1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luyện tập sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

123 993 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 715 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoặc ngay trongmỗi cuốn sách giáo khoa cho học sinh có bài ghi trình bày thí nghiệm, sựkiện lịch sử, tiểu sử nhà văn, xuất xứ đoạn trích… Tất cả đều là văn bảnthuyết minh.Văn bản thuyết

Trang 1

sử hoặc một danh lam thắng cảnh thì ngay địa điểm đó cũng có bảng tóm tắtghi lời giới thiệu khái quát về di tích hay danh thắng đó Hoặc ngay trongmỗi cuốn sách giáo khoa cho học sinh có bài ghi trình bày thí nghiệm, sựkiện lịch sử, tiểu sử nhà văn, xuất xứ đoạn trích… Tất cả đều là văn bảnthuyết minh.

Văn bản thuyết minh chủ yếu sử dụng phương thức thuyết minh, trìnhbày nhưng vẫn thường được sử dụng kết hợp với một số biện pháp nghệthuật như các phép tu từ, các lối kể chuyện, đối thoại, các hình thức vè, diễnca,… và yếu tố miêu tả Sự kết hợp Êy tạo cho văn bản thêm sinh động, hấpdẫn và nâng cao hiệu quả thuyết minh

Song sự kết hợp Êy là nh thế nào? Một số biện pháp nghệ thuật và yếu

tố miêu tả được sử dụng trong văn bản thuyết minh ra sao? Cần tổ chức dạy– học nh thế nào để học sinh biết kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu

tố miêu tả trong bài làm văn thuyết minh? Việc xác lập một hệ thống bài tậpluuyện tập rèn luyện sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả

Trang 2

trong bài làm văn thuyết minh vừa tương ứng với lý thuyết của kiểu bài, vừaphù hợp với điều kiện dạy – học trong nhà trường là một vấn đề cần thiếtkhông chỉ đối với giáo viên mà còn cả với học sinh Đó là vấn đề đang còn

bỏ ngỏ cần được giải quyết

Qua thực tế dạy – học cho thấy: Trong quá trình tổ chức các hoạt độngdạy học cụ thể về văn thuyết minh, giáo viên nhiều khi vẫn lúng túng trongviệc dạy luyện tập thế nào để cho học sinh kết hợp được một số biện phápnghệ thuật và yếu tố miêu tả trong bài làm văn thuyết minh Còn học sinhcũng rất vất vả trong việc viết văn bản thuyết minh có sử dụng kết hợp một

số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả đó

Đề tài nghiên cứu đặt vấn đề luyện tập sử dụng kết hợp một số biệnpháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh – một vấn đềkhá mới mẻ, thó vị và hấp dẫn Với những kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ cótác dụng xác định hướng dạy và học văn bản thuyết minh cho học sinh Trunghọc cở sở; đồng thời còn cung cấp những tư liệu phong phó cho việc dạy học

và tổ chức luyện tập, định ra một hệ thống bài tập thích hợp, vừa giúp chogiáo viên có thêm tài liệu, điều kiện giảng dạy, vừa giúp cho học sinh líp 9

có khả năng, phương tiện và điều kiện để vận dụng lý thuyết, hình thànhnhững kỹ năng cần có trong làm văn thuyết minh

2. Lịch sử vấn đề

Với chương trình thí điểm phân ban những năm 90, văn bản thuyết

minh lần đầu tiên được đưa vào nhà trường Trong cuốn Làm văn 11 (1)

cuốn Làm văn 11(2) ban biên soạn đã cung cấp cho người học những kiếnthức, kỹ năng cơ bản về kiểu bài giới thiệu thuyết minh và đưa ra một số câu

Trang 3

(2): Trần Đình Sử (Chủ biên),…; Tài liệu giáo khoa thí điểm ban KHTN-KT NXBGD,

1995.

hỏi bài tập luyện tập Song lượng kiến thức kỹ năng đó chỉ mang tính kháiquát từ định nghĩa về thuyết minh, một số kiểu bài giới thiệu thuyết minhthường gặp và yêu cầu của một bài văn giới thiệu thuyết minh cho đến cáchviết một bài văn giới thiệu thuyết minh với những thao tác, kỹ năng cơ bảnnhư là định hướng làm bài, sưu tầm, lùa chọn các tư liệu, xây dựng bố cụcbài làm, cách hành văn trong bài văn thuyết minh và kiểm tra sửa chữa bàiviết

Giáo trình Làm văn (1) đã nghiên cứu khái quát về văn bản thuyết minh.Tác giả đã cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng cơ bản về vănbản thuyết minh: Từ những hiểu biết và yêu cầu về kiểu văn bản, một số kiểuvăn bản thường gặp cho đến kỹ năng cần thiết để làm bài văn thuyết minh.Các tác giả đã đề cập và lưu ý người học trong quá trình hình thành văn bảnthuyết minh cũng rất cần kết hợp kể chuyện với miêu tả để cho bài văn sinhđộng, có sức thuyết phục hơn và để người đọc (người nghe) hình dung cụ thểđối tượng Xen kẽ với lời miêu tả, kể chuyện là những lời bình, điểm xuyếtthêm một số câu thơ, câu văn để ý nghĩa của các tư liệu nổi bật hơn, gây Êntượng hơn

Chương trình Ngữ văn líp 8,9 hiện hành đã cung cấp cho các em kháđầy đủ những kiến thức, kỹ năng về làm văn thuyết minh từ những kiến thứcchung cơ bản cho đến phương pháp thuyết minh, cách làm bài văn thuyếtminh cụ thể với một số kiểu bài thuyết minh thông thường và có nâng cao:thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả.Chương trình đã chú ý tích hợp văn bản thuyết minh với những kiểu văn bản

đã học và nhìn nhận văn bản thuyết minh trong mối liên quan với những kiểuvăn bản đó Nhóm tác giả biên soạn đã chỉ rõ văn bản thuyết minh là kiểuvăn bản trình bày, giải thích, giới thiệu về đối tượng nhằm cung cấp tri thức

Trang 4

về đối tượng để con người có thể hiểu về đối tượng một cách đầy đủ, đúngđắn,

và đồng thời cũng thật cụ thể Tuy nhiên trong quá trình thuyết minh ngườisống động, gần gũi, dễ cảm, dễ nhận, đồng thời lời thuyết minh về đối tượngđược thuyết phục, sinh động, hấp dẫn Có nh vậy, người đọc, người nghe mới

có được những nhận thức đầy đủ, sáng tỏ về đối tượng và việc thuyết minhmới thật sự đạt hiệu quả

Các tác giả cuốn Từ tiếp nhận đến thực hành Ngữ văn 9(1) còng đã nhấnmạnh vấn đề cần kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tảtrong

văn bản thuyết minh Nhóm tác giả cho rằng người tạo lập văn bản thuyếtminh có thể và nên kết hợp sử dụng một số biện pháp nghệ thuật nh các phép

tu từ, các lối kể chuyện, đối thoại, các hình thức vè, diễn ca còng nh yếu tốmiêu tả Bởi theo họ, một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả đó, nếuđược sử dụng hợp lý và sáng tạo sẽ không chỉ giúp người làm công việcthuyết minh nói rõ hơn, nổi bật hơn về đối tượng thuyết minh và tạo hứngthó cho người nghe (người đọc) mà còn khiến cho văn bản thêm sinh động,hấp dẫn nhưng vẫn không bị làm mất những đặc điểm cơ bản của hoạt độngthuyết minh Nhóm nghiên cứu đã rất cẩn thận, tỉ mỉ hướng dẫn các em tìmhiểu một số văn bản thuyết minh có sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệthuật và yếu tố miêu tả mà sách giáo khoa cung cấp trên cơ sở đối chiếu, sosánh giữa cách thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu

Trang 5

tố miêu tả với cách thuyết minh không hoặc Ýt sử dụng; từ đó giúp các em tùrót ra những yêu cầu cụ thể cần đạt khi sử dụng những kết hợp đó cũng nhưvai trò, hiệu quả của nó trong văn bản thuyết minh Thế nhưng sự kết hợp

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:

3.1 Mục đích

Luận văn mong muốn cung cấp những hiểu biết, kỹ năng cơ bản vềlàm văn thuyết minh, hi vọng góp chút gợi ý về hệ thống bài tập tương đốiđầy đủ và toàn diện trong việc luyện tập rèn luyện vận dụng hình thành vănbản thuyết minh sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả chohọc sinh líp 9 Giáo viên có thể dùa vào những gợi ý đó để ra những bài tập

có dạng tương tự, giúp học sinh thực hành rèn luyện kĩ năng hình thành vănbản thuyết minh, có nâng cao kết hợp với sử dụng một số biện pháp nghệthuật và yếu tố miêu tả

Hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng như đông đảo giáo viên đang cốgắng tìm tòi một hướng đi tối ưu nhằm rút ngắn khoảng cách giữa lí thuyết

và thực hành để giúp học sinh đỡ ngại học phân môn Tập làm văn nói chungvới tâm lí sợ vì khó, vì ngại phải viết bài; đồng thời giúp các em chủ động, tựtin khi có khả năng viết bài tập làm văn thuyết minh sử dụng kết hợp một số

Trang 6

biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả Bản luận văn của chúng tôi cũng làmột trong những ý kiến riêng đóng góp vào sự cố gắng chung Êy.

3.2 Nhiệm vô

Để đạt được mục đích đó, đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ phải thựchiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu sự kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu

tố miêu tả trong bài văn thuyết minh nh thế nào? Thực hiện nhiệm vụ này,chúng tôi sẽ giải đáp một số thắc mắc cho các em học sinh trong quá trìnhthực hành làm văn thuyết minh và giúp các em tìm ra những giải đáp chonhững câu hỏi: Vì sao văn bản thuyết minh có thể và cần sử dụng kết hợpmột số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả, và vì sao một số biện phápnghệ thuật và yếu tố miêu tả đó đều hướng tới những mục đích khác nhau màchúng vẫn có thể xuất hiện trong văn bản thuyết minh? Sự kết hợp đó có thểgiúp gì cho việc nâng cao hiệu quả thuyết minh?

Thứ hai: Tổ chức, hướng dẫn rèn luyện cho học sinh hình thành văn

bản thuyết minh có kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả.Đích của thuyết minh không chỉ cung cấp tri thức chuẩn xác, khoa học,khách quan về một sự vật, hiện tượng, phương pháp… nhằm giúp con ngườihiểu được sáng rõ, đầy đủ về sự vật, hiện tượng, phương pháp đó mà còn cầnphải làm cho người đọc (người nghe) có thể tiếp nhận được những tri thức đãnêu ra một cách dễ dàng, hứng thó Bởi vậy trong quá trình hình thành vănbản thuyết minh không thể chỉ sử dụng một phương thức thuyết minh mà rấtcần phải kết hợp với một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả thì thuyếtminh mới đạt hiệu quả, tạo được hứng thó ở người tiếp nhận Nhưng sự kếthợp Êy nh thế nào? Làm thế nào để kết hợp được chúng trong bài văn thuyếtminh của mình? Có lẽ không Ýt các em học sinh còn đang rất băn khoăn,lúng túng Với đề tài nghiên cứu này, luận văn của chúng tôi sẽ tổ chức,

Trang 7

hướng dẫn, rèn luyện cho các em hiểu và biết cách làm một văn bản thuyếtminh, có kết hợp với một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả.

Thứ ba: Kiểm tra khả năng thực hiện hoá - hiệu quả của các biện pháp

ý thức tăng cường mở rộng và nâng cao, tích hợp dọc, ngang, liên thôngnhằm hệ thống hóa các kiến thức cho các em học sinh Đồng thời tiếp tụctăng cường tổ chức hoạt động học tập theo hướng tích cực, phát huy vai trò

cá nhân trong học tập, tăng cường rèn luyện thực hành nhằm phát huy kĩnăng vận dụng chủ động, sáng tạo ở cả người dạy và người học, hướng tớiđảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân

Trên cơ sở đó luận văn còn góp phần xác định phương hướng trongdạy - học Tập làm văn nói chung và văn bản thuyết minh nói riêng cho họcsinh Trung học cơ sở: dạy và học những kiến thức kĩ năng cơ bản theo hướngcủng cố mở rộng và nâng cao, tăng cường thực hành luyện tập, đan xen kếthợp thuyết minh với một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả

4.2 Về mặt thực tiễn

Việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn nói chung và Tập làm văn nói riêngcho học sinh là làm cho các em thành thạo được các kĩ năng nghe, nói, đọc,viết tiếng Việt đúng chính tả, cú pháp theo các kiểu văn bản và hình thànhcho các em kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu hìnhthành năng lực cảm nhận, bình giá văn học; đồng thời biết cách sử dụng các

Trang 8

thao tác cần thiết để tạo lập được các kiểu văn bản đã học nhằm phục vụ choviệc học tập ở nhà trường cũng như đời sống gia đình, xã hội.

Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu, tìmhiểu về vấn đề rèn luyện thực hành hình thành bài tập làm văn thuyết minh

có sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả cho họcsinh líp 9 Bởi vậy kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp nhữngnghiên cứu khoa học và nguồn ngữ liệu phong phó cho việc giảng dạy, họctập về văn bản thuyết minh ở nhà trường Trung học cơ sở Hi vọng luận văncủa chúng tôi sẽ giúp thầy cô và các em tìm thấy một số gợi ý bổ Ých chocông việc dạy và học của mình Với những nghiên cứu khoa học của luậnvăn, thầy cô và các em có thể thấy sáng rõ hơn những định hướng trong việctiếp nhận, học hiểu một kiểu văn bản mới cũng như trong việc rèn luyện kĩnăng vận dụng để tạo lập được kiểu văn bản mới đó – văn bản thuyết minh,nhất là khi văn bản này được sử dụng kết hợp với một kết hợp một số biệnpháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả Không những thế, với những văn bảnthuyết minh hay có kết hợp kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tốmiêu tả và những câu hỏi, bài tập, đề bài làm văn luyện tập rèn luyện kĩ nănghình thành văn bản thuyết minh sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu

tố miêu tả, thầy cô và các em còn có thể tìm thấy nguồn ngữ liệu phong phú,đáng tin cậy để phục vụ cho công việc giảng dạy và học tập của mình

5. Phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

Luận văn chỉ tâp trung nghiên cứu việc luyện tập rèn luyện kỹ năng sửdụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong bài làm văn thuyếtminh cho học sinh líp 9 Trung học cơ sở Do vậy những bài tập và đề vănluyện tập đưa ra trong luận văn chủ yếu hướng tới việc rèn luyện kĩ năng sửdụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong bài làm văn thuyếtminh cho học sinh líp 9 mà không mở rộng tới tất cả các loại văn bản khác

Trang 9

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng tài liệu của nhữngtác giả đã nghiên cứu về văn thuyết minh, một số văn bản thuyết minh introng các sách báo hay công bố trên mạng in- tơ - nét (internet) Bên cạnh đó,luận văn còn sử dụng tài liệu là những giáo án dạy học của một số giáo viênđang dạy Ngữ văn 9, những bài viết tập làm văn của các em học sinh líp 9 ởmột số trường Trung học cơ sở Đó là nguồn cung cấp những số liệu thựcnghiệm, những điều tra, khảo sát thực tế đáng tin cậy để tác giả đề xuấtnhững dạng bài tập luyện tập có tính khả thi trong nhà trường Trung học cơ

sở Ngoài ra luận văn còn sử dụng tài liệu điều tra, thực nghiệm thu thậpđược của bản thân tác giả trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài Đây làmột mảng tư liệu quan trọng góp phần tạo nên nội dung của luận văn

6. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụng đồng thời cácphương pháp: phân tích tổng hợp, thống kê - đối chiếu so sánh, thực nghiệm

sư phạm là chính Để triển khai những vấn đề của đề tài, chúng tôi còn sửdụng kết hợp một số biện pháp khác nh định nghĩa, giải thích, nêu ví dụ,dùng số liệu, phân loại, phân tích

Phương pháp phân tích được sử dụng để xem xét các vấn đề có tínhchất lí luận, để nghiên cứu thực tiễn của việc dạy và học văn bản thuyết minh

có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong nhà trườngtrung học cơ sở Phương pháp này cũng được chúng tôi dùng trong việc phântích những cơ sở của việc đề xuất hệ thống bài tập luyện tập thực hành rènluyện hình thành văn bản thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệthuật và yếu tố miêu tả

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê - so sánh khiđiều tra, khảo sát và xử lí các kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm.Đây là phương pháp giúp cho chúng tôi có diều kiện nhìn nhận những vấn đề

Trang 10

được nghiên cứu trong sự đối chiếu lẫn nhau để từ đó có thể rót ra những kếtluận hợp lí, vừa có cơ sở lí luận, vừa có cơ sở thực tiễn.

Thực nghiệm là một trong những nội dung quan trọng của luận văn.Chỉ có thực nghiệm, rồi xem xét, phân tích, phân loại, đánh giá, điều chỉnh

cụ thể mới có thể kết luận được về giá trị thực tiễn và tính khả thi của nhữngvấn đề được đặt ra trong luận văn Không thể khẳng định hay đánh giá mộtcách khách quan những đóng góp của vấn đề nghiên cứu khi nó mới chỉ lànhững suy nghĩ, những đề xuất lí thuyết mang nặng tính chủ quan của ngườinghiên cứu Bởi vậy thực nghiệm vừa là phương pháp nghiên cứu, vừa làmột mảng nội dung quan trọng, không thể thiếu của luận văn này

7. Kết cấu của luận văn

Để giải quyết được tất cả các vấn đề đặt ra trong phạm vi nghiên cứucủa đề tài, luận văn sẽ triển khai theo ba phần lớn là: Phần I - Mở đầu, Phần

II – Nội dung, Phần III – Kết luận

Trong phần mở đầu chúng tôi lần lượt trình bày về: lÝ do chọn đề tài;lịch sử vấn đề; mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu; những đóng góp của luậnvăn; phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu; phương pháp nghiên cứu và kếtcấu luận văn

Phần nội dung chúng tôi triển khai thành ba chương lớn:

Chương I: Chóng tôi tập trung tìm hiểu, nghiên cứu văn bản thuyết

minh và việc sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tảtrong bài làm văn thuyết minh Để làm rõ về nội dung này, chúng tôi chiathành ba nội dung nhỏ hơn là văn bản thuyết minh, việc sử dụng một số biệnpháp nghệ thuật được sử dụng trong văn bản thuyết minh và yếu tố miêu tảtrong văn bản thuyết minh Ở nội dung nhỏ thứ nhất chúng tôi triển khai tìmhiểu, nghiên cứu về các vấn đề: khái niệm, đặc điểm của văn bản thuyếtminh Ở nội dung nhỏ thứ hai chúng tôi tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về vaitrò của một số một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh; sự kết

Trang 11

hợp một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh và phân biệt một

số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh và văn bản nghệ thuật Ởnội dung nhỏ thứ ba chúng tôi tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò củayếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh; sự kết hợp yếu tố miêu tả trongvăn bản thuyết minh và phân biệt yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minhvăn bản miêu tả

Chương II: Chóng tôi tiến hành tổ chức luyện tập sử dụng với một số

biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh cho họcsinh líp 9 Để việc tổ chức luyện tập này được hiệu quả, trước hết chúng tôitiến hành khảo sát thực trạng dạy và học luyện tập sử dụng một số biện phápnghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh ở nhà trường Trunghọc cơ sở trên các phương diện: khảo sát sách giáo khoa, khảo sát tình hìnhhọc của học sinh, khảo sát tình hình dạy của giáo viên Sau đó, chóng tôi xâydựng một sè kiểu bài tập luyện tập một số biện pháp nghệ thuật và yếu tốmiêu tả trong văn bản thuyết minh cho học sinh líp 9 với sù giới thiệu chungcác kiểu bài tập luyện tập và thuyết minh, trình bày mục đích của bài tập, cácbước tiến hành bài tập, từ đó xây dựng bài tập mẫu với hướng dẫn cách giải

cụ thể ở mỗi dạng bài tập

Chương III: Thực nghiệm Ở chương này chúng tôi triển khai thành

năm vấn đề Thứ nhất chúng tôi trình bày về mục đích, yêu cầu của thựcnghiệm; thứ hai là đối tượng, địa bàn thực nghiệm; thứ ba là tổ chức thựcnghiệm; thứ tư là nội dung thực nghiệm; thứ năm là đánh giá kết quả thựcnghiệm

Phần kết luận chung chúng tôi đánh giá, kết luận về vấn đề nghiên cứucủa đề tài Từ đó đưa ra một số ý kiến đề xuất, giải pháp giúp cho việc dạy –học văn bản thuyết minh nói chung, thuyết minh có sử dụng một số biệnpháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả nói riêng có hiệu quả hơn, gần với ứngdụng thực hành hơn

Trang 12

PHẦN II: NỘI DUNG

CHƯƠNG I:

VĂN BẢN THUYẾT MINH VÀ VIỆC SỬ DỤNG KẾT HỢP MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT VÀ YẾU TỐ MIÊU TẢ

TRONG BÀI LÀM VĂN THUYẾT MINH.

1.1. Văn bản thuyết minh

Theo Ngữ văn 8(1), văn bản thuyết minh là kiểu văn bản trình bày tínhchất, cấu tạo, cách dùng cùng lÝ do phát sinh, qui luật phát triển, biến hóacủa sự vật nhằm cung cấp tri thức, hướng dẫn cách sử dụng cho con người

Các tác giả giáo trình Làm văn(2) còng khẳng định: văn bản thuyết minh

là kiểu văn bản nhằm làm cho người đọc biết và hình dung rõ một đối tượngnào đấy bằng cách trình bày, miêu tả, phân tích, đánh giá các khía cạnh vàcác biểu hiện cụ thể của chúng

Tác giả Một số kiến thức- kĩ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 8(3) chorằng: Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản sử dụng phương thức trình bày,giới thiệu, giải thích để làm rõ tính chất, cấu tạo, cách dùng, lÝ do phát sinh,qui luật phát triển, biến hóa hoặc qui trình, diễn biến của đối tượng, sự việc

Tác giả Hướng dẫn Làm văn 8 (4) quan niệm: Trong cuộc sống, conngười luôn có nhu cầu tìm hiểu các hiện tượng tự nhiên và sự vật trong xãhội

Chú thích:

(1): Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Ngữ văn 8, tập 1, tr 121 (SGV) – NXBGD,

2004.

(2): Lê A (chủ biên), Nguyễn Trí; TLđd.

(3): Nguyễn Thị Mai Hoa, Đinh Chí Sáng - Một số kiến thức - kĩ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 8 - NXBGD, 2005

Trang 13

(4): Tác giả Vũ Nho (chủ biên) - Hướng dẫn Làm văn 8-NXBGD, 2005

Một sự vật, một phong cảnh, một con người, một buổi biểu diễn nghệ thuật,một bài thơ, một cuốn sách đều khơi gợi ở người tiếp xúc những mongmuốn tìm hiểu bản chất, đặc điểm, nguyên nhân, sự hình thành Khi chóng

ta đáp ứng những nhu cầu đó, tức là phải tiến hành trình bày, giới thiệu, giảithích Chúng ta đã sử dụng văn bản thuyết minh Văn bản thuyết minh cungcấp tri thức khách quan về sự vật, hiện tượng, giúp người đọc, người nghehiểu được chúng một cách đúng đắn, đầy đủ

Nh vậy dù ngắn hay dài, đơn giản hay phức tạp, văn bản thuyết minhđều đóng vai trò cung cấp thông tin để giúp người đọc, người nghe hiểu rõ vềđối tượng, sự việc

Văn bản thuyết minh nhằm cung cấp cho người đọc (người nghe) để họ

có thể hiểu, nắm được một hiện tượng, sự vật nào đó Vì thế văn bản thuyếtminh cũng phải đảm bảo những yêu cầu đối với một kiểu văn bản nói chung

đó là tính chính xác, nhất quán, rõ ràng, mạch lạc và liên kết chặt chẽ Tuynhiên văn bản thuyết minh chủ yếu nhằm cung cấp tri thức, thông tin để giúpngười đọc (người nghe) hiểu rõ về đối tượng, sự việc nên nó có một số đặcđiểm khác với những kiểu văn bản khác

Trước hết nó cung cấp tri thức khách quan Nghĩa là tất cả những gìđược giới thiệu, trình bày, giải thích đều phải đúng như đặc trưng bản chấtcủa nó, đúng như hiện trạng vốn có, như trình tự đã hoặc đang diễn ra Ngườitạo lập văn bản thuyết minh luôn phải tôn trọng sự thật, không được dùngcảm quan cá nhân để thay đổi thông tin về đối tượng, sự việc được thuyếtminh

Với mục đích cung cấp tri thức và hướng dẫn cho con người tiếp cận,tìm hiểu được đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng và thích thó, muốnđược nắm bắt, sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho con người nên văn

Trang 14

bản thuyết minh có tính thực dụng Chúng có phạm vi sử dụng khá phổ biếntrong nhiều ngành nghề, lĩnh vực của đời sống, xã hội con người và có khảnăng cung cấp tri thức xác thực, hữu Ých, giúp con người có hành động, thái

độ, cách bảo quản, sử dụng, đúng đắn đối với sự vật, hiện tượng xungquanh mình Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa văn bản thuyết minh vớinhững kiểu văn bản khác nh miêu tả, biểu cảm, tự sự, hành chính

Gắn liền với lối tư duy khoa học, văn bản thuyết minh luôn đòi hỏi sựchính xác, rạch ròi Vì thế cách trình bày văn bản thuyết minh phải rõ ràng,ngôn ngữ phải chính xác, cô đọng, chặt chẽ, sinh động Trong văn bản thuyếtminh không chú trọng sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi nhưtrong văn miêu tả hay biểu cảm Các thông tin trong văn bản thuyết minhphải ngắn gọn, hàm súc; các số liệu, dẫn chứng phải chính xác Song điều đókhông có nghĩa văn bản thuyết minh như là một văn bản khoa học chỉ thuầntuý cung cấp tri thức, thông tin khách quan, khô cứng mà nó vẫn mang tínhnghệ thuật Ở mét số trường hợp văn bản thuyết minh cũng có sử dụng kếthợp với một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả Chẳng hạn nh khithuyết minh về một di tích lịch sử, một nhân vật lịch sử hay mét danh lamthắng cảnh có thể dùng kết hợp với yếu tố miêu tả để làm cho đối tượngđược hiện lên cụ thể, gần gũi, dễ cảm, dễ nhận Hoặc khi thuyết minh về một

đồ vật, vật nuôi, loài cây, cũng có thể kết hợp với một số biện pháp nghệthuật nh nh nhân hoá, để đồ vật, vật nuôi, loài cây Êy tự kể chuyện mình.Điều đó tăng thêm nhận thức và sù tin tưởng vào vấn đề, đối tượng đượcthuyết minh cho người đọc, người nghe

1.2. Việc sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản

Trang 15

Văn bản thuyết minh là văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đờisống Nó trình bày những hiểu biết cần thiết về các sự vật, hiện tượng, trong

tự nhiên, xã hội để phục vụ cuộc sống Văn bản thuyết minh có nhiệm vôchính là cung cấp tri thức khách quan về hiện tượng, sự vật, phương pháp,cách thức nhằm giúp người đọc, người nghe hiểu một cách đầy đủ, cặn kẽ vềhiện tượng, sự vật, phương pháp, cách thức đó Trong quá trình thuyết minhngười ta thường sử dụng những phương pháp chính là định nghĩa, liệt kê, nêu

ví dụ cụ thể, dùng số liệu, phân loại, phân tích Tuy nhiên, để bài văn thuyếtminh thêm sinh động, hấp dẫn và khơi gợi sự cảm thụ của người đọc, ngườinghe về đối tượng, người thuyết minh vẫn có thể sử dụng kết hợp một sốbiện pháp nghệ thuật như kể chuyện, tự thuật theo lối Èn dụ, nhân hoá; sosánh, liên tưởng, tưởng tượng Đó là những yếu tố phụ trợ, được sử dụnggắn với mục đích của thuyết minh để làm nổi bật sự vật, hiện tượng đượcthuyết minh, đồng thời giúp cho quá trình tiếp nhận tri thức về sự vật, hiệntượng được thuyết minh hấp dẫn hơn, dễ nhớ hơn

Vì thế trong văn bản thuyết minh, một số biện pháp nghệ thuật như kểchuyện, tự thuật theo lối Èn dụ, nhân hoá; so sánh, liên tưởng, tưởng tượng không tồn tại độc lập mà chỉ như là một hình thức phụ trợ, bổ sung nên chỉ là

để tạo nền, tạo tình huống cho thuyết minh được dễ dàng hơn và để khắc họa

rõ nét thêm về đặc điểm cũng như bản chất của sự vật, hiện tượng; giúpngười đọc, người nghe tiếp nhận những hiểu biết, tri thức về đối tượng đượcthuyết phục hơn, sinh động hơn, hấp dẫn hơn Do vậy khi sử dụng kết hợpthuyết minh với một số biện pháp nghệ thuật bao giê cũng phải tuân thủ mụcđích của văn bản thuyết minh là cung cấp tri thức khách quan về đối tượng,

sự vật Điều đó cũng có nghĩa là thuyết minh đóng vai trò chủ đạo, một sốbiện pháp nghệ thuật chỉ đóng vai trò phụ trợ thêm Không nên quá lạm dụngkhi sử dụng chúng trong văn bản thuyết minh để tránh dẫn tới tình trạngnhầm lẫn về phương thức biểu đạt

Trang 16

1.2.2 Sự kết hợp một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết

minh

Trong văn bản thuyết minh những đồ dùng, loài vật hay danh lamthắng cảnh nếu biết kết hợp với những câu chuyện, sự kiện, sự tích nào đó;nhất là những câu chuyện, sự kiện Êy lại chứa đựng những suy nghĩ, trăn trở,những triết lí về lẽ sống, về lí tưởng, về cuộc đời thì văn bản thuyết minh đó

sẽ vô cùng hấp dẫn Nó không chỉ cung cấp cho người đọc những kiến thứckhoa học về những đồ dùng, loài vật hay danh lam thắng cảnh đó mà cònmang đến cho họ những hiểu biết thó vị về lẽ sống, cuộc đời, góp phần bồiđắp tâm hồn họ phong phó, tinh tế hơn Hiệu quả kép đó, văn bản nghệ thuậtrất khó đạt được

Với dạng bài thuyết minh về một phương pháp - cách làm một món ăncũng rất thích hợp sử dụng kết hợp thuyết minh với so sánh, liên tưởng, kểchuyện Bởi khi thuyết minh về một phương pháp – cách làm một món ăn,người thuyết minh không những phải giới thiệu được các nguyên liệu cầnthiết để chế biến món ăn, qui trình chế biến và cách chế biến, yêu cầu chấtlượng thành phẩm, cách ăn món ăn đó cùng các món khác mà còn rất nênchú ý đến văn hóa Èm thực Không đơn giản chỉ là món ăn mà ở đó còn thểhiện một quan niệm về vũ trụ, quan niệm về nhân sinh hay một triết lí đờisống Trong quá trình thuyết minh, người thuyết minh nếu khéo léo kết hợpthuyết minh gắn với tóm tắt những câu chuyện cổ tích hay truyền thuyết liênquan đến món ăn đó thì sẽ không chỉ cung cấp được những tri thức về cáchlàm món ăn mà còn làm cho người đọc, người nghe cảm thấy món ăn thêm ý

vị sâu sắc Việc lùa chọn và vận dụng kết hợp kể chuyện như thế nào phảithực sự xuất phát từ nhu cầu thuyết minh cũng như phải nhằm mục đích phục

vụ cho nội dung thuyết minh, tức là phải phù hợp và gắn kết với từng nộidung cụ thể trong bài văn thuyết minh Nếu không rất dễ biến bài văn thuyếtminh thành bài văn, đoạn văn tự sự Một điểm cần lưu ý là khi vận dụng kết

Trang 17

hợp tự sự trong bài làm văn thuyết minh không đòi hỏi phải đáp ứng tất cảnhững dấu hiệu đặc trưng của phương thức tự sù mà chỉ cần đáp ứng mộtphần dấu hiệu đặc trưng của phương thức biểu đạt đó mà thôi Có thể chỉ là ởhình thức kể chuyện hay ở giới hạn kể một đoạn chuyện liên quan đến mộtchi tiết, một đặc điểm, một sự việc cụ thể về đối tượng mà thôi.

Khi thuyết minh về đồ dùng, loài vật, loài hoa (cây) để thêm sinh động,hấp dẫn có thể để đồ dùng, loài vật, loài hoa Êy đóng vai một nhân vật nhưmột con người cụ thể tự thuật hay kể chuyện về mình; hoặc cũng có thể sángtạo một câu chuyện nào đó kể về chính những đồ dùng, loài vật, loài hoa Êy;hoặc tưởng tưởng ra một cuộc phỏng vấn, kết hợp với nghệ thuật nhân hoáphỏng vấn chúng Trong lời tự thuật, lời kể chuyện hay phỏng vấn đó màthực chất là tự thuyết minh về mình không nhất thiết phải lần lượt giới thiệu

và làm nổi bật tất cả đặc điểm ngoại hình, nội tâm, tính cách mình qua xâuchuỗi các sự việc như trong văn bản tự sù Ở đây nhân vật (đồ dùng, loài vật,loài hoa Êy) tự kể về mình nhưng với mục đích thuyết minh nên sẽ chỉ trìnhbày, giới thiệu những kiến thức mang tính khái quát, khoa học về mình như:nguồn gốc, đặc điểm, tính chất; cấu tạo, quá trình sinh thành và phát triển;giá trị, ý nghĩa Trong quá trình thuyết minh kết hợp với kể chuyện có thểdùng những lời thoại để tránh rơi vào tình trạng kể lể, liệt kê nhàm chán.Nhưng việc dùng lời thoại trong văn bản thuyết minh không có vai trò khắchọa hình tượng nhân vật như trong văn bản tự sự Bởi vậy trong lời thoạidưới hình thức kể chuyện, phỏng vấn của văn bản thuyết minh ta vẫn có thể

sử dụng kết hợp các phương pháp thuyết minh như nêu định nghĩa, liệt kê,

dùng số liệu, Ví dụ như văn bản Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh (1): hình tháicủa văn bản giống như một văn bản tường thuật một phiên toà, nhưng về cấutrúc lại giống như biên bản một cuộc tranh luận về mặt pháp lí, còn về nộidung văn bản lại giống như một câu chuyện kể về loài ruồi Tác giả đã sửdụng kết hợp thuyết minh với kể chuyện, miêu tả rất sáng tạo và đạt được

Trang 18

hiệu quả cao Văn bản không chỉ cung cấp cho người đọc, người nghe nhữngtri thức khách quan về loài ruồi mà còn tạo được hứng thó tiếp nhận ở ngườiđọc, người nghe Sự kết hợp giữa thuyết minh với kể chuyện đã làm cho vănbản trở nên sinh động, hấp dẫn, thó vị.

Chú thích:

(1): Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Ngữ văn 9, tập 1, tr.14- NXBGD, 2006

Một số biện pháp nghệ thuật nếu được vận dụng kết hợp trong văn bảnthuyết minh một cách hợp lí, sáng tạo cũng có thể làm cho thuyết minh cóchiều sâu hơn, gợi nhiều sự mới mẻ hơn và đem lại hứng thó trí tuệ nhiềuhơn cho người đọc, người nghe

thuật và một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.

Văn bản nghệ thuật (ở đây chỉ đề cập đến văn bản văn học) chỉ mộtchỉnh thể hàm nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức các yếu tố hợp thành,một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người xem (người nhận) Dovậy văn bản nghệ thuật thực hiện ba chức năng chính là truyền thông tin, chếbiến thông tin mới, bảo quản thông tin (ghi nhí) Ở mức cao nhất, văn bảnnghệ thuật thực hiện chức năng sáng tạo, nó là “máy phát” thông tin mới.Với tất cả tính độc đáo của nó, văn bản nghệ thuật vẫn buộc phải thực hiệnchức năng phi nghệ thuật là truyền thông tin và khi giải mã, người tiếp nhậnbao giê cũng có thái độ tích cực (thậm chí đồng sáng tạo) với thông báo nhậnđược: anh ta phải giải mã nó, tức là chọn lấy một mã ý nghĩa thích hợp, hoặcthậm chí tạo ra một mã mới Để người xem giải mã và tiếp nhận được, vănbản nghệ thuật không chỉ hấp dẫn về nội dung mà trước hết cần phải hấp dẫn

về hình thức; nghĩa là người xem phải thấy hay: câu chữ hay, diễn đạt hay,thể hiện hay và bị cuốn hót, lôi cuốn Điều đó đòi hỏi người sáng tạo cũngrất quan tâm đến biện pháp nghệ thuật trong văn bản nghệ thuật đó Nó bao

Trang 19

hàm cả một phạm trù rộng từ cách xây dựng cấu trúc tác phẩm, cách xâydựng nhân vật, tạo tình huống, cách xây dựng hình tượng nghệ thuật trongtác phẩm, đến cách dùng ngôn từ nghệ thuật, cách xây dựng các chi tiết,hình ảnh nghệ thuật, cách sử dụng biện pháp nghệ thuật như liên tưởng,tưởng tượng, so sánh, Èn dụ, nhân hóa, kể chuyện Như vậy có thể thấy một

sè biện pháp nghệ thuật trong văn bản nghệ thuật và văn bản thuyết minh cónhững điểm giống và khác nhau cơ bản sau:

Điểm giống nhau:

Thứ nhất: Văn bản nghệ thuật và văn bản thuyết minh đều hướng tới

đối tượng phản ánh là sự vật, hiện tượng trong đời sống con người và đốitượng tiếp nhận là con người Bởi thế văn bản nghệ thuật và thuyết minhkhông chỉ nhằm thể hiện đời sống, cung cấp tri thức cho con người thêm hiểubiết mà còn nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát, khảnăng nhận xét, đánh giá của conn người, góp phần làm cho tâm hồn và trí tuệcon người thêm giàu có, phong phú để có thể cảm nhận cuộc sống, thế giớixung quanh một cách tinh thế hơn, sâu sắc hơn Ở góc độ đó, trong quá trìnhtạo lập văn bản nghệ thuật và văn bản thuyết minh đều có thể sử dụng một sốbiện pháp nghệ thuật như liên tưởng, tưởng tượng, kể chuyện, tự thuật, đốithoại (hỏi đáp) theo lối Èn dụ, nhân hóa, hư cấu, so sánh Tuy nhiên nhữngbiện pháp nghệ thuật này khi được sử dụng trong mỗi kiểu văn bản nghệthuật hay thuyết minh lại có những điểm rất khác nhau, do đặc trưng củamỗi kiểu văn bản chi phối Sự khác nhau Êy nh thế nào, phần sau chúng tôi

sẽ nói rõ hơn

Thứ hai: Bất kể một văn bản nghệ thuật và thuyết minh nào khi được

tạo lập không chỉ cung cấp những hiểu biết, phản ánh thế giới thực tại màcòn gửi gắm một thông điệp, một tư tưởng nào đó cho con người Nói nh nhàvăn Tạ Duy Anh: “Hiệu quả cuối cùng là phải tạo ra được ở người tiếp nhậnmột câu chuyện không chỉ sâu sắc cả về phương diện tư tưởng lẫn thẩm mĩ

Trang 20

mà còn gây cho họ sự hứng thó suy nghĩ.”(1) Do vậy khi sử dụng một số biệnpháp nghệ thuật được trong văn bản nghệ thuật hay thuyết minh đều phảituân theo tính qui luật của đối tượng trong thực tế và một trình tự nhất định

để một mặt tạo sự sinh động, hấp dẫn cho người tiếp nhận, mặt khác có thểkhơi gợi sự cảm thụ ở họ những ý nghĩa sâu sắc đối với con người, cuộc đời

mà văn bản phản ánh Với tư cách là một văn bản, văn bản nghệ thuật hay

cứ vào thứ tự phương hướng vị trí không gian hoặc cấu trúc không gian nhưtrên - dưới, xa - gần, trước – sau của đối tượng) đối với văn bản thuyết minh

Có nh vậy văn bản nghệ thuật và thuyết minh mới được người đọc, ngườinghe tiếp nhận dễ dàng, hứng thó

Thứ ba: Khi sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản nghệ

thuật hay thuyết minh không chỉ hướng tới hiệu quả đạt được về mặt nộidung mà còn phải hướng tới hiệu quả về mặt hình thức Nghĩa là khi sử dụngmột số biện pháp nghệ thuật đó phải khiến cho sự trình bày, diễn đạt trở nênnghệ thuật hơn, thó vị hơn, đẹp hơn, mới mẻ hơn Như vậy tạo lập văn bảnnghệ thuật hay thuyết minh luôn là sự sáng tạo, không ngõng Nhưng có liên

Trang 21

tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhân hóa, sáng tạo đến đâu cũng không thể táchrời cuộc sống thực tại của con người Điều đó đòi hỏi người sáng tạo phải cónăng lực quan sát Song không đơn giản chỉ là nhìn, xem mà quan sát ở đâyphải có động cơ, có chủ đích và gắn liền với lùa chọn: lùa chọn những cáiđặc sắc, mới lạ, những chi tiết bất ngờ, thó vị, làm sáng lên tư tưởng chủ đềcủa tác phẩm nghệ thuật cũng như tạo nên điểm nhấn về đối tượng trong vănbản thuyết minh và có khả năng đem đến cho người đọc sự bất ngờ, Êntượng, hấp dẫn Từ đó khơi dậy ở người đọc, người nghe những hành động,

sự đánh giá, định hướng đúng đắn về thông điệp được gửi gắm trong văn bảnnghệ thuật và thuyết minh

Không chỉ phản ánh cuộc sống con người, văn bản nghệ thuật và vănbản thuyết còn qua sự phản ánh đó mà hướng con người có thái độ, hànhđộng đúng đắn đối với cuộc sống; đồng thời bối đắp tâm hồn con người thêmphong phú Thế nhưng văn bản nghệ thuật và thuyết minh là hai kiểu văn bảnkhác nhau, hướng tới những mục đích không giống nhau nên giữa chúng cónhững điểm khác nhau Do đó việc sử dụng một số biện pháp nghệ thuậttrong văn bản nghệ thuật và văn bản thuyết minh tuy đều làm cho đối tượngđược phản ánh hay thuyết minh trở nên cụ thể, sinh động hơn nhưng chúngvẫn có những điểm khác nhau cơ bản Đó là:

Trong văn bản nghệ thuật nhờ có liên tưởng, tưởng tượng mà tất cảnhững hình ảnh, màu sắc, âm thanh, đều có thể được tái hiện trước mắtngười đọc, người nghe trong điều kiện chúng không nhất thiết phải xuất hiện.Hơn thế nữa, tất cả những chi tiết đặc trưng nhất của sự vật, trong thực tếkhông phải lúc nào cũng được bộc lé, và lại càng không phải bộc lé một cáchtập trung, nhưng nhờ liên tưởng, tưởng tượng, sự vật đã được hiện ta nguyênhình với tất cả những nét đặc trưng nhất của nã Và cũng nhờ liên tưởng,tưởng tượng mà con người có thể sáng tạo nên những hình ảnh lung linh, rực

rỡ tuyệt vời để tượng trưng cho khát vọng, cho tình yêu, cho giấc mơ hạnh

Trang 22

phóc, cho lí tưởng của con người; từ đó kích thích lòng ham sống, tình yêulao động, yêu cuộc sống ở mọi người Những chàng Thạch Sanh, cô Tấm, trong các câu chuyện cổ tích chính là những nhân vật được xây dựng nên nhờ

óc tưởng tượng tuyệt vời của nhân dân lao động, hun đúc trong đó biết baophẩm chất cao quÝ của con người Việt Nam thời xa xưa Có thể nói liêntưởng, tưởng tượng trong văn bản nghệ thuật chính là sự sáng tạo, sáng tạo từthực tế và gắn với thực tế

Trong văn bản thuyết minh, liên tưởng, tưởng tượng lại là quá trìnhnhận thức, nó gắn liền với sự quan sát, nhận thức về đối tượng Đó là cơ sở

để con người tìm hiểu, nghiên cứu đối tượng được khách quan, khoa học.Trong văn bản thuyết minh, liên tưởng, tưởng tượng không tách rời như làmột biện pháp nghệ thuật độc lập mà thường được kết hợp với một số biệnpháp nghệ thuật khác như nhân hóa, Èn dô, so sánh để góp phần làm cho đốitượng thuyết minh được sinh động, hấp dẫn Nếu trong văn bản nghệ thuậtliên tưởng, tưởng tượng là sáng tạo thì trong văn bản thuyết minh, liên tưởng,tưởng tượng là tái tạo, giúp người thuyết minh có thể hình dung để “nhớ” lạiđối tượng với tất cả những đặc điểm của nó về hình dáng, màu sắc, âmthanh, từ đó mà thuyết minh về đối tượng được chính xác, khách quan, khoahọc

Cùng có thể sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, Èn dụ để phản ánh

về đối tượng nhất định song trong văn bản nghệ thuật, những biện pháp nghệthuật đó được sử dụng trên cở sở của liên tưởng, tưởng tượng nên phong phó,sinh động Các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, Èn dô trong vănbản nghệ thuật luôn gắn liền với sự sáng tạo, với dụng ý nghệ thuật củangười sáng tác nên thường độc đáo và thể hiện rõ phong cách riêng của tácgiả Ví như khi xây dựng nhân vật Thị Nở, nhà văn Nam Cao đã rất thànhcông trong bót pháp “cường điệu hóa”, tức là nhấn mạnh, tô đậm, phóng đạimột số chi tiết của đối tượng nhằm làm cho bản chất của đối tượng bộc lé rõ

Trang 23

rệt hơn Ông tưởng tượng, miêu tả, so sánh cái mặt của Thị Nở thật khôngcòn có thể xấu hơn được nữa: “Cái mặt của thị đích thực là một sự mỉa maicủa hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài,thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu hai má nó phính phínhthì mặt thị còn được hao hao mặt lợn ( ) Cái mòi thì vừa ngắn, vừa to, vừa

đỏ, vừa sần sùi nh vá cam sành ” Tất cả các biện pháp nghệ thuật được nhàvăn Nam Cao sử dụng ở đây đều là dụng ý nghệ thuật của tác giả Sự sosánh, liên tưởng khuôn mặt Thị Nở như vậy có thể được tạo nên trên cơ sở cóthực nhưng đồng thời còn là sự hư cấu nghệ thuật, thể hiện dụng ý nghệ thuậtcủa nhà văn Ông muốn gợi cho người đọc liên tưởng như đúng điều mà ôngmuốn thể hiện ở nhân vật: xấu xí thậm tệ, đến mức không thể xấu hơn đượcnữa Các biện pháp nghệ thuật như liên tưởng, so sánh, miêu tả, kể chuyện,nhân hóa, trong văn bản nghệ thuật thường gắn liền với hư cấu, cường điệuhoá, một mặt để thể hiện, phản ánh đối tượng được gần gũi, dễ hiểu hơn; mặtkhác giúp tác giả có thể bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình

Trong văn bản thuyết minh, người thuyết minh cũng có thể sử dụngmột số biện pháp nghệ thuật nh so sánh, miêu tả, tự thuật, nhân hóa, Èndụ, Nhưng so sánh trong thuyết minh chỉ đơn thuần là quan sát, nhìn vàođối tượng, so sánh đối tượng với một vật khác để thấy sự giống hay khácnhau hoặc hơn hay kém của đối tượng chứ không thể hiện một dụng ý nào đócủa người thuyết minh Bởi thuyết minh luôn đòi hỏi phải tôn trọng tínhkhách quan, người thuyết minh không vì yêu, ghét cá nhân mà thuyết minhsai sự thật nên không được phép thể hiện bất kì một dụng ý nào đó Có chăngchỉ là dông ý sử dụng thuyết minh với so sánh để đối tượng, nhất là nhữngđối tượng trừu tượng được hiện ra cụ thể hơn, sinh động hơn và giúp ngườiđọc, người nghe dễ tiếp nhận hơn, bị thuyết phục hơn

Một biện pháp nghệ thuật nữa hay được người thuyết minh sử dụng lànhân hoá Nhân hoá đối tượng thuyết minh giống nh con người, tự kể chuyện

Trang 24

của mình, tự kể về mình Nh vậy đối tượng thuyết minh trở nên gần gũi, dễhiểu hơn và người tiếp nhận cũng dễ dàng hơn khi tiếp thu những kiến thức

mà người thuyết minh muốn cung cấp Khi thuyết minh dưới hình thức tựthuật theo lối nhân hóa, đối tượng thuyết minh sống động hơn, khiến chonhững kiến thức khoa học về đối tượng thuyết minh mà người thuyết minhmuốn cung cấp không còn cứng nhắc, khô khan, đơn thuần chỉ là kiến thứckhoa học nữa mà nó như là kiến thức thực tiễn, gần gũi với cuộc sống conngười nên tiếp nhận rất dễ dàng, tự nhiên và hứng thó

Trong văn bản thuyết minh, để thuyết minh đạt hiệu quả, hấp dẫnngười đọc, người nghe, người ta cũng có thể sử dụng biện pháp nghệ thuật kểchuyện theo lối Èn dụ Nhưng khác với Èn dô trong văn bản nghệ thuật, Èn

dô trong thuyết minh chủ yếu là Èn dụ định danh, nó chỉ là nguồn tạo nênnhững tên gọi chứ không phải là loại Èn dụ nhằm phát hiện những sắc thái ýnghĩa Nó không tác động vào trực giác để gợi mở mà nó tác động vào cáchnhìn để chỉ xuất Trong văn bản nghệ thuật, Èn dụ chủ yếu là Èn dụ hìnhtượng và Èn dụ bổ sung; nó tác động vào trực giác của người nhận và để lạikhả năng cảm thụ sáng tạo; đồng thời nó tạo ra những hình ảnh nghệ thuật,gợi nên những cảm giác lạ lùng, thó vị khiến cho hiện thực hiện lên với đầy

đủ cả hình khối, màu sắc, âm thanh và dường như có thể ngửi thấy được, sêđược, nếm được

Văn bản thuyết minh tuy không phải là văn bản nghệ thuật nhưng vẫncần sử dụng một số biện pháp nghệ thuật làm yếu tố phụ trợ để tăng hiệu quảcủa việc thuyết minh Với văn bản thuyết minh phổ cập kiến thức hoặc vănbản thuyết minh có tính chất văn học, người tạo lập văn bản có thể sử dụngkết hợp với một số biện pháp nghệ thuật như kể chuyện, tự thuật, so sánh, đểtạo sự sinh động, hấp dẫn và khơi gợi sự cảm thụ của người đọc, người nghe

về đối tượng được thuyết minh

Trang 25

Song sự kết hợp Êy nh thế nào, những biện pháp nghệ thuật Êy cầnđưa vào trong văn bản thuyết minh ra sao cho hiệu quả, đó còn là vấn đềtrong thực tế dạy – học chúng tôi thấy còn không Ýt học sinh lúng túng.Không có tham vọng nhiều, trong phần tiếp theo của luận văn nghiên cứu,chúng tôi xin phép được đưa ra một số ý kiến và bài tập luyện tập, hi vọng sẽgiúp các em có được những định hướng khi tạo lập văn bản thuyết minh có

sử dụng kết hợp với một số biện pháp nghệ thuật, đạt hiệu quả

1.3. Việc sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh.

Ở các líp dưới, văn miêu tả, kể chuyện, biểu cảm được giới thiệu táchrời nh là phương thức biểu đạt độc lập Việc giới thiệu nh thế là nhằm giúphọc sinh nắm chắc được đặc trưng của từng phương thức và để dễ nhận diện,luyện tập Trong thực tế một văn bản hay tác phẩm rất Ýt khi chỉ dùng mộtphương thức biểu đạt mà thường có sự kết hợp, đan cài của nhiều phươngthức khác nhau Trong quá trình tạo lập văn bản, tùy vào mục đích, nội dung,tính chất của văn bản mà người tạo lập có thể kết hợp nhiều phương thứcbiểu đạt với nhau

Văn bản thuyết minh là loại văn bản có nhiệm vụ giới thiệu về một đốitượng cụ thể với những nội dung toát lên đặc điểm, giá trị, quá trình hìnhthành của đối tượng nên thường đòi hỏi tính chính xác, khách quan, khoahọc Trong quá trình tạo lập văn bản, bên cạnh việc cung cấp tri thức thôngtin, người thuyết minh còng rất cần làm cho đối tượng hiện lên thật cụ thể,sống động, gần gũi, dễ cảm nhận và giúp người nghe, người đọc có đượcnhững nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sáng tỏ về đối tượng Bởi vậy, ngoaì việc

sử dụng các phương pháp thuyết minh kết hợp với phép lập luận, văn bảnthuyết minh rất cần sự phụ trợ của văn miêu tả

Không giống như miêu tả trong văn học, miêu tả trong văn bản thuyếtminh không nhằm phục vụ cho việc xây dựng tính cách, cá tính hay tái hiện

Trang 26

tình huống mà chủ yếu gợi lên hình ảnh cụ thể để thuyết minh về đối tượnghay về vấn đề tri thức được rõ ràng, khách quan, khoa học.Trong văn bảnthuyết minh, miêu tả là cần thiết nhưng chỉ đóng vai trò phụ trợ Mục đíchcủa miêu tả trong văn bản thuyết minh là nhằm khơi gợi sự cảm nhận chongười đọc, người nghe về đối tượng; giúp người đọc, người nghe hình dung

rõ hơn, cụ thể hơn về đối tượng Yếu tố miêu tả nếu được sử dụng hợp lí vàsáng tạo trong văn bản thuyết minh có thể giúp người làm công việc thuyếtminh không chỉ nói được rõ hơn về đối tượng thuyết minh mà còn tạo đượchứng thó cho người đọc, người nghe Song đối tượng thuyết minh thường cótính khái quát cao Ngay cả đối với một đối tượng cụ thể là một danh lamthắng cảnh thì giữa thuyết minh và các phương thức biểu đạt khác cũng cónhiều điểm không giống nhau Nếu là một văn bản miêu tả, tự sự thì đốitượng Êy thường được gắn vào một thời gian cụ thể, một tình huống cụ thể:

Ví dụ như tả vịnh Hạ Long và một ngày đẹp trời hay tả vịnh Hạ Long khibình minh hoặc kể một kỉ niệm sâu sắc nhân chuyến đi tham quan vịnh HạLong Còn đối với văn bản thuyết minh, hình ảnh vịnh Hạ Long hiện lênphải đảm bảo được tính khái quát: về vị trí địa lí, cấu trúc tổng thể, quá trìnhkiến tạo của thiên nhiên qua hàng triệu năm, diện tích vịnh, những cảnh đặcsắc, Ên tượng Điều đó có nghĩa là miêu tả trong văn bản thuyết minh chỉdừng lại ở việc tái hiện hình ảnh đối tượng ở một chõng mực nhất định, giúpcho người tiếp nhận hiểu rõ thêm về đối tượng đó mà thôi Đây là đặc điểmlưu ý quan trọng, đòi hỏi người tạo lập văn bản thuyết minh cần có sự lùachọn và sử dụng yếu tố miêu tả vừa phải, hợp lí, tránh lạm dụng mà làm hạnchế tính khoa học, chân thực của nội dung thuyết minh

Thực tế giảng dạy cho thấy, khi tạo lập một văn bản thuyết minh có kếthợp yếu tố miêu tả các em học sinh đã rất có ý thức về việc sử dụng kết hợp

đó Song không Ýt những văn bản thuyết minh đã sử dụng yếu tố miêu tảquá nhiều khiến tính chất thuyết minh bị mờ nhạt đi và văn bản thuyết minh

Trang 27

bị biến thành văn bản miêu tả Nh vậy việc sử dụng kết hợp yếu tố miêu tảtrong bài văn thuyết minh đã phá háng mục đích, yêu cầu của văn bản thuyếtminh và làm cho việc thuyết minh không đạt được hiệu quả Do đó khi tạolập văn bản thuyết minh có kết hợp yếu tố miêu tả rất phải chú ý đến vai tròcần thiết nhưng chỉ là phụ trợ của yếu tố miêu tả Không phải miêu tả càngnhiều thì văn bản thuyết minh càng có giá trị cao Giá trị của việc miêu tảchủ yếu không phụ thuộc vào số lượng mà vào chất lượng Điều quan trọngkhông phải là miêu tả bao nhiêu câu, bao nhiêu chữ mà là miêu tả có sinhđộng không, có giúp người đọc, người nghe cảm nhận đúng tất cả hình dáng,màu sắc, âm thanh, hương vị của đối tượng hay không Mặt khác, đã là vănbản thuyết minh thì việc thuyết minh phải đóng vai trò chủ đạo Miêu tả làrất cần nhưng chỉ nh là một hoạt động có tính chất phục vụ, hỗ trợ chứ khôngthể lấn át, thay thế được công việc thuyết minh Việc sử dụng yếu tố miêu tảtrong văn bản thuyết minh chỉ để khiến cho văn bản thuyết minh thêm cụ thể,sinh động, hấp dẫn và không được làm mất đi những đặc điểm cơ bản củahoạt động thuyết minh Làm văn thuyết minh mà lại coi trọng miêu tả hơnchính công việc thuyết minh, tính chất thuyết minh bị sự miêu tả lấn át, làmcho lu mờ thì tức là người làm bài đã mắc phải một trong những sai lầm lớn.

Nh trên đã trình bày, trong quá trình tạo lập văn bản, tùy vào mục đích,nội dung, tính chất của văn bản mà người tạo lập có thể kết hợp các phươngthức biểu đạt Thực tế, ở các tác phẩm tự sự, phương thức kể và tả kết hợp rấtchặt chẽ; ở các văn bản thuyết minh, yếu tố tả và thuyết minh có nhiều liênquan với nhau Thế nhưng không phải có liên quan là có thể kết hợp mộtcách tùy tiện, tùy ý, theo cảm hứng nhất thời của người tạo lập mà cần phảixem xét yếu tố miêu tả được xuất hiện như thế nào, kết hợp ra sao trong vănbản thuyết minh để làm rõ hơn, phong phú hơn đối tượng thuyết minh

Trang 28

Trước hết, khi sử dụng kết hợp yếu tố miêu tả trong văn bản thuyếtminh, cần xác định phương thức thuyết minh là chính, miêu tả chỉ để làm rõ,làm phong phú thêm cho phương thức biểu đạt chính nên không thể đứngtách riêng biệt mà phải đan xen, kết hợp với nhau, vừa thuyết minh, vừa tả.

Ví như ở bài Cây chuối trong đời sống Việt Nam(1) đã vận dụng yếu tố miêu

tả một cách thích hợp để giúp người đọc hình dung rõ đối tượng cần thuyếtminh; đó là cây chuối nói chung trong đời sống Việt Nam (rất khái quát) chứkhông miêu tả một cây chuối hay rừng chuối cụ thể nào Bằng những lờithuyết minh cụ thể, chính xác, tác giả đã giúp người đọc, người nghe mườngtượng được đầy đủ, rõ ràng về cây chuối và các bộ phận của nó từ gốc, thân,

lá, hoa, quả đến tác dụng riêng của từng bộ phận, rồi những nơi hay đượctrồng chuối gắn với đặc tính ưa nước của nó hay những món ăn trong đờisống hàng ngày không thể thiếu gia vị là chuối hay vai trò của chuối trongđời sống tâm linh Vừa thuyết minh, tác giả vừa kết hợp điểm xuyết những

Chú thích:

(1): Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Ngữ văn 9, tập 1, tr.24 – NXB GD, 2006.

lời miêu tả, giúp người đọc, người nghe hình dung chi tiết hơn về loại cây, lá,thân, quả - những cái có giá trị cần thuyết minh và tạo sự hứng thó hơn ởngười tiếp nhận

Khi thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, yếu tố miêu tả được sửdụng rất thích hợp, cần thiết và hữu Ých trong việc miêu tả thiên nhiên, cấutạo, cách bài trí của tạo hóa như hình ảnh, màu sắc, kiểu dáng đối với danhlam thắng cảnh đó

Hay khi thuyết minh về các loài cây (cây chuối, cây tre, cây dừa, câylúa ) để làm nổi bật cấu tạo, hình dáng, màu sắc của mỗi bộ phận thuộc câynhư rễ, thân, cành, lá, hoa, trái cũng rất cần có yếu tố miêu tả Thông quahình thức miêu tả, từng bộ phận của cây sẽ được người đọc, người nghe hìnhdung cụ thể hơn, chi tiết hơn, rõ ràng hơn; như vậy sự tiếp thu tri thức từ văn

Trang 29

bản thuyết minh không bị gò Ðp, khô cứng Và trong quá trình thuyết minhngười viết, nói cũng có thể sử dụng yếu tố miêu tả để tái hiện hình ảnh

Thuyết minh về một đồ dùng, một loài vật, một đồ chơi dân gian haymét phong tục tập quán cũng có thể sử dụng kết hợp yếu tố miêu tả Có thểkết hợp miêu tả ở ngay phần mở bài hoặc phần thân bài của bài văn thuyếtminh hoặc cũng có thể kết hợp miêu tả với đối thoại theo lối Èn dụ hoặcnhân hóa để thuyết minh

Việc sử dụng yếu tố miêu tả có thể thông qua cách dùng từ ngữ, nhất làcác từ láy, hoặc thông qua cách dùng các hình ảnh có sức gợi lớn cùng nhữngbiện pháp thuật đặc sắc nh so sánh, Èn dụ, hoán dụ, ước lệ Tuy nhiên, khácvới miêu tả trong văn bản nghệ thuật, miêu tả trong văn bản thuyết minh phảiđảm bảo tính chân thực, khách quan Các hình ảnh được miêu tả dù có hìnhthành từ trí tưởng tượng thì cũng phải là kết quả của một quá trình tiếp cận,quan sát đối tượng Có nh vậy mới đáp ứng được tính khoa học, khách quantrong tri thức của một văn bản thuyết minh Trong quá trình thuyết minh,những câu văn có ý nghĩa miêu tả nên được sử dụng đan xen với những câuvăn có ý nghĩa lí giải (lập luận giải thích), ý nghĩa minh họa (lập luận chứngminh) Sự đan xen này vừa giúp cho người viết tránh sa vào tình trạng lạc thểloại vừa tạo cách diễn đạt phong phó, linh hoạt, sinh động cho văn bản thuyếtminh

Trước hết có thể thấy giữa chúng cũng có một số điểm chung giốngnhau Đó là:

Thứ nhất: Miêu tả và thuyết minh đều có yếu tố miêu tả - mô tả.

Trước một đối tượng cần thuyết minh hay miêu tả, để giúp người đọc, ngườinghe hiểu và cảm nhận đúng, rõ đối tượng như là đang được thấy đối tượnghiên jra trước mặt, người thuyết minh hay miêu tả trước hết cần phải miêu tả-

mô tả lại đối tượng một cách chính xác, khách quan.Tất nhiên miêu tả phải

Trang 30

được hiểu theo đúng nghĩa đen, theo từ điển thì ở văn bản miêu tả và vănbản thuyết minh mới có điểm chung này.

Thứ hai: Để miêu tả và thuyết minh được hay người viết đều phải có

công, có tài quan sát đối tượng Song quan sát không đơn giản chỉ là nhìn,xem mà quan sát ở đây phải có chủ đích, có động cơ, có hứng thó và gắn liềnvới lùa chọn để phát hiện ra, thấy được những chi tiết Ên tượng, hấp dẫn Do

đó nó luôn đòi hỏi người nói, người viết phải có vốn tri thức và kinh nghiệmcàng phong phú càng tốt Có nh vậy, thuyết minh hay miêu tả mới có chiềusâu, mới thật sự đem đến cho người đọc, người nghe sự hứng thó và niềmsay mê của người sáng tạo Nhưng để có vốn tri thức và kinh nghiệm, ngườinói, người viết rất cần phải quan sát Chính nhờ những kết quả quan sát màngười tạo lập có được nguồn tư liệu quí để viết văn miêu tả hay thuyết minh

và cũng chính nhờ quan sát mà nhận thức, tâm hồn con người trở nên giàu

có Song nếu chỉ quan sát mà không biết lùa chọn thì sẽ không có gì để viết,nói thuyết minh hay miêu tả và đó chỉ là sự liệt kê, kể lể một cách khô khan,

vô hồn

Thứ ba: Miêu tả hay thuyết minh đều phải đảm bảo tính chân thực.

Khi thuyết minh bao giê cũng gắn liền với tư duy khoa học, nó đòi hỏi phảichính xác, rạch ròi, khách quan Nghĩa là tất cả những gì được thuyết minh,giới thiệu, trình bày đều phải phù hợp với qui luật khách quan, đều phải đúngnhư đặc trưng bản chất của nã Còn khi miêu tả, bất kì sự tưởng tượng nào

dù phong phú và kì diệu đến đâu cũng đều bắt đầu từ thực tế, gắn với đờisống thực tế Đó chính là cơ sở nền tảng để người tạo lập văn bản thuyếtminh hay miêu tả thả sức thể hiện tài năng, sự nhạy cảm còng nh nhận thức

và tâm hồn mình trước cuộc sống

Nhưng văn bản miêu tả và văn bản thuyết minh vẫn là hai kiểu vănbản khác nhau, với hai phương thức biểu đạt khác nhau, nhằm tới những mục

Trang 31

đích không giống nhau nên giữa chúng cũng có những điểm khác nhau cơbản Đó là:

Nếu miêu tả nhằm tới phản ánh, thể hiện, tái hiện đối tượng chân thực,sinh động, “có hồn”; cốt làm cho người đọc cảm thấy thì thuyết minh lạinhằm mô tả, “chụp” lại chính xác, khách quan đối tượng mà mình được nhìn,được nghe; cốt làm cho người đọc hiểu được, biết được về đối tượng Cungcấp tri thức, văn bản thuyết minh đặt yêu cầu làm cho người ta hiểu biết về

sự vật, hiện tượng lên hàng đầu, yếu tố cảm nhận hay thưởng thức được đặtxuống hàng thứ yếu; điểm này là khác hẳn với văn miêu tả

Cũng nói về sự vật, hiện tượng nhưng thuyết minh làm rõ chủ yếu bằngcách cung cấp kiến thức chính xác, khoa học, khách quan trong khi miêu tảlại làm rõ chủ yếu bằng cách làm cho người đọc, người nghe có cảm giácnhư có thể hình dung ra, nhìn thấy hay nghe thấy

Đọc một tác phẩm miêu tả, dù tả cảnh, tả người hay tả tâm trạng, ngườiđọc vẫn cảm nhận được vẻ đạp tâm hồn của người viết Đằng sau “bứctranh” cảnh, vật hay con người, chủ quan cá nhân của người miêu tả, dùmuốn hay không, người đọc vẫn cảm nhận được Đọc ba bài thơ thu của nhàthơ Nguyễn Khuyến với ba bức tranh mùa thu nơi thôn dã, từng hình ảnh, âmthanh, màu sắc ta đều như thấy mang cái phẩm chất thanh, cao, nhẹ, trong-giống như tâm hồn của Nguyễn Khuyến, một bậc danh trí thời thuộc Pháp đãlui về ở Èn chốn làng quê thanh bần để giữ cho tâm hồn được trong sạch.Hay khi đọc tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân, bạn đọc không khỏi cảmphục cái tài hoa, tài tử, uyên bác của một tâm hồn phóng túng, thấm đãm quanhững trang viết của ông, bất kể thuộc lĩnh vực nào Mỗi trang văn văn miêu

tả đều là sản phẩm sáng tạo của người viết, mang dấu Ên “phong cách” cánhân tác giả Bởi thế khi miêu tả không nhất thiết phải tuân theo một trình tự,khoa học mà người viết thả sức miêu tả theo cảm hứng sáng tạo, theo cảmnhận chủ quan của mình và theo cái tình riêng cá nhân Cái tình Êy có thể là

Trang 32

tấm lòng say đắm, là thái độ và tình cảm mến yêu đối với cái đẹp, cái thiện,cái trong sáng, cao thượng nhưng cũng có thể là sự căm ghét, khinh bỉ đốivới cái ác, cái xấu, cái lố lăng, kệch cỡm ở đời Không có cái tình, mọi sựmiêu tả ngôn ngữ dù có sắc sảo, mới mẻ đến bao nhiêu cũng chỉ là làm xiếcngôn từ và bài văn miêu tả chỉ là cái xác không hồn, không gây được xúcđộng trong lòng người đọc.

Khi miêu tả, thái độ và tình cảm của người viết được thể hiện thôngqua cách nhìn nhận sự vật, cách dùng từ ngữ, ví von, so sánh, liên tưởng,tưởng tượng hay những biện pháp nghệ thuật Nhờ đó mà văn chương mới cóthể đi sâu vào việc khám phá chiều sâu của tâm hồn còng nh cảm nhận đượcnhững “bí mật” của tự nhiên trong mối đồng cảm với con người Đọc nhữngtrang viết của nhà văn Tô Hoài qua câu chuyện chú “Dế Mèn phiêu lưu kí”,mỗi bạn đọc chúng ta đều thấy cảm phục biết bao tài qua sát tinh tế, nhạycảm cũng như tài năng thể hiện bằng ngôn từ của tác giả Tô Hoài đối với thếgiới sinh vật nhỏ bé vùng đầm lầy và đối với con người, với cuộc đời

Mỗi trang văn miêu tả là một sự sáng tạo nên ngôn ngữ trong miêu tảcũng thể hiện đầy tính sáng tạo đó Từ ngữ trong văn miêu tả không đơnnghĩa, tường minh mà thường đa nghĩa, giàu sức gợi những hình ảnh, âmthanh, màu sắc và ý tứ

Khác hẳn với miêu tả, khi đọc một tác phẩm thuyết minh, dù thuyếtminh về một sự vật, một con người, một danh lam thắng cảnh, người đọckhông hề cảm nhận thấy chủ quan của cá nhân người viết Mọi đối tượngđược thuyết minh đều phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, khoa học;người thuyết minh không vì lòng yêu ghét mà thuyết minh sai sự thật, cũngkhông dùng cảm quan cá nhân để thay đổi thông tin về đối tượng, sự việcđược thuyết minh Khi tạo lập văn bản thuyết minh, người thuyết minh luônphải ý thức làm sao để cho người đọc, người nghe hiểu được đối tượng mộtcách đúng đắn, đầy đủ; đối tượng Êy chỉ có thể là đối tượng Êy mà thôi

Trang 33

Muốn vậy trước hết phải quan sát Nếu quan sát trong miêu tả là để phát hiệnđặc điểm, trạng thái hoạt động của đối tượng (bao gồm hình dáng, kíchthước, màu sắc, cử chỉ, hành động, diễn biến, ) nghĩa là chủ yếu dùng giácquan để cảm nhận về đối tượng thì ở phương thức thuyết minh, quan sát lại

là cả một quá trình đồng thời giữa xem và xét; nghĩa là vừa phải nhìn, vừaphải dùng trí tuệ để suy nghĩ, phân tích, lùa chọn nhằm phát hiện bản chấtcủa đối tượng, phân biệt được trong những đặc điểm của đối tượng thì đặcđiểm nào là chính, đặc điểm nào là phụ, đặc điểm nào có ý nghĩa phân biệt

sự vật này với sự vật khác hay mỗi đặc điểm đó có ý nghĩa, tác dụng gì đốivới sự sinh tồn của đối tượng cũng như đối với cuộc sống của con người Nhvậy trong thuyết minh bao giê cũng phải tuân thủ tính trình tự, khoa học chứkhông thể theo cảm hứng chủ quan như ở văn miêu tả

Văn bản thuyết minh cung cấp tri thức khách quan về sự vật, hiệntượng, giúp người đọc, người nghe hiểu được chúng đúng đắn, đầy đủ nêntrong quá trình thuyết minh, người thuyết minh phải trung thực, luôn tôntrọng tính chân thực của sự vật, hiện tượng Vì thế, khi thuyết minh, ngườinói hay người viết khó có thể sử dụng những từ ngữ ví von, bay bổng, những

so sánh, liên tưởng, tưởng tượng giàu hình ảnh, màu sắc, âm thanh, dạt dàonhững tình cảm, cảm xúc cá nhân như trong văn miêu tả Có chăng chỉ là sự

so sánh có hình ảnh về đối tượng đó để người đọc, người nghe thuyết minh

đỡ cảm thấy khô cứng Chính điều này là cơ sở để người học phân biệt được

cụ thể sự khác nhau cơ bản giữa hai kiểu văn bản miêu tả và thuyết minhđồng thời cũng là điểm lưu ý người làm văn thuyết minh trong quá trình tạolập văn bản thuyết minh nhằm cung cấp tri thức, không cần bộc lé cảm xúccủa mình và tuyệt đối không được hư cấu, bịa đặt về đối tượng

Cùng đối tượng là chiếc quạt giấy nhưng trong đoạn văn miêu tả của

tác giả Minh Văn - Xuân Tước(1) đã gợi cho người đọc cảm thấy đó khôngphải một chiếc quạt giấy bình thường mà nó thật sống động, có “hồn”

Trang 34

Không miêu tả nó một cách đơn độc, tĩnh tại, giản đơn là một chiếc quạt giấythường dùng hàng ngày, tác giả đã rất khéo léo, tinh tế khi đặt nó trong taymột vũ nữ, gắn liền nó với một vũ khúc và quan sát nó dưới con mắt của mộtbạn trai (nhân vật Khuyến) yêu thích nghệ thuật, có “lòng riêng” với người

vũ nữ : “Chiếc quạt màu tím,… nó chỉ là chiếc quạt như bao chiếc quạt kháccủa chị em trong ban vũ thôi Nhưng ở trong tay nàng Há, mỗi lúc nàng múalên, cái vật tầm thường này lại được thoát hình trong một sự biến hoá huyền

ảo lạ thường Nó không còn là chiếc quạt nữa Nhưng là một cái gì khác lạhẳn Một cánh bướm nhẹ nương theo một cánh gió Một bài thơ trác tuyệt.Một mảnh vàng chới với trong không trung để lôi cuốn tâm hồn người ta vàomột thế giới mông lung, mộng ảo của núi rừng có trăng thanh và suối bạc

Khuyến chó ý chiếc quạt Êy ngay từ đêm trình diễn đầu tiên Nhưng

Ên tượng sâu đậm nhất mà vũ khúc ghi vào tâm não anh là một chiếc quạtvới bàn tay trắng mềm Bao giê cũng vậy, suốt cả vũ khúc, mắt Khuyến theodõi mãi không ngừng chiếc quạt và bàn tay Êy ” Hình ảnh chiếc quạt luônđược chú ý miêu tả ở chiều sâu “tinh thần” của nó Trong tay nàng Há, nó

“lại được thoát hình trong một sự biến hóa huyền ảo lạ thường” Nã nh “mộtcánh bướm nhẹ nương theo một cánh gió” và đặc biệt nã còn nh “một mảnhvàng chới với trong không trung để lôi cuốn tâm hồn người ta vào một thếgiới mông lung, mộng ảo của núi rừng có trăng thanh và suối bạc”

Với những quan sát, liên tưởng, so sánh hết sức sáng tạo, độc đáo,

“chiếc quạt màu tím Êy” đã trở nên thật sống động và đầy Ên tượng

Trang 35

những thiết bị hiện đại hơn nh chiếc quạt điện hay điều hòa nhiệt độ nhưngchiếc quạt giấy vẫn hiện hữu trong đời sống hàng ngày và đặc biệt quantrọng khi mất điện vào những ngày hè nóng bức Nhìn chiếc quạt mảnh maixoè rộng như bàn tay nhiều ngón với đủ màu sắc hấp dẫn thật đơn giảnnhưng để làm được như vậy lại không đơn giản chút nào Trước hết là côngđoạn làm cốt: phải chọn tre cật, chặt từng đoạn dài từ 25 cm đến 30cm, chẻnhỏ thành từng thanh nan máng 1mm với chiều rộng chõng 0,7cm rồi vótnhẵn Mỗi quạt cần độ 17, 18 thanh nan Các thanh nan này được xếp chồngmột đầu lên nhau và giữ chắc bằng một chốt nhỏ xuyên qua chúng để có thểxoè ra gấp lại quạt một cách dễ dàng Công đoạn tiếp theo là dán quạt Người

ta cắt hai mảnh giấy màu bằng nhau, có độ dày vừa phải nhưng dai, thường

là màu tím, màu hồng nhạt hoặc giấy in hoa theo hình nửa vành khuyên, rộnghơn cốt quạt chõng 5cm, sau đó phết hồ dán Đợi chõng một phót cho hồ dánhơi se se, xoè hết cốt quạt ra và cẩn thận áp mảnh giấy đã phết hồ vào cốt,nhẹ nhàng vuốt từng nan quạt để giấy màu được dính chắc Không chỉ tiệnÝch trong đời sống hàng ngày, chiếc quạt giấy còn được cách điệu trở thànhmột đạo cụ quan trọng, thể hiện cử chỉ, hành động của các kiểu người khácnhau trong diễn tuồng, chèo Hoặc ở địa điểm du lịch, người ta cũng có thể inhình danh lam thắng cảnh đó vào giấy dán quạt hay viết những bài thơ hayvào chiếc quạt đó để làm quà tặng lưu niệm rất ý nghĩa ”(1)

Tuyệt nhiên không có những so sánh, ví von, liên tưởng, tưởng tượng.Chiếc quạt đã được em thuyết minh thật cụ thể, chi tiết Đọc từng lời thuyếtminh Êy, người đọc có thể hiểu một cách chính xác, cặn kẽ về chiếc quạtgiấy nói chung chứ không phải chỉ riêng một chiếc quạt giấy nào đó từnguồn gốc, các công đoạn làm quạt, cấu tạo đến hình dáng, màu sắc, tácdụng của nó đối

Chú thích:

(1): Bài làm của Đào Thị Mùi – Học sinh trường NguyễnViết Xuân.

với con người

Trang 36

Tóm lại, trong thực tế và qua các bài tập làm văn đã học ở Trung học

cơ sở có thể khẳng định rằng hiếm có văn bản nào muốn đạt được hiệu quảcao mà lại chỉ sử dụng một phương thức biểu đạt duy nhất Các phương thứcbiểu đạt luôn xen lẫn nhau, pha trộn vào nhau và chính sự đan xen cácphương thức Êy là tất yếu để làm cho văn bản tránh được sự đơn điệu, mộtchiều Chính vì thÕ, đến líp 9 học sinh được học cách sử dông một số biệnpháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong bài văn thuyết minh Những kiếngiải về việc sử dụng mét số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong vănbản thuyết minh trên đây sẽ là cơ sở để luận văn đề xuất cách thức tổ chứccho học sinh rèn luyện kĩ năng này ở chương tiếp theo

Trang 37

CHƯƠNG II:

TỔ CHỨC LUYỆN TẬP SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP

NGHỆ THUẬT VÀ YẾU TỐ MIÊU TẢ TRONG

BÀI LÀM VĂN THUYẾT MINH CHO HỌC SINH LÍP 9.

2.1. Khảo sát thực trạng dạy - học luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh ở nhà trường Trung học cơ sở.

hành

Chương trình môn Ngữ văn Trung học cơ sở nói chung, phân môn Tậplàm văn nói riêng được cấu tạo thành hai vòng, tương ứng với hai líp đầu cấp(6, 7) và hai líp cuối cấp (8, 9) Các nội dung dạy học được xây dựng dùatrên nguyên tắc chung của chương trình môn Ngữ văn Trung học cơ sở theođịnh hướng đồng tâm, tích hợp và nâng cao Ở vòng một, hoạt động dạy họcphân môn Tập làm văn chủ yếu cung cấp những kiến thức khái quát chung,

có hệ thống và hình thành, luyện tập những kĩ năng cơ bản về các kiểu vănbản mà các em đã được làm quen ở bậc học tiểu học như: tự sự (kể chuyện),miêu tả và một số kiểu văn bản mới như: biểu cảm, nghị luận, hành chínhcông vụ Từ đó giúp các em có thể nhận biết chính xác các kiểu văn bản vớinhững đặc điểm riêng của chúng và biết cách tạo lập được bài làm văn tươngứng với những kiểu văn bản đã học Trên cơ sở những kiến thức và kĩ năng

cơ bản cung cấp về các kiểu văn bản đó đã có mở rộng, nâng cao, đan xencác kiểu văn bản như: miêu tả sáng tạo (líp 6), kết hợp các yếu tố tự sự, miêu

tả trong văn biểu cảm (líp 7) Đến vòng hai vẫn tiếp tục dạy - học theo hướngđồng tâm, tích hợp nhưng tập trung củng cố, mở rộng và nâng cao tích hợpdọc, ngang, liên thông nhằm hệ thống hóa các kiến thức ở líp cuối cấp; tăngcường thực hành; đan xen các kiểu văn bản Ví như các kiểu văn bản tự sự

Trang 38

(kể chuyện), miêu tả, biểu cảm, nghị luận đã được học ở các líp 6, 7 nay tiếptục học ở líp 8, 9 nhưng theo hướng củng cố, mở rộng và nâng cao, đan xenkết hợp với các kiểu văn bản: tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm; nghị luận có

sử dụng yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm; nghị luận trong văn bản tự sự; tự sựkết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm; văn bản thuyết minh học ở líp 8,đến líp 9 mở rộng, nâng cao kết hợp thuyết minh với sử dụng một số biệnpháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả Ở líp 8 chương trình trang bị cho các emnhững kiến thức chung, khái quát và một số kĩ năng thực hành để giúp các

em có hiểu biết cơ bản về kiểu văn bản mới này, từ đó có thể tạo lập đượcnhững văn bản thuyết minh với những đối tượng cụ thể Đến líp 9, các emđược học tiếp, có nâng cao kết hợp thuyết minh với sử dụng một số biệnpháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả Cụ thể là chương trình đã dành 7 tiết trêntổng số 48 tiết cả năm cho hoạt động dạy học kiểu văn bản này Trong đógồm có :

- 2 tiết về lí thuyết:

 Sử dông một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh(1tiết)

 Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh (1tiết)

- 5 tiết luyện tập thực hành kĩ năng:

 Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết

Trang 39

kiến thức và kĩ năng về văn bản thuyết minh; đặc biệt nhấn mạnh kĩ năng vậndụng thực hành Đây là một vấn đề cần thiết và hết sức đúng đắn Bởi lẽ đây

là loại văn bản thông dụng, có phạm vi sử dụng rất phổ biến trong đời sống,trong sách giáo khoa, sách khoa học, trong sáng tác nghệ thuật và gắn liềnvới lối tư duy khoa học, đòi hỏi tính chính xác, khách quan Muốn tạo lậpđược kiểu văn bản này, phải tiến hành điều tra, nghiên cứu, học hỏi tri thứcthì mới làm được Do vậy ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, các em họcsinh rất cần được trang bị những hiểu biết cơ bản về văn bản thuyết minh để

có thể tiếp cận, nắm bắt tri thức về sự vật, hiện tượng cũng như hình thànhđược kĩ năng làm việc khoa học, khách quan Bởi vậy đưa văn bản thuyếtminh vào nhà trường là cung cấp cho học sinh một kiểu văn bản thông dụng,đồng thời rèn kĩ năng trình bày các tri thức có tính chất khách quan, khoahọc, nâng cao năng lực tư duy và biểu đạt cho học sinh Theo nguyên tắc tichhợp, với mục đích chính là hành dụng, dạy – học Tập làm văn nói chung, vănbản thuyết minh líp 9 nói riêng đã chú trọng việc hình thành và rèn luyện chohọc sinh khả năng vận dụng các tri thức và kĩ năng để tạo lập một văn bảnthuyết minh có nâng cao, kết hợp thuyết minh với sử dụng một số biện phápnghệ thuật và yếu tố miêu tả một cách năng động, theo những yêu cầu và cáctình huống giao tiếp khác nhau Không chỉ đơn thuần nhằm tích lũy tri thức,hiểu biết về đối tượng được thuyết minh, các em học sinh líp 9 còn phải biếttạo lập văn bản thuyết minh kết hợp với sử dụng một số biện pháp nghệ thuật

và yếu tố miêu tả để thuyết minh không dừng lại ở đúng, chính xác mà cònphải hay, hấp dẫn Mỗi tiết dạy – học kiến thức mới đều kết hợp với một tiếtluyện tập củng cố lí thuyết, vận dụng thực hành rèn luyện kĩ năng, giúp các

em nâng cao nhận thức về mặt lí thuyết và thành thạo về kĩ năng thực hành.Thông qua luyện tập thực hành vận dụng lí thuyết các em sẽ tự nhận thấy nếunhững biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả được sử dụng hợp lí, sáng tạo

sẽ khiến cho văn bản thuyết minh thêm cụ thể, sinh động, hấp dẫn mà vẫnkhông làm mất đi những đặc điểm cơ bản của hoạt động thuyết minh Từ đó

Trang 40

định hướng cho các em biết lùa chọn những biện pháp nghệ thuật còng nhcách thức miêu tả phù hợp với thuyết minh về một đối tượng cụ thể và cókhả năng tạo hứng thó cho người đọc, người nghe Đó cũng là một cách tăngcường tính thực hành, ứng dụng; thực hiện giảm tải, đồng thời tạo cho việcdạy – học về văn bản thuyết minh có sức hấp dẫn; song cũng là một khókhăn đối với người dạy và cả người học

Thuyết minh là một kiểu văn bản mới, lại được đưa vào chương trìnhtrong đúng giai đoạn tất yếu phải đổi mới về phương pháp dạy học nên khi tổchức các hoạt động dạy – học giáo viên chủ yếu bám sát sách giáo khoa vàsách giáo viên để vừa hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức lí thuyết, vừa tổchức cho các em luyện tập thực hành vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng.Hầu hết giáo viên đều cho rằng việc tổ chức các hoạt động dạy – học về vănbản thuyết minh có nâng cao kết hợp thuyết minh với sử dụng một số biệnpháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả đối với học sinh líp 9 là đúng và cần thiếtnhưng cũng rất khó Nó đòi hỏi giáo viên không chỉ chắc kiến thức về vănbản thuyết minh, về phương pháp dạy - học tích hợp, tích cực mà nó còn đòihỏi học sinh phải có sự chuẩn bị bài cẩn thận, kĩ càng ở nhà, thì lên líp, thầy

và trò mới có thể chủ động, tích cực dạy và học được Đối với họ, do yêu cầunghề nghiệp, bắt buộc họ phải đổi mới phương pháp, tự nâng cao kiến thứcchuyên môn nên họ có thể tuân thủ theo đúng những nguyên tắc, yêu cầuchung của ngành, nghề và họ có thể tổ chức cho học sinh các hoạt động họctập theo đúng tinh thần đó Phần lớn giáo viên đều công nhận nếu có điềukiện để tổ chức các tiết dạy – học theo đúng đổi mới thì rất tốt, học sinh sẽchủ động, sôi nổi, tích cực hơn trong giê học và hiệu quả giê dạy – học là rõràng Song để đạt được hiệu quả đó trong giê dạy – học, một chi phối khôngnhỏ lại là ở học sinh Tiếc rằng một bé phận không Ýt trong học sinh ý thứchọc tập chưa tốt, chưa quen với đổi mới phương pháp ở giáo viên nên còn rất

Ngày đăng: 18/12/2014, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A – Một số vấn đề dạy và học làm văn – NXB Trường ĐHSPHN I, 1990 Khác
2. Lê A – Những vấn đề về dạy học môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông – NXB Trường ĐHSP Huế, 1992 Khác
3. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán – Phương pháp dạy học Tiếng Việt – NXB Giáo Dục, 1996 Khác
4. Lê A (Chủ biên), Nguyễn Trí – Giáo trình Làm văn – Giáo trình đào tạo giáo viên hệ CĐSP, NXB Giáo dục Khác
5. Lai Nguyên Ảnh (Biên soạn) – 150 Thuật ngữ Văn học – NXB ĐHQGHN, 2004 Khác
6. Huỳnh Thị Thu Ba – Kiến thức , kỹ năng cơ bản Tập làm văn THCS – NXB Giáo dục, 2006 Khác
7. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm – Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn – NXB Giáo dục, 1985 Khác
8. Lương Duy Cán – Rèn luyện kỹ năng làm văn 9 – NXB Giáo dục, 2006 Khác
9. Đình Cao, Lê A – Làm văn Tập I – NXB Giáo dục, 1989 Khác
10. Đình Cao, Lê A – Làm văn Tập II – NXB Giáo dục, 1991 Khác
11. Tạ Phong Châu, Đỗ Quang Lưu, Nguyễn Quốc Tuý – Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy tập làm văn bậc PTTH – NXB Giáo dục, 1982 Khác
12. Tác giả Trương Dĩnh – Phát triển ngôn ngữ cho học sinh phổ thông – NXB Đà Nẵng, 2000 Khác
13. Trương Dĩnh – Bài tập Tiếng Việt phổ thông từ góc nhìn chức năng – Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia – Những vấn đề dạy học môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông – NXB Trường ĐHSP Huế, 1982 Khác
14. Hồ Ngọc Đại – Tâm lý học-dạy học – NXB Giáo dục, 1994 Khác
15. Hữu Đạt – Tiếng Việt thực hành – NXB Giáo dục, 1995.123 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đối tượng, địa bàn thực nghiệm Địa bàn thực nghiệm Đối tượng thực nghiệm - luyện tập sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
Bảng 1 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm Địa bàn thực nghiệm Đối tượng thực nghiệm (Trang 78)
Bảng 2: Tổ chức thực nghiệm - luyện tập sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
Bảng 2 Tổ chức thực nghiệm (Trang 80)
Hoạt động 2: Hình  thành kiến thức mới - luyện tập sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
o ạt động 2: Hình thành kiến thức mới (Trang 83)
Hoạt động 2: Hình thành  kiến thức mới. - luyện tập sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
o ạt động 2: Hình thành kiến thức mới (Trang 98)
Bảng phô)  - Bao quát quá trình thực  hiện làm BT của các nhóm. - luyện tập sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
Bảng ph ô) - Bao quát quá trình thực hiện làm BT của các nhóm (Trang 102)
Bảng 3: Kết quả đánh giá thực nghiệm - luyện tập sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
Bảng 3 Kết quả đánh giá thực nghiệm (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w