầy trong ứng xử Thông tin có được trong ứng
xử không chỉ do chủ thể ứng xử và đối tượng tạo ra mà còn nhờ ở tập thể vàcộng đồng nơi xảy ra ứng xử (tin tức cập nhật xung quanh tình huống, dư luận
và truyền thống của tập thể ) Nhờ có mối quan hệ diễn ra trong các ứng xử,những thông tin được tiếp nhận và xử lý trở nên rõ ràng hơn về bộ mặt nhâncách của cả chủ thể và đối tượng ứng xử bởi có nhiều nét tính cách của conngười chỉ được bộc lộ qua những tình huống nào đó
Lượng thông tin có trong ứng xử qua nhiều lần xử lý của chủ thể và đốitượng sẽtrở thành vốn kinh nghiệm ứng xử cho mỗi cá nhân, giúp cho mỗi cánhân hòa nhập tất hơn vào cộng đồng, vào tập thể, làm cho những cái vốn là
Trang 14chung nhất của mọi người (đạo đức lối sống ), trở thành tài sản riêng của bảnthân, có sắc thái riêng tương ứng với đặc điểm tâm lý của mỗi người Mỗi ứng
xử có thể đi tới những hiệu quả khác biệt về mặt giáo dục nhưng chức năngthông tin luôn luôn tồn tại trong suốt quá trình ứng xử
Chức năng điều chỉnh của ứng xử sư phạm
Hoạt động giáo dục nói chung là một hoạt động điều chỉnh Điều chỉnhnhận thức, điều chỉnh hành vi điều chỉnh hoạt động của học sinh Người giáoviên không thể thay thế những gì vốn đã có trong học sinh như trình độ nhậnthức, kinh nghiệm sống, các đặc điểm sinh học của các em Hoạt động giáodục đòi hỏi người giáo viên phải nắm bắt được các quy luật hình thành, pháttriển nhân cách của học sinh để định ra được nội dung, phương thức, phươngtiện giáo dục cho phù hợp Ứng xử sư phạm với tư cách là một quá trình giáodục cũng được thực hiện theo định hướng đó Mỗi ƯXSP giải quyết mộtnhiệm vụ giáo dục nhằm đạt tới những kết quả cụ thể: Đó có thể là uốn nắnmột hành vi sai lầm, khuyến khích động viên một nhân tố tốt, phê bìnhnghiêm khắc trước khuyết điểm của học sinh.v.v… và điều đó có nghĩa là liêntục điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của học sinh theo một hướngnào đó có lợi cho sự phát triển của cá nhân và tập thể Sự điều chỉnh này củaƯXSP diễn ra hàng ngày, tức thời và luôn luôn có tính hiệu nghiệm thông quanhững dấu hiệu có thể thấy được bằng trực giác (niềm vui hay nỗi buồn, ônhòa hay tức giận, đồng cảm hay phản ứng quyết liệt của học sinh) Từ kết quảcủa mỗi ứng xử, chủ thể ứng xử tự thấy mình cần phải làm gì và làm như thếnào để những ứng xử tiếp theo có được hiệu quả cao hơn Như vậy chức năngđiều chỉnh được xét về cả hai phía: Điều chỉnh nhân cách của đối tượng ứng
xử trong giải quyết tình huống của chủ thể và tự điều chỉnh phương pháp, thủthuật ứng xử của giáo viên trong và sau mỗi ứng xử
Chức năng định hướng của ứng xử sư phạm
Định hướng trong ứng xử sư phạm được xét tới như là một chức năngbao trùm lên các chức năng khác của ƯXSP bởi tính mục đích chiến lượccủa các ƯXSP Mỗi ƯXSP giải quyết một tình huống cụ thể và đạt tới mộthiệu quả nhất định về giáo dục và giáo dưỡng, song cái đích cuối cùng củamỗi ứng xử và của một hệ thống các ứng xử là hướng tới việc hình thành mộtnhân cách tốt đẹp hơn, thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp bền chặt giữa thầy
và trò, giữa sự chỉ dẫn điều chỉnh của người giáo viên bằng tấm lòng nhân ái
Trang 15cao cả và kinh nghiệm nghệ thuật sư phạm của mình với sự tiếp nhận, tự điềuchỉnh của học sinh: Mối quan hệ giữa cá nhân giáo viên với tập thể học sinh
và giữa các tập thể học sinh với nhau Chức năng định hướng vừa có tínhtổng quan chung cho các thành phần tham gia ứng xử, đồng thời còn là sựđịnh hướng hoạt động cho mỗi thành phần riêng lẻ tùy thuộc vào vị trí của nótrong ƯXSP: Định hướng chủ yếu đối với chủ thể ứng xử là sự cần thiết phải
có được hệ thống các tri thức, kỹ năng xử lý các tình huống sư phạm, là sựkhéo léo đối với sư phạm và ý thức chủ đạo dẫn dắt cho toàn bộ quá trình ứng
xử đạt tới mục đích giáo dục Định hướng đối với đối tượng ứng xử chính làgiúp họ tự nhận rõ mình, biết được đúng sai, thấy quyền lợi và trách nhiệmđối với tập thể, với xã hội Có thể nói tích luỹ kinh nghiệm sống, biết tự điềuchỉnh ý thức, hành vi theo lẽ phải trong học tập và rèn luyện là cái đích cuốicùng mà mỗi ƯXSP cần phải hướng tới
Sự định hướng trong ƯXSP không nên hiểu như một con đường duynhất của mỗi ƯXSP phải nhất nhất tuân theo, mà phải được hiểu là cơ sở chomọi điều chỉnh, mọi thông tin trong ứng xử lấy đó làm cất lõi để vận động,
để đạt tới, còn việc sử dụng những kiểu loại ứng xử nào, thủ thuật ra sao lạiphải căn cứ vào tình huống cụ thể của mỗi ứng xử
2.4 Văn hóa ứng xử sư phạm trong trường THPT:
Ứng xử sư phạm được thể hiện trong một nhóm xã hội đặc biệt baogồm hai chủ thể chính là thầy và trò , mỗi chủ thể giữ một vị trí xác địnhtrong quá trình ứng xử Nói tới ƯXSP, trước tiên là nói t ới vai trò của ngườigiáo viên - chủ thể chịu những kích thích của tình huống do phía đối tác (cánhân học sinh hoặc tập thể học sinh) gây ra, họ ở vị trí của người tiếp nhậnthông tin (tình huống), xử lý thông tin và đáp lại đôi tượng tạo ra tình huốngcủa nghề dạy học
Yếu tố chi phối hiệu quả ứng xử là tính cách nhà giáo- học sinh: Thựcchất ứng xử sư phạm là quá trình giao tiếp giữa nhân cách giáo viên và nhâncách học sinh Mỗi cá nhân có một tính cách khác nhau, bởi vậy trong cáchứng xử sư phạm đòi hỏi tấm lòng sẻ chia, nhân ái cao cả của nhà giáo cùng sự
tỉ mỉ, cần mẫn Đồng thời, học sinh THPT là lứa tuổi thanh thiếu niên, rấtnông nổi, đề cao cái tôi, giai đoạn giữa trẻ con và người lớn
Chúng ta vẫn thường nghĩ, trong nhà trường, quan hệ giữa thầy và thầy,giữa lãnh đạo với giáo viên, giữa thầy với trò phải là những ứng xử mang tính
Trang 16chất sư phạm Tiếc thay, không phải trường nào cũng được như vậy Một sốnơi, quan hệ này mang tính quản lý, thiếu tinh thần dân chủ, cởi mở, thậm chícòn có cả sự trù úm, độc đoán của người quản lý với cấp dưới, của thầy với
trò và cả sự đố kỵ ghen ghét giữa các đồng nghiệp ( Theo Văn hóa học đường
của TS Phạm Ngọc Trung)
Nói đến văn hóa ứng xử trong nhà trường, không thể không nói đếncách ứng xử của thầy với thầy, của thầy với trò và ngược lại Đa phân cácthầy, cô giáo đều mẫu mực, có cách ứng xử khéo léo Theo điều tra tại trườngTHPT Kim Liên, Hà Nội, 97,6% học sinh nhận xét thầy cô giáo trong trườngđều gương mẫu, có kỹ năng sư phạm, cách ứng xử sư phạm đúng mực, khéoléo Tuy nhiên số còn lại, cũng không phải không có các thầy cô hay gây sựmất đoàn kết trong nội bộ, ghen ghét, đố kỵ với đồng nghiệp, tự coi mình là
“cây đa, cây đề”, là người giỏi nhất, không coi ai ra gì Lại có những thầy côluôn tìm cách lấy lòng quản lý, từ nịnh hót đến mua chuộc… để mong có sựnâng đỡ Họ đã làm mất đi sự kính trọng, tin tưởng của đồng nghiệp
Song điều đáng bàn hơn là cách ứng xử của trò với thầy Phải thừanhân rằng, học sinh thời nay năng động, tự tin và bạo dạn hơn rất nhiều so vớicác thế hệ cha anh Mối quan hệ uy quyền, nhất nhất theo thầy xưa kia đã thaythế bằng mối quan hệ dân chủ, thầy trò cùng hợp tác trong dạy học và giáodục Nhưng chưa bao giờ truyền thống “Tôn sư trọng đạo” lại bị xúc phạm,xói mòn đến như vậy Nhiều thầy cô không chịu nổi trước vô số những hành
vi bất kính, thô tục, vô lễ và tráo trở của học sinh Trong lúc thầy- cô giáo lênlớp, thì nhiều phòng học như chợ vỡ, học sinh nói chuyện, cười đùa, mất trật
tự, thậm chí sử dụng điện thoại trong lớp một cách tùy tiện… Danh ngôn xưa
có câu “Dạy không nghiêm là lỗi ở thầy”, và học trò xưa rất kính trọng sựnghiêm khắc ấy Nhưng nay nếu thầy nghiêm thì trò thù ghét, thậm chí cóchuyện trò đánh chửi thầy
Nguyên nhân của tình trạng trên một phần cũng là do “đạo thầy” chưatốt và cách ứng xử không có văn hóa của một số thầy cô Các thầy cô phải cótác phong sư phạm Bởi vì, lời ăn tiếng nói, trang phục đều là giáo cụ trựcquan, mang tính giáo dục học trò khi thầy đứng trên bục giảng Thế nhưng, đã
có không ít thầy cô coi đây là chuyện nhỏ, nên tùy tiện, cẩu thả khi đứng lớp;ngôn ngữ ngày càng suồng sã… Hay những hành vi trừng phạt học trò nhưchửi rủa, bạo lực… là những điều không thể chấp nhận được trong môitrường sư phạm cũng như đối với nhân cách của người thầy
Trang 17Do đó, nhà giáo có vai trò quan trọng trong ứng xử sư phạm: Yêu cầuvận dụng các quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, hành động, để giải quyếttình huống ứng xử nhất định, phù hợp với yêu cầu sư phạm và sát với đặcđiểm tâm lý cá nhân của đối tượng giao tiếp- học sinh THPT Luôn bám sátmục tiêu giáo dục: Dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm.