1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thời gian trong tác phẩm đoạn trường tân thanh

84 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 536 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu thời gian trong Đoạn trường tân thanh chóng ta sẽ hiểu được một vấn đề quan trọng về thế giới nghệ thuật còng nh thi pháp của tác phẩm.. Thể trung gian Êy là xã hội đã biểu dương qu

Trang 1

truyện Nôm đồ sộ với khoảng trên dưới 100 tác phẩm Vì vậy, nghiên cứutruyện Nôm là việc làm có ý nghĩa khoa học.

1.2 Trong số các truyện Nôm thì Đoạn trường tân thanh của Nguyễn

Du là một trong những đỉnh cao Vì vậy nghiên cứu tác phẩm này có ý

nghĩa làm rõ được đặc trưng thể loại Với Đoạn trường tân thanh, truyện

Nôm đã khẳng định một cách thuyết phục sự phong phú về ngôn ngữ còng

nh sù hoàn thiện thể loại truyện Nôm trong văn học dân téc

1.3 Từ trước đến nay, khi nghiên cứu Đoạn trường tân thanh, các nhà

nghiên cứu đã chú trọng cả hai mặt nội dung và nghệ thuật Về nội dung,

đã có nhiều ý kiến thậm chí trái ngược nhau nhưng về nghệ thuật thì giớinghiên cứu đều công nhận Nguyễn Du là bậc thầy và chưa có một ai vượt

qua được Nghiên cứu nghệ thuật Đoạn trường tân thanh có nhiều phương

diện, song ở đây chúng tôi chỉ chọn một khía cạnh nhỏ trong thế giới nghệ

thuật của tác phẩm là “thời gian” Bởi thời gian trong tác phẩm không chỉ

thể hiện diễn biến của cốt truyện mà còn đóng vai trò là môi trường để

nhân vật bộc lé tính cách Hiểu thời gian trong Đoạn trường tân thanh

chóng ta sẽ hiểu được một vấn đề quan trọng về thế giới nghệ thuật còng

nh thi pháp của tác phẩm

Với tư cách là giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy văn học, việc

nghiên cứu Đoạn trường tân thanh sẽ tạo điều kiện cho người viết có dịp

Trang 2

hiểu sâu thêm tác phẩm để giảng dạy được tốt hơn.

2 Lịch sử vấn đề

Kể từ khi ra đời đến nay, Đoạn trường tân thanh đã được công

chúng và các nhà nghiên cứu quan tâm Đã có không Ýt các cuộc tranhluận xung quanh việc tìm hiểu tác phẩm, thậm chí đã có nhiều ý kiến trái

ngược nhau Nhưng riêng về vấn đề nghiên cứu “thời gian” trong tác phẩm

thì phải đến giai đoạn sau 1975 mới có những bài viết, những công trình,những luận văn đề cập đến

Đáng kể nhất là cuốn Thi pháp Truyện Kiều của giáo sư Trần Đình

Sử Trong đó, tác giả bàn đến và đóng góp những phát hiện mới về thời

gian nghệ thuật trong Đoạn trường tân thanh Tác giả đã bàn đến sự xuất

hiện trong tác phẩm dòng thời gian định mệnh, dòng thời gian tâm trạngcủa nhân vật, thời gian sự kiện, thời gian gấp khúc có tính liên tục, có nhịpđiệu dồn dập, chống chéo, sự kiện này chưa xong sự kiện kia đã tới, gốiđầu lên nhau, chồng chất xô đẩy nhau khi tai họa cũng như khi hạnh phóc

Ở cuốn Tìm hiểu Truyện Kiều của Lê Quế cũng nói đến thời gian,

nhưng ở đây chủ yếu nói tới tuổi của chị em Kiều, thời gian và các sự kiện

cụ thể xảy ra trong cuộc đời Kiều vào ngày tháng năm nào và trong baonhiêu lâu Theo Lê Quế tổng hợp và tính ra được “ Thời gian Thúy Kiềutiếp khách ở lầu xanh của Tó Bà là 4 năm 6 tháng, từ 1-7 năm nàng 22 tuổicho đến hôm gặp Thúc Sinh 1-1 năm nàng 27 tuổi và toàn bộ thời gianmười lăn năm của Thúy Kiều gồm ba giai đoạn: ở lầu xanh của Tó Bà 4năm 6 tháng Quan hệ với Thúc Sinh 3 năm 7 tháng 15 ngày Hội ngộ vớiGiác Duyên 6 năm 10 tháng 15 ngày Tổng cộng là 15 năm” [34- 109]

Gần đây nhất là cuốn 200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều còng có bài Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh của Lê Tuyên

mà Lê Xuân Lít đã sưu tầm và giới thiệu Ở bài viết này tác giả chủ yếu đi

Trang 3

vào ba loại thời gian:

- Thời gian ngoại tại và sù chuyển vần

- Thời gian nội tâm và dòng tâm lý, trong loại thời gian này thì lại đượcchia thành những mảng nhỏ như: hiện hữu tính của thời gian tâm lý, hiện hữutính và vị tri tính trong tác phẩm, biến thể tính của thời gian hiện hữu

- Thời gian xã hội và sự phối hợp giữa người cùng vũ trụ

Tác giả kết luận “ thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh chỉ

là một mối tương giao tất yếu và đương nhiên Mối tương giao Êy đã đi từngoại giới đến con người và từ con người đạt đến một thể trung gian, tạothành liên hệ giữa người và vũ trụ Thể trung gian Êy là xã hội đã biểu dương

qua xã hội âm tính của Đoạn trường tân thanh như một gạch nối tiếp giao

giữa vô ngã của ngoại giới và bản ngã sâu đậm của con người” [ 924]

Ngoài ra còn có một sè luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập đến thời gian

trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh, nhưng là ở các khía cạnh khác nhau:

Cuốn luận văn Thời gian tự sự trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

của Phùng Hữu Hải chủ yếu đi vào tìm hiểu thời gian tự sự và phương

hướng vận dụng lý thuyết thời gian tự sự vào trong Đoạn trường tân thanh

của Nguyễn Du Ở cuốn luận văn này tác giả đã tìm hiểu được trình tự tự

sự trong Đoạn trường tân thanh gồm có trình tự tự sự bị đảo ngược (trình

tự thời gian hồi tưởng) và trình tự trần thuật có tính chất dự báo trước (dựcảm linh cảm)

Ngoài ra cuốn luận văn này còn tìm hiểu được tốc độ thời gian nghệ

thuật trong Đoạn trường tân thanh có thể biểu hiện bằng các hình thức như

tỉnh lược, ngừng nghỉ, hoạt cảnh và lược thuật

Ở cuốn luận văn Một số phương tiện biểu thị ý nghĩa thời gian trong Truyện Kiều của Nguyễn Du của Phạm Thị Thu Phương lại chủ yếu đi vào

tìm hiểu hình thức thời gian được biểu hiện bằng phương tiện từ vựng và

Trang 4

một số cấu trúc cú pháp Luận văn đi sâu tìm hiểu nội dung hai phương tiện

từ vựng và một số cấu trúc để biểu thị các ý nghĩa thời điểm, thời lượng,

tần suất trong Đoạn trường tân thanh.

Tuy nhiên, các bài viết, các công trình này mới khảo sát một số mặt

chủ yếu của thời gian nghệ thuật trong Đoạn trường tân thanh cho phép ta

nhận rõ cá tính sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du mà chưa đi sâu nghiêncứu cụ thể về từng loại thời gian

Vì vậy tìm hiểu yếu tố “thời gian” để từ đó thấy được sự độc đáo,

sáng tạo và tài năng của Nguyễn Du khi vận dụng ngôn ngữ dân téc vàosáng tạo văn học là một vấn đề mới, cần thiết và được chúng tôi nghiên cứumột cách cụ thể

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là yếu tè “thời gian” trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du bao gồm: thời gian vũ trụ, thời gian sự kiện và thời gian tâm lý

Về mặt văn bản, do tác phẩm được nhiều tác giả khảo đính, chú giảinên giữa chỳng cú sự khác biệt Để tiện việc nghiên cứu chúng tôi chọn văn

bản Đoạn trường tân thanh tương đối thông dụng do Đào Duy Anh khảo

chứng, hiệu đính và chú giải của NXB Văn học ấn hành năm 2002

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thêm một số truyện Nụm khỏc để so sánhtrong quá trình thực hiện luận văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiêncứu sau:

- Phương pháp thống kê – phân loại: Chúng tôi tiến hành tìm những

dòng thơ có chứa các từ và cụm từ chỉ Thời gian Đồng thời với việc thống

kê, chúng tôi tiến hành phân loại chúng Những từ và cụm từ chỉ thời gian

Trang 5

bao gồm như: năm, thỏng, mựa, ngày, buổi….Từ kết quả thống kê, chúng

tôi có thể đưa ra những nhận định hợp lí về thời gian trong tác phẩm có tác

dụng như thế nào đối với ý đồ nghệ thuật của tác giả

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: chúng tôi tiến hành khảo sát,

phân tích những trường hợp cụ thể từng nhóm thời gian, từ đó rút ra kếtluận cho từng nhóm Qua đó, cũng thấy được sự sáng tạo độc đáo củaNguyễn Du và tài năng của ông trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc vàosáng tác văn học

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như: Hệ thống hóa, so sánh- đối chiếu trong quá trình làm luận văn.

5 Đóng góp mới của luận văn

- Đây là lần đầu tiên luận văn đưa ra bản thống kê tương đối đầy đủ

về “Thời gian” trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh.

- Đây cũng là lần đầu luận văn tiến hành phân loại “Thời gian”

trong tác phẩm

- Trên cơ sở thống kê và phân loại, luận văn bước đầu đánh giá cách sử

dụng “Thời gian” để phản ánh nội dung của tác phẩm.

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương:

Chương 1: Vài nét về thời gian, thời gian nghệ thuật và thời gian

nghệ thuật trong Văn học Việt Nam Trung đại

Chương 2: Các dạng thời gian và ý nghĩa của chúng trong Đoạn

trường tân thanh.

Chương 3: Các phương thức biểu hiện thời gian trong Đoạn trường

tân thanh

Cuối cùng là phần thư mục tài liệu tham khảo

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

VÀI NÉT VỀ THỜI GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI

1 Thời gian và thời gian nghệ thuật:

1.1 Thời gian

Là khái niệm chỉ sự tồn tại của vật chất, gắn với sự việc, hoạt động,thời gian luôn hoạt động không ngừng, không quay ngược lại và không tồntại riêng biệt

Nếu thời gian cơ học được đo bằng ngày, giờ, phỳt… mang tính chínhxác, không thay đổi thì qua cảm nhận của con người, thời gian có thể là

"khoảng", "chừng" hoặc cùng một đơn vị thời gian cơ học nhưng qua cảmquan của con người có thể dài, ngắn, nhanh, chậm khác nhau

Theo A.J.A.Gurevich Khái niệm thời gian "thể hiện đầy đủ cảm quan

và thế giới của thời đại, hành vi của con người, ý thức của nó, nhịp củacuộc sống, thái độ đối với sự vật" [13- 98]

Khái niệm thời gian không chỉ mang tính vật lí, cơ học mà còn mangtính chủ quan của con người Thời gian chỉ có thể đo được, cảm nhận đượcchứ không thể nắm bắt và nhìn thấy được

1.2 Thời gian nghệ thuật

Theo Trần Đình Sử, thời gian nghệ thuật là một yếu tố nghệ thuật củatác phẩm "vừa là phương diện của đề tài, vừa là một trong những nguyêntắc cơ bản để tổ chức tác phẩm[10- 887]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học "Thời gian nghệ thuật là hình thứctồn tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nú… Khác vớithời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có

Trang 7

thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thểdồn nén một khoảnh khắc dài trong chốc lát, có thể kéo dài cái chốc látthành vô tận Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau,bằng sự lặp lại đều đặn của cỏc hỡnh tượng đời sống được ý thức… tạo nênnhịp điệu trong tác phẩm Như vậy thời gian nghệ thuật gắn liền với tổchức bên trong của hình tượng nghệ thuật Khi nào ngòi bút nghệ sĩ chạytheo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại để miêu tảchi tiết thì thời gian chậm lại…”[14- 272,273]

Nhìn chung, thời gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật mangnhiều tính chủ quan, ước lệ, thể hiện cảm quan của tác giả về thế giới vàcon người Thời gian trong tác phẩm thể hiện tính thẩm mĩ trong cách cảmnhận cuộc sống và tư tưởng tác giả

Thời gian nghệ thuật không đồng nhất với thời gian khách quan đượcđưa vào tác phẩm Thời gian nghệ thuật được sáng tạo, nhào nặn cho phùhợp với ý đồ sáng tác, loại thể và phong cách tác giả Điều này tạo sự đadạng, sinh động cho thời gian trong tác phẩm

Thời gian nghệ thuật là yếu tố không thể thiếu để kết cấu tácphẩm, đồng thời giúp cho việc liên kết các yếu tố trong tác phẩm đượcchặt chẽ hơn

Thời gian nghệ thuật có đầy đủ các đặc trưng của thời gian, cũng vậnđộng theo ba chiều: quá khứ, hiện tại và tương lai Nhưng thời gian nghệthuật không nhất thiết phải tuân theo sự nghiêm ngặt của thời gian tự nhiên

mà nó có thể dài, ngắn, nhanh, chậm tùy theo cảm nhận chủ quan của tácgiả Có khi trăm năm chỉ như thoáng chốc, như giấc mộng Nhưng cũng cókhi một giờ, một phút thậm chí một giây lại dài vô tận Thời gian dồn nénhay kéo căng ra là do ý đồ của tác giả khi miêu tả, khắc họa

Nếu Vạn Hạnh Quốc Sư quan niệm "Thân như điện ảnh hữu hoàn vô"

Trang 8

(có nghĩa là "Thân như bóng chớp có rồi không") đời người là chốc lát,thoáng qua, thì qua sự miêu tả của Nguyễn Du một đêm lại rất dài: "Đêmthu đằng đẵng nhặt cài then mây".

Trong tác phẩm có thể bỏ qua một hoặc hai trong ba chiều vận độngcủa thời gian khách quan Nếu thời gian tự nhiên luôn vận động phát triểnkhông ngừng thì trong tác phẩm có thể làm sống lại quá khứ hoặc hướngtới tương lai Trong tác phẩm, có thể cùng tồn tại ba dạng thời gian: quákhứ, hiện tại, tương lai

Mỗi giai đoạn văn học, mỗi tác phẩm văn học có sự biểu hiện thờigian nghệ thuật khác nhau, thể hiện sự đa dạng của yếu tố nghệ thuật này.Chẳng hạn, chủ nghĩa lãng mạn phủ nhận trật tự thời gian khách quan.Các tác giả thường quay về quá khứ, về cõi tiên, cõi mộng, trốn tránh thựctại Bởi vậy thời gian thường mơ hồ, mang tính siêu thực; thời gian đượcxây dựng thành thời gian lý tưởng, trừu tượng của tác giả Thời gian cũng

có thể hướng tới tương lai nhưng là tương lai xa xôi, ít có thực Như vậy,khác với thời gian hiện thực khách quan, thời gian nghệ thuật cho phép sửdụng các kiểu cảm thụ thời gian mang tính chủ quan, thời gian nghệ thuật

có thể trùng hợp với thời gian vật chất nhưng nó cũng có thể thoát khỏi sựvận động một chiều của thời gian tự nhiên để chuyển tải tư tưởng, cảmnhận của tác giả về thế giới, về đời sống xã hội Thời gian trong tác phẩmvăn chương chỉ trở thành nghệ thuật khi nó trực tiếp tác động vào nhân vật,vào môi trường mà ở đó diễn ra số phận của nhân vật và những biến độngtâm tư của nhân vật Nó cùng với những yếu tố khác góp phần làm nổi bậtchủ đề của tác phẩm

Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con ngườitrong từng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển Nó thể hiện sự cảm thụđộc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới,

Trang 9

làm cho người đọc hoặc hồi hộp chờ đợi, hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắmchìm vào quá khứ Thiếu sự cảm thụ, tưởng tượng của người đọc, thời giannghệ thuật không xuất hiện Như vậy, thời gian nghệ thuật là sản phẩmsáng tạo của tác giả bằng phương tiện nghệ thuật Nó thể hiện tài năng và

cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ

Vấn đề thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có hai mặt cơbản: quan niệm thời gian của nhà văn và tổ chức thời gian của tác phẩm.Quan niệm thời gian của nhà văn được bộc lộ trực tiếp và phổ biến hơn làđược bộc lộ một cách gián tiếp qua cách tổ chức thời gian của tác giả Đó làmột trong những mặt hình thức bên trong của tác phẩm Nó có quan hệ chặtchẽ với ý thức nghệ thuật của nhà văn Tổ chức thời gian chính là cách xử

lý thời gian, trong tác phẩm văn học của nhà văn để tạo ra thời gian nghệthuật theo ý đồ của tác giả

Như vậy có thể nói, thời gian trong tác phẩm văn học là sự cảm nhậncủa tác giả, nó đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh, nờn

nó là ý thức nghệ thuật của nghệ thuật Nhưng thời gian nghệ thuật khôngphải là một khái niệm trừu tượng mà là một hình tượng nghệ thuật sinhđộng, nó không phải chỉ là cỏi dùng để phản ánh mà còn là cái được phảnánh Do đó thời gian nghệ thuật vừa mang những đặc tính của thời gianhiện thực, thời gian khách quan – tức là nó có nhịp độ, có chiều hướng, cóthể xác định được bằng các đại lượng…Vừa là một hình tượng nghệ thuậtnờn nó có tính chất ước lệ nhất định Đặc biệt trong Văn học trung đại, tínhchất ước lệ càng được thể hiện rõ Ví dụ

“ Ba thu dọn lại một ngày dài ghờ”

( Truyện Kiều - Nguyễn Du)Hay câu: “Trời thu ba cữ duyềnh Tương một ngày”

(Truyện Hoa Tiên- Nguyễn Huy Tự)Qua ví dụ này ta có thể nhận thấy các tác giả đã viết theo công thức

Trang 10

“Nhất nhật như tam thu hề” (một ngày dài tựa ba thu) Tuy nhiên cách miêu

tả thời gian đối với từng tác giả, tác phẩm cụ thể bao giờ cũng mang nhữngnét đặc thù riêng

Vậy vấn đề thời gian đã được Nguyễn Du xử lý như thế nào để tạo rathời gian và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh

2 Thời gian nghệ thuật trong Văn học Việt Nam trung đại

Gắn kết với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật Thời giannghệ thuật phải hoà kết và thống nhất với không gian mới tạo ra tính thốngnhất của tác phẩm Thời gian và không gian trong tác phẩm giống nh cặpbài trùng, yếu tố nọ ràng giữ và quyết định yếu tố kia

Thời gian nghệ thuật là một hiện tượng nghệ thuật, là kết quả sángtạo của người nghệ sĩ, nó góp phần không nhỏ vào việc tổ chức tác phẩm

Vì là con đẻ của người sáng tạo nên thời gian nghệ thuật cũng in đậm sắcthái chủ quan của nhà văn Mỗi tác phẩm có một kiểu thời gian, mỗi nhàvăn thường nhạy cảm với một khung thời gian nhất định Ta thấy bản chấtchính là sự chảy trôi bất định, khi đi vào tác phẩm văn học, dưới cảm quanthời gian riêng của người nghệ sĩ dòng thời gian Êy thường được tổ chứclại Vì thế, trong văn học ta vẫn thường bắt gặp kiểu đảo lộn thời gian:Hiện tại – quá khứ – tương lai Nh vậy thời gian nghệ thuật của tác phẩmphải gắn liền với tính quan niệm về thời gian của nhà văn

Còng nh không gian, thời gian nghệ thuật không đồng nhất với thờigian vật lí, thời gian cơ học

Trong Văn học Trung đại còn có khái niệm tính phi thời gian Đây làmột quan niệm thời gian của người trung đại Phi thời gian có nghĩa là thờigian tuần hoàn, nhịp nhàng, vòng quanh, khép kín theo kiểu

“ Sen tàn cúc lại nở hoa,

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”…

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trang 11

Cứ như thế thời gian trôi di trong một nhịp điệu chậm rãi, thong thả

và người ta không nhất thiết phải phân biệt rõ ràng, rạch ròi thời gian quákhứ hay thời gian hiện tại

Thời gian nghệ thuật trong Văn học Trung đại cũng nhằm bộc lé chủ

đề, tư tưởng của tác giả và ở trong từng tác phẩm cụ thể lại được nhà vănsắp xếp thời gian theo ý đồ nghệ thuật của mình Trong phạm vi chươngnày chúng tôi chủ yếu đi vào tìm hiểu cách thức miêu tả thời gian trong haithể loại đó là tự sự và thơ, thông qua việc phân tích sơ bộ về thời gian trongmột số tác phẩm

2.1 Thời gian nghệ thuật trong thơ ca Trung đại

2.1.1 Nhận xét chung.

Thời gian, không gian là hình thức tồn tại của thế giới, của cuộc sốngcon người Không có gì có thể tồn tại ngoài thời gian, và không gian Dovậy mọi cảm nhận về tồn tại của con người đều gắn liền với cảm nhậnkhông gian và thời gian, con người cảm nhận thời gian từ sự đổi thay củachính mình và thế giới xung quanh [39- 193]

Lấy con người làm bản vị các nhà nho luôn cảm thấy lo lắng, bối rốitrước thời gian trôi nhanh vô tình

“ Ngày tháng vùn vụt cùng dừng a, Đắp đổi hết xuân rồi lại thu”

(Ly Tao – Khuất Nguyên)

“Lấy thiên nhiên vũ trụ làm bản vị đạo gia chỉ thấy thiên nhiên vũ trụ

là vĩnh hằng, vô hạn, vô thủy, vô chung còn con người muôn vật đều ngắnngủi, hữu hạn, vô nghĩa” [39- 194]

Trong Văn học Trung đại thì sự cảm nhận thời gian con người ngắnngủi, chóng tàn với thời gian vũ trụ tĩnh tại, bất biến là hai chủ đế thời giantiêu biểu Ngoài ra còn có thời gian lịch sử là sự hưng phế, đổi thay triều đại,

Trang 12

là sự mở rộng thời gian con người Thời gian siêu nhiên tiên cảnh là một dạngđặc thù của thời gian vũ trụ, thời gian sinh hoạt với sáng, chiều, tối cũng làbiểu hiện vừa của thời gian vũ trụ khách quan vừa của hoạt động con người.

Ngoài các đặc điểm trên thơ ca Trung đại còn chịu sự quy định củaquy luật cảm thụ toàn vẹn, nhìn mọi sự với toàn bộ quá trình, hình thứctuần hoàn của thời gian thiên nhiên như ngày, đêm, bốn mùa

2.1.2 Thời gian vũ trụ bất biến.

Thời gian trong thơ ca trung đại giai đoạn thế kỉ X – XVII vị trí chủđạo của thời gian thiên nhiên vò trụ là bất biến, tĩnh tại [39- 195] điều nàyđược chứng minh qua thơ thiền thơ của nhà nho và thời gian lịch sử trongtương quan với thời gian vũ trụ

Thơ thiền là thơ của các nhà sư, các sư sĩ làm để biểu hiện thiền lí ,thiền cảnh, thiền tâm Trong thơ thiền thời gian là biểu hiện của thế giới sắctướng, bề ngoài Vô thời gian mới là thời gian của chân như, thời gian trầntục được hình dung là thời gian dẫn đến sự hủy diệt, già cỗi, hư nát

Xuân qua trăm hoa rông, Xuân tới trăm hoa tươi,

(Có bệnh bảo mọi người – Mãn Giác)

Ở đây có thời gian luân hồi hoa rụng rồi nở, có thời gian đời ngườimột đi không trở lại Đối lập lại thời gian Êy là chân như ngoài thời gian

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua trước sân một nhành mai

(Mãn Giác)Thời gian thiền là một vô thời gian, bất biến, thường trụ bởi vì khôngsinh không diệt

Trong thơ Không Lé có thoáng thời gian, vô thời gian trong giấc ngủquên thời hiện tại

Trang 13

“ Ngư ông mê ngủ không ai gọi Quá trưa tỉnh dậy tuyết đầy thuyền”

“Quá trưa” “tuyết đầy” là thời gian trần tục, bề ngoài Mặc dù nhìnnhận thời gian trần tục nhưng trên thực tế thơ thiền đã thấy tính bi kịch củathời gian cá nhân và tìm cách vượt qua Và thời gian tịnh diệt, vô sắc tướngcũng chính là thời gian vũ trô Do vậy ở đây không có quá khứ, không cótương lai chỉ có thời hiện tại vĩnh viễn

Bên cạnh thơ thiền thì thời gian trong thơ của các nhà nho cũng làthời gian bất biến, tĩnh tại

Thời gian vũ trụ tĩnh tại trước hết thể hiện ở các nhan đề thơ nói về

một thời điểm, vãn cảnh, mộ cảnh, dạ vũ, thu nhật…Các bài thơ phong

cảnh thường miêu tả cảnh sắc trong thời điểm tĩnh tại Trong thơ NguyễnTrãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian vũ trụ bất biến là một niềm mơ ước.Nguyễn Trãi xem thời gian vũ trụ bất biến là phạm trù phổ quát để vượt lênmọi đổi thay của kiếp người hay lịch sử

“Bành được thương thua con tạo hóa Diều bay, cá nhảy, đạo tự nhiên”

Quan niệm thời gian tĩnh tại khiến các nhà thơ Ýt khi miêu tả tínhliên tục, mà thường miêu tả thời điểm

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thể hiện một quan niệm thời gian vũ trụ tựnhiên, nhưng ông thiên về tính biến dịch vĩnh hằng

-‘Sen mùa trước đổi, mùa sau mọc Triều cửa này ròng, cửa khác cường”

-“Lạnh thủa đông, hằng nhớ bếp, Nồng mùa hạ kẻo đắp chăn”

Quan niệm thời gian bất biến làm nảy sinh các đề thơ vịnh cổ nhằmchỉ sự bất biến lắm khi vô tình của sông núi cỏ cây

Trang 14

Quan niệm thời gian tĩnh tại tuần hoàn, bất biến là nét tiêu biểu củathời gian trong thơ quy định một số hình thức thơ, kết cấu thơ, bót pháp thơTrung đại Việt nam.

Bên cạnh thời gian vũ trụ tĩnh tại, bất biến còn có thời gian lịch sửtương quan với thời gian vũ trụ

Theo quan niệm Trung đại mọi sự hưng, vong, thành, bại đều thuộcmệnh trời, cho nên thời gian lịch sử gắn với thời gian vũ trụ một cáchhuyền bí, thời gian lịch sử vừa có tính chất không gian hóa lại vừa trôi qua

vô tình

Tính trôi chảy của thời gian được biểu hiện qua đối lập “kim cổ cái

đã qua là cái đã mất, cái không hiện hữu tạo nên một nỗi buồn trống trải,bâng khuâng

Việc cũ ngoái đầu còn đâu nữa Đến dòng viễng cảnh dạ bâng khuâng

(Cửa bể Bạch Đằng – Nguyễn Trãi)Bên cạnh thời gian tĩnh tại, bất biến như chứng nhân của mọi sự biếnđổi, thì trong thơ của Bà huyện Thanh Quan còng cho thấy cấu trúc thời giannhư vắng bóng thời tương lai lịch sử “Nhà thơ đi tới cùng thực tế lịch sử,nhưng con mắt tâm hồn luôn hướng vÒ một viễn cảnh phía sau [39- 207]

2.1.3 Thời gian con người.

Trong Văn học Trung đại bên cạnh thời gian vũ trụ tuần hoàn bất

biến còn có thời gian con người.

Trong Văn học trung đại, thời gian con người đã được ý thức trướcthực tế tuổi tác, thọ yểu và sự bất lực của con người Thời gian cá nhân làm

nảy sinh các đề thơ thương xuân, tích hoa…

Thời gian cá nhân được cảm thấy rõ nhất là thời gian của cá nhân xuấtchúng các anh hùng thời gian của họ quá ngắn ngủ trước thời gian vô hạn

Trang 15

Giang sơn nh cò anh hùng biến mất (Giang sơn nh tạc anh hùng thệ)

(Nguyễn Trãi)Tuy vậy cảm thức thời gian cá nhân ở đây còn hết sức mờ nhạt, chưathấy có những buồn đau vò xé vì thời gian trôi chảy mất Phải sang đến thời

kỳ ý thức cá nhân được khẳng định thì ý thức thời gian con người mới đượcbiểu hiện rõ nét trong thơ Nguyễn Du cảm sự nhỏ nhoi của con ngườitrước thời gian

Giã thu xế bóng lòng quá rộn Nước chảy mây bay nghiệp bá mờ

(Trông vời nước Sở)Nhưng bao trùm lên hết là một cảm thức thời gian tàn tạ phôi pha.Trong cảnh đổi thay Êy con người cá nhân không có gì để bấu víu

So với thời gian vũ trụ thanh bình, thời gian có thể là nhỏ nhoi, hữu hạn

Sang đến thế kỉ XIX cảm quan thời gian trong thơ ca có người thayđổi Nguyễn Công Trứ chỉ coi trọng thời gian hiện tại ong tìm cách làmchủ thời gian hiểu sự hư huyễn của đời người

Xáo trời đất cổ kim, kim cổ Mảnh hình hài không có, có không

(Vịnh nhàn)

Và ông tính từng ngày, từng tháng thời gian cá thể tự nhiên thời giancủa ông đóng khung trong thời hiện tại Bà Hồ Xuân Hương cũng thươngxót, cố níu cái hiện tại một cách bất lực

“Tài tử văn nhân ai đó tá Thân này đâu đã chịu già tom!”

Yếu tố cảm thụ cá nhân đã làm cho thời gian trong thơ đa dạng vàbiến đổi rõ nét

Trong các khúc trữ tình lớn trong giai đoạn này như Chinh phụ

Trang 16

ngâm, Cung oán ngâm, Ai tư vãn…do mở rộng dung lượng trữ tình mà thời

gian nghệ thuật có thêm nhiều hình thức mới phong phó

2.2 Thời gian nghệ thuật qua các tác phẩm tự sự

2.2.1 Thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc.

Đọc tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc, ta thấy có rất nhiều mốc thời

gian khác nhau đó là ngày chia tay, ngày ước hẹn, ngày gặp gỡ…nhưngnhững khoảng thời gian này đều hết sức mơ hồ, mà ở đây ta chỉ có thể hiểuđược trong tính chất ước lệ tượng trưng

Trong khúc ngâm ta hoàn toàn không tìm thấy thời gian lịch sử của

sự kiện Ngày chiến tranh xảy ra được xác định bằng từ ‘thủa”

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi

Khoảng thời gian thanh bình của đất nước cũng được tính ra bằng

‘ba trăm năm”

“Nước thanh bình ba trăm năm cũ”

Và ngày người chinh phu lên đường cho tới hiện tại đã là

Kể năm đã ba tư cách diễn.

Các mốc thời gian trên đều không xác định là vào thời đại nào, tính

từ bao giê và những năm nào điều đó chứng tỏ khoảng thời gian này được

sử dụng với tính ước lệ tương trung

Trong Chinh phụ ngâm khúc thời gian mang tính chất ước lệ tượng

trưng còn thể hiện qua việc dùng các điển tích:

Thoa cung Hán thủa ngày xuất giá Gương lầu Tần dấu đã soi chung.

Hay ngay trong đoạn hẹn ước ngày trở về về giữa người chinh phu

và chinh phụ thì thời gian cũng được miêu tả qua bót pháp ước lệ tượngtrưng

Thủa lâm hành oanh chưa bén liễu

Trang 17

Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca Nay quyên đã giục oanh già

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo

Qua đây ta thấy thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc đều mang tính

chất ước lệ, tượng trưng Thông qua thời gian đó tác giả đi miêu tả tâmtrạng của con người mà cụ thể là tâm trạng nhớ thương khắc khoải củathiếu phụ đối với chồng nơi ải xa

Thể loại ngâm khóc nói chung và tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc

nói riêng đều tồn tại “thời gian đồng hiện” tức là cả thời gian quá khứ, hiệntại, tương lai cùng có mặt trong tác phẩm

Quá khứ trong Chinh phụ ngâm khúc là thời gian xảy ra chiến tranh

Buổi chia tay:

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa…

Hiện tại của người chinh phu: Xông pha gió bãi trăng ngàn

Và người chinh phụ là:

Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,

Trăng khuya sương gối bơ phờ tóc mai

Tương lai tràn ngậm niềm vui hạnh phóc:

Cùng chàng lại kết mối duyên đến già Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ.

Với mục đích phản ánh tâm trạng nhân vật ở thời hiện tại nên Chinh phụ ngâm khúc luôn hướng đến với suy nghĩ tâm tư trong lóc chinh phụ

đang sống thời gian thực tại này được coi là tâm điểm của việc thể hiệnthời gian hồi tưởng quá khứ và tương lai

Trong dòng thời gian hồi tưởng của người chinh phụ đã xuất hiện

Trang 18

thời gian tâm lí, tuy chưa nhiều, nhưng nó cũng đã góp phần nào thể hiệntâm trạng nhân vật trữ tình Các câu thơ chỉ thời gian tâm lí tạo nên mộtthời gian khác thường, không dùng nhiều từ chỉ thời gian cụ thể, tác giảđưa vào đây một loạt những từ tạo cảm giác thời gian ngắn, dài:

Đưa chàng lòng dằng dặc buồn Bước đi một bước giây giây lại dùng Giáp mặt rồi phót bỗng chia tay…

Ngòai thời gian hồi tưởng, trong tác phẩm còn có thời gian hiện tại,hai tiểu loại này được đan xen vào nhau Từ hiện tại, người thiếu phụ hồitưởng lại quá khứ và từ quá khứ lại đối chiếu rõ với hiện tại

Thời gian hiện tại trong tác phẩm luôn được đặt vào một không gianchiến địa đầy hiểm trở, gian nguy, đe dọa đến tính mạng con người

- Sương đầu núi buổi chiều nh gội

- Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua

Trong không gian đó thời gian cũng trở nên bất ổn Khoảng thời gian

ở đây được phản ánh thông qua sù suy tưởng nên nó mang tâm trạng củanhân vật trữ tình

Nếu hồi tưởng thời gian được tính chủ yếu bằng năm thì hiện tạiđược tính bằng ngày, bằng buổi và đặc biệt là buổi tối Cách tính ước lệ nàykhiến cho thời gian được đẩy đi nhanh hơn, khẩn trương hơn

Hồi tưởng chỉ là nhớ tới, nhắc lại thì hiện tại là cái có thực đang hiệnhữu Sống cùng với thời gian hiện tại là tâm trạng người chinh phô Trong

cơ đơn, lo lắng và chờ đợi, thời gian ban đêm dường nh trôi chậm lại, hòavào nỗi buồn của con người Tất cả đều được xuất phát từ tâm trạng côđơn, buồn tủi của chinh phụ, người chinh phụ đã cảm nhận thế giới xungquanh bằng tâm trạng của mình nên mọi vật luôn nhuốm màu buồn

Trang 19

Có thể thấy thời gian tâm lí đã chi phối rất lớn đối với thời gian hiệntại Nhịp thời gian nhanh (tính bằng ngày) chậm (tính bằng đêm) đan kếtvào nhau nh chính nỗi lòng phấp phỏng lo sợ của người thiếu phụ.

Để biểu hiện thời gian, tác phẩm văn học thường sử dụng rất nhiềuphương tiện để chỉ thời gian của đêm, buổi, ngày, mùa, năm, kiếp người

Trong Chinh phụ ngâm khúc, tác giả đã xây dựng lên những khoảng

thời gian tương quan với các sự kiện, do vậy nhịp điệu thời gian có sự thayđổi nhanh chậm tùy thuộc vào cảm xúc nhân vật Người chinh phụ cảmnhận thời gian chờ đợi, mong ngãng chồng trôi đi những bước chậm chạp

Khắc giê đằng đẵng nh niên Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Ngược lại thời gian của tuổi trẻ, hạnh phóc lại trôi nhanh

Thoi đưa ngày tháng ruổi mau, Người đời thấm thoắt qua màu xuân xanh.

Thời gian hiện tại góp phần đặc tả được tâm trạng đau xót, buồn tủi

bế tắc trước hiện thực của người chinh phô

Từ hiện tại dầy cay đắng và buồn tủi người chinh phụ mơ ước tớimột tương lai đầy hạnh phóc và vinh quang Tương lai được nhắc tới với

Trang 20

-Khi về chẳng quả Ên vàng Cùng chàng lại kết mối duyên đến già -Giữ gìn nhau vui thủa thái bình…

Thời gian của ước vọng cũng có nhịp điệu chậm

Rượu khà cũng kể trước sau mọi lời

Sẽ rót vơi lần lần đòi chén

Sẽ ca dần ren rén đòi liên.

Mặc dù không có từ nào dùng để chỉ đơn vị thời gian cụ thể nhưngbằng hệ thống các từ “cũng kể” đặc biệt là các từ láy tạo cho người đọccảm giác chậm lê thê Tâm trạng của người chinh phụ có sự thay đổi, thểhiện qua nhịp đi của thời gian Nếu ở thời hiện tại thời gian của tuổi trẻ,hạnh phóc trôi nhanh thì tương lai trôi đi thật chậm Dường như thiếu phụ

đã thoát khỏi hiện thực đầy đau khổ, để sống với tương lai

Qua đây ta thấy thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc mang tính ước

lệ tượng trưng Những biểu tượng hình ảnh dùng để biểu hiện thời giantrong khúc ngâm đều gắn với thực tế đời sống, tạo nên sự phong phó trongcách thể hiện thông qua các hình tượng thời gian hiện lên tâm trạng nhânvật được bộc lé một cách tinh tế

Và thời gian trong tác phẩm chính là thời gian tâm trạng, thời gianquá khứ, thời gian hiện tại và thời gian tương lai đều được nhìn qua tâmtrạng của nhân vật mà cụ thể là qua tâm trạng người chinh phô

2.2.2 Thời gian trong Hoàng Lê nhất thống chí

Tác phẩm thứ hai mà chúng tôi muốn xem xét về mặt thời gian là tác

phẩm Hoàng Lê nhất thống chí – tiểu thuyết chương hồi.

Tiểu thuyết chương hồi ra đời đánh dấu sự trưởng thành vượt bậccủa văn xuôi tư sự Việt Nam thời trung đại, phản ánh những vấn đề lịch

Trang 21

sử – xã hội rộng lớn với tầm khái quát hóa cuộc sống trên quy mô toànquốc [31- 25]

Hoàng Lê nhất thống chí là bức tranh hoành tráng, tổng hợp một thời

kì bão táp dân téc với phong trào quật khởi của người anh hùng Tây Sơnquét sạch một lúc 20 vạn quân của “thiên triều” và hai tập đoàn phong kiếnthống trị đương thời: Lê - Trịnh [31- 25]

Có thể nói Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết đầu tiên và duy

nhất phá bỏ lối kể chuyện theo trình tù thời gian [31- 90]

Đọc Hoàng Lê nhất thống chí ta thấy tác giả đã vi phạm nguyên tắc

biên niên trên hai bình diện, mét mặt, niên đại không được đặt lên đầu các

sự kiện, mặt khác cách ghi niên đại cũng hết sức tùy tiện, lúc thì ghi đủ cả

ba yếu tè; niên hiệu, tuế thứ, can chi lóc lại chỉ ghi can chi hoặc chỉ có niên hiệu [31- 68] Sau sự kiện chém 7 tên lính tác giả viết “Bữa Êy nhằm ngày

15 tháng 2 năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng” Và sau khi Trịnh Sâmmất “ Bữa Êy nhằm ngày13 tháng 9 năm Nhâm Dần”

Hay cách ghi thời gian trong 4 hồi đầu của Hoàng Lê nhất thống chí

ta thấy rõ hơn

4 hồi đầu 16 lần ghi thời gian và được trình bày theo thứ tự: NămĐinh Dậu (1977) Trịnh Cán ra đời, năm Quý Mùi (1763) Trịnh Tông sinh,năm Giáp Ngọ (1774) quân Việp đánh Đàng Trong, năm (1780) vụ án nămCanh Tí, năm Nhâm Dần (1782) Trịnh Sâm qua đời, cũng năm đó kiêubinh nổi loạn, năm Tân Mão (1771) Thái tử Duy Vũ bị Sâm giết, nămNhâm Thìn (1772) chém 7 tên lính

Qua đây ta thấy tác giả không tuân thủ nguyên tắc biên niên Do đó,

cốt truyện tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí không phát triển theo đường

thẳng tuyến thời gian, những hồi ức ngược dòng về quá khứ đã tạo thànhchất keo quyện kết các sự kiện, các nhân vật, các tình tiết thành một hệ

Trang 22

thống chặt chẽ khiến câu chuyện hấp dẫn Hoàng Lê nhất thống chí có 17

hồi thể hiện một khung thời gian rất rộng từ chóa Trịnh Kiểm phò lập vua

Lê Trang Tông cho đến năm 1860 vua Tự Đức cho lập đền thờ các bề tôivua Lê gồm gần 300 năm Nếu tính từ khi Trịnh Cán được sinh ra (1777)cho đến khi di hài vua Lê được đem về nước (1804) chí có 27 năm đượctrực tiếp miêu tả trong truyện

Trong 27 năm Êy độ dài được miêu tả cũng khác nhau, sự kiện chínhchỉ đóng khung trong vòng 14 năm trong đó 3 năm được dành cho sè trangnhiều nhất [39- 322]

Như vậy việc phân bố chương hồi hoàn toàn không theo cái khungbiên niên năm tháng đều đặn, mà phục vụ việc miêu tả sự kiện

Đi sâu vào thời gian trần thuật ta thấy do nhiệm vụ kể chuyện là lập

hồ sơ, kể lai lịch nhân vật và đầu đuôi sự việc cho nên tác phẩm được cấutạo bằng cách sâu chuỗi liên tục các sự kiện, nhân vật Mỗi sự kiện lại trầnthuật theo nguyên tắc cảm thụ toàn vẹn, đầu đuôi đầy đủ, nghĩa là thời giànkhép kín trong từng sự việc Tác giả không có ý xây dựng bình diện thờigian thứ hai để gây đợi chờ thấp thỏm để người đọc thể nghiệm từng nhânvật mà chỉ xâu chuỗi, bổ sung trần thuật bằng công thức “lại nói” “vào lúcđó” “hôm đó” Các công thức này có tác dụng gây chờ đợi, song cáichính là chất đầy văn bản những đoạn hồi cố nhưng không gây cảm giác vềthời gian quá khứ

Biết chọn thời điểm nóng bỏng, thời điểm bùng nổ những xung độtgay gắt nhất, thời điểm xảy ra những biến cố quyết định bước ngoặt lịch sử

để đưa vào tác phẩm là phẩm chất của Ngô gia văn phái [31- 91]

Những trang hấp dẫn nhất là đoạn miêu tả sự kiện trong thời gian liêntục như đoạn kiêu binh diệt Quận Huy, kiêu binh lập Trịnh Tông, kiêu binhtruy bắt Dương Khuông và Triêm Vũ Hầu Nhìn chung người trần thuật

Trang 23

đứng từ một khoảng cách xa, đứng ngoài nhân vật điều khiển việc sâu chuỗi

sự kiện Điều này chứng tỏ tác phẩm là một sự tiểu thuyết hóa lịch sử ở

khoảng cách trần thuật Các khoảng cách nhận thấy trong Hoàng Lê nhất thống chí đó chính là khoảng cách vĩnh viễn của thời gian thần thoại Cái có

vị trí chủ đạo trong thời gian truyện ở dây là thời gian triều đại, thời gian lịch

sử Thời gian sự kiện và thời gian nhân vật chỉ là yếu tố của thời gian triềuđại

Qua đây ta thấy thời gian trong Hoàng Lê nhất thống chí nói riêng và

tiểu thuyết chương hồi nói chung là thời gian sự kiện và thời gian triều đại.Trong những triều đại Êy sự kiện nào quan trọng sẽ được tác giả lùa chọn,những xung đột nào gay gắt nhất của dân téc cũng sẽ được tác giả thể hiệntrong tác phẩm

Qua sự phân tích sơ bộ thời gian nghệ thuật trong Văn học trung đại

ta thấy rằng thời gian trong thơ ca trung đại luôn lấy thiên nhiên vũ trụ làmđối tượng phản ánh Thiên nhiên, vũ trụ là vĩnh hằng, vô hạn bất biến vàtuần hoàn Còn con người, muôn vật đều ngắn ngủi, hữu hạn và vô nghĩa.Cảm xúc thời gian cá nhân còn mờ nhạt, con người cảm nhận được sự nhỏnhoi trước thời gian nhưng bao trùm lên trên hết là cảm thức thời gian tàn

tạ phôi pha

Trong các tác phẩm tự sự qua hai tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc (của Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm) và Hoàng Lê nhất thống chí (của Ngô gia văn phái) ta thấy được thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc là

thời gian tâm trạng, thời gian tâm lý Quá khứ, hiện tại hay tương lai đềuđược nhìn qua tâm trạng của người chinh phụ; buồn thì thời gian trôi chậm,vui thì thời gian trôi nhanh và thời gian trong khúc ngâm này cũng đượctính bằng các đơn vị năm, tháng, mùa, ngày, buổi và đã sử dụng các biểutượng, tượng trưng Tuy nhiên ở tác phẩm này thời gian vẫn mang tính chất

ước lệ tượng trưng Còn thời gian trong Hoàng Lê nhất thống chí, thời gian

Trang 24

ở đây chỉ là thời gian sự kiện, thời gian triều đại và trong tác phẩm nàykhông có thời gian tâm lý Thời gian ở đây được miêu tả thông qua các sựkiện, các hành động của nhân vật.

Dùa trên những mô hình chung của thời gian nghệ thuật trong văn

học trung đại nói trên với tác phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du,

tác giả đã kế thừa, chọn lọc và sáng tạo như thế nào về các dạng thời giantrong tác phẩm?

Trang 25

Chương 2

Ý NGHĨA CỦA CÁC DẠNG THỜI GIAN TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

1 Thời gian vật lý

1.1 Thời gian thời tiết: (năm, tháng, mùa, ngày, buổi)

Qua khảo sát 2005 dòng thơ chỉ thời gian vật lí thì thời gian chỉ thời tiết được Nguyễn Du sử dụng 147 lần chiếm tỉ lệ 71,70% và cụ thể được thể hiện qua từng mảng

1.1.1 Thời gian Năm

1.1.1.1 Thống kê

Số thứ tựdòng trongtác phẩm

Trang 26

17 Một năm nữa mới thăm dò được tin 1696

1.1.1.2 Ý nghĩa

Năm, tháng, mùa, ngày, buổi… là những thành phần chính của thời gian

thời tiết Đơn vị thời gian năm trong Đoạn trường tân thanh được nói tới

nhiều lần Qua khảo sát thống kê, chúng tôi thu được 34 trường hợp dùng nămtrong tổng số 147 dòng thơ có chứa thời gian thời tiết, chiếm tỉ lệ [23,12%]

1 Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai 288

Trang 27

2 Tháng tròn nh gửi cung mây 327

5 Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm 1230

9 Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong 2054

1.1 2.2 Ý nghĩa

Thời gian trần thuật trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh không

phải bị đứt đoạn khi tác giả dừng lại miêu tả sự kiện mà nó luôn mang tínhliên tục Thời gian gắn liền với cuộc đời, với từng quãng đời, từng thờiđiểm nhân vật sống bên cạnh diễn biến của các sự kiện

Trong thời gian thời tiết, bên cạnh thời gian năm còn có thời gian chỉtháng Tháng xuất hiện trong tác phẩm với ý nghĩa thông báo mốc sự kiện

cụ thể, hoặc có khi nó được dùng để tạo giới hạn thời gian của các biến cố.Qua khảo sát 147 dòng thơ nói về thời gian thời tiết chúng tôi thu được 10 trường hợp nói về thời gian tháng chiếm tỉ lệ [6.8%]

1.1.3 Thời gian mùa

Trang 28

5 Thưa hồng rậm lục đã chõng xuân qua 370

b Mùa Hạ + Đông

2 Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông 1308

3 Đào đà phai thắm sen vừa nảy xanh 1474

4 Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu 1242

c Mùa thu

6 Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san 1520

8 Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng 1604

11 Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu 1834

1.1.3.2 Ý nghĩa

Thời gian mùa trong Đoạn trường tân thanh vừa đóng vai trò là thời

gian mốc cuộc đời, vừa có vai trò để tính mốc sự kiện Xoay quanh quãng

thời gian mời lăm năm chìm nổi của Thúy Kiều, số lượng thời gian mùa xuất hiện Ýt hơn thời gian năm 23 dòng thơ chỉ mùa trong tổng số 147

dòng, chiếm tỉ lệ [15,64%] Tuy nhiên, thời gian mùa được nhắc đến trongtác phẩm tập trung chủ yếu ở mùa xuân và mùa thu, còn mùa hè và mùađông xuất hiện rất Ýt Tại sao lại có sự chênh lệch nh vậy?

Trang 29

Ta biết rằng, một năm bắt đầu bằng mùa xuân Trong quan niệm củangười trung đại, mùa xuân tượng trưng cho niềm vui, hạnh phóc Vì vậyNguyễn Du đã miêu tả 8 trong tổng số 23 dòng thơ chỉ mùa chiếm tỉ lệ[34,75%] Điều này có ý nghĩa, ngoài việc miêu tả sự kiện Thúy Kiều gặpKim Trọng vào một ngày xuân.

"Ngày xuân con Ðn đưa thoi"

Thì chỉ khi nói đến những sự việc vui vẻ, hạnh phóc mới miêu tảcảnh xuân Sau những tháng ngày đau đớn tủi nhục ở chốn lầu xanh vàchịu sự hành hạ của Hoạn Thư, Kiều đã tìm được một chốn nương thân

là cửa phật Khi có được sự thanh thản trong tâm hồn, thì mới lại có cảnhxuân tươi sáng

"Cửa thiền vừa cữ cuối xuân Bóng hoa rợp đất vẻ ngân ngang trời"

( dòng 2061 - 2062)

Những cảnh mùa xuân thường chỉ xuất hiện ở phần đầu và cuối tác

phẩm Điều này phù hợp với nội dung của Đoạn trường tân thanh, vì đây là

những câu thơ về cuộc đời, về số phận của một người con gái "hiếu nghĩa

đủ đường" nhưng "kiếp sao rặt những đoạn trường thì thôi"

Cùng với mùa xuân, mùa thu cũng được tác giả sử dụng nhiều 11dòng trong tổng số 23 dòng thơ chỉ mùa, chiếm tỉ lệ [47,82%] Điều này có

ý nghĩa Nếu một năm bắt đầu bằng mùa xuân, thì mùa thu thường được coi

nh chuẩn bị cho sự kết thúc bởi sau mùa thu là mùa đông Mùa xuân tượngtrưng cho hạnh phóc, tuổi trẻ, tình yêu thì mùa thu thường được miêu tảnhư thời gian cuối của cuộc đời, lúc xế chiều ngả bóng Từ đó, mùa thuthường gọi nỗi buồn và điều này đã đi vào văn học

Tác phẩm Đoạn trường tân thanh viết về cuộc đời Kiều, mà cuộc đời nàng chỉ khi còn ở trong cảnh "Êm đềm trướng rủ màn che" là hạnh phóc,

còn từ khi tan vỡ mối tình đầu với Kim Trọng là liên tiếp những bi kịch,những khổ đau Bởi vậy, mùa thu xuất hiện nhiều nhất trong các mùa với ý

Trang 30

nghĩa thể hiện nỗi buồn, sự cô đơn của Thúy Kiều.

Phần lớn những câu thơ miêu tả mùa thu đều là những câu thơ buồn gợi tâm tư, tình cảm bồn Nỗi buồn của Thúy Kiều khi phải ra đi cùng Mã Giám Sinh

"Vi lô san sát hơi may, Mét trời thu để riêng ai một người"

( dòng 913 - 914)

"Rừng thu tầng biếc xen hồng" ( dòng 917)

Hay "Tẩy trần mượn chén giải phiền "TÈy trÇn mîn chÐn

gi¶i phiÒn đêm thu ( dòng 1834)

Tuy nhiên cũng có những lúc Nguyễn Du dùng mùa thu để diễn ta sùthanh thản, vui vẻ trong tâm hồn con người, bởi ngoài nét buồn, mùa thuvÉn có một vẻ đẹp nhẹ nhàng phù hợp với tâm trạng bình yên Đó lànhững câu thơ viết về mùa thu yên ổn, thanh bình khi Kiều sống cùng Thúc

Sinh "Sân ngô cành bích đã chen lá vàng" ( dòng 1386).

Hay là một bức tranh mùa thu:

"Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng"

( dòng 1603 - 1604)Đọc cả tác phẩm ta có thể thấy một điều đặc biệt đó là trong 4 mùathì thời gian miêu tả mùa hè và mùa đông xuất hiện rất Ýt, gần nh không

có Mùa hè được miêu tả ba lần chiếm tỉ lệ [13,04%] và mùa đông 1 lần

chiếm tỉ lệ [4,35%] trong tổng số 23 dòng thơ về mùa trong Đoạn trường tân thanh.

Tại sao trong bốn mùa mà mùa hè và mùa đông gần nh không được tác giả quan tâm? Điều này có ý nghĩa gì?

Mùa hè là lúc vạn vật phát triển đến độ rực rỡ, mạnh mẽ nhất Trong

Trang 31

Đoạn trường tân thanh, những câu thơ tả cảnh mùa hè là những cảnh đẹp.

"Dưới trăng quyên đã gọi hè" ( dòng 1037)

"Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông" ( dòng 1038)

"Đào đà phai thắm sen vừa nảy xanh" ( dòng 1474)

Cảnh sắc mùa hè hầu hết chỉ xuất hiện trong thời gian Thúy Kiều sốngcùng Thúc Sinh Nguyễn Du sử dụng miêu tả mùa hè ở đây với dụng ý thểhiện hạnh phóc vợ chồng giữa Thúc Sinh - Thúy Kiều Bởi vì mối tình của

hai người là mối tình "trước còn trăng gió sau ra đá vàng" cho nên "càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông" Nhưng những tháng ngày hạnh phóc Êy lại

quá ngắn ngủi và sau đó là chuỗi ngày Thúy Kiều bị đày đoạ trong nhàHoạn Thư

Ngược với sự rực rỡ của cảnh vật trong mùa hè là sự tàn tạ của mùađông Nói đến mùa đông ta thường liên tưởng đến sự lạnh lẽo, héo hon,chết chóc, tàn tạ bao phủ bầu trời ảm đạm Do vậy những dòng thơ viết vềmùa đông xuất hiện rất Ýt trong tác phẩm (một lần duy nhất)

1.1 4 Thời gian buổi

1.1.4.1 Thống kê.

a Buổi sáng

Số thứ tựdòng trongtác phẩm

Trang 32

8 Tan sương vừa rạng ngày mai 1083

5 Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha 170

6 Mặt trời gác núi chiêng đà thu không 172

c Buổi tối - đêm – gần sáng

4 Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình 432

Trang 33

6 Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu 434

12 Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn 712

20 Ngoài hiên thá đã non đoài ngậm gương 1370

22 Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai 1592

23 Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài 1872

24 Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao

25 Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời 1638

26 Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu 1834

29 Lần nghe canh đã một phần trống ba 2026

30 Lần đường theo bóng trăng tà về tây 2028

31 Tiếng gà đếm nguyệt dấu giày cầu sương 2030

32 Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau 2068

35 Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao 3140

Trang 34

37 Dưới đèn tỏ dạng má đào thêm xuân 3142

1.1.4.2 Ý nghĩa.

Như đã thống kê, ta thấy thời gian các buổi chiếm một tỉ lệ tương đốilớn so với thời gian năm, mùa và tháng Nếu thời gian năm có 34 dòngchiếm tỉ lệ [23,12%], tháng có 10 dòng chiếm tỉ lệ [6,8%], mùa có 23 dòngchiếm tỉ lệ [15,64%] trong tổng số 147 dòng thơ về thời gian thời tiết, thìthời gian buổi tối có tới 60 dòng, chiếm tỉ lệ lớn [40,81%] Tai sao Nguyễn

Du lại chú ý nhiều đến mảng thời gian này như vậy?

Ta biết rằng Đoạn trường tân thanh là một tác hẩm tự sự, phản ánh về

cuộc sống, số phận con người một cách cụ thể Trong tác phẩm tự sự ngườiviết bao giê cũng miêu tả hiện thực một cách tường tận như chính cuộcsống Tác phẩm tự sự cũng có khả năng thể hiện nhân vật trong một phần vàtoàn bộ cuộc đời, tính cách, số phận với nhiều mặt hoạt động và biểu hiệnthường nhật Tùy theo các kể của tác giả mà nhân vật tự sự có thể được miêu

tả rất chi tiết, cụ thể cả trong sinh hoạt lẫn đời sống tâm lí và ngôn ngữ

Để đáp ứng được những yêu cầu trên của loại hình tự sự, thời gian

buổi là loại thời gian phù hợp nhất Hoạt động sinh hoạt cũng như hoạt

động tâm lí của nhân vật được thể hiện rõ nhất qua thời gian buổi Như vậy,

trong Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã tả nhiều về thời gian buổi là

hoàn toàn phù hợp với đặc trưng thể loại

Thời gian trong ngày để nhân vật sống, hành động và tư duy rất đượcNguyễn Du quan tâm miêu tả Các buổi gồm có sáng, chiều, tối (đêm) Trongnhững thời khắc Êy Nguyễn Du quan tâm tới thời điểm nào nhiều nhất? Vìsao?

Buổi sáng: Trong văn học, các tác giả thường dành buổi sáng để miêu

tả những sự việc tốt đẹp Buổi sáng tượng trưng cho cái đẹp, cái đang lên

Trang 35

Nhưng Đoạn trường tân thanh là tác phẩm tự sự kể về cuộc đời đầy Ðo le, đau khổ, bị vùi dập, chà đạp của người con gái trong xã hội "Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”… Nhưng chuyện đau lòng đó khó có thể phù hợp với khung cảnh buổi sáng Vì vậy, buổi sáng trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh xuất hiện với số lượng không nhiều, 13 dòng trong tổng số 60

trường hợp về thời gian buổi, chiếm tỉ lệ [21,67%]

Buổi sáng là lúc chuyển từ đêm sang ngày Bởi vậy, khi miêu tả buổisáng Nguyễn Du hay chó ý đến bước chuyển này Ví dô nh buổi sáng KimTrọng chờ Kiều để kiếm cớ gặp gỡ:

"Tan sương đã thấy bóng người" ( dòng 310)

Hay khi Kim - Kiều đang say sưa tình tự,

“Bóng tàu vừa lạt vẻ ngõn”

Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào”

(dòng 525-526)Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích, gặp Sở Khanh, nàng chưa biết y là hạngngười nào, thì được Nguyễn Du miêu tả thời điểm buổi sáng bằng câu:

“Tan sương vừa rạng ngày mai”( dòng 1038)

Ngày mai là lúc đêm vừa tan, ngày mới vừa đến Một ngày mới đếnthường mang lại những điều mới Tuy nhiên điều ấy có thể tốt lành, nhưng

cũng có thể là ngược lại Đọc Đoạn trường tân thanh, ta thấy rất rõ những

thay đổi lớn thường diễn ra trong cuộc đời Kiều theo chiều hướng rủi nhiềuhơn may Kiều theo Mã Giám Sinh ra đi trong một buổi:

“Lầu mai vừa rỳc cũi sương.

Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi”

(dòng 867-868)Kiều ra ở Quan Âm các, tưởng như cả cuộc đời nàng thay đổi cũng

Trang 36

là buổi sáng vừa mới bỡnh mỡnh.

“Tửng bưng trời mới bình minh” (dòng 1917)

Rồi khi Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư, một ngày mới được bắt đầu:

“Trời đông vừa rạng ngàn dõu” (dũng 2033)

Một ngày mới đến nhưng lại là đau khổ của nàng Kiều, cuộc đờinàng vẫn chịu bất hạnh và bi kịch

Cho tới tận cuối tác phẩm, khi Kiều gặp lại Kim Trọng trong ngày táingộ mới là một vận hội may mắn của cuộc đời nàng, mới có một buổi sánghạnh phúc

“Chuyện trò chưa cạn tóc tơ

Gà đà gỏy sỏng, trời vừa rạng đụng”

(dòng 2315-2316)Mười lăm năm của kiếp đoạn trường đã chấm dứt, bây giờ nàngđược trở về bên gia đỡnh, bên chàng Kim thủa nào Nàng thực sự thoátkhỏi kiếp đoạn trường để được hưởng cuộc sống:

“Phong lưu phú quý ai bì

Vườn xuân một cửa để bia muôn đời”.

Buổi chiều: Buổi chiều trong cả tác phẩm Đoạn trường tân thanh chỉ

có 9 dòng thơ So với các thời điemẻ khác trong ngày, thì buổi chiều chỉchiếm [15 %] Có nghĩa là buổi chiều được Nguyễn Du miêu tả khôngnhiều và thường tập trung ở phần đầu của tác phẩm Đó chính là thời điểmnói về cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Thúy Kiều và Kim Trọng

Chiều là lúc này sắp tàn, màn đờm buông suống Chiều là khi mọi

người được sum họp, được sống trong sự đầm ấm của gia đình, của ngườithân Buổi chiều cũng là khoảng thời gian gợi thương, gợi nhớ Bởi vậykhung cảnh và thời gian buổi chiều thường gợi nhớ nỗi buồn và sự cô đơn

Trang 37

của con người Tuy nhiên đọc cả tác phẩm tác giả miêu tả tâm trạng củaThúy Kiều - một người con xa gia đình, cha mẹ, anh em không nhiều Bởi

vậy, những câu thơ viết về buổi chiều trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh xuất hiện với tần số không nhiều.

Đồng thời, theo quan niệm của người phương Đông, nếu buổi sáng là

dương thì buổi chiều thuộc về âm Vậy mà trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh những câu thơ tả cảnh buổi chiều lại xuất hiện dày đặc trong

đoạn Thuý Kiều gặp Kim Trọng trong ngày tết thanh minh và được tác giảnhấn mạnh bằng những câu:

“Tà tà bóng ngả về tõy” (dòng 51)

“ Một vùng cỏ áy bóng tà” (dòng 97)

“Bóng chiều đã ngả dặm về còn xa” (câu 114)

“Bóng tà như giục cơn buồn” (dòng 167)

Thời gian ấy lại được tô đậm thêm bằng một không gian cũng thuộc

về thế giới âm – không gian mồ mả nơi nghĩa địa

“Ngổn ngan gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay”

tình yêu đú dù rất đẹp, rất xứng đôi “Người quốc sắc, kẻ thiên tài” nhưng

vẫn cho người đọc dự cảm về sự tan vỡ của một mối tình chưa khai sinh đãkhai tử

Buổi tối - đêm khuya và gần sáng:

Trang 38

Trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh thời điểm tối, đêm khuya, gần sáng là thời điểm được Nguyễn Du nhắc tới nhiều nhất trong số những

dòng thơ viết về các buổi trong ngày, có 38/60 dòng thơ chỉ thời gian buổichiếm tỉ lệ [63,33%] Tại sao tác giả lại miêu tả buổi tối - đêm nhiều hơncác thời điểm khác?

Đoạn trường tân thanh là một tác phẩm tự sự miêu tả nhiều về đời

sống nội tâm, những nỗi đau tinh thần của Kiều Vì vậy khung cảnh tốiđêm (cả về không gian và thời gian) là khung cảnh phù hợp nhất để miêu tảnỗi đau nội tâm của con người Tối đêm là khoảng thời gian mà con ngườithường suy tư cho những nỗi niềm riêng, một mình đối diện với mình Do

đó, có thể nói rằng chính nội dung tác phẩm đã hướng tác giả miêu tả phầnđêm và nhiều hơn phần ngày

Dùng thời gian đêm khuya để miêu tả nội tâm nhân vật không nhữngphù hợp mà còn làm cho nỗi đau trở nên sâu lắng hơn, con người cô đơn lạicàng cảm thấy cô đơn, nhỏ bé hơn

Trang 39

trong tác phẩm

4 Đêm đêm Hàn thực ngày ngày Nguyên tiêu 942

6 Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh 1232

15 Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai 1592

16 Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày 1612

23 Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương 2058

24 Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày 2138

27 Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng 2734

28 Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao 2876

Trang 40

31 Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai 3234

1.1.5.2 Ý nghĩa.

Bên cạnh thời gian, năm, tháng, mùa, buổi… thời gian trong Đoạn trường tân thanh, luôn luôn có sự vận động, có sự tuần hoàn, trôi chảy,

từ mùa này qua mùa khác, năm này sang năm khác Thời gian trôi chảy

trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh khác hẳn những tác phẩm khác

đương thời

Thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc (Bản dịch của Đoàn Thị Điểm)

qua các biểu tượng tham gia vào cấu trúc tác phẩm Ở tác phẩm này đã thểhiện được bước chuyển của thời gian gắn với các đặc trưng của từng mùa,gắn với các dấu hiệu của từng thời điểm

"Thủa lâm hành oanh chưa bén liều (hè) Nay quyên đã giục oanh già (sang hè)

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo (xuân năm sau) Thủơ đăng đồ mai chưa dạn gió (đông) Hỏi ngày về chỉ độ đào bông (xuân) Nay đào đã quyến gió đông (hết xuân)

Phù dung lại rả bên sông ba sòa (thu)Hẹn cùng lá lũng tây nham Êy,

Sớm đã trông nào thấy tăm hơi (sớm)

Ngập ngừng lá rụng cành trâm,

Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao (trưa)

Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ,

Chiều lại tìm nào có tiêu hao (chiều)

Ngày đăng: 18/12/2014, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh - Từ điển Truyện Kiều, NXB KHXH, Hà Nội, 1974 2. Lại Nguyên Ân - 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia HàNội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều", NXB KHXH, Hà Nội, 19742. Lại Nguyên Ân - "150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB KHXH
3. Phạm Tó Châu - Từ cô Kiều đời thường trong nguyên tác đến cô Kiều khuê các của Nguyễn Du, Báo giáo dục và thời đại số 3 tháng 4/1941 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cô Kiều đời thường trong nguyên tác đến cô Kiều khuê các của Nguyễn Du
4. Nguyễn Huệ Chi - Con đường giao tiếp của văn học cổ trung đại Việt Nam trong mối quan hệ khu vực, TCVH sè 2/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giao tiếp của văn học cổ trung đại Việt Nam trong mối quan hệ khu vực
5. Trương Chính - Một vài suy nghĩ về thân thế Nguyễn Du, TCVH sè Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về thân thế Nguyễn Du
6. Xuân Diệu - Thi hào dân téc Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào dân téc Nguyễn Du
Nhà XB: NXB Văn học
7. Nguyễn Du - Truyện Kiều, Đào Duy Anh khảo chứng, hiệu đính, chú giải, NXB Văn học 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Nhà XB: NXB Văn học 2002
8. Cao Huy Đỉnh - Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực Nguyễn Du, TCVH sè 3/1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực Nguyễn Du
9. Trịnh Bá Đĩnh - Tuyển chọn bình giải Truyện Kiều, NXB Hà Nội 1983 10.Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn - Nguyễn Du về tác giavà tác phẩm, NXB Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn bình giải Truyện Kiều", NXB Hà Nội 198310.Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn - "Nguyễn Du về tác gia "và tác phẩm
Nhà XB: NXB Hà Nội 198310.Trịnh Bá Đĩnh
11.Đỗ Đức Dục - Về chủ nghĩa hiện thực thời Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa hiện thực thời Nguyễn Du
Nhà XB: NXB Văn học
13.A.JA.Gurêvich - Các phạm trù văn học trung cổ, NXB Giáo dục, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn học trung cổ
Nhà XB: NXB Giáo dục
14.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn, NXBĐHQG, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn
Nhà XB: NXBĐHQG
15.Nguyễn Trung Hiếu - Truyện Kiều trong yêu cầu đổi mới của khoa Nghiên cứu văn học, TCVH sè 6/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều trong yêu cầu đổi mới của khoa
16.Kiều Thu Hoạch - Truyện Nôm - Nguồn gốc và bản chất thể loại, NXBKHXH, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nôm - Nguồn gốc và bản chất thể loại
Nhà XB: NXBKHXH
17.Nguyễn Văn Hoàn - Nguyễn Du và Truyện Kiều, sách: Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, NXBKHXH, Hà Nội. 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du và Truyện Kiều
Nhà XB: NXBKHXH
18.Nguyễn Thị Bích Hồng - Về cảm quan thời gian của Nguyễn Trãi qua một số bài thơ Nôm, TCVH sè 11/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cảm quan thời gian của Nguyễn Trãi qua một số bài thơ Nôm
19.M.B.Khrapchenko - Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực con người, Tập 2, NXBKHXH, Hà Nội 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực con người
Nhà XB: NXBKHXH
20.M.B.Khrapchenko - Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, NXB tác phẩm mới, Hà Nội 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học
Nhà XB: NXB tác phẩm mới
21.Lê Đình Kỵ - Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, NXB KHXH, Hà Nội, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du
Nhà XB: NXB KHXH
22.Đinh Thị Khang - Kết cấu truyện Nôm, TCVH sè 9/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu truyện Nôm
23.Nguyễn Lân - Từ điển tiếng Việt, NXBKHXH, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXBKHXH

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w