1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết nam cao

114 644 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 596,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Mấy vấn đề văn học in 1956, Nguyễn Đình Thi đánh giá Sống mòn "tả cuộc sống thiÓu não, quẩn quanh, nhá nhen của mấy tri thức tiÓu tư sản nghèo… Rộng hơn là vận mệnh của mấy con ngư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ XUYẾN

NGHỆ THUẬT TỰ SÙ TRONG TIỂU THUYẾT NAM CAO CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SÈ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐĂNG XUYỀN

HÀ NỘI - 2007

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ quỹ báu của:

- Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam.

Trang 2

- Ban giám hiệu, Phòng quản lý khoa học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn - Trường Đại học sư phạm Hà Nội.

Nhân đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Giáo sư Tiến sỹ Trần Đăng Xuyền, người đã tận tình hướng dẫn

và dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp đã

có sự góp ý và trao đổi chân thành trong quá trình thực hiện luận văn.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã

cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.

Hà nội, ngày 10 tháng 11 năm 2007

Tác giả luận văn

Trang 3

IV. Phương pháp nghiên cứu 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CÁCH TIẾP CẬN HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG CỦA Nam CAO TRONG TIỂU THUYẾT 15 1. Tiếp cận hiện thực từ hướng thế sự, đời tư 15

2. Từ những cái xoàng xĩnh, tầm thường mà đề cập đến những vấn đề lớn lao của đời sống con người 30

Chương 2: CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU 37 1. Cốt truyện 37

2. Kết cấu 47

2.1. Kết cấu lắp ghép và kết cấu mở 47

2.2. Kết cấu trong tiểu thuyết Sống mòn 53

2.3. Kết cấu trong Truyện người hàng xóm 57

Chương 3 : NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 61 1 Từ quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao

61 2 Đến các thủ pháp xây dựng nhân vật 65

2.1 Khắc họa nhân vật từ đời sống nội tâm 65

2.2 Miêu tả thiên nhiên, ngoại cảnh thể hiện nội tâm nhân vật 75 2.3 Miêu tả ngoại hình thể hiện nội tâm nhân vật 79

2.4 Nghệ thuật phân tích tâm lý 82

Chương 4 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 88 1 Quan điểm trần thuật 88

2 Nhịp điệu trần thuật 94

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Nam Cao là một nhà văn lớn có vị trí quan trọng lịch sử văn họcViệt Nam hiện đại Ông là một trong số những gương mặt nổi bật củanền văn xuôi hiện đại Sù nghiệp văn chương của Nam Cao đánh dấu mộtbước phát triÓn vượt bậc của văn học hiện thực giai đoạn cuối (1940 -1945) Nếu như ở giai đoạn này, các trào lưu văn học khác dường nhưchững lại, thậm chí trào lưu lãng mạn với Tù lực Văn đoàn và thơ mới đivào suy thoái thì trào lưu hiện thực với sù góp mặt mang ý nghĩa lớn laocủa Nam Cao đã lại là một bước tiÕn míi so víi chính nó giai đoạntrước Nguyên nhân này có thể được lý giải bằng hoàn cảnh lịch sử, vănhoá, xã héi, song không thể không thấy sức sáng tạo mới mẻ, hấp dẫntrong các sáng tác của Nam Cao Bên cạnh truyện ngắn, tiÓu thuyết củaNam Cao có một vị trí đặc biệt khó ai có thể thay thế trong sự phát triÓncủa tiÓu thuyết Việt Nam hiện đại Mặc dù được chú ý muộn, nhưng vịtrí của Nam Cao ngày ổn định và được khẳng định ngày càng chắc chắn

Tác phẩm của Nam Cao là một mảnh đất hấp dẫn các nhà nghiêncứu phê bình văn học Có thể nói, so víi các tác giả văn học trước năm

1945, Nam Cao là một trong sè Ýt các nhà văn Việt Nam hiện đại đượcnghiên cứu nhiều nhất, khá toàn diện và sâu sắc Đã có nhiÒu công trìnhkhoa học lớn nhỏ, trong đó có nhiÒu công trình xuất sắc nghiên cứu về

Trang 5

Nam Cao Song điÒu đó không có nghĩa là việc tìm hiÓu di sản văn họccủa Nam Cao đã hoàn tất, không còn gì để tiếp tục khai thác Trái lại,trong việc tìm hiÓu, nghiên cứu về Nam Cao, nhiÒu vấn đề vẫn còn cầnđược khai thác, đi sâu, mở rộng hơn nữa Trước đây, trong một thời giandài, nhiÒu nhà nghiên cứu mới chỉ chú ý tíi đề tài, néi dung hiện thùc,những ý nghĩa, những giá trị nội dung tư tưởng sâu sắc, mới mẻ trongcác sáng tác của Nam Cao mà chưa chú ý thích đáng đến hình thức thểloại Sau này, các nhà nghiên cứu đã chú ý hơn tới hình thức thể loại trongcác sáng tác của Nam Cao, song truyện ngắn vẫn được chú ý nhiÒu hơntiÓu thuyết TiÓu thuyết Nam Cao được chú ý muộn, những thành công vềtiÓu thuyết của Nam Cao có được khẳng định nhưng lẻ tẻ trong một vàicông trình nghiên cứu, chưa có một công trình nghiên cứu thật toàn diện.

Sống mòn được coi là cuốn tiÓu thuyết tiêu biÓu cho ngòi bót tâm lý của

Nam Cao sáng tác về đề tài trí thức tiÓu tư sản Gần đây đã có nhiÒu công

trình nghiên cứu về nghệ thuật tiÓu thuyết này Sống mòn được nhìn nhận

lại sau một thời gian dài sù đánh giá còn lúng túng hoặc sai lệch khi căn cứvào quan điÓm xã hội học dung tục Tuy nhiên những ý kiÕn nghiên cứu

về những cách tân nghệ thuật của Sống mòn vẫn còn tản mạn Tư cách nhà

tiÓu thuyết của Nam Cao vẫn chưa được khẳng định chắc chắn Người tahầu nh quên rằng trong quãng đời cầm bót chưa dài của mình, Nam Cao đã

viÕt nhiÒu tiÓu thuyết (tuy phần lớn đã thất lạc bản thảo), bên cạnh Sống

mòn còn có Truyện người hàng xóm- truyện dài được đăng báo vào năm

1944 Tác phẩm Truyện người hàng xóm còn Ýt được chú ý, nhất là những

thành công về nghệ thuật Tác phẩm này có được nhắc đến trong nghiêncứu về Nam Cao nhưng thường được gộp trong việc nghiên cứu vớiphương diện néi dung tư tưởng, hoặc được gộp trong quá trình đánh giáchung về thế giíi nghệ thuật của Nam Cao Nam Cao víi tư cách là một nhà

Trang 6

tiÓu thuyết vẫn còn cần được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diệnhơn nữa.

Sống mòn là một tiÓu thuyết xuất sắc của Nam Cao, là một cái mốc

quan trọng đánh dấu sự phát triÓn của tiÓu thuyết Việt Nam theo hướnghiện đại hoá Đây là tác phẩm hiện nay đã được khẳng định thống nhất về

phương diện thể loại Truyện người hàng xóm là mét trong hai tác phẩm

truyện dài còn lại của Nam Cao Xoay quanh nhận định cho rằng tác phẩmnày là một tiểu thuyết, trong giới nghiên cứu còn có ý kiến chưa thốngnhất Có những ý kiến cho rằng tác phẩm chỉ là một truyện vừa, songnhững ý kiến khẳng định đây là một tiểu thuyết vẫn có nhiều căn cứ thuyếtphục Bên cạnh những truyện ngắn đặc sắc, Nam Cao còn để lại cho chóng

ta hai tác phẩm tương đối dài hơi hơn là Sống mòn và Truyện người hàng

xóm Để thuận lợi cho việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong

hai tác phẩm khá dày dặn có dấu hiệu đặc trưng của tiểu thuyết này, căn cứ

vào đặc trưng thể loại thể hiện trong tác phẩm, chúng tôi tạm xếp Truyện

người hàng xóm vào thể loại tiểu thuyết Truyện người hàng xóm tuy

không xuất sắc bằng Sống mòn, song vẫn nằm trong sự thống nhất phong

cách tiÓu thuyết Nam Cao và có giá trị nghệ thuật đặc sắc, khẳng địnhnhững sáng tạo vừa độc đáo, mới mẻ, vừa rất đa dạng trong ngòi bót củaNam Cao Có thể nói, Nam Cao là mét cây bót tiÓu thuyết có nhiÒu cáchtân mới mẻ về nghệ thuật, có một phong cách tiÓu thuyết riêng, đónggóp đáng kể vào sự phát triÓn của tiÓu thuyết Việt Nam hiện đại.Nghiên cứu nghệ thuật tù sù trong tiÓu thuyết của Nam Cao chính là gópphần khẳng định vị trí xứng đáng của nhà văn trong hàng ngò nhữngtiÓu thuyết gia Việt Nam giai đoạn 1940- 1945

II Lịch sử vấn đề

Trang 7

Đương thêi, các sáng tác của Nam Cao chưa được đánh giá đúngmức Mặc dù các tác phẩm của nhà văn được đăng rải rác trên các báo,

nhưng bạn đọc hầu nh Ýt biÕt đến Nam Cao Cho đến khi Chí Phèo víi các tên Đôi lứa xứng đôi lần đầu được ra mắt, Nam Cao míi được nhắc

đến trên văn đàn song không nhiÒu nh mét số cây bót văn xuôi bậc đànanh lúc bấy giờ Lê Văn Trương giíi thiệu về tác phẩm này có nhận xét

về văn Nam Cao là “lối văn míi sâu xa, chua chát và tàn nhẫn", nhưng đó

là nhận xét về truyện ngắn chứ không phải là tiÓu thuyết Trước cáchmạng tháng Tám, giíi phê bình chưa hề biÕt đến bên cạnh mét Nam Cao-Cây bót truyện ngắn còn một Nam Cao- Nhà tiÓu thuyết và về phươngdiện thể loại tiÓu thuyết, Nam Cao cũng có những thành công xuất sắc

Mãi đến 1956, sau khi Nam Cao đã mất được 5 năm, Sống mòn míi được

in và bắt đầu được chú ý tíi

Trong Mấy vấn đề văn học in 1956, Nguyễn Đình Thi đánh giá

Sống mòn "tả cuộc sống thiÓu não, quẩn quanh, nhá nhen của mấy tri

thức tiÓu tư sản nghèo… Rộng hơn là vận mệnh của mấy con người Êy,

ta thấy đặt ra một cách ám ảnh vấn đề vận mệnh chung của cả xã hộichua xót, đau đớn, buồn thảm, tủi nhục, trong đó đời sống không có ýnghĩa nào nữa, quay về phía nào cũng thấy dựng lên những bức tường bếtắc”(47,115) Nhận xét trên cho thấy những đánh giá xác đáng về ý

nghĩa, giá trị lớn lao của tiÓu thuyết Sống mòn, bước đầu chỉ ra cách

tiÕp cận hiện thực mới mẻ của tiÓu thuyết Nam Cao nhưng tất cả mớichỉ dừng ở đó

Mãi tíi khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu NamCao míi thực sự được tiÕn hành và có những công trình công phu

Trong cuốn Nam Cao- Nhà văn hiện thực xuất sắc (NXB Văn

hoá-1961), một công trình nghiên cứu khá dày dặn về các sáng tác của Nam

Trang 8

Cao, nhà nghiên cứu phê bình văn học Hà Minh Đức đánh giá cao Sống

mòn víi nhận định: trong văn học công khai giai đoạn 1930-1945, Sống mòn là một trong những tác phẩm có giá trị nhất Ông đã phân tích về

quá trình tâm lý của nhân vật Thứ và thấy được vai trò của nó trong việcthể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm Ông đánh giá Nam Cao là người

có hướng đi riêng trong cách tiÕp cận và phản ánh hiện thực: “Tìm tòitrong những chuyện bình thường hàng ngày ý nghĩa sâu xa của đời sống

và gợi lên bên trong phần lặng lẽ nghiêm ngặt của hiện thực một cái gìsôi nổi nồng cháy”(13,171) Song những thành công khác về phươngdiện nghệ thuật của tiÓu thuyết này nh cốt truyện, kết cấu, cách xâydựng nhân vật… trong tiÓu thuyết thì hầu nh chưa được chú ý đến

Thậm chí trong quá trình đánh giá Sống mòn, bên cạnh khen, tác giả còn

chê tác phẩm có nhiÒu hạn chế và cho rằng tiÓu thuyết có vấn đề trongviệc “khắc hoạ tính cách điÓn hình” Ông cho rằng yêu cầu của người

đọc đòi hái Nam Cao phải cá tính hoá nhân vật Sống mòn hơn nữa Theo

ông, nhân vật được gọi là “Tâm trạng điÓn hình mà chưa gọi là tính cáchđiÓn hình là vì tâm trạng đó chưa kết hợp thể hiện víi những cá tínhsinh động khác Nhân vật chưa được gọi là nhân vật điÓn hình vì tâmtrạng Thứ có ý nghĩa phổ biÕn và tiêu biÓu nhưng ở Thứ còn thiÕunhững biÓu hiện sinh động của một con người cá biệt"(13,187) Như

vậy, Sống mòn được đánh giá cao về nội dung nhưng về nghệ thuật thì

chưa được đánh giá chính xác và thấu đáo Cũng trong chuyên luận này,

khi đánh giá về Truyện người hàng xóm, Hà Minh Đức lại cho rằng đây

là tác phẩm mà “Nam Cao định đưa vào tác phẩm một số suy nghĩ vàquan điÓm tích cực nhưng chưa biÕn thành hiện thực Các quan điÓm

và suy nghĩ Êy chưa chuyển hoá được vào các hình tượng nghệ thuật.Tác phẩm còn nhiÒu nhược điÓm, chủ đề không tập trung, tính cách

Trang 9

nhân vật chưa đậm nét Cốt truyện lại bị dẫn dắt lan man, ngôn ngữ cóphần thiÕu chọn lọc”(13,30) Như vậy Hà Minh Đức hầu như phủ nhậnhoàn toàn cả nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm

này Mãi đến 1975, ông mới có đánh giá khác: "Bên cạnh Sống mòn,

Nam Cao đã xây dựng được bức tranh chân thực và độc đáo về những

người tiÓu tư sản và líp dân nghèo thành thị qua tiÓu thuyết Truyện

người hàng xóm" Nh vậy, tác phẩm này vẫn chưa được coi là một tiÓu

thuyết hiện thực có giá trị nghệ thuật

Hồng Chương trong cuốn “Phương pháp sáng tác của văn học

nghệ thuật” (NXB Sự thật, Hà Nội, 1962) đã nhận xét nặng nề về Sống mòn Ông cho rằng: “Nam Cao- người có thể gọi là tiêu biÓu cho dòng

văn học hiện thực chủ nghĩa ở thời kỳ này đã miêu tả những người nông

dân cùng quẫn trong xã hội thực dân nửa phong kiÕn (Chí Phèo) hay

người tiÓu tư sản sống quẩn quanh bế tắc (…) Tuy còn có tính hiện thực

và tính phê phán nhưng chủ nghĩa hiện thực phê phán thời kỳ này bộc lé

rõ tính chất yếu đuối của thời kỳ suy tàn của nó Nó đi sâu vào tâm lý tế

nhị của nhân vật (Sống mòn) Nã bộc lé tâm trạng của những con người

quẩn quanh không có lối thoát và cũng không có ý chí phấn đấu”(7,40).Như vậy, do ảnh hưởng nặng nề của lối phê bình cứng nhắc, rập khuônmáy móc theo lèi cò, căn cứ trên chủ nghĩa đề tài, Hồng Chương chorằng từ 1940 đến 1945 là giai đoạn suy tàn của chủ nghĩa hiện thực,không thấy được những mới mẻ trong cách tân nghệ thuật của Nam Cao

đã góp phần đưa chủ nghĩa hiện thực lên một tầm cao míi

Phong Lê là người đầu tiên viÕt riêng Sống mòn trong bài Sống

mòn và tâm sự của Nam Cao in trong Tạp chí văn học số 9/1968, đã

đánh giá chính xác về kiÓu nhân vật trong tiÓu thuyết của Nam Cao:

“Nam Cao xác nhận một cách đau đớn bi kịch con người trí thức tiÓu tư

Trang 10

sản Ở đây không có cái nhìn ảo tưởng, tô vẽ về họ như một số nhà vănkhác cùng thời Nam Cao đã vẽ đúng hình ảnh họ và đặt họ đúng vào vị

trí của họ trong đời (…) trong Sống mòn không còn bóng dáng nhân vật

nào có thể được xem là nhân vật chính diện thật sự"(33,36) Ông cũng đãnhận ra “sự han gỉ trong tâm hồn một líp người trÝ thức tiÓu tư sản”,biÓu hiện “một cách nhìn sâu”, cũng là “một cách nhìn dũng cảm” Tácgiả cũng đã chú ý tíi cách thức thể hiện riêng của Nam Cao nhưng vẫnmới chỉ đi sâu vào nội dung mà Ýt chó ý về giá trị nghệ thuật của tiÓuthuyết Nam Cao

Phan Cự Đệ trong công trình nghiên cứu công phu:TiÓu thuyết

Việt Nam hiện đại (NXB ĐH & THCN, HN, 1974) cũng đã bàn đến nghệ

thuật của tiÓu thuyết Nam Cao trong sù so sánh với tiÓu thuyết của các

nhà văn khác cùng thời Ông cho rằng Tắt đèn có lối kết cấu “trong một

không gian ngắn, những mâu thuẫn dồn dập, cọ xát nhau nảy lửa Những

sự kiện tíi tiÕp diÔn ra, dồn nhân vật vào chỗ cùng đường và làm nổ ranhững phản ứng kịch liệt Nam Cao muốn diÔn tả những bi kịch khônglối thoát của Thứ nên đã sử dụng lối kết cấu vòng tròn"(10,245) Khiđánh giá về ngôn ngữ của tiÓu thuyết Nam Cao, ông đã nhận thấy: “NamCao chó ý hơn đến những động tác tâm lý bên trong Ông đã xây dựngthành công những đoạn độc thoại néi tâm nhân vật”(10,220) và thấy tính

chất “đa thanh” của trong ngôn ngữ tiÓu thuyết Sống mòn Song những

đánh giá về nghệ thuật tiÓu thuyết của Nam Cao nh trên còn là những ýkiÕn lẻ tẻ chưa thành hệ thống, chưa làm nổi rõ sự cách tân của NamCao trong tiÓu thuyết hiện đại Việt Nam

Có thể nói trong suốt 60 năm trở về trước, Sống mòn còng đã được

chú ý nhiÒu hơn song chưa có một công trình nghiên cứu công phu vềgiá trị nghệ thuật của tiÓu thuyết này Các công trình nghiên cứu mới chỉ

Trang 11

chú ý ở tác phẩm này về phương diện néi dung chứ chưa có khám phá

bao nhiêu về mặt nghệ thuật Truyện người hàng xóm hầu nh chưa được

nhắc đến, nếu có được nhắc đến thì cũng bị đánh giá thấp

Đến những năm 70, việc nghiên cứu tiÓu thuyết Nam Cao đã cónhiÒu công trình nghiên cứu khá toàn diện và sâu sắc Bên cạnh nhữngkhám phá giá trị nội dung tư tưởng ở chiÒu sâu mới, phát hiện tư tưởngnhân đạo mới mẻ trong tiÓu thuyết của Nam Cao, các nhà nghiên cứu đãchú ý nhiÒu đến những thành công về nghệ thuật tiÓu thuyết của NamCao, khẳng định cá tính sáng tạo rất mới mẻ, độc đáo của nhà văn

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung trong chương Nam Cao

(Lịch sử văn học Việt Nam 1930- 1945, tập V, NXB GD, 1974) đã phân

tích kỹ lưỡng những khám phá mới mẻ, sâu sắc của Nam Cao, chỉ ranhững điÓm nổi bật của phong cách Nam Cao Ông chỉ ra sức mạnh tàinăng của Nam Cao bắt đầu từ “Sự chân thực đến kinh ngạc”, đặc biệt “từnhững cái hàng ngày nhỏ bé” để đạt đến những vấn đề “có ý nghĩa triÕt

lý sâu sắc” Đó là ngòi bót “vừa tỉnh táo nghiêm ngặt vừa thắm thiÕt trữtình”, có sở trường miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật, thường “soi rọiđời sống bên trong” Ông khẳng định “Bằng một tài năng lớn, Nam Cao

đã có những đóng góp mới mẻ đối víi sù phát triÓn văn xuôi Việt Nam.Nghệ thuật tiÓu thuyết Nam Cao có sắc thái hiện đại rõ rệt”(28,9) Đó lànhững mới mẻ của tiÓu thuyết Nam Cao, nhưng người nghiên cứu míi

chó ý đến Sống mòn mà không nhắc đến Truyện người hàng xóm.

Đến khi viÕt Từ điÓn văn học, Nguyễn Hoàng Khung míi nhắc đến Truyện người hàng xóm nhưng trong khuôn khổ có hạn của một mục

trong từ điÓn, ông chỉ giíi thiệu vài nét về nội dung tác phẩm: “Nhữngtrang cảm động nhất là viÕt về đám trẻ nhỏ nhà nghèo sống thiÕu tìnhthương, khi lớn lên thì rơi vào vực thẳm bế tắc sa ngã Câu chuyện thật

Trang 12

buồn thảm nhưng ánh lên cái nhìn lạc quan nhân đạo về người nghèokhổ, dù đó là một thằng câm, một gái điÕm hay một nhà văn trẻ lặn léitrong cay cực, luôn tâm niệm “viÕt sự thực”(28,287).

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh trong những bài viÕt

về Nam Cao luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò cách tân nghệ thuậtcủa Nam Cao Ông khẳng định vị trí của Nam Cao, “bản sắc độc đáo”của Nam Cao là một “cây bót luôn tìm tòi, khám phá và sáng tạo”, đồngthời khẳng định bản lĩnh và tài năng của Nam Cao khi viÕt về những

“cái hàng ngày” là xuất phát từ “những tư tưởng sâu, những tình cảmlớn, từ cõi thơ cao khiÕt mà quan sát, miêu tả cái “văn xuôi” phàm tục

của cuộc đời”(40,62) Ông đánh giá tiÓu thuyết Sống mòn là “thật sự đạt

tới hình thức hiện đại” Ông cho rằng đứng về mặt thÓ tài, tiÓu thuyết

Sống mòn là một hiện tượng độc đáo và đột xuất: "Một lèi tiÓu thuyết cứ

phóng bót một cách tuỳ tiện theo dòng tâm sự của nhân vật với nhiÒuđoạn tạt ngang dài dòng tưởng như lạc đề Vậy mà tác phẩm vẫn giữđược tính thống nhất chặt chẽ xoay quanh quan niệm nhất quán của nhàvăn về sự sống và cái chết trong tâm hồn con người Chủ đề triÕt lýthấm sâu, liên kết các số phận nhân vật và đem đến cho những câuchuyện vụn vặt, tủn mủn của mấy người tiÓu tư sản ý nghĩa khái quát,

xã hội rộng lớn…"(40,63) Về Truyện người hàng xóm, ông cho rằng:

“Theo dõi sát ngòi bót của Nam Cao, người đọc có thể cảm nhận được

Truyện người hàng xóm một vài yếu tố mới mẻ về tư tưởng và bót pháp,

một cái nhìn xã hội theo quan điÓm đối lập dứt khoát giữa nhân dân laođộng nghèo khổ nhưng tốt bụng với bọn bóc lột tàn ác Một chủ nghĩalạc quan tươi sáng, làm cơ sở cho mét giọng văn Ýt chua chát hơn vàmột bót pháp thiên về lý tưởng hoá khi viÕt về bản chất tốt đẹp, nghị lực

Trang 13

sống và mối tình cao cả như sen nở giữa bùn lầy của ba nhân vật trẻtuổi"(40,42)

Nhìn chung, tiÓu thuyết Sống mòn và Truyện người hàng xóm đã

bước đầu được các nhà nghiên cứu, được khẳng định nhưng mới chỉ chủyếu trên phương diện néi dung tư tưởng hoặc có đánh giá về mặt nghệthuật thì cũng mới chỉ là những nhận xét tản mạn, chưa có một côngtrình nghiên cứu hoàn chỉnh Sau này, trong các công trình nghiên cứucủa mình, các nhà phê bình văn học đã chú ý nhiÒu hơn tới những thànhcông về nghệ thuật trong các sáng tác của Nam Cao Xung quanh cuốn

tiểu thuyết Sống mòn in trong Nghĩ tiÕp về Nam Cao còn có bài Bót

pháp tự sự đặc sắc trong Sống mòn của Nguyễn Ngọc Thiện Bài viết đã

chỉ ra những mới mẻ của tác phẩm “cốt truyện tâm lý, khắc hoạ chiÒusâu một mảng vi mô của đời sống con người”, bố cục “hoà trộn, đồnghiện giữa không gian, thời gian quá khứ và hiện tại”(53,331), lối kểchuyện với nhiều điểm nhìn, sinh động Tuy nhiên trong phạm vi mét bàiviết, những phương diện nói trên cũng chưa được người viết phân tích

thật kỹ lưỡng Đỗ Đức HiÓu trong Hai không gian trong Sống mòn đã có

phát hiện về không gian sống o bế của nhân vật Thứ loanh quanh chậthẹp, sự mâu thuẫn “xung đột giữa không gian xã hội (xó nhà quê vàngoại ô Hà Nội nhem nhuốc) và không gian tinh thần, mơ ước, khônggian hồi tưởng, không gian khát vọng”(53,338) Nhà nghiên cứu Phong

Lê trong Đọc lại và lại đọc Sống mòn khẳng định thêm về ba không gian

bị thu hẹp trong Sống mòn là “gian ở nơi trường học, gian nhà ông Học

và gian nhà của Thứ ở quê là những không gian tù đọng"(53,349) Đồngthời Phong Lê khẳng định lại về tính chất hướng ngoại của tác phẩm đã

mở ra những số phận kiếp người, về sù thu nhỏ, dồn nén của khônggian, thời gian “tạo hình ảnh và ám ảnh về một sự ngưng đọng, sù mòn

Trang 14

rỉ- nó chính là tố chất để lấn át và làm tiêu mòn sự sống, để tạo nên nhịp

điệu và giọng điệu thích hợp với Sống mòn".

Trong cuốn Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, mét công trình nghiên

cứu khá toàn diện, công phu về Nam Cao, GS TS Trần Đăng SuyÒn đãnghiên cứu một cách có hệ thống về nghệ thuật tự sự trong các sáng táccủa Nam Cao về nhiÒu phương diện loại hình, thi pháp, nghệ thuật khắchoạ tâm lý, nghệ thuật trần thuật… Phân tích về nghệ thuật xây dựng cốt

truyện của Sống mòn và Truyện người hàng xóm, ông khẳng định về tính

chất nới láng cốt truyện “Đưa truyện về dạng “đời thật” nhất, đồng thờisoi rọi vào đó một luồng ánh sáng rất mạnh của tư tưởng, bắt nhữngchuyện vặt vãnh, những cảnh đời thường hàng ngày quen thuộc nói lênnhững ý nghĩa sâu sắc về con người, về cuộc sống và nghệ thuật", và

“Sáng tác của Nam Cao đánh dấu sự đổi míi về thi pháp của tiÓu thuyếthiện đại so víi tiÓu thuyết trung đại, tiÓu thuyết truyền thống”(52.45).Còng trong cuốn chuyên luận này, nhà nghiên cứu đã phân tích sâu sắc

về những mới mẻ của tiÓu thuyết Nam Cao về các phương diện kết cấu,xây dựng xung đột, mâu thuẫn, không gian và thời gian nghệ thuật, nghệthuật khắc hoạ tâm lý nhân vật sắc sảo có một không hai và các thủ phápnghệ thuật hướng vào làm sáng tỏ nội tâm nhân vật như nghệ thuật miêu

tả diện mạo nhân vật, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên… Tuy nhiên, nhữngthành công về phương diện nghệ thuật trong tiÓu thuyết Nam Cao củacông trình nghiên cứu này vẫn tập trung trong sự phân tích đánh giá vềnghệ thuật tự sự trong các sáng tác của Nam Cao nãi chung, bao gồm cảtruyện ngắn

Gần đây nhiÒu công trình nghiên cứu văn học đã có chú ý nhiÒu

hơn tới Truyện người hàng xóm Trong luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn

Những vấn đề trong sáng tác của Nam Cao qua thực tiÔn nghiên cứu về

Trang 15

nhà văn, bên cạnh việc xem xét lại mét số vấn đề về bi kịch vỡ mộng

trong Sống mòn, nhân vật Thứ là “tính cách điÓn hình” hay “tâm trạng điÓn hình”, “tiÓu thuyết Sống mòn phải chăng là dấu hiệu lôi tàn của

văn học hiện thực trước cách mạng”, Hà Bình Trị đã có một bài phân

tích về những thành công của Truyện người hàng xóm là một bức tranh

hết sức chân thực đầy ám ảnh về những cảnh đời lầm than trong cuộcsống đời thường của líp dân nghèo ngoại ô trước cách mạng Đồng thờitrong luận văn khoa học này, Hà Bình Trị đã chỉ ra một số thành công vềnghệ thuật của tác phẩm vẫn “quen thuộc trong phong cách nghệ thuậtcủa Nam Cao, đồng thời tác phẩm cũng có những đặc sắc riêng Ýt thấytrong các sáng tác khác của ông"(49,149) về các phương diện cốt truyện,xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lý, ngôn ngữ Nhưng trong khuôn khổmột phần của chương viÕt, những thành công này chưa được phân tíchthật cụ thể

Như vậy, trong một thời gian dài, tiÓu thuyết của Nam Cao đãkhông được chú ý và đánh giá đúng mức, thậm chí còn có lúc bị xemnhẹ, bị phê phán Giíi nghiên cứu phê bình chú ý nhiÒu hơn tới truyện

ngắn của ông, đặc biệt là Lão Hạc và Chí Phèo Trong khoảng vài chục

năm trở lại đây, tiÓu thuyết của Nam Cao cũng đã được nhìn nhận, đánhgiá lại, khẳng định lại tài năng xuất sắc của nhà văn trên phương diện thểloại tiÓu thuyết, song hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ chú ý tíigiá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm và quan tâm chủ yếu tới tiÓu

thuyết Sống mòn Truyện người hàng xóm Ýt được các nhà nghiên cứu

nhắc tới Tác phẩm này hầu nh chưa được các nhà nghiên cứu phê bìnhchú ý đúng mức và có công trình nghiên cứu cụ thể Rải rác vài năm gầnđây, tác phẩm này mới được để ý tíi Khi nghiên cứu về Nam Cao, người

Trang 16

ta quên mất rằng trong suốt cuộc đời cầm bót của mình, Nam Cao đãviÕt rất nhiÒu tiÓu thuyết, chỉ tiÕc là bị mất bản thảo Vì thế, tư cách làmột nhà tiÓu thuyết những năm 1940- 1945 của Nam Cao chưa đượckhẳng định Có thể nói dù các tiÓu thuyết của Nam Cao còn lại khôngnhiÒu, nhưng tiÓu thuyết của Nam Cao thể hiện mét phong cách tiÓuthuyết độc đáo, đặc sắc vừa thống nhất với phong cách của Nam Cao nãichung, vừa có những nét đa dạng, độc đáo riêng về phương diện thể loại.TiÓu thuyết của Nam Cao đã đóng một vai trò quan trọng, có thể coi nhưmột dấu mốc đánh dấu sự phát triÓn của văn xuôi Việt Nam hiện đại nãichung, tiÓu thuyết Việt Nam hiện đại nãi riêng Bên cạnh những thànhcông xuất sắc về phương diện néi dung tư tưởng, tiÓu thuyết Nam Caocòn đạt tới mét nghệ thuật tự sự độc đáo, đặc sắc, đóng góp lớn vào tiÕntrình phát triÓn của tiÓu thuyết Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu tìm hiÓu

về nghệ thuật tự sự trong tiÓu thuyết Nam Cao thực sự là một việc cầnthiÕt để khẳng định tư cách nhà tiÓu thuyết và tài năng tiÓu thuyết củaNam Cao

III Nhiệm vụ của đề tài

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 tuy không dài nhưng làmột giai đoạn văn học phát triển mạnh mẽ và có những đóng góp to lớncho sự phát triển của văn học dân téc Đây là thời kì nở ré của biết baotài năng văn học, bởi trong bối cảnh xã hội lúc bấy giê, sù khẳng định cáitôi trong văn học trước hết là nhà văn phải để lại một dấu Ên riêng.Trong dòng chảy Êy, Nam Cao nổi lên như một hiện tượng văn học độcđáo dù đương thời, nhà văn không được đánh giá cao Với sự cần mẫn vànghiêm tóc trong nghề cầm bót trở thành một ý thức tự giác thường trực,Nam Cao đã tạo được cho mình chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn đọc

Trang 17

và giới phê bình văn học nhiều thế hệ Đã qua hơn nửa thế kỉ, người đọcvẫn chưa thôi ngỡ ngàng cảm phục nhà văn và không ngừng tìm thấynhững phát hiện mới mẻ về những chiêm nghiệm, khái quát của nhà văn

về cuộc đời và con người Thời gian càng lùi xa, người ta càng thấy rõhơn tầm vóc của một nhà văn lớn

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu, tìmhiÓu nghệ thuật tự sự của tiÓu thuyết Nam Cao trên các phương diện vềcách tiÕp cận hiện thực, sự độc đáo về cốt truyện và kết thúc, nghệ thuậtxây dựng nhân vật và nghệ thuật trần thuật Đây là những phương diệnchủ yếu trong nghệ thuật tự sự của một tác phẩm, cũng là những phươngdiện thể hiện rõ nhất tài năng tiÓu thuyết của Nam Cao Đây cũng là dịpnhìn lại, khẳng định lại những thành công của Nam Cao về phương diệnthể loại tiÓu thuyết Đồng thời việc nghiên cứu, tìm hiÓu nghệ thuật tự

sự trong tiÓu thuyết của Nam Cao sẽ góp phần khẳng định một lần nữa

sự da dạng, phong phú, đặc sắc trong phong cách của Nam Cao, gópphần khẳng định vị trí không thể thay thế của Nam Cao trong tiÕn trìnhphát triÓn của tiÓu thuyết Việt Nam hiện đại

Việc làm này cũng là một lần bày tỏ niÒm trân trọng, ngưỡng mộcủa người viÕt đối víi mét nhà văn có nhân cách đáng trọng, có nhiÒuđóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà

IV Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp hệ thống

Tìm hiÓu nghệ thuật tự sự của tiÓu thuyết Nam Cao phải dùa trên

sự hệ thống các phương diện thuộc về nghệ thuật tác phẩm, đặt cácphương diện của nghệ thuật tự sự trong một hệ thống, chóng không táchrời, không độc lập mà nằm trong một chỉnh thể Phương pháp hệ thống

Trang 18

giúp người viÕt nhận diện rõ về các đặc điÓm nghệ thuật tiÓu thuyết

của Sống mòn và Truyện người hàng xóm

2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu này giúp chúng tôi có thể phân tích vềnhững đặc điÓm, đánh giá những thành công xuất sắc của Nam Cao vềnghệ thuật tự sự trong tiÓu thuyết Đây là một phương pháp không thểthiÕu trong công tác nghiên cứu

3 Phương pháp so sánh

Để làm nổi bật những đặc điÓm về nghệ thuật tự sự trong tiÓu thuyếtcủa Nam Cao, đồng thời góp phần khẳng định những thành công xuất sắccủa nhà văn về phương diện này, chúng tôi vận dụng tới phương pháp sosánh Đối tượng được dùng trong so sánh là các sáng tác tiÓu thuyết củacác nhà văn khác cùng trào lưu như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố…, sosánh tiÓu thuyết của Nam Cao víi các truyện ngắn của chính ông, so

sánh tiÓu thuyết Sống mòn với Truyện người hàng xóm.

PHẦN NÉI DUNG

Chương 1 CÁCH TIÕP CẬN HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG CỦA Nam CAO TRONG

TIÓU THUYẾT

1 TiÕp cận hiện thực từ hướng thế sự, đời tư

Theo Từ điÓn thuật ngữ văn học" ( Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi chủ biên), tiÓu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khảnăng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giíi hạn không gian và thời gian.TiÓu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiÒu cuộc đời, những bức

Trang 19

tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điÒu kiện sinh hoạt giaicấp, tái hiện nhiÒu tính cách đa dạng ….So víi các thể khác của loại tù

sự như ngụ ngôn, anh hùng ca ( sử thi ) thì đặc điÓm tiêu biÓu thứ nhấtcủa tiÓu thuyết là cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Đặc trưng nàythoạt đầu được hình thành ngay trong tiÓu thuyết cổ đại Càng về sauđời tư càng trở thành tiêu điÓm để miêu tả cuộc sống một cách tiÓuthuyết Tuỳ theo từng thời kỳ phát triÓn, cái nhìn đời tư có thể sâu sắctới mức thể hiện được, hoặc kết hợp được víi các chủ đề thế sự hoặc lịch

sử dân téc Nhưng yếu tố đời tư càng phát triÓn thì chất tiÓu thuyết càngtăng, ngược lại, yếu tố lịch sử dân téc càng phát triÓn thì chất sử thicàng đậm đà.”(19,122) Còng trong công trình này, các tác giả cũng chỉ

ra rằng: "Ngoài hệ thống sự kiện, biÕn cố và những chi tiÕt tính cách,tiÓu thuyết miêu tả suy tư của nhân vật về thế giíi, về đời người, phântích cặn kẽ các diÔn biÕn tình cảm, trình bày tường tận tiÓu sử của nhânvật, mọi chi tiÕt về quan hệ giữa người và người, về đồ vật, môi trường,

nội thất Xét từ phương diện này thì "Sống mòn của Nam Cao là tác

phẩm rất tiÓu thuyết"(19,224) Trong Từ điÓn văn học, tập II, phó giáo

sư Nguyễn Xuân Nam cùng ý kiÕn khi cho rằng : "TiÓu thuyết có khảnăng phản ánh những cuộc đấu tranh giai cấp phức tạp, những mối quan

hệ xã hội đan chéo vào nhau trong một cốt truyện Nhân vật trong tiÓuthuyết cũng được miêu tả tỉ mỉ từ ngoại hình đến nội tâm, nhất là ghi lạiquá trình hình thành và phát triÓn các tính cách nhân vật theo lịch sử cácbiÕn cố”(56,389) Trong mục về tiÓu thuyết này, nhà nghiên cứu cònchỉ ra: “ Kết cấu của tiÓu thuyết rất đa dạng, biÕn hoá, thường kết hợpnhiÒu kiÓu kết cấu Ngôn ngữ tiÓu thuyết phong phó: ngôn ngữ người

kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ nội tâm nhân vật( độc thoại néitâm), những đoạn trữ tình ngoại đề TiÓu thuyết là thể loại tạo điÒu

Trang 20

kiện cho tác giả thể hiện rộng rãi, đầy đủ quan điểm chính trị, tư tưởng,tình cảm của mình đối víi cuộc đời"(56,389) Trên cơ sở những nhậnđịnh trên, có thể khẳng định nh nhiÒu nhà nghiên cứu đã thống nhất là

Sống mòn của Nam Cao mang tính chất tiÓu thuyết đậm nét Bên cạnh

đó cũng cần khẳng định Truyện người hàng xóm của Nam Cao thực sự là

một tiÓu thuyết Đó là một tiÓu thuyết vừa vẫn mang những đặc điÓmquen thuộc trong cách viÕt tiÓu thuyết của Nam Cao, vừa có nhữngsáng tạo hết sức mới mẻ, độc đáo cho thấy sức sáng tạo dồi dào, đadạng vô cùng của một nhà văn tài năng

*

* *Đời sống và văn học thường không thể tách rời Văn học luôn gắn

bó với hiện thực đời sống, bám sát từng bước chuyển biến của hiện thựcđời sống Bất cứ một tác phẩm văn học nào, dù viết theo thể loại gì,hình thức, kết cấu ra sao, là loại truyện phiêu lưu mạo hiểm, kinh dị haytruyện tâm lí thì mọi nội dung được phản ánh trong tác phẩm đều có cộinguồn từ đời sống tâm lí, tư tưởng của con người đương thời Trước hết

nó là suy nghĩ, cách đánh giá, cảm nhận của nhà văn- người gắn với cuộcsống đương đại trong một môi trường văn hoá, xã hội lịch sử nhất định.Đây là một qui luật tất yếu trong sáng tạo nghệ thuật nói chung, trongvăn học nói riêng

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 gắn với một thời kì lịch sử

mà bối cảnh xã hội có nhiều biến đổi đặc biệt và nhanh chóng trên nhiềuphương diện của đời sống, từ kinh tế ,chính trị, văn hoá cho tới cả quanniệm, cách cảm, cách nghĩ, Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân téc giữadân téc Việt Nam với sự cấu kết của thực dân-phong kiến càng mạnh mẽ,gay gắt hơn bao giê hết Số phận con người nhá mọn, khèn khổ, không

Trang 21

Ýt những cảnh ngộ thê thảm với những kiếp sống đặc biệt kì lạ Trên cáinền hiện thực Êy, văn học hiện thực phê phán Việt Nam đã gặt hái đượcnhững thành công rực rì Mâu thuẫn xã hội được phản ánh trong nhiềutác phẩm tuy mức độ , sắc thái đậm nhạt có khác nhau Hầu hết các tácphẩm văn học hiện thực trong những giai đoạn đầu đều hướng ngòi bótcủa mình vầo các giai tầng với tư cách xã hội của nó.Tiểu thuyết hiệnthực với ưu thế và khả năng to lớn của nó trong nắm bắt và phản ánhhiện thực đã góp phần không nhỏ trong tái hiện diện mạo và thực trạngcủa đời sống xã hội đương thời Ngô Tất Tố đặc biệt chú ý tới việc làng,tới xã hội nông thôn Việt Nam thu nhỏ nơi một góc làng hay chốn đìnhtrung Đằng sau luỹ tre làng là một nông thôn xơ xác, đói nghèo, càngthảm thương hơn khi vào mùa nước lụt hay kì sưu thuế, lũ cường hào ác

bá bóp hầu, bóp cổ dân quê, mâu thuẫn giai cấp dồn nén âm ỉ, càng dậpcàng dễ bùng lên Đó là một suất thuế thân còn thiếu của người đã chết,hay là cái ăn trong mùa nước nổi, nghệ thuật băm miếng thịt gà chianhau một miếng giữa làng Vũ Trọng Phụng xây dựng cả một xã hội thunhá với đủ mọi tầng líp người, từ Thống sứ, vua Xiêm, quan Tây, vua ta

cho tới mọi đại diện xã hội trong một tiểu thuyết hoạt kê bậc thày Số đỏ.

Sức khái quát hiện thực rộng lớn kết hợp với khả năng nhìn thấu tỏ bảnchất xã hội trên nét cơ bản nhất, cùng với thái độ căm uất không nguôicái xã hội "chã đểu"( chữ của Vũ Trọng Phụng) đã giúp nhà văn xây

dựng những tiểu thuyết lớn như Giông tè, Vỡ đê bên cạnh hàng loạt

những phóng sự nổi tiếng

TiÓu thuyết của Nam Cao ra đời sau hàng loạt những tiÓu thuyếtlớn đã nổi danh, lừng lẫy trên văn đàn của các bậc nhà văn đàn anh nhNgô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan Trong bầu không khísôi nổi của Mặt trận Dân chủ1936-1939, các nhà văn đã kịp ghi lại

Trang 22

những bức tranh hiện thực chân thực, sống động về xã hội thực dân nửaphong kíên Việt Nam víi tất cả tính chất tàn bạo, thối nát, những mâuthuẫn gay gắt trong lòng một xã hội thuộc địa Bằng ngòi bót trào phúng

độc đáo, tiÓu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng đã lên án cái xã

hội tư sản thành thị Việt Nam đang chạy treo lèi sống văn minh rởm hếtsức lố lăng, đồi bại đương thời "Tác giả đã đả kích cay đéc các phongtrào “Âu hoá”, “thể thao”, “giải phóng nữ quyền” đang phát triÓn rầm rékhi Êy, nhân danh "văn minh", "cải cách", "tiÕn bộ xã hội" mà thực chấtchỉ là ăn chơi truỵ lạc, làm tiÒn, chà đạp trắng trợn lên mọi nền nếptruyền thống Ngòi bút châm biÕm sắc sảo của Vũ Trọng Phụng cũngkhông quên đề cập tới những tổ chức do thực dân đỡ đầu như Hội khaitrí TiÕn Đức, Hội chấn hưng Phật giáo, tíi cả bộ máy chính quyền thựcdân, từ bọn cảnh sát đến phủ Toàn quyền, thậm chí cả quan Toàn quyền,

Thống sứ, vua ta, vua Xiêm cũng bị đưa lên cái sân khấu trò hề Số

đỏ"(29,307).Tác phẩm có màu sắc thời sự nóng hổi và tính chiÕn đấu rõ

rệt Số đỏ đã đưa ra hàng loạt những chân dung biÕm hoạ rất mực sinh

động về gần đủ loại nhân vật tiêu biÓu cho cái xã hội tư sản nhố nhăngđó: mụ me Tây đĩ thoã dơ dáng, cô gái míi hư háng một cách có lí luận,ông chủ hiệu may "làm cách mạng trong vòng pháp luật" bằng những yphục phụ nữ tối tân, nhà mĩ thuật hăng hái cổ động Âu hoá nhưng cấmngặt vợ con không được mặc tân thời, cô cố Hồng hiÕu danh hủ lậunhưng thực chất là đứa con bất hiếu, Víchto Ban- chủ khách sạn BồngLai kiêm vua thuốc lậu, đốc-tờ Trực Ngôn- đồ đệ Phrớt, nhà chính trịbảo hoàng Giôdep ThiÕt Nhà văn cũng không quên một lũ thối tha trong

xã hội bấy giê, từ bọn lang băm đến giíi cảnh sát, từ nhà sư hổ mang cổđộng chấn hưng Phật giáo đến đại diện Héi Khai trí TiÕn Đức vốn quíphái song “ vẫn gá tổ tôm một cách bình dân” và đang định đưa những từ

Trang 23

như "mẹ kiếp", "nước mẹ gì" của Xuân Tóc Đỏ vào từ điển do hội biênsoạn Đây thực sự là một cuốn tiÓu thuyết có sức khái quát hiện thựcrộng khắp, trình độ tiÓu thuyết già dặn, bót pháp châm biÕm đặc biệtsắc sảo Còng trong thêi gian này, với sức sáng tạo mạnh mẽ, Vũ Trọng

Phụng còn cho ra đời hai cuốn tiÓu thuyết xã hội lớn khác là Giông tè và

Vỡ đê đề cập trực diện đến những vấn đề của xã hội đương thời TiÓu

thuyết của Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố lại đề cập đến những mâuthuẫn gay gắt không thể xoa dịu trong lòng xã hội nông thôn Việt Namdưới sù tác động mạnh mẽ của những chính sách thực dân tàn ác, vô

nhân đạo TiÓu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố đã dựng nên một

bức tranh chân thực, điÓn hình về xã hội nông thôn Việt Nam đươngthời, có sức tố cáo mạnh mẽ Qua mấy ngày cuối vụ thuế - tác giả xoáysâu vào nạn thuế thân, một thứ thuế dã man, quái gở, tác phẩm đã vạchtrần bộ mặt tàn bạo của trật tự thực dân nửa phong kiÕn Tác phẩm tậptrung làm nổi bật mối mâu thuẫn giai cấp đối kháng gay gắt trong lòngnông thôn Việt Nam trước Cách mạng, đồng thời thể hiện chân thực cuộcsống cùng quẫn, đói khổ của người nông dân bị áp bức, bóc lột tàn tệ

"Tuy dung lượng không lớn, Tắt đèn đã đưa ra đủ mặt những đại diện

của giai cấp thống trị trong xã hội nông thôn khi đó: bọn địa chủ độc ác,keo kiệt, bọn cường hào tham lam, thô lỗ, bọn quan lại dâm ô, bỉ ổi, bọntay sai đầu trâu, mặt ngựa và sau bọn chúng thấp thoáng bóng "ôngTây" víi chính sách sưu thuế dã man Víi thái độ yêu ghét một cách dứtkhoát, rõ ràng, Ngô Tất Tố đã nhìn thấu bản chất tàn ác, xấu xa, khôngchút tính người của chúng, miêu tả chúng bằng những nét sắc sảo, linhhoạt, đòng thời xây dựng được một điÓn hình chân thực, đẹp đẽ, khoẻmạnh về người phô nữ nông dân lao động"(29,335) Qua nhân vật chịDậu, tác giả vừa khắc hoạ một cách thấm thía về nỗi khổ đau cùng cực

Trang 24

của người nông dân bị áp bức bóc lột, vừa khẳng định phẩm chất đẹp đẽcủa họ không gì có thể vùi dập được

Có thể thấy hầu hết các nhà văn thời kì này đều đề cập tới nhữngvấn đề lớn của dân téc và thời đại mét cách trực tiÕp: Vấn đề nông dân,vấn đề ruộng đất, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân téc ĐiÒu này đãtạo cho các tiÓu thuyết của họ mét tầm khái quát hiện thực sâu rộng, sứcchiÕn đấu rõ rệt, mạnh mẽ, quyết liệt Ảnh hưởng của Đảng Cộng sảnĐông Dương , không khí cởi mở và phong trào đấu tranh sôi nổi củaMặt trận Dân chủ đã gióp cho các cây bót có điÒu kiện tổng hợp cả bềrộng và bề sâu của hiện thực đời sống, phơi bày trực tiÕp bản chất của

nó và tương đối công khai trong việc bày tỏ những suy nghĩ, cảm xúc,đánh giá của mình về những vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội đươngthời

*

* *Nam Cao sáng tác vào chặng cuối của chủ nghĩa hiện thực, khi cácbậc đàn anh như các tác giả nêu trên đã là những tên tuổi lừng lẫy trênvăn đàn Tiểu thuyết Việt Nam nói chung, tiểu thuyết hiện thực nói riêngtính từ đầu thế kỉ XX còn bỡ ngỡ, đến thời điểm bấy giê đã có nhữngbước tiến vững chắc và đạt được những thành tựu đáng tự hào Đó là mộtthách thức lớn đối với Nam Cao, người đến sau nhưng lại luôn tâm niệmvăn chương phải là sự sáng tạo, "khơi những nguồn chưa ai khơi và sángtạo những gì chưa có" Đó là những năm chiến tranh thế giới thứ haibùng nổ, Nhật nhảy vào Đông Dương, cuộc sống đại đa số các tầng lípnhân dân lúc bấy giê vốn đã thê thảm lại càng ngột ngạt hơn nữa Trêncái nền hiện thực quánh đặc, tăm tối nồng nực, ngột thở Êy, tiểu thuyếthiện thực của Nam Cao lại đạt được những thành công vượt trội, đặc biệt

Trang 25

hiếm thấy Khâc với câc nhă văn đăn anh đi trước, tiểu thuyết của ôngkhông tiếp cận hiện thực trín câc sự kiện lớn, trín câc mối quan hệ chấtchứa đầy mđu thuẫn đối khâng giữa câc giai tầng mă tiếp cận hiện thựctheo hướng đời tư, thế sự Có lẽ vì vậy mă một thời gian rất dăi, ngay cảsau Câch mạng thâng Tâm, tiểu thuyết của Nam Cao không được người

ta đânh giâ đúng mức.Tiểu thuyết Sống mòn từng bị đânh giâ lă bằng

chứng tiíu biểu cho sù “suy tăn” của chủ nghĩa hiện thực phí phân ở

nước ta (Nguyễn Khải đê từng đânh giâ về Sống mòn: "Nếu Nam Cao

không phải lă người khai sinh ra hai nhđn vật văn học bất tử lă Chí Phỉo

vă lêo Hạc thì chẳng ai muốn nhắc đến tiểu thuyết Sống mòn của ông.

Theo tôi, đó lă cuốn sâch viết hỏng nhă giâo mă chỉ nghĩ đến chuyệnmưu sinh, đến miếng ăn, đến tiền bạc thì cuộc đời tầm thường lắm, nhạtnhẽo lắm, dẫu một tăi năng nh Nam Cao cũng không cứu vên nổi")

Nhìn thoâng qua, có cảm giâc nhă văn nĩ trânh đề cập đến nhữngvấn đề lớn của hiện thực đời sống xê hội đương thời , nhưng thực chấtchúng được Nam Cao tiÕp cận vă đề cập đến ở một góc độ khâc: Góc độthế sù , đời tư Vă chính ở góc độ năy, tiÓu thuyết của Nam Cao đê đạtđến những chiều sđu mới Những vấn đề xê hội mă tiÓu thuyết của nhăvăn đặt ra thì không những sđu sắc vă rộng lớn hơn mă còn mới mẻ, tâobạo nữa, nh muốn vượt ra ngoăi tầm suy nghĩ của mấy cđy bót đăn anh

Sống mòn xoay quanh cuộc đời của những Thứ, San, Oanh, Đích

trong đó Thứ lă nhđn vật chính Không có mđu thuẫn giai cấp, không cóđấu tranh xung đột giữa câc tầng líp, chỉ có những kiÕp người mòn mỏi

lí thí Nội dung của truyện chỉ loanh quanh trong những ngăy Thứ dạyhọc ở trường tư của Đích ven Hă Nội Chịu không nổi sự bần tiện, keokiệt của Oanh- bạn gâi của Đích- Thứ vă San rủ nhau ra ngoăi thuí nhẵng Học Cuộc sống ngăy căng nặng nề Sau kì nghỉ hỉ, Thứ quay trở lại

Trang 26

Hà Néi thì cuộc chiến tranh đã lan đến tận Hà Nội, trường phải đóng cửa.Trên con tàu trở về quê nhà, Thứ xót xa nghĩ đến cuộc đời mình mònmục ra rồi chết mà chưa được sống Các sự kiện chính không nhiềunhưng sao cái hiện thực đời sống ngột ngạt đến tắc thở Êy vẫn hiện lênthật rõ, thật ám ảnh, thậm chí cứ nh xoắn lấy từng hơi thở của người tavậy Không gian truyện không mở rộng, chỉ đi về giữa không gian thànhthị là chốn ngoại ô nhỏ nơi góc trường tư Thứ đang dạy và không giannông thôn là cái nhà nhỏ mấy thế hệ nhà Thứ cùng sinh sống Số lượngnhân vật không nhiÒu, xét về giai cấp, tầng líp thì chỉ loanh quanh trongsinh hoạt hàng ngày của mấy anh chị giáo viên khổ trường tư, dân nghèothành thị là vài anh xe, dăm cô gái tân thời, chị vó em, ông bà chủ nhàtrọ… và những người còn lại trong gia đình Thứ thì nông dân đặc sệt.Không có cường hào ác bá, địa chủ tư sản với những thủ đoạn của chúng,chẳng có những tầng líp thống trị chóp bu cầm quyền, không phải lànhững biÕn cố lớn mà chỉ là những vặt vãnh của cuộc sống sinh hoạthàng ngày Nhưng chính những vặt vãnh tưởng như tầm thường Êy lạitrãi buộc, bào mòn con người ghê gớm Thứ là người có học thức hiÓubiÕt Từ thêi trai trẻ, anh, còng nh bao con người trẻ trung míi buớc vàocuộc sống đã từng ôm Êp bao nhiêu nhiệt huyết say sưa của tuổi trẻ, cáinhiệt huyết cống hiÕn sống có Ých, sống làm chủ cuộc đời trong xã hội.Thứ đã từng “ mặc áo bà ba đi chích thuốc thí ở nhà thương Còn chút thìgiờ thừa nào, y học rất chăm Y đợi mét dịp may mắn có thể xin xuốnglàm bồi tàu để đi sang Pháp Y sẽ sang đấy, để nhìn rộng, biÕt xa hơn đểtìm cách học thêm Phải có một trình độ học thức khá cao Phải luyệntài Có học, có tài, y míi đủ năng lực để phụng sự cái lí tưởng của y.Tạng người y không cho y cầm súng, cầm gươm Y sẽ cầm bót mà chiÕnđấu." Cái mộng đẹp Êy đáng quý biÕt bao nếu như nó không bị hiện

Trang 27

thực cuộc sống bóp nát, làm cho thui cháy đi.Cái mộng thanh niên đẹp

đẽ, lí tưởng Êy chỉ còn trở về trong hồi tưởng đầy chán nản của Thứ,càng để anh đau khổ hơn, nhìn rõ hơn, thấm thía hơn tình trạng chết mòncủa mình Cái quá khứ Êy cứ thỉnh thoảng lại trở lại, còn hiện thực triÒnmiên víi Thứ là “Cơm, áo, vợ, con, gia đình bó buộc y”, “tương laiđóng cửa trước mắt y”, “TiÒn! Cần phải có tiÒn trước đã” Nam Caokhông đi vào chính sách thuế, vào thủ đoạn bóc lột của bè lũ thống trị,ông chỉ vào hiện thực cuộc sống thế sự đời tư của từng cá nhân bé nhỏ ởcái chi li, tỉ mỉ nhất của nó Tấng líp thống trị chỉ được nhắc đến Ýt áiqua nhân vật Bá KiÕn: "Ông bá KiÕn vẫn còn sống, vẫn còn giàu Ông

đã từ tiên chỉ để con trai ông ra làm lí trưởng, nhưng thực ra ông vẫnnắm quyền tiên chỉ Mọi việc trong làng vẫn một tay ông cắt đặt Đàn emvẫn bị bóc lét đến không còn cái khố…" Cái thèi tha của lũ thống trị ăntrên ngồi chốc cũng chỉ được nhà văn nói đến thoáng qua khi Thứ nghĩ

về cái lèi sống của chính gia đình Êy: "Ông bá KiÕn đã bao nhiêu lần bịngười ta bắt quả tang ngủ với vợ người ta, phải bá tiÒn ra để điÒu đình.Ông ngủ cả với vợ mõ, ngủ cả với con dâu Bà ba ngủ cả với anh canhđiÒn Con gái lớn, hai đứa con rồi, còn phải lòng một cung văn Cả bàcon dâu, vợ lí Cường, rõ ràng là bà lí hẳn hoi mà có lẽ chỉ còn có conchã là bà chưa ngủ với Cái gia đình Êy thật là mục nát, thật là đốn mạt!"Cái bản chất xấu xa của một tầng líp trong xã hội nông thôn xưa đượcnhà văn nhìn nhận và khắc hoạ từ lối sống, sinh hoạt hàng ngày, nhưng

nó cho thấy cái phởn phơ, cái phè phỡn của những kẻ chỉ nồng nỗnghưởng thụ bằng tiÒn của bóp hầu bóp cổ dân nghèo Về thủ đoạn bópnặn dân nghèo bằng sưu thuế, Nam Cao chỉ nhắc đến bằng một chi tiÕtnhân suy nghĩ của Thứ về cái ươn hèn, tầm thường, đáng khinh của San:

Trang 28

"Ngay từ hồi còn bé cỏn con, Thứ đã được thấy bà ngoại y, mỗi lần đinép thuế về, nghẹn ngào:

- Cha mẹ nó! Nó bóp hầu, bóp cổ người ta Thuế nhà mình mà nó tínhhai chục bạc! Nó lấy một mà hai ở cái làng này mà thấp cổ , bé miệngthì ức thật, chúng nó không còn để cho người ta sống"

Tất cả chỉ được nhà văn kể xen kẽ trong những liên hệ hay suytưởng tạt ngang của nhân vật Thứ Phần còn lại chiÕm trung tâm của tácphẩm là hiện thực ngày càng ngột ngạt eo hẹp, khó thở, nó xiÕt chặt bópnghẹt con người: "Gia đình y khánh kiệt rồi Bà ngoại y già nua, ốmyếu, bẳn gắt, buồn rầu Bà chửi con cháu suốt ngày và khóc suốt ngày.Ông thân y uống rượu suốt ngày chỉ vì thất bại rất nhiÒu Lò em y lócnhóc rất đông, không được đi học, không được mặc, thường thườngkhông đến cả ăn, gầy guộc, rách rưới, bẩn thỉu, đen thủi, tục tĩu và xấcláo, cãi đánh nhau suốt ngày chí choé Bà mẹ y già và xấu đi nhiÒu quáđến nỗi y tưởng như mình xa nhà đến mấy chục năm, làm và nhịn tọpngười đi như một con ve, một mình cố nâng đỡ cả một thế giíi đang sụp

đổ kia, như một con ngựa già cố kéo một cái xe nặng lên khỏi dốc, tuybiÕt mình kiệt sức rồi Vợ y cũng khác nhiÒu Liên già đi đến mười năm

….Làng y vẫn nh xưa, khổ nh xưa Vải Tây rẻ nh bèo Nghề dệt cổ sơcủa làng chết hẳn rồi….” Cuộc sống của mỗi nhân vật dù ở nông thônhay thành thị thì cũng cùng chung một nhịp: sống mòn (hay là chết mòncòng vậy) Mỗi nhân vật trong tác phẩm là mét kiÓu sống mòn Thứ vốn

là con người cã nhân cách, đặc biệt ý thức về sống (như hầu hết các nhânvật trí thức tiÓu tư sản trong các sáng tác khác của Nam Cao) Chính ởnhân vật này, nhân vật trong tác phẩm có tính chất tù truyện, nhà văn đãgửi gắm vào đó những quan niệm đúng đắn, nghiêm túc về sự sống: "Thứvẫn không thể nào chịu được rằng sống chỉ là làm thế nào cho mình và

Trang 29

vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi Sống là để làm một cái gì đẹp hơnnhiÒu, cao quÝ hơn nhiÒu……." Vậy mà anh đã phải chôn những ướcvọng cao đẹp của đời mình trong một xóm ngoại ô nghèo túng, mòn mỏilàm anh giáo khổ mét trường tư, cay đắng nhìn cuộc đời mình và cuộcđời bao người xung quanh đang chìm dần, chết dần Rốt cuộc, cuộc sốngđối víi Thứ chỉ còn là kiÕm sao cho đủ thức ăn ngày hai bữa đổ vào cái

dạ dày: "cái lèi sống co quắp vào mình, cái lèi sống quá ư loài vật, chẳngbiÕt việc gì ngoài cái việc kiÕm thức ăn đổ vào cái dạ dày" NhữngkiÕp người khác nh San, nh Liên, nh bè mẹ Thứ, bà Thứ… cũng phải vậtlộn trong mưu sinh nh thế: "Gò cói mãi! Làm! Chỉ có làm! Chịu khổ! Màchẳng bao giờ được hưởng, mà chẳng bao giờ cất đầu lên nổi"

Cái nhân loại mà mỗi cá thể nhỏ bé như con sâu, cái kiÕn Êy bịgánh nặng cơm áo đè bẹp Liên quắt người đi vì làm, vì nuôi con Các

em Thứ, bà Thứ víi mẹ Thứ chưa bao giờ được một bữa cơm no chứ nãi

gì đến bữa cơm ngon, dù chỉ là một bữa có chút thức ăn đậm đà đưacơm Cái ăn trong truyện của Nam Cao sao mà đắng cay thế Nó làmiÕng tủi, miÕng nhục khi nã đi liÒn víi cái đói, đi liÒn víi cái nhục.Hình ảnh các em Thứ, bà Thứ cứ trở đi trở về dày vò Thứ mỗi khi anh dựđịnh một cuộc ăn chơi ("Hìi ôi! Đó chỉ là một bữa chả bánh đa hay mộtbuổi chíp bóng ban ngày, thu nửa tiÒn"): “ Chúng trở về để can ngăn yhay nghiÕn nát y BiÕt bao lần đang đi đến mét tiệm ăn, y sực nhớ đến

bà, mẹ, vợ, em mà lại thấy chân rã rời, bước ngập ngừng hơn một chút,rồi đột nhiên quay gót lại BiÕt bao lần, giữa một bữa ăn vui do mộtngười bạn có tiÒn mêi, hình ảnh một cụ già nuốt nước bọt thầm hay mộtđứa em lấm lét nhìn trộm nồi cơm để ước lượng xem nó có còn hi vọng

gì được thêm một lượt xới nữa chăng, đột nhiên hiện ra, khiÕn y đang ănuống ngon lành, bỗng ngÈn mặt, thẫn thờ, mân mê cốc rượu để trên bàn

Trang 30

và thở dài khe khẽ” Cuộc sống nh vậy đâu còn có gì vui Sống sao màkhổ nhục thế! Cuộc sống đã là mét cái gì quá đỗi nặng nề… Vì miÕng

ăn mà cái đám nhân loại bé nhỏ Êy giày vò lẫn nhau và làm khổ nhau.Bữa ăn đối víi Thứ và San là đắng đót khi cảm giác Oanh cứ nhìn chòngchọc, đếm từng bát cơm, đến từng tí đậu, tí mắm mà họ ăn Miếng cơmgiữa gia đình của chính mình mà Thứ cũng không thể nào nuốt nổi.Trước cái nghẹn ngào không nuốt nổi chót cơm chiÒu duy nhất chỉ dànhriêng cho Thứ, bà mẹ anh phải gắt lên khi anh muốn nhường nã cho bàhay các em của mình: "Khèn nhưng rồi chóng quen đi thì chết đấy! Cứbắt chúng nó nhịn cho quen chứ" Và miÕng cơm Thứ ăn trong “nướcmắt ứa ra MiÕng cơm nghẹn lại, y phải duỗi cổ ra để nuốt Và thiÕuchút nữa là y đã oà lên khóc…” Có lẽ hiÕm nhà văn nào viÕt về cái ăn

mà cay đắng cùng cực đến nh đoạn văn này

San, người đồng nghiệp cùng làng với Thứ, còng sống một cuộcđời tương tù Anh lấy vợ khá giả, đã từng vào kì thu thuế, phát thẻ giùmanh vợ, chia bài cho bố vợ đánh tổ tôm, rồi chính Thứ có lần bắt gặp Sanđang giở cuộc tổ tôm Nhưng đời San nào có khác gì Thứ, nhất là quãngđời làm anh giáo khổ trường tư cùng Thứ và cái kết cục của quãng đời

Êy San cũng đã từng mơ ước làm hoạ sĩ- một cuộc sống theo ý mình,phát huy tét độ cái khả năng mà mình có chứ không chỉ có gò lưng vào

mà làm, mà dạy học như Thứ Êy vậy mà anh ta rồi còng kẽo kẹt ngàytháng kéo lê cuộc đời, khèn khổ của mình với chót lương còm cõi đếnnuôi thân còn khó Cái kiÕp sống mòn của San thật cũng chật chéi, eohẹp, khổ sở, khác gì Thứ đâu Anh ta cũng từng phải tủi nhục và chịubiÕt bao dằn vặt làm méo mó biÕn đổi cả con người Dẫu không thựccay đắng nh Thứ, San cũng là một dạng sống không ra người và điÒunày, bằng con mắt thấu hiÓu, Thứ nhìn thấy rõ về bạn mình Nhà văn đã

Trang 31

nhập vào Thứ mà nhìn nhận quan sát về cuộc đời xung quanh mình Mộtnhà phê bình văn học đã rất có lý khi cho rằng Thứ là tự truyện của NamCao thì San cũng là Nam Cao mà phân thân ra đấy thôi, là một phần hạnchế trong con người Nam Cao mà nhà văn tự lôi mình ra mà mổ xẻ, màchế giÔu Ở chèn trường tư khổ sở cuối cùng cũng phải đóng cửa Êy còn

có Oanh, Đích Oanh thì bần tiện keo kiệt, sống mòn trong cái cuộc đời

cứ phải tính toán chi li, mòn mỏi trông chờ mét tương lai tươi sáng hơnchẳng bao giờ tíi Đích thì mòn mỏi chèn công sở nh mét con thiêu thân

và cuối cùng rồi còng chết vì ho lao, chết mà chưa hề được sống Trongcách nhìn nhận của Thứ, cuộc sống của những anh bồi, anh xe, chị vú có

lẽ còn dễ thở, Ýt nhất bởi họ hồn nhiên hơn, đơn giản hơn cuộc sống củamấy anh chị tiÓu tư sản Nhưng liệu có phải thế? Hãy nhìn đời sống của

vợ chồng ông Học, cuộc sống của gia đình Êy cứ trôi qua ngày này thángkhác cũng trong nỗi vất vả của cuộc đời mưu sinh, và cứ mòn mái ngàytháng Sáng bà vợ gánh hàng đi chợ, ông ở nhà "cho lợn ăn, xếp dọnxanh nồi, rồi bắt đầu quét, giéi nước và kì cọ sân, chuồngtiêu,chuồnglợn…", rồi thì xay đậu ChiÒu thì ông lại mét lượt nh thế.Suốt ngày ông chỉ ở nhà, “ông chỉ ra khái cổng để đổ rác bẩn ra cái lối đihay để tiÓu tiện vào những cái vòng ngầu ngầu ở chân tường” Ôngchăm lo sạch sẽ cho nhà, cửa, sân bếp, còn bản thân ông và lò con thìcáu bẩn Mà cái sù sạch sẽ của ông cũng chỉ trong đất nhà ông thôi, cònbên ngoài, “không những ông không quét dọn đến bao giê, bao nhiêu cáibẩn thỉu ở bên trong, ông đều tống ra đấy cả” Thó vui duy nhất của ôngHọc là thổi kèn tàu bằng mồm mà cũng đâu có được thoải mái Người vó

em suốt ngày lọ mọ như đụn ra biÕt đi và đêm đêm cắm cụi ngồi vá áo,không biÕt áo rách ở đâu mà nhiÒu thế, “lặng lẽ như một con ma, ngồi

vá bên ngọn đèn con con ….” Vợ chồng anh xe ăn xổi ở thì, rồi người

Trang 32

đàn bà bị chồng bạc đãi thuê nhà ông Học víi hai đứa con sống nhẫnnhục chịu đựng Hình ảnh người vợ Êy dễ khiÕn người đọc liên tưởngđến cuộc đời của dì Hảo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao víi lêi

thở dài của dì: "Phải, nhẫn nại là hơn…" Trong cái thế giíi của Sống

mòn, nào có ai sống cho ra hồn, sống cho mạnh mẽ hơn Đi vào những

kiÕp sống mòn Êy, chẳng cần tíi sù xuất hiện trực tiÕp của bóng dángthực dân hay đề cập tới mét chính sách tàn bạo nào, cái hiện thực cuộcsống tối tăm khắc nghiệt víi ý nghĩa tố cáo của nó vÉn cứ hiện lên lồ lé

đậm nét Tập hợp những kiÕp người trong Sống mòn lại ta thấy cả một

thế gian nhân loại đang rên xiÕt ngột thở, đang quằn quại trong mộtcuộc đời mòn ra, rỉ ra, mốc lên “Sống tức là thay đổi”, nhưng mỗi cuộcđời trong tác phẩm đều tù đọng, đều giÉm chân tại chỗ, bế tắc không lốithoát Và cái hiện thực thuở Êy càng ngày càng đen tối hơn Thứ, Sancuối cùng mất việc, bị Hà Nội đuổi về xãm quê Anh nhà quê lại trởthành anh nhà quê, sống bám vợ Cả cái xóm ngoại ô ấy đều bị vùi dậptàn nhẫn Từ những Thứ, San, Đích, Mô… cho tíi cả những cô sen, cậunhá, anh xe, cái xã hội máy nước cùng với u em, ba mẹ con bà ở căn nhà

lá của ông Học…., tất cả đều bị đuổi về quê cũ hoặc chết (Đích, bà Hà),hoặc lụi bại rồi kéo nhau đi nơi khác, hay chết đói Cuộc sống ngột thở

vẫn tèi sầm Đánh giá về thành công này của Sống mòn, trong Từ điÓn

văn học, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hoành Khung khẳng định:

"Sống mòn là một bức tranh hết sức chân thực về cuộc sống nghèo khổ,

tủi nhục của líp trí thức tiÓu tư sản nghèo trước cách mạng, qua đó làthực trạng buồn thảm, bế tắc của cả xã hội đang rên xiÕt khủng hoảngđương thời"

Truyện ngưêi hàng xóm lại phản ảnh hiện thực đời sống ở một

khía cạnh khác nhưng dường nh nhà văn có cùng một cách tiÕp cận Câu

Trang 33

chuyện xoay quanh cuộc đời mét số nhân vật ở một xóm ngoại ô nghèolại có cái tên khá thơ mộng “xóm Bài Thơ” Nơi Êy có cuộc sống củagia đình ông Ngã, người thợ chạm có tay nghề nhưng nghiện rượu, giađình bà Hai Mợn- sự lắp ghép của những số phận, gia đình HiÒn- cậu bélành như cái tên, gia đình bác Hai Vằn, bà cháu Lộc… và kẻ cho thuênhà là ấm Háo Chuyện xoay quanh những lặt vặt thường ngày, những vachạm hết sức nhá nhặt của lũ trẻ con, những tính toán, ghen tuông, đố kỵ

vặt vãnh dẫn đến va chạm của những người lớn So víi Sống mòn, các sù

kiện biÕn cố có phần nhiÒu hơn, cách nhìn con người của nhà văn cóphần ấm áp hơn ViÕt về đề tài những người lao động nghèo khổ, nhữngcon người xung quanh mình, Nam Cao dường như luôn nhìn thấy sự Êm

áp đôn hậu ngay trong cuộc sống cay cực, khắc nghiệt nhất Còn trong

Sống mòn nhà văn dường nh đang căng nọc chính mình ra mà phân tích,

mà mổ xẻ, nên nã đau xót nghiệt ngã vô cùng Cái xã hội thu nhá trongxóm Bài Thơ Êy cũng đầy những rắc rèi: những va chạm giữa bà Ngã với

bà Hai Mợn rồi giữa bà Hai Mợn víi ông Ngã, giữa cô Viên víi mẹ HiÒn,cái chết của cô thầy gọi rí và một sự thật giÕt người rùng rợn, nhữngước ao, đau khổ đầy đau đớn kìm nén của Câm, của HiÒn Nhưng đằngsau những mảnh đời tư Êy, ta vẫn nh thấy những vấn đề lớn lao của cuộcđời sống thế sù ĐÊy là những kiÕp thợ nh mẹ HiÒn, nh ông Ngã cứ vấtvưởng khổ sở mãi mà chẳng sao mở mắt ra được Đấy là những kiÕpsống trôi dạt nh mẹ con HiÒn, nh TiÒn, nh Lộc…Đấy là những cuộc đờilầm than, mái mòn không lối thoát Chẳng có ánh sáng nào hửng lên trêncuộc đời tèi tăm của họ Vợ chồng bác Hai Vằn că đời công nợ dầm dề

Bà Ngã suốt đời khổ sở nuôi chồng, nuôi con vẫn luôn bị chồng đánhđập Và còn biÕt bao kiÕp người ở cái xóm Bài Thơ Êy ngụp lặn trongđói khổ Sè phận mỗi con người ở nơi Êy sao mà bi đát, thê thảm TiÒn

Trang 34

thành gái bán thân để nuôi mình và người cha nghiện ngập, Léc vắt óc,lăn lộn giữa cuộc đời, rồi HiÒn víi cuộc sống vắt vưởng, cầm cự trong

nợ nần, khèn khó, khao khát một tình thương ủ Êp lắm khi rít nước mắt Nãi nh Léc: "Óm ba la! Ba ta cùng khổ" Mẹ HiÒn bá con phiêu bạt tậnnhững nơi nào, ông giáo Minh bán trường rồi không biÕt đi đâu Hìnhảnh ông giáo có phần bí Èn Ngày ông dạy dăm ba đứa trẻ con, còn lạibao nhiêu thêi gian thì đọc sách: "Ông thức rất khuya, đọc hết quyểnsách này đến quyển khác …Nếu không đọc sách thì ông viÕt Nhữnglúc hiÕm hoi và ngắn ngủi, ông không đọc, không viÕt thì ông hót thuốclá…Thỉnh thoảng ông nói mét mình như một người điên , mà nói rất to,rất hăng hái, vừa nói, vừa bước hung hăng từ đầu nọ đến đầu kia căn gácnhư một con hổ lồng lộn trong còi sắt, hoặc đứng lại nghiÕn chặt răngcho cái xương hàm bật hẳn lên , đập mạnh tay xuống bàn mà gầm lớn,như muốn đánh ai bẹp dí …" Có lẽ ông giáo Toản là hình ảnh tương đốisáng sủa trong toàn bộ bức tranh cuộc sống nhờ nhờ u tèi của tác phẩm,dẫu còn mơ hồ Nhân vật này phải chăng là niÒm tin, dự cảm của NamCao về người Cách mạng trong những năm mà phong trào quần chúngthời kì Mặt trận Việt Minh đã bắt đầu tác động rộng khắp và Nam Caotham gia tổ chức Văn hoá cứu quốc Rõ ràng cái không khí xã hội, khôngkhí của thêi đại đã in đậm dấu Ên của nó trong tác phẩm của Nam Cao

2 Từ những cái xoàng xĩnh, tầm thường mà đề cập đến những vấn

đề lớn lao của đời sống con người

Xem xét tiÕn trình phát triÓn của văn học hiện thực Việt Nam giaiđoạn 1930- 1945, ta thấy cách tiÕp cận hiện thực của tiÓu thuyết giaiđoạn cuối đã có khác so víi chính nó trước đó Đó là mét bước phát triÓn

để tiÓu thuyết Việt Nam hoà nhập vào dòng chảy hiện đại hoá Trong

Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh có

Trang 35

tổng hợp những hạn chế cơ bản của văn học hiện thực phê phán giai đoạnnày là đề tài bị thu hẹp, bóng dáng thực dân, phong kiÕn không nhiÒu,các tác phẩm đi sâu vào phong tục , đi vào quan hệ gia đình hẹp hơn làquan hệ xã hội rộng lớn, bỏ qua, lẩn tránh nhiÒu đề tài có tính chất chínhtrị nóng bỏng, có tinh thần bi quan bế tắc ở không khí tác phẩm….Có thểthấy xu hướng viÕt về phong tục nông thôn là xu hướng chung của nhiềutác phẩm giai đoạn 1940-1945 do ảnh hưởng của những yếu tố kháchquan Nhật tràn vào Đông Dương Cuộc sống ngột thở, bế tắc, không khídân chủ của Mặt trận Dân chủ 1936 – 1939 không còn, kiÓm duyệt trởlại và khắc nghiệt hơn bao giờ hết Có những cây bót bị bắt, bị đi tù nhNguyên Hồng… Nhưng đằng sau những bức tranh phong tục Êy, người

ta vẫn thấy nổi bật lên một nông thôn ảm đạm xơ xác đói nghèo vớinhững kiÕp người vất vả lam lũ khèn khổ mà vẫn còn làm khổ nhau

thêm Những tiÓu thuyết Quê người của Tô Hoài, Ngoại ô của Nguyễn Đình Lạp, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư… đều là những tác phẩm đi vào

cuộc sống của các cá nhân Văn học hiện thực giai đoạn này không phảnánh hiện thực trên phạm vi rộng lớn mà thu nhỏ vào các gia đình, các cánhân "Chỗ yếu của văn học hiện thực thời kỳ này là không trực diệnphê phán những lực lượng thống trị xã hội, không trực tiÕp lên án nhữngthủ đoạn áp bức của chúng Nhưng chỗ mạnh của nó là qua những cáihàng ngày của đời sống người tiÓu tư sản nghèo với những lo toan căngthẳng vì miÕng cơm, manh áo, qua số phận thê thảm của những gia đìnhnông dân hay dân nghèo thành thị mòn mỏi tan tác vì thất nghiệp, vì đóikhát, khổ sở mà làm người ta cảm thấy được cái không khí ngột ngạt bứcbối của cả một xã hội đang quằn quại trong những ngày cuối của chế độthuộc địa tàn bạo"(40,120) Để tái hiện bức tranh xã hội qua không khíđời sống, mỗi tác phẩm hiện thực phải phản ánh hiện thực với chiÒu sâu

Trang 36

tư tưởng "Bản thân cái hàng ngày chỉ có thể tạo nên những trang tả thựcbằng phẳng vô vị nếu không được nhìn nhận và diÔn tả từ tầm cao nhấtđịnh của tâm hồn người cầm bót" Ở văn học hiện thực giai đoạn này,quan điÓm của người cầm bót đã đi từ tự phát đến tự giác ĐiÒu nàyđược thể hiện rất rõ trong các sáng tác của Nam Cao và nhiÒu tác giảkhác cùng thời

Song nếu đặt một phép so sánh giữa ngòi bót của tiÓu thuyết NamCao so víi Mạnh Phú Tư, Tô Hoài, ta thấy còng có nhiÒu điÓm khácbiệt Cùng phản ánh hiện thực đời sống theo hướng đời tư, thế sự, đề cậptới néi dung phong tục, nhưng ngòi bót Nam Cao lại hướng tới khuynhhướng triÕt lý hoá, khái quát hoá Mạnh Phó Tư mạnh về khai thác chấtliệu hiện thực từ đời sống lam lũ vất vả nơi ngoại ô, ngõ hẻm của dânnghèo thành thị Tô Hoài mạnh về am hiÓu phong tục, đặc biệt viÕt rấthay về cuộc sống của các loài vật nhỏ bé bình thường quanh ta, nhữngvặt vãnh tầm thường mà vẫn thó vị, hóm hỉnh Nhà nghiên cứu NguyễnĐăng Mạnh cho rằng: "Tô Hoài đặc biệt chú trọng đến những phong tục

lạ và ngộ nghĩnh qua con mắt tò mò, hóm hỉnh, tinh quái củaông"(39,293) Nhưng những cái hàng ngày trong sáng tác của Nam Caobên cạnh phản ánh một đời sống hiện thực tăm tèi, ngột ngạt còn vươntới bề sâu bề xa những triÕt lý nhân sinh quan về đời sống con người,những trăn trở, những câu hỏi thậm chí còn bỏ ngỏ (NhiÒu người gọiđây là tính chất tù vấn, loại văn chương không phải cung cấp một câuchuyện, đưa đến một tư tưởng đã định hình, có sẵn cho người đọc màđưa ra những vấn đề còn bỏ ngỏ, bắt người đọc phải tù vấn, phải đốithoại Đó là thứ văn chương kén người đọc, thứ văn chương không dễ

úp sách lên mặt mà ngủ được Phải chăng vì vậy mà có nhiÒu nhà phêbình cùng thống nhất ý kiÕn là đọc văn Nam Cao thấy mệt Người lười

Trang 37

nghĩ , sống dễ dãi sẽ không thích đọc văn Nam Cao) Hãy đọc ngay một

đoạn đối thoại giứa Thứ và San trong Sống mòn đoạn gần cuối chương

VII:

“ Thứ không nhìn San, đáp :

- Vợ chúng mình có hư, cũng bằng bốn cô con gái nhà giàu chỉ biết

ăn rồi đánh phấn, tô môi, ướm hết quần áo nọ đến quần áo kia, ra đường

thì khoác tay với những kép ôm đàn tây, chải đầu sừng, ở nhà thì chỉ ve

vẩy đi ra lại đi vào, không nằm ghế xích đu đọc tiểu thuyết tình thì lạisoi gương uốn Ðo, ưỡn cái ngực, ngoáy cái mông, hay nhún nhảy vừa háttây vừa khiêu vũ Vợ chúng mình có hư cũng còn biết nuôi con và nếukhông bận bịu vì con thì cũng còn kiếm nổi miếng mà ăn, chẳng chịuphải bám mình vào kẻ khác

Y đã phải cố làm ra vẻ bình tĩnh, ôn tồn Sự tức giận vẫn còn runglên trong tiếng nói San nghe chăm chú lắm Y vặn Thứ:

- Thế sao trong mười gái trụy lạc thì có đến chín người là gái quê,giá nhà nghèo?

- Anh bảo thế nào là trụy lạc?

- Cô đầu, gái nhảy, gái giang hồ chẳng hạn, những kẻ sống về nghềson phấn

- Chứ không nhờ sức làm việc của đôi tay hay khối óc của mình

mà sống Nếu nh vậy thì chẳng cứ gì cô đầu, gái nhảy, gái giang hồ mớitrụy lạc, phần nhiều lại toàn là con hay vợ nhà giàu cả Vợ con nhànghèo phải làm việc mới có ăn, mà khi nguời ta còn làm việc , khi người

ta chỉ kiếm ăn bằng sức làm việc mà thôi, thì gọi người ta là trụy lạc saođược?

Trang 38

San ngây mặt ra lẳng lặng nhìn Thứ một lúc lâu Nói rằng nhìn,nhưng thật ra đôi mắt y vắng cái nhìn San đang mải nghĩ Một lúc sau ymới lại hơi mỉm cười bảo Thứ:

Nó tạo nên thành những con người nô lệ

San lại cười hở cả lợi kêu lên:

- Thế thì có trời hiểu anh muốn gì! Giàu thì anh chê là trụy lạc.Nghèo thì anh chê là Ých kỷ, nhỏ nhen, nô lệ Vậy thì ý anh thế nào?

- Rất rõ ràng Tôi chỉ yêu sự làm việc và những ngưòi làm việc màthôi Theo ý tôi thì phải diệt cho hết những kẻ ngồi không hưởng nhữngthức của kẻ khác làm ra mà chẳng làm ra được cái gì Ai cũng phải làm,

ai làm cũng phải được no đủ tự do, mà chỉ những ai làm mới đựoc no đủ

tự do"

Bao nhiêu vấn đề được đặt ra ở đó: tình dục và hôn nhân, quyềnbình đẳng, quyền của phụ nữ, vấn đề lao động và hưởng thụ… Trang nàocủa tác phẩm ta cũng dễ dàng bắt gặp những vấn đề cần suy nghĩ đốithoại nh thế Nhà văn không đóng vai trò chỉ là người kể lại mét câuchuyện nữa mà còn nh mét người nêu ra vấn đề, đặt ra một vấn đề đểcùng đối thoại víi người đọc.Những vấn đề mà Nam Cao đặt ra trong tác

phẩm sao mà quen thuộc Cái gánh nặng Sống mòn đâu phải chỉ là vấn đề

của thời đại Nam Cao và đến bây giờ đâu phải đã hết Cái “chết mòn”

Trang 39

trong tinh thần, nhân cách con người có nguyên nhân tự hoàn cảnh,nhưng cũng có nguyên nhân từ chính con người: thói ươn hèn, Ých kỉ,đố

kị, ghen tuông, nỗi sợ thay đổi, sù bất lực Trong mỗi Thứ, San, Oanh,Đích hay ông Học đều có bóng dáng Ýt nhiÒu của con người chóng tangày nay và con người muôn thủa trong đó Cuộc vận lén giữa cái tôi cánhân Ých kỉ, ham thích phàm tục với sù vươn lên, hoàn thiện chínhmình, sống đúng với nhân cách con người là cuộc vật lộn muôn đời Sùham thích hào nhoáng, sự giả dèi, che đậy cái Ých kỉ phải chăng là cáibản tính chung của loài người ? Những ý nghĩa mang tầm triÕt lý sâusắc Èn chứa trong tác phẩm đã làm cho tiÓu thuyết của Nam Cao có mộtchiÒu sâu hiÕm thấy: " Chõng nào người còn phải giật của người từngmiếng ăn thì mới có ăn, chõng nào một số người còn phải dẫm lên đầunhững ngưòi kia để nhô lên, thì loài người còn phải xấu xa, bỉ ổi, tànnhẫn và Ých kỷ Chất độc ở ngay trong sự sống Người nọ, người kiakhông đáng cho ta ghét Đáng ghét, đáng nguyền rủa, Êy là cái sống lầmthan, nó đã bắt buộc người Ých kỷ, nó đã tạo ra những con người tànnhẫn và tham lam "

Đọc Truyện một người hàng xóm, đằng sau những cãi cọ vặt vãnh

những va chạm xung khắc thậm chí nảy lửa của những người lớn và cảnhững đứa trẻ con trong xóm Bài Thơ, người ta nhìn thấy sâu xa trongtác phẩm biÕt bao vấn đề của đời sống nhân sinh : người lớn lấy trẻ con

ra làm cái cớ để cãi chửi nhau, họ làm tổn thương những trái tim non nítcủa trẻ nhỏ, đầu độc những mối quan hệ vốn trong sáng vô cùng, vấn đềtạo dựng môi trường sống sao cho lành mạnh với mỗi con người, nhất làvới trẻ nhỏ : "Người ta thường thấy những ông bố, những bà mẹ than thở

vì con hư háng Có ai chịu nghĩ rằng : không thiÕu những kẻ làm conngấm ngầm đau khổ vì bố hay mẹ không đứng đắn" Từ câu chuyện về

Trang 40

cuộc đời nhân vật, người đọc nhìn ra sù ám ảnh của thêi thơ Êu đối víi

sù trưởng thành của mỗi mét con người, sù ảnh hưởng của định kiÕn xãhội và dư luận Những phân tích tâm lí của Nam Cao đụng chạm đến cái

bề sâu trong néi tâm của con người muôn thủa Lúc này hay lúc khác,người đọc vẫn bắt gặp những khổ ải, những dằn vặt của con người trongthêi đại nay trong những trang văn Nam Cao phân tích tâm lí của nhânvật Câm hay HiÒn

Mỗi chi tiÕt đời thường tưởng như nhỏ nhặt vặt vãnh trong tiÓuthuyết Nam Cao đều mang âm vang của đời sống xã hội Chuyện vặtvãnh đay nghiÕn nhau của mấy anh chị giáo khổ trường tư, trận đánhnhau nảy lửa của hai mô đàn bà… đều sự phản ánh tập trung về nhữngkiÕp sống vô nghĩa lý, mù xám, khổ sở, ngột ngạt trong một xã hộithuộc địa bóp nghẹt mọi quyền sống của con người Quan niệm của NamCao về tác phẩm văn học đã cho thấy ý thức tự giác của nhà văn khibám sát đời sống hiện thực và đưa nó vào tác phẩm: Theo ông, một tácphẩm viÕt về phong tục, chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội thì xoànglắm.” Một tác phẩm thật có giá trị phải vượt lên bên trên tất cả mọi bêcõi và giíi hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nã phảichứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi

Nã ca tụng lòng thương, tình bác ái, sù công bình…Nó làm cho người

gần người hơn” (Đời thừa) Hiện thực đối với Nam Cao không phải chỉ

để phản ánh Hiện thực còn là phương tiện để đối thoại víi người đọc, đểđặt ra những vấn đề nhân sinh vượt ra ngoài giíi hạn một xã hội, vượt bất

kì một giíi hạn không gian, thêi gian nào

Mỗi mét tác phẩm của Nam Cao đằng sau cái xoàng xĩnh tầmthường là một lời đối thoại về nhiÒu vấn đề sâu sắc của đời sống conngười Làm sao để có thể sống cho đúng nghĩa cuộc sống của một con

Ngày đăng: 18/12/2014, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bakhtin.M - Lý luận và thi pháp tiểu thuyết - Trường viết văn Nguyễn Du, HN . 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
4. Vũ Bằng - Nam Cao, nhà văn không biết khóc. Báo văn Sài Gòn, số 95, 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao, nhà văn không biết khóc
6. Nguyễn Minh Châu - Nam Cao - Báo văn nghệ, sè29, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao
7. Hồng Chương - Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật - NXB Sù thật, HN 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật
Nhà XB: NXB Sùthật
8. Đinh Trí Dòng - Bi kịch tự ý thức- nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của nam Cao , trong Nghĩ tiếp về Nam Cao - NXB Hội nhà văn, HN, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi kịch tự ý thức- nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo củanam Cao" , trong "Nghĩ tiếp về Nam Cao
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
9. Nguyễn Đức Đàn - Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, HN, 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
10. Phan Cự Đệ - Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, HN, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Đại học và trung họcchuyên nghiệp
11. Phan Cự Đệ - Nam Cao, trong Văn học Việt Nam 1930-1945. NXB Giáo dục, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao", trong "Văn học Việt Nam 1930-1945
Nhà XB: NXB Giáodục
12. Phan Cự Đệ -Lời giới thiệu" Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1930- 1945".NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1930-1945
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
13. Hà Minh Đức - Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc. NXB Văn học. HN, tái bản năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc
Nhà XB: NXB Văn học. HN
14. Hà Minh Đức - Đọc lại Nam Cao. Lời bạt tập truyện ngắn Những cánh hoa tàn NXB. Tác phẩm mới, HN, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc lại Nam Cao." Lời bạt tập truyện ngắn " Những cánh hoatàn
Nhà XB: NXB. Tác phẩm mới
15. Hà Minh Đức - Nam Cao-Đời văn và tác phẩm. NXB Văn học, HN, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao-Đời văn và tác phẩm
Nhà XB: NXB Văn học
16. Hà Minh Đức - Nam Cao trong văn học Việt Nam 1930-1945, tập I, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, HN 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao trong văn học Việt Nam 1930-1945
Nhà XB: NXBĐại học và trung học chuyên nghiệp
17. Hà Minh Đức - Nam Cao và đôi nét về nghệ thuật sáng tạo tâm lý - TCVH 6, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao và đôi nét về nghệ thuật sáng tạo tâm lý
18. Hà Minh Đức - Nam Cao phê phán và tự phê phán, trong Nghĩ tiếp về Nam Cao, NXB Hội nhà văn, HN,1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao phê phán và tự phê phán, "trong" Nghĩ tiếp về NamCao
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
19. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi ( chủ biên) - Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuậtngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Nguyễn Văn Hạnh - Nam Cao- Một đời người, một đời văn - NXB Giáo dục, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao- Một đời người, một đời văn
Nhà XB: NXB Giáo dục
21. Đỗ Đức Hiểu - Hai không gian trong "Sống mòn"- trong Nam Cao về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo dục, HN, 2003( Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống mòn
Nhà XB: NXB Giáo dục
22. Tô Hoài - Chóng ta mất Nam Cao. Tạp chí Văn nghệ, số 61, 1954 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chóng ta mất Nam Cao
23. Tô Hoài - Người và tác phẩm Nam Cao- Tạp chí Văn nghệ, số 145, 1956 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người và tác phẩm Nam Cao-

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w