Tại các hội nghị bàn về giảm đói nghèo khu vực Châu á thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Băng Kôk Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã đưa ra khái niệm và định nghiã đói nghèo như sau: "Nghèo là
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Làm tốt công tác xoá đói giảm nghèo là một trong các vấn đề thuộc bản chất của Chủ nghĩa xã hội và thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc vận động xoá đói giảm nghèo
ở nước ta đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia được các cấp, các ngành, địa phương tích cực thực hiện và đạt nhiều kết quả thiết thực
Bằng lỗ lực của Nhà nước và toàn xã hội, với những chính sách đúng đắn, sáng tạo, cách làm phù hợp, chương trình xoá đói giảm nghèo đã đưa hàng triệu người ở nước ta thoát được nghèo Số người nghèo đói ngày càng giảm mạnh, khoảng cách giàu nghèo đã được thu hẹp lại
Trong thời gian qua, được sự giúp đỡ của các cơ quan Trung ương, dưới
sự chỉ đạo của Thành uỷ, UBND Thành phố Hà nội, các cơ quan ban ngành và
sự cố gắng nỗ lực của các huyện, kinh tế ngoại thành đã có sự phát triển toàn diện, tăng trưởng liên tục đạt tốc độ 10,7%/năm, riêng nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 4,6%/năm Kinh tế nông nghiệp vùng ngoại thành đã chuyển dịch theo cơ cấu tiến bộ, tỷ trọng trồng trọt giảm còn 60,25%, tỷ trọng ngành chăn nuôi, thuỷ sản tăng đạt 39,75% Diện tích các cây trồng có giá trị như : Cây ăn quả, hoa, rau chất lượng cao tăng nhanh Các giống lợn nạc, bò sữa chất lượng cao, gà siêu thịt, siêu trứng, ngày càng tăng theo cơ cấu đàn Do vậy giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh tác mỗi năm đều tăng, năm 2000 đạt 40,4 triệu đồng/ha Bước đầu đã hình thành vùng sản xuất hàng hoá về rau an toàn, hoa, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa Kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư nâng cấp, bộ mặt nông thôn đổi mới khang trang hơn, đời sống nông dân từng bước được được cải thiện, sự nghiệp văn hoá, y tế, thể dục thể thao có nhiều tiến bộ,
an ninh chính trị được giữ vững Bên cạnh đó, hoạt động thương mại và dịch vụ
Trang 2cũng được đẩy mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16,3% Các trung tâm buôn bán và chợ nông thôn được tăng cường xây dựng.
Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân từng bước được cải thiện Các chính sách xã hội trong nông thôn được quan tâm thực hiện Năm 2000, bình quân thu nhập một nhân khẩu ở nông thôn đã đạt 220USD/ năm tỷ lệ hộ giàu đạt 24%, hàng năm đã giải quyết việc làm trên 20.000 lao động nông thôn
Tuy nhiên, các huyện ngoại thành phát triển kinh tế không đồng đều, giữa các xã trong huyện còn có sự chênh lệch về tốc độ phát triển kinh tế và tỷ lệ hộ đói nghèo Nguyên nhân cơ bản là do một số xã gặp nhiều khó khăn về địa hình
và vị trí địa lý nên kinh tế xã hội vẫn còn ở tình trạng nghèo Theo báo cáo số 2702/UB-NNĐC ngày 09/11/2001 của UBND thành phố Hà nội về việc xác nhận danh sách xã nghèo ngoài chương trình 135 năm 2002 thì huyện Sóc Sơn vẫn còn 12 xã nghèo ( theo tiêu trí mới)
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài : “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói
giảm nghèo ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn Thành phố Hà nội” Đề tài sẽ góp phần phân tích thực trạng nghèo đó trong huyện, từ đó đưa ra
một số giải pháp chủ yếu nhằm xoá đó giảm nghèo một cách hiệu quả, đưa kinh
tế của huyện ngày một phát triển
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và phương pháp luận để xem xét đánh giá vấn đề phát triển kinh tế chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xoá đói giảm nghèo ở một một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội
Phân tích đánh giá thực trạng phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên Từ đó rút ra những mặt đạt được, những
Trang 3mặt hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết Trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn – Thành phố
Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài :
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất, thực trạng đời sống của dân
cư, điều kiệt sản xuất và phương hướng phát triển sản xuât ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội
4 Kết cấu của đề tài :
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xoá đói giảm nghèo ở các vùng
nông thôn đặc biệt khó khăn
Chương II: Thực trạng đói nghèo ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện
Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội
Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện xoá đói giảm
nghèo ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội
Nhờ sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo :TS Vũ Đình Thắng và sự nỗ lực của bản thân, chuyên đề đã được hoàn thành Tuy nhiên do khả năng có hạn, thời gian thực tập ngắn nên chắc chắn chuyên đề còn nhiều hạn chế, em mong được
sự góp ý thêm của các thầy, Cô giáo và các bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo hướng dấn :TS Vũ Đình Thắng
và các thầy cô giáo trong khoa KTNN-PTNT trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỎ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN.
1 Những khái niệm cơ bản về nghèo đói
1.1 Quan niệm về đói nghèo
Xã hội loài người đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độ sản xuất quy đinh Bằng lao động sản xuât con người khai thác thiên nhiên để tạo ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, và những nhu cầu khác Năng suất lao động ngày càng tăng thì của cải ngày càng nhiều, các nhu cầu sống được đáp ứng đầy đủ hơn; trái lại năng s1uất lao động thấp, của cải vât chất thu được
ít, con người rơi vào cảnh đói nghèo Đói nghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại dưới chế độ công xã nguyên thuỷ, chế độ chiếm hữu nô lệ,chế độ phong kiến với trình độ lực lượng sản xuất kém phát triển mà ngay trong thời đại ngày nay với công cuộc cách mang khoa học hiện đại, với lực lượng sản xuất cao trưa từng thấy, trong từng quốc gia kể cả các quốc gia đã phát triển nhất trên thế giới, đói nghèo vẫn tồn tại một cách hiển nhiên Do đó loài người đã phải luôn tìm mọi cách để nâng cao trình độ sản xuất của mình, nâng cao đời sống của nhân dân Đối với nước ta Bác Hồ đã từng nói: "Đảng và Nhà nước vừa lo những việc lớn như đổi nền kinh tế văn hoá tiên tiến, vừa đồng thời quan tâm đến những việc nhỏ như, tương, cà, mắm muối cấn thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân"
Đói nghèo là một vấn đề nóng bỏng và nhức nhối, nó được các giới nghiên cứu, cơ quan hoạch định chính sách của nhiều quốc gia quan tâm nghiên để tìm
ra những nguyên nhân của đói nghèo và xác định các biện pháp xoá đói giảm nghèo
Trang 5Tại các hội nghị bàn về giảm đói nghèo khu vực Châu á thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức ở Băng Kôk Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã đưa ra khái niệm
và định nghiã đói nghèo như sau:
"Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương"
Theo PGS - PTS Đỗ Nguyên Phương thì đói nghèo được nghiên cứu như sau: "Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có điều kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiều, cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện"
Trên cơ sở nhất trí với quan điểm xem xét vấn đề nghèo đói của tổ chức Liên Hợp Quốc, Ngân hàng châu á đã đánh giá về thực trạng nghèo đói và đã đưa ra 2 khái niệm nghèo đói là: Nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối Nghèo tương đối là tình trạng thu nhập không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu, chỉ duy trì cuộc sống cơ thể con người Nghèo tuyệt đối là tình trạng thu nhập thấp không có khả năng đạt tới mưc sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó
Theo uỷ ban kinh tế xã hội khu vưc châu Á thái bình Dương (ESCAP) thì
"sự thiếu thốn của cải trong mỗi quan hệ với nhu cầu thiết yếu của con người được xem là nghèo khổ tuyệt đối Còn khi xem xét thực trạng mức sống và vị trí ( về kinh tế - xã hội ) các nhóm hoặc cá nhân khác ở phương diện mức độ tiêu thụ và thu nhập của họ sẽ cho ta hình dung được về khèo khổ tương đối "
Ở nước ta, Bộ lao động thương Binh - xã hội đã đưa ra định nghĩa về hai loại đói nghèo như sau: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
- Nghèo tuyệt đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có thu nhập thấp không đủ khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu chỉ để duy trì cuộc sống
Trang 6- Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt xã hội ở một thời điểm nào đó.
Nhưng hiện nay ở Việt Nam, bên cạnh khái niệm "nghèo " còn sử dụng khái niệm "đói "để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư "nghèo
là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu không thoả mãn các nhu cầu ăn, mặc, ở, ytế, giáo dục, đi lại giao tiếp; và "đói" là một tình trạng một bộ phận có mức sống dưới mức tối thiểu cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không đảm bảo duy trì cuộc sống
Tuỳ thuộc vào khả năng đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm để duy trì cuộc sống trong năm, Việt nam còn phân hộ đói ra thành hai nhóm là: hộ thiếu đói và hộ đói gay gắt để có biện pháp hỗ trợ kịp thời
Ngoài khái niệm hộ nghèo, hộ đói, việt Nam còn sử dụng khái niệm
"vùng nghèo, xã nghèo" là nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều và mức sống dân
cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước
Tình trạng phổ biên của vùng nghèo là các điểu kiện tự nhiên không thuận lợi (đất xấu, thiên tai thường xuyên), kết cấu hạ tầng kém phát triển
1.2 Tiêu chí xác định ranh giới đói nghèo.
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có thể xác lập các chỉ tiêu đánh giá về đói nghèo theo mấy chỉ tiêu sau đây: thu nhập, nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn
Trang 7Chuẩn mức nghèo đói do bộ lao động thương binh xã hội đề ra năm 1993 như bảng sau:
- Theo tiêu chí cũ
quânNghèo tuỵêt đối < 15 kg gạo / người / tháng < 1765 kcalo/ ngàyNghèo tương đối < mức TB của địa phương
Thiếu đói kinh niên < 12 kg gạo / người / tháng < 1412 kcalo /ngàyĐói gay gắt kinh niên < 8 kg gạo / người / tháng < 943 kcalo/ ngày
Nghèo khổ được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau Xét điều kiện sống của người giầu và người nghèo ta thấy: ngưòi giàu thường được ở trong những ngôi nhà sang trọng, tiện nghi sinh hoạt đầy đủ, công cụ lao động hoàn thiện, hiện đại hơn, thể lực cường tráng, tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, con cái được học hành
tử tế ngược lại những người nghèo khổ phải chịu điều kiện ăn, ở, tồi tàn, nhà cửa dột nát, xiêu vẹo phương tiện sinh hoạt thiếu thốn, cũ kỹ, công cụ lao động thô sơ, lạc hậu, thể trọng gầy yếu, tác phong châm chạp, tâm tư buồn bã, con cái thường nghỉ học sớm hoặc không có điều kiện để theo học
- Theo tiêu chí mới
Sự phân hoá giàu nghèo được xem xét trên nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế -
xã hội Cụ thể hơn, có thể xem xét sự phân hoá giàu nghèo ở các khu vực khác nhau giữa các tầng lớp dân cư và các vùng theo các lĩnh vực cụ thể như:
+ Sự khác nhau về sở hữu / chiếm hữu tư liệu sản xuất
+ Sự chêng lệch về thu nhập / mức sống và việc làm
+ Sự khác nhau về sở hữu / sử dụng các tài sản như nhà ở, các phương tiện trong cuộc sống và sinh hoạt
Trang 8+ Sự khác nhau về khả năng và hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ( như y tế, giáo dục, giải trí ).
+ Sự phân biệt về chính tri, tức là khả năng và điều kiện tham gia vào hệ thống chính trị và các quyền chính trị cơ bản
Sau đây là tiêu chí đánh giá sự nghèo đói của một số cơ quan khác nhau:
* Theo tiêu chí của liên hợp quốc: theo chuẩn mực đánh của liên hợp quốc,
ở các nức đang phát triển nói chung, những người có mức thu nhập dưới 1 USD / ngày là thuộc mức nghèo khổ tuyệt đối
* Theo tiêu chí của ngân hàng thế giới: các nhà kinh tế ngân hàng thế giới đã đề xuất một mức chuẩn quốc tế dựa trên cơ sở tiêu chuẩn Ấn Độ Theo
đó ranh giới đói nghèo là mức thu nhập cần thiết để có mức cung cấp hàng ngày 2250 kcalo / người vào năm 1995
* Theo tiêu chí của tổng cục thống kê: năm 1994 các chỉ tiêu đựơc áp dụng
cụ thể như sau:
Nghèo ở nông thôn < 50.000 đồng / người / tháng
Cực nghèo ở nông thôn < 25.210 đồng/ người / tháng
+ Hộ đói: là hộ có TNBQ < 13 kg gạo ( 45.000 đồng) / người/ tháng
Trang 9+ Hộ nghèo có TNBQ < 15 kg gạo ( 55.000 đồng ) / người / tháng.
Đối với khu vực nông thôn, vùng núi và hải đảo
+ Hộ nghèo đối với khu vực nông thôn vùng đồng bằng, trung du có mức TNBQ < 20 kg gạo (90.000 đồng) / người / tháng
+ Hộ nghèo đối với khu vực thành thị có mức
TNBQ < 25 kg gạo (90.000 đồng) / người / tháng
* Theo tiêu chí mới của tỏng cục thống kê năm 2000 chuẩn mực đói nghèo của nước ta như sau:
Nghèo ở các vùng hải đảo và vùng núi
nông thôn <= 80.000 đồng / ngưòi /thángNghèo ở vùng đồng bằng nông thôn <= 100.000 đồng / người / thángNghèo ở khu vực thành thị <= 150.000 đồng / người / tháng
Nghiên cứu các chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá sự phân hoá giàu nghèo ở nước ta cũng cần đề cập sự khác biệt giữa các nhóm dân cư về sở hữu / chiếm hữu tư liệu sản xuất, về sở hữu các tài sản, phương tiện phục vụ đời sống vật chất và tinh thần, về khả năng và điều kiện hưởng thụ của các thành quả phát triển trên các lĩnh vực văn hoá xã hội ( y tế, giáo dục, vui chơi giải trí) khả nằng hội nhập với cộng đồng trong quá trình phát triển
2 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tác động đến đói nghèo trong nông thôn.
2.1 Một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tình trạng nghèo khó đó là trình độ học vấn thấp, việc làm chủ yếu trong khu vực nông nghiệp với việc làm không ổn định.
Trang 10Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu tối thiểu và do vậy không có điều kiện dể nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái, ảnh hưởng không nhỏ đến thế hệ hiện tại và cả thế hệ trong tương lai Người nghèo có trình độ học vấn thấp khoảng 90% những người nghèo là những người chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Kết quả điều tra mức sống cho thấy trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ được đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiế 39%, phổ thông có sở chiếm 37%.Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên, 80%số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức độ thu nhập rất thấp.Trình độ học vấn thấp, hạn chế nên khả năng kiếm việc làm trong khu vực, trong các nghành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn.
2.2 Các nguyên nhân về dân số
Quy mô hộ gia đình là "mẫu số" quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ đông con vừa là hệ quả của đói nghèo Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao, đông con là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo Năm 1998, số con bình quân /phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với mức 2,1 con của nhóm 20% giàu nhất Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ phụ thuộc cao Tỷ lệ phụ thuộc của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với 0,37 của nhóm giàu nhất
Một trong những nguyên nhân tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do hộ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khoẻ sinh sản, tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng chánh thai thấp độ hiểu biết của phụ nữ nghèo
về an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói và sức khoẻ sinh sản và tăng nhân khẩu còn hạn chế
Trang 11Tỷ lệ phụ nữ cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao động rất thiếu, và đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của hộ.
đa dạng hoá sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng có giá trị cao hơn
Đa số người nghèo lựa chọn phương án tự cung, tự cấp, họ vẫn dữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án mang lại lợi nhuận cao hơn Do vẫn theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy
đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó
Bên cạnh đó, đại đa số người nghèo không có cơ hội tiếp cận với các dịch
vụ sản xuất như khuyến nông, phòng dịch bệnh, tiếp cận các nguồn nước, hệ thống thuỷ lợi, giống mới, phân bón, thị trường… các yếu tố này góp phần làm tăng nguồn lực đầu vào cũng như của cải đầu ra của họ
Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cân các nguồn tín dụng là một trong những yếu tố rất quan trọng đối với sản xuất Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, đưa công nghệ mới, thay đổi giống, chất lượng cao…Mặc dù trong khuôn khổ dự án tín dụng cho người nghèo thuộc chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều người nghèo, đặc biệt là người rất nghèo, không có khả năng tiếp cận với các nguồn tín
Trang 12dụng Một mặt những người nghèo do không có tài sản thế chấp, họ phải dựa vào tín chấp với các món vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ không có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn, và cuối cùng cũng làm cho họ nghèo hơn.
2.4 Nguy cơ dễ bị tổn thương và sự cô lập
Các hộ gia đình nghèo dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên họ khó có khả năng chống trọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khoẻ…) Đối với khả năng kinh
tê mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, do
họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kẽm do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa
Hàng năm số người phải cứu trợ đột xuất do thiên tai khoảng từ 1- 1,5 triệu người Bình quân hàng năm, số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo vẫn còn lớn, do ít số hộ đang sống ở bên ngưỡng đói nghèo và rất
dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như thiên tai, ốm đau, mất việc làm …
Các phân tích từ cuộc điều tra hộ gia đình 1992- 1993 và 1997- 1998 cho thấy các hộ gia đình phải chịu nhiều thiên tai nguy cơ dễ lún sâu vào đói nghèo Điều này chỉ ra vai trò quan trọng của việc giảm nhẹ hậu quả thiên tai như là một thước đo chủ yếu để đánh giá xóa đói giảm nghèo
Trang 132.5 Sức khoẻ yếu kém cũng là nhân tố chính đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng.
Vấn đề sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chỉ tiêu của người nghèo do mất đi nguồn lao động và tăng chi phí cho chữa chạy các đột biến về chi phí y tế, là một trong những nguyên nhân khiến người nghèo rơi vào tình trạng khốn quẫn
Gánh nặng chi phí bảo vệ sức khoẻ đối với người nghèo cũng là một cái bẫy đẩy người nghèo luẩn quẩn trong vòng đói nghèo Họ phải chịu đựng hai gánh nặng: thứ nhất là mất thu nhập do người lao động đem lại và thứ hai là chi phí thuốc thang chữa bệnh cho người ốm (liên quan đến thu nhập và tài sản gia đình) Không giống như cong nhân và công chức nhà nước, những người có thu nhập cố định, người nghèo phần lớn là tự lao động và do vậy họ mất thu nhập mà
hộ không lao động do ốm đau, bệnh tật hay sức khoẻ yếu Chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo và đẩy họ đến chỗ vay mựơn, cầm cố tài sản làm cho họ khó có thể thoát ra khỏi đói nghèo
Tuy có sự cải thiện đáng kể về tình trạng sức khoẻ ở Việt Nam trong thập
kỷ qua, song sự bất bình đẳng lại tăng lên Tỷ lệ người nghèo mắc các bệnh thông thường khác cao Theo số liệu điều tra mức sống năm 1998, số người ốm bình quân của nhóm người nghèo là 3,07 ngày/ năm so với khoảng 2,4 ngày/năm của nhóm giàu nhất
Điều đáng chú ý là trong thời kỳ 1993- 1997, tình trạng ốm đau của nhóm người giàu được cải thiện đáng kể (giảm 30%), trong khi tình trạng của nhóm người nghèo vẫn giữ nguyên Năm 1999, số người trong độ tuổi lao động của nhóm người nghèo mất nhiều ngày ốm đau hơn khoảng 55% so với nhóm không nghèo Sự khác nhau trước đây chỉ 16%
2.6 Những hạn chế của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách (tự do hóa thương mại, cải cánh doanh nghiệp Nhà nước…) ảnh hưởng đến đói nghèo…
Trang 14Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trong những ảnh hưởng lớn tới mức giảm tỷ lệ nghèo Việt Nam đã đạt được những thành tích giảm nghèo đói rất đa dạng và trên diện rộng Tuy nhiên, quá trình phát triển và mở cửa của nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến đói nghèo.
* Tình trạng cải cách các doanh nghiệp Nhà nước, khiến nhiều người mất việc làm và một bộ phận trong số họ rơi vào tình trạng nghèo khó do không có việc làm, chiếm tỷ trọng cao trong số này là phụ nữ, người không có trình độ và tuổi cao
* Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
tự do hoá thương mại tạo ra những động lực tốt Tuy nhiên, đa số những người nghèo chưa có điều kiện nắm bắt cơ hội này, sự thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, giá thành sản xuất cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp và năng lực sản xuất hạn chế Vì vậy, không ít các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã bị phá sản và trở thành người nghèo
* Người lao động trở nên thất nghiệp một phần do chủ quan của chính họ, mặt khác do chính sách phát triển kinh tế vĩ mô không chú ý đúng mức đến vấn
đề công bằng trong tăng trưởng Tình trạng thu nhập của người nghèo ít được cải thiện
Hệ quả hiển nhiên là tăng trưởng kinh tế giúp cho việc xóa đói giảm nghèo trên diện rộng, song việc cải thiện tình trạng của người nghèo (về thu nhập, khả năng tiếp cận phát triển các nguồn lực) lại phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế, hay nói cách khác, tác động của tăng trưởng kinh tế đối với việc phân phối lợi ích trong các nhóm dân cư Phân tích tình hình biến đổi của các nhóm dân cư cho thấy, tăng trưởng kinh tế có tác động nhiều hơn so với nhóm người giàu và kết quả đã làm tăng thêm các bất bình đẳng
3 Ý nghĩa của công tác xoá đói giảm nghèo
Trang 15Ngay từ khi Việt Nam giành được độc lập (1945) chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo như một thứ "giặc", cũng như giặc dốt, giặc ngoại sâm, nên
đã đưa ra mục tiêu phấn đấu làm sao để nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và đời sống hạnh phúc
Công việc xóa đói giảm nghèo vẫn là vấn đề kinh tế xã hội cấp bách trước mắt vừa cơ bản vừa lâu dài để tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống tạo việc làm, tiếp cận với các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ…
Xóa đói giảm nghèo là vấn đề kinh tế xã hội là trách nhiệm của các cấp các ngành, các tổ chức xã hội, của mọi người dân và của chính người nghèo Đây là vấn đề chương trình lớn của quốc gia, phục vụ rất hữu ích cho công nghiệp hoá, cho việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Cho một chủ nghĩa cao cả "vì hạnh phúc của nhân dân"
Công tác xoá đói giảm nghèo được hình thành bởi nhiều vấn đề, trong quá trình nghiên cứu ở đây chúng tôi chủ yếu tập trung vào những khía cạnh thể hiện điều kiện thực tế của hộ nông dân, đồng thời nghiên cứu những giải pháp chung nhất với công tác xoá đói giảm nghèo Việc xoá đói giảm nghèo mà chúng ta nghiên cứu ở đây có những ý nghĩa sau:
Nó là sự thay đổi đem lại sự cải thiện cho các hộ nông dân nghèo, mục tiêu phát triển phù hợp với nhu cầu của nhân dân
Nó có thể đảm bảo cho con người mức sống tối thiểu hoặc những yếu tố cần thiết cho người dân
Xoá đó giảm nghèo tạo cho con người những điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt đồng bộ và đầy đủ hơn cho từng cá nhân và cả cộng đồng
Xoá đói giảm nghèo khuyến khích sự tự tin của người dân
Trang 16Xoá đói giảm nghèo góp phần làm tăng thêm sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, giảm khoảng cách phân hoá giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong xã hội.
4 Đặc trưng, xu hướng phát triển cơ bản của những vùng nông thôn đặc biệt khó khăn
Phát triển kinh tế là tạo điều kiện cho con người sinh sống bất kỳ nơi đâu
trong một quốc gia hay cả hành tinh trái đất đều trường thọ, đều được thoả mãn các nhu cầu sống đều có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt mà không phải lao động quá cực nhọc, đều có trình độ học vấn cao, đều được hưởng những thành tựu về văn hoá tinh thần, có đủ tiện nghi cho một cuộc sống sung túc, đều được sống trong một môi trường trong lành, được hưởng các quyền
cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh
4.1 Phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế.
* Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm sự tăng về quy mô sản lượng, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế xã hội
Khái niệm trên không phản ánh hết nội dung của phát triển kinh tế, tuy nhiên nó được phản ánh như sau:
- Sự phát triển tăng thêm cả về khối lượng, của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và điều kiện sống xã hội
- Tăng thêm về quy mô sản lượng và kinh tế xã hội là hai mặt có mối quan
hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập của lượng và chất
Kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội là một quá trình vận động khách quan còn mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đề ra là thể hiện sư tiếp cận với các kết quả đó
*Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả của tất cả các hoạt
Trang 17động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra, do vậy để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế , người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế (tính toàn bộ hay tính bình quân theo đầu người) của thời kỳ so sánh với thời
kỳ trước Đó là mức tăng phần trăm (%) hay tuyệt đối hàng năm, bình quân trong một giai đoạn
4.2 Bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống lành mạnh cho người nghèo.
Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững, đảm bảo cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường khác Tập trung giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc, các thành phố lớn và một số vùng nông thôn Kiểm soát nghiên cứu ô nhiễm và ứng sử sự cố môi trường do thiên tai lũ lụt gây ra, thực hiện các dự án và cải tạo bảo vệ môi trường xây dựng vườn quốc gia, khu rừng cấm, trồng cây xanh, bảo vệ các nguồn gen di truyền xây dựng các công trình làm sạch môi trường
Kiện toàn hệ thống quản lý Nhà nước và bảo vệ môi trường đến địa phương, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhất là hợp tác với các nước trong khu vực, trong việc ngăn ngừa môi trường, chuyển giao công nghệ sử lý ô nhiễm môi trường và xây dựng các chương trình sử lý chất thải
Môi trường và nghèo đói có quan hệ hai chiều, cải thiện tốt chất lượng môi trường góp phần làm giảm đói nghèo Việc cải thiện hệ thống cấp nước sạch có thể nâng cao sức khoẻ làm giảm lượng thời gian tiêu phí và tạo điều kiện có thời gian làm việc khác, làm giảm ảnh hưởng của thiên tai đối với người nghèo sẽ làm cho họ có điều kiện tiếp súc tốt hơn với các sinh kế và nguồn cung cấp thức ăn, nâng cao chất lượng quả lý các nguồn tài nguyên có
Trang 18thể hỗ trợ người nghèo vì những người nghèo phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên để nâng cao mức sống của họ.
Gắn các chính sách kinh tế với chính sách môi trường, sửa đổi các quy định về bảo vệ môi trường liên quan đến quá trình đầu tư theo hệ thống đưa ra
cụ thể và lượng hoá nhằm vừa đảm bảo quyền tự do đầu tư của công dân vừa đảm bảo chống được nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường thông qua chương trình giáo dục môi trường và khuyến khích mọi tầng lớp dân cư, của doanh nghiệp, của các tổ chức xã hội và các hoạt động bảo vệ môi trường
Thực hiện các quy định và luật bảo vệ rừng để bảo vệ các khu rừng đầu nguồn loại bỏ các điểm gây ô nhiễm, tăng cường giám sát và thi hành các quy định hiện có của Nhà nước
4.3 Vai trò của phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo.
Từ hai khái niệm về phát triển kinh tế và đói nghèo thì phát triển kinh tế
là nhằm tạo ra của cải vật chất, tạo ra nguồn thu nhập cao để thỏa mãn các nhu cầu ngoài nhu cầu ăn như: nhà ở, mặc, văn hoá, y tế, giáo dục, phương tiện đi lại, trong khi đó đói nghèo lại là kết quả của sự không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu đó Do vậy muốn xoá đói giảm nghèo thì nhất thiết phải gắn liền với phát triển kinh tế xã hội và muốn phát triển kinh tế xã hội thì phải tiến hành xoá đói giảm nghèo
Phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo có mối quan hệ chặt chẽ và có
sự tương quan tỷ lệ thuận với nhau
Như vậy phát triển kinh tế có một vai trò cực kỳ quan trong việc xoá đói giảm nghèo của cả nước nói chung và của tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt là trong huyện Chiêm Hoá nói riêng Phát triển kinh tế có vai trò trong xoá đói giảm nghèo được thể hiện qua mấy điểm sau:
Trang 19Một là: xoá đói cho một số hộ hay thiếu ăn thường xuyên để duy trì sự
tồn tại của cón nguời như ăn, mặc, ở
Hai là: giúp các hộ nghèo có điều kiện để thực hiện các nhu cầu về xã
hội, y tế, giáo dục và đời sống tinh thần nói chung
Ba là: giúp các hộ nghèo có cơ hội làm ăn để phát triển kinh tế gia đình,
tiếp cận được với các phương pháp sản xuất nông nghiệp tiên tiến và khoa học,
từ đó họ có nguồn thu nhập đủ để trang trải cho cuộc sống và có tiền để tiết kiệm qua hàng tháng trong năm
5 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm Ngay từ khi nước ta mới giành độc lập (1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định nghèo đói cũng là một thứ “giặc” như giặc dốt, giặc ngoạI xâm, nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu làm sao để nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công
ăn, việc làm và đời sống được hạnh phúc
“Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá, giàu, người khá giàu thì giàu thêm”
Thực hiện tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà Nước ta
đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận việc làm, tiếp cận với dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa Cùng với việc đẩy mạnh cải cách, đổi mới kinh tế, tạo động lực để thúc đẩy kinh tế Chính phủ Việt Nam đã có những chủ trương khuyến khích làm giàu hợp pháp
đi đôi với xoá đói giảm nghèo
Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng cộng sản
Việt Nam (01/1994) đã chỉ rõ : “ Tăng trưởng kinh tế phảI gắn liền với tiến bộ
Trang 20và công bằng xã hội trong từng bước phát triển Công bằng xã hội thể hiện cả
ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết qủa sản xuất cũng như ở điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng.
Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi dôi với xoá đói giảm nghèo Coi việc một bộ phận dân cư làm giàu trước là cần thiết cho sự phát triển Đồng thời
có chính sách ưu đãi hợp lý về tín dụng, về thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo điều kiện cho người nghèo có thể tự mình vươn lên làm đủ sống và phấn đấu trở thành khá giả Các vùng giàu, vùng phát triển trước phải cùng Nhà nước giúp đỡ, lôi cuốn các vùng nghèo, vùng phát triển sau để cùng vươn lên, nhất
là những vùng đang có rất nhiều khó khăn, nghèo hơn các vùng khác như các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng trước đây”.
Đến năm 1995, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những bước phát triển đáng khích lệ, đời sống đạI bộ phận dân cư đã được cảI thiện trong đó có
cả người nghèo Tuy vậy, tỷ lệ hộ nghèo đói còn cao, khoảng 20,3% tổng số
hộ cả nước Còn nhiễu xã đặc biệt khó khăn, chưa đủ các cơ sở hạ tầng thiết yếu, một số xã tỷ lệ hộ nghèo đói còn rất cao, tới trên dưới 70%
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng xác định ‘’Xoá đói giảm nghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế – xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài” và nhấn mạnh, phải thực hiện tốt chương trình xoá đói
giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng ,vùng đồng bào dân tộc Xây dựng và phát triển quỹ xoá đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong
và ngoài nước; với mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói trong tổng số hộ nghèo cả nước từ 20-25% hiện nay, xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quân mỗi năm giảm 300 nghìn hộ / năm trong 2-3 đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xoá cơ bản hộ đói kinh niên
Trang 21Với những quan điểm và chủ trương trong những năm qua, Chính phủ đã
cụ thể hoá bằng những chính sách cơ chế, chương trình dự án và kế hoạch hàng năm nhằm tập trung phát triển nông nghiệp - nông thôn; xây dựng các công trình thuỷ lợi để phục vụ sản xuất và đời sống; hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, đảm bảo an ninh về lương thực
Để thực hiện hiệu quả mục tiêu xoá đói giảm nghèo, Chính phủ đã đưa ra nhiều chương trình, chính sách lớn để hỗ trợ phát triển kinh tế, trợ giúp người nghèo, như chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm (Quyết định 126/1998/QĐ-TTg, ngày14/07/1998)
Chương trình 327 về phủ xanh đất trống, đồi trọc (Quyết định số 327/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ngày 15/09/1992), sau này phát triển nên và được thay thế bằng Dự án trồng 5 triệu ha rừng và nhiều chính sách quan trọng khác Đặc biệt tháng 07/1998 Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2000 (Quyết định số 133/1998/QĐ,TTg, ngày 23/07/1998) với 9 nội dung:
(a) Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo
(b) Hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn
(c) Định căn, định cư, di dân kinh tế mới
(d) Hướng dẫn người nghèo cách làm ăn
Trang 22Tiếp đó Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/07/1998), theo đó Chính phủ sẽ tập trung đầu tư cho 1715 xã đặc biệt khó khăn trong cả nước.
Mục tiêu là đầu tư cho hai lĩnh vực chủ yếu:
(a) Đầu tư xây dựng cơ bản
(b) Đầu tư phát triển sản xuất
Trong đó bao gồm: Đầu tư cho công tác quy hoạch, quy hoạch đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp Quy hoạch bố trí lại dân cư Quy hoạch bố trí lại công trình hạ tầng
Đầu tư hạ tầng gồm: Đầu tư cho giao thông, thuỷ lợi nhỏ, cấp nước sạch cho dân cư nói chung, phát triển điện lưới hoặc xây dựng thuỷ điện nhỏ Xây dựng các trường học, trạm xá, xây dựng trung tâm cụm xã ở những nơi có điều kiện thích hợp
Ngày 26/03/2001 Thủ tướng Chính phủ lại có Quyết định số 42/2001/QĐ-TTg về việc bổ sung các xã đặc biệt khó khăn của trương trình
135 Theo Quyết định này cả nước bổ sung thêm 447 xã vào diện đặc biệt khó khăn và được hưởng các chính sách dành cho Chương trình từ kế hoạch năm
2001 Đưa tổng số xã đặc biệt khó khăn của cả nước lên 2162 xã
Điều đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước nhằm giúp
đỡ các cộng đồng nghèo, đưa kinh tế ở các xã này nhanh chóng phát triển kịp với các xã khác, vùng khác, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế công bằng, giảm sự chênh lệch quá mức về trình độ phát triển kinh tế và phân phối tổng thu nhập giữa các hộ, các xã, các vùng trong cả nước
6 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của một số nước trong khu vực
+ Trung Quốc: Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới có tới
210 triệu người nghèo đói chiếm 20% dân số, trong đó có 80 triệu sống dưới
Trang 23mức nghèo khổ chiếm 8% dân số và 27 triệu người là bần cùng chiếm 2,6% dân số Trung Quốc sớm quan tâm đến phát triển nông nghiệp, quan tâm chú trọng tới phát triển kinh tế hộ, khoảng 100 triệu hộ được giao hơn 10 triệu ha đất để sử dụng lâu daì và có quyền chuyển nhượng, khuyến khích tích tụ tập trung ruộng đất hình thành các trang trại sản xuất hàng hoá Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chương trình (đốm lửa nhằm chuyển giao công nghệ khoa học
kỹ thuật vào các vùng nông thôn trên cơ sở kết hợp giữa vấn đề khoa học kỹ thuật với kinh tế để huy động mọi tiềm năng sắn có ở nông thôn vào việc sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá để không ngừng nâng cao mức sống của người nông dân Trung Quốc chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn(vừa và nhỏ) nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo kinh tế thuần nông, thực hiện khẩu hiệu”ly nông bất ly thương” với chủ chương này Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất lớn Trong thời gian từ năm 1978- 1985 giá trị sản lượng lương thực tăng bình quân 10% mỗi năm Giải quyết việc làm cho hơn 20% lao động nông thôn Tuy là một nước đông dân nhất thế giới mà tỷ lệ nghèo đói đã giảm, đến năm 1991 đã còn lại 87 triệu người sống dưới mức nghèo khổ 27 triệu người là bần cùng mà hiện nay Trung Quốc là nước có tỷ lệ số người sống ở mức nghèo khổ thấp nhất
+ Ấn Độ: Ấn Độ đặt ra vấn đề phát triển nông nghiệp toàn diện nhằm
khơi dậy những tiềm năng sắn có ở nông thôn Đặc biệt trong nông nghiệp là
“cuộc cách mạng xanh” nhằm đưa tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng nhanh năng xuất cây trồng Đi liền với nó chính phủ Ấn Độ chủ chương phát triển công nghiệp nông thôn và tiễn hành hoạt động giúp đỡ các gia đình như phổ biến khoa học kỹ thuật, cung cấp vật tư mua bán sản phẩm vàđào tạo tay nghề trong 5 năm thực hiện chương trình đãgiải phóng được 15 triệu gia đình với 15 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo
+ Nam Triều Tiên: Chính Phủ đã ban hành luật cải cách ruộng đất Nhà
nước đã thực hiện việc mua lại ruộng đất của Chính Phủ, ruộng đất có trên 3 ha
Trang 24để bán lại cho nông dân theo phương thức trả tiền dần Chính Phủ đã khởi sướng phong trào phát tiển kinh tế - văn hoá với mục tiêu chính là:"Xây dựng một đất nước Triều Tiên mới và hiện đại" Phong trào này được tổ chức từ TƯ đến địa phương ,làng ,xã,mỗi làng xã đều có cán bộ nòng cốt vàđược định kỳ tập huấn về các mặt khoa học kỹ thuật, tổ chức giáo dục, văn hoá và công tác quần chúng … Nguồn vốn để thực hiện chủ trương này một phần của Chính Phủ một phần của các tổ chức phi Chính Phủ và tư nhân, còn lại của các hộ gia đình Biện pháp của phi Chính phủ là hỗ trợ về vật tư, tiền vốn cho làng xã xây dựng đường giao thông, trường học, trạm xã, phát tiển các ngành công nghiệp nông thôn …
Kinh nghiệm của các nước cho thấy nghèo đói là một vấn đề xã hội giải quyết nghèo đói không thể thành công nếu không có sự quan tâm giúp đỡ của Chính Phủ và của các tổ chức xã hội khác Nhà nước không thể cho không người nghèo tiền hoặc vật tư sản xuất …Được mà phải khai thác khả năng người nghèo có nhiều nhất là sức lao động, sự cần cù … Chính Phủ phải tạo cho
họ một cơ hội kiếm được việc làm và khả năng đáp ứng nó
7 Thực trạng nghèo đói và chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
7.1 Thực trạng nghèo đói
Trang 25Việt Nam sau hơn 10 năm thực hiện chương trình đổi mới đã đạt được
nhiều thành tựu nổi bật: Tăng trưởng kinh tế đạt khá cao, thu nhập bình quân đầu người tăng, mức sống của đa số nhân dân đươc nâng lên một bước, một bộ phận dân cư trơ lên giau có Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư , GDP bình quân đầu người thời kì 1991-1999 tăng nhanh và tương đối ổn định: Thời kì 1991-1995 là 8,2%, năm 1996 là 9,34%, năm 1997 là 8,15%, năm 1998 là 5,8%, năm1999 là 5% và 2001 là 6,7% Nông nghiệt phát triển khá ổn định, đạt trên 4%/ năm, các ngành sản suất nông nghiệp và dịch vụ tăng với nhịp độ tương đối nhanh
Các chương trình xã hội trong nhưng năm gần đây được triển khai đạt kết quả tốt , đặc biệt là chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình việc làm, định canh, định cư, trợ cấp xã hội Nhờ đó đã có tác dụng hạn chế tình trạng bần cùng hoá đối với một bộ phận dân cư
Được phát động từ năm 1992 đến nay, chương đình xoá đói giảm nghèo
đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo từ 3,8 triệu hộ (khoảng 20 triệu người) năm 1992 giảm xuống còn 2 triệu hộ (với 12 triệu người) Trong10 năm qua
đã có ít nhất là 7,5 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói, trung bình mỗi năm giảm được 250.000-300.000 hộ (khoảng 2%).Từ năm 1992, tỷ lệ đói nghèo nước ta bình quân giảm từ 2% đến 3% Năm 1992 tỷ lệ đói nghèo là 30% đến năm 1998 chỉ còn 15,75% và năm1999 còn 13% Riêng số hộ đói kinh niên đã giảm từ 700.000 hộ xuống còn 300.000 hộ đến cuố năm 1998
cả nước có 15 tỉnh, thành phố có tỷ lệ đói nghèo dưới 15%, 21 tỉnh thành có
tỷ lệ đói nghèo từ 11% -19% số xã có tỷ lệ đói nghèo trên 40% giảm từ
1990 xã (năm1994) xuống còn 1498 xã (năm1997), số xã thiếu cơ sở hạ tầng điện, đường ,trường ,chợ , và nước sinh hoạt giảm từ 1309 xã năm1994 xuống còn 1168 xã năm1997
Trang 26Theo đánh giá của các cơ quan liên hợp quốc tại hội nghị lần thứ VII nhóm các tài trợ cho Việt Nam ngày 14 và ngày 15 tháng 2 năm 1999 tại Hà Nội, thì Việt Nam giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong thập niên vừa qua là điều gần như chưa nước nào đạt được.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường ở nước ta đang có nguy cơ làm phân hoá giàu nghèo tăng lên Một bộ phận dân cư, chủ yếu là các vùng nông thôn, vùng dân tộc miền núi, vẫn trong tình trạng đói nghèo, hầu như bị tách khỏi tiến trình đổi mới và tăng trưởng kinh tế của đất nước
So sánh 7 vùng kinh tế sinh thái trong cả nước, tỷ lệ nghèo đói là rất cao ở vùng miền núi và trung du Bắc Bộ , tiếp đó là vùng Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ cả ba vùng này có tỷ lệ nghèo đói cao hơn mức trung bình của cả nước theo số liệu điều tra khảo sát của Tổng Cục Thống Kê năm 2001 tỷ lệ
nghèo đói của các vùng như sau:
Đồng bằng Sông Cửu Long 13,52
7.2 Nguyên nhân nghèo đói
(a) Nguyên nhân chủ quan:
Là do chính hộ nghèo không biết cách làm ăn ,không có hoặc thiếu vốn sản xuất,gia đình đông con ,ít người làm,do chi tiêu lãng phí bừa bãi,mắc tệ nạn
xã hội Theo kết quả điều tra xã hội học về nguyên nhân nghèo đói của các hộ gia đình cho thấy các hộ nghèo đói nông thôn chủ yếu là do thiếu vốn,đông con
(b) Nguyên nhân khách quan
Trang 27Do điều kiện tự nhiên môi trường gây ra, đó là thời tiết khí hậu khắc
nghiệt thường bị thiên tai, lũ lụt ,sâu bệnh, hạn hán, đất canh tác cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa bàn hẻo lánh, giao thông đi lại không thuận lợi, quan hệ thị trường chưa phát triển, cơ sở hạ tầng thiếu yếu, kém …
Do cơ chế chính sách: Chính sách đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa được quan tâm đúng mức, một số chính sách chưa hoàn thiện như chính sách phát triển sản xuất, tạo việc làm thuế tín dụng ưu đãi; áp dụng chính sách cứng nhắc thiếu sự quan tâm của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể
Ngoài nguyên nhân trên còn có các nguyên nhân khác như: Gặp tại nạn rủi
ro, mắc bệnh hiểm nghèo, ốm đau lâu ngày phải chữa chạy tốn kém, do chiến tranh, tuy nhiên các nguyên nhân này chiếm không cao ở các hộ nghèo
Trên thực tế các nguyên nhân không tồn tại một cách độc lập mà thường đan xen nhau, quan hệ nhân quả ,làm cho tình trạng nghèo đói càng thêm trầm trọng Do vậy, hiện tượng đói nghèo cần phải xem xét đánh giá theo một hệ thống nhằm có những giải pháp đúng đắn tích cực để xoá đói giảm nghèo
7.3 Chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” là mục tiêu của sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá ở nước ta
xoá đó giảm nghèo là một giải pháp đặc biệt quan trọng để hạn chế sự phân tầng
xã hội
Chủ trương xoá đó giảm nghèo lần đầu tiên được đề cập tại Nghị quyết
Đại hội VII của Đảng là: “ Cùng với quá trình đối mới tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công tác xoá đó giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới hạn cho phép”.
Ngày 23/07/1998 Thủ Tướng Chính Phủ đã chính thức ký quyết định coi xoá đói giảm nghèo là một trong 7 chương trình mục tiêu quốc gia đến năm
2000 Mục tiêu của chương trình này là: Giảm hộ đói nghèo từ 17,7% năm 1997
Trang 28xuống còn 10% năm 2000, đảm bảo hầu hết các xã nghèo có đủ trường học, trạm
y tế, chợ, điện, nước sạch
Để thực hiện mục tiêu năm 2005 xoá hết hộ nghèo đói trong cả nước, đầu
tháng 01/1999 , thủ Tướng chính phủ đã triệu tập hội nghị “ Triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa”.
Hội nghị khẳng định xoá đói giảm nghèo đã và đang là phần việc cấp
bách trong sự nghiệp phát triển đất nước, là chủ trương lớn, quyết sách lớn của đảng và nhà nước ta
Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, chính phủ nhấn mạnh về công cuộc xoá đói giảm nghèo là: Chính sách xoá đói giảm nghèo phải đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống các thủ tục làm giàu phi pháp, tăng tỷ trọng của tầng lớp trung lưu ở nông thôn và thành thị, trên cơ sở đó thu hẹp dần khoảng cách thu nhập giữa các vùng và các tầng lớp dân cư Chương trình xoá đói giảm nghèo phải kết hợp với chương trình giải quyết việc làm và các dự án phát triển kinh tế
Đối với những vùng hay bị thiên tai, mất mùa thì nhà nước đã có chương trình trợ giúp để xây dựng công trình thuỷ lợi vững chắc để đảm bảo tiêu nước nhanh chóng khi gặp lũ lụt Còn với vùng cao đi lại khó khăn thì đảng và nhà nước đã hỗ trợ để xây dựng dự án phát triển giao thông
Trang 29
Chương II
THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở MỘT SỐ XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1 Đặc điểm của các xã đặc biệt khó khăn ở Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của các 9 xã đặc biệt khó khăn nằm rải đều trên địa bàn huyện Sóc Sơn
Vùng đồi gò có 2 xã: Bắc Sơn, Minh Trí
Vùng đất giữa có 3 xã: Hiền Ninh, Quang Tiến, Tân Minh
Vùng ven sông có 4 xã: Bắc Phú, Xuân Giang, Đông Xuân, Tân Dân
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa mạo của 9 xã có 2 vùng đặc thù: Vùng đồi gò và vùng đất thấp Vùng đồi gò đất bạc màu, hàm lượng mùn ít Nơi có độ dốc cao thường trồng mầu Ven vùng đội gò là các khu ruộng tích tụ lầy thụt, độ chua cao cấy lúa 1 hoặc 2 vụ nhưng năng suất thấp vì úng ngập Vùng đất thấp tương đối bằng phẳng, có nước tưới nên có thể cấy lúa 1 hoặc 2 vụ Vùng này chủ yếu là loại phù xa không được bồi đắp hàng năm, có gley và không có gley, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nặng, thành phần dinh dưỡng cao
Nhìn chung toàn huyện Sóc Sơn có đặc điểm địa hình, địa mạo khá đa dạng, cao hơn các khu vực xung quanh và toàn thành phố, độ dốc lớn Việc sử dụng đất đai phải gắn với phát triển rừng, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện
1.1.3 Khí hậu thời tiết và thuỷ văn
Trang 30Khí hậu thời tiết
Huyện có đặc đIúm khí hậu lục địa vùng núi Hàng năm có 4 mùa Xuân,
Hạ, Thu, Đông Mùa Xuân và mùa Thu là 2 mùa chuyển tiếp khí hậu ôn hoà, mùa Hạ nóng và mùa Đông lạnh Theo chế độ mưa có thể chia khí hậu của huyện thành 2 mùa: Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9, hướng gió chính là gió Đông Nam Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, hướng gió chính là gió Đông Bắc Mùa này mưa ít, khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, khí hậu xuống thấp do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc đã tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của một số cây trồng vật nuôi
Có thể tóm tắt đặc trưng về khí hậu của huyện Sóc Sơn như sau:
Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,6 0 C, trung bình cao nhất là 32,90 C, thất nhất là 11,60C tổng tích ôn tương đối cao thuận lợi cho viêc phát triển nhiều loại cây trồng
Lượng mưa trung bình cả naem là 1546mm, là khu vực có lượng mưa trung bình trong vùng Số ngày mưa trung bình trong năm là 128,5, những ngày
có lượng mưa lớn nhất vào tháng 8 đạt 3306mm
Nắng: số giờ nắng trung bình cả năm là 1517, bình quân số giờ nắng trong ngày đạt 4,3h, tháng có số giờ cao nhất là tháng 7 điều kiện trên cho phép nhiều loạI cây trồng phát triển và trồng được nhiều vụ trong năm
Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 79%, các tháng có độ ẩm cao thường rơi vào mùa mưa là tháng 8, thấp là tháng 12 và tháng 1
Thuỷ văn: nươc sông hồ có ba sông chính là sông Cà lồ, sông công, sông cầu, ngoài ra còn có nhiều hồ ở các vùng đồi gò, trong đó có một số hồ lớn như
hồ Hàm lợn, hô Đồng đò ,đồng quan, cầu bãi Nhìn chung mật độ sông suối của huyện khá dày, đáp ứng tương đối đủ cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp một lượng nước đáng kể cho vùng đồi gò và tạo điều kiện cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Trang 311.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
1.2.1 Đất đai
Đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là đối tượng sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp Đất đai là một tài sản cố định, một thước đo của sự giàu có, giá trị đất đai trên 1ha thương phản ánh mức lợi tức đối với đất đai như một sự đảm bảo trong cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như một hàng rào chống lạm phát, sự chuyển nhượng của các thế hệ và là nguồn lực cho mục đích tiêu dùng Do đó, chất lượng đát đai xấu hay tốt, số lượng nhiều hay ít, đều ảnh hưởng đến giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp
Tổng diện tích tự nhiên của 9 xã là 9.186,9ha (chiếm 30% diện tích tự nhiên toàn huyện) Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 4.560ha (chiếm 49,6%
tổng diện tích tự nhiên của 9 xã), diện tích đất lâm nghiệp là 1.464,5ha (chiếm
15,9%), đất chuyên dùng 1.593,7ha (chiếm 17,3%), diện tích đất ở là 1.051,6ha (chiếm 11,4%) và đất chưa sử dụng còn 517,2ha (chiếm 5,6%)
Bảng 1: Hiện trạng sủ dụng đất của vùng
Phú
Tân Dân
Quang Tiến
Minh Trí
Đông Xuân
Tân Minh
Hiền Ninh
Xuân Giang
Trang 32IIIĐất chuyờn dung 1593,7 176,0 125,2 399,0 294,1 162,0 191,2 157,2 89,0
Trong cơ cấu diện tích đấy nông nghiệp của vùng d án đất cây trồng hàng năm chiếm tới 93,7% (chủ yếu là đất lúa ,màu).Các xã Đông Xuân, Tân Minh đất trồng cây chiếm hàng năm100% diện tích đất nông nghiệp Xã Quang Tiến có tỷ
lệ diện tích đất cây trồng hàng năm trong diện tích đất nông nghiệp thấp nhất(chiếm73,4%), xã còn có đến hơn 90 ha diện tích mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản
Trong cơ cấu diện tích chuyên dùng của vùng dự án , diện tích đất xây dựng chiếm 28,3%,đất giao thông chiếm 22,8%, đất thuỷ lợi chiếm 32% Các xã
có diện tích đất xây dựng chiếm tỷ lệ lơn là Quang Tiến (56,2%), Tân Dân
Trang 33(41,1%) Xã Xuân Giang, Bắc Phú diện tích đất xây dựng chỉ chiếm khoảng hơn 3% Song, Xuân Giang và Bắc Phú lại có diện tích đất giao thông chiếm tỷ lệ lớn trong đất chuyên dùng của xã (48,2%và38,5%) Một số xã có tỷ lệ diện tích đất thuỷ lợi rất thấp nh Tân Dân, Quang Tiến.
Diện tích đất cha sử dụng của các xã không còn nhiều, chỉ có xã Tân Dân còn 11ha đất bằng cha sử dụng Đất đồi núi cha sử dụng tập trung nhiều nhất ở xã Quang Tiến
1.2.2 Dân số và lao động
Bảng 2: Lao động theo ngành nghề của vùng
Vựng DA
Bắc Phỳ
Tõn Dõn
Quang Tiến
Minh Trớ
Đụng Xuõn
Bắc Sơn
Tõn Minh
Hiền Ninh
Xuõn Giang
Trang 34Tổng số lao động 1.180 156 68 7 47 261 50 385 115 102
Trình độ dân trí của vùng còn thấp, do điều kiện kinh tế xã hội, nhng mấy
năm gần đây nhân dân trong vùng đã nhận thức đợc tầm quan trọng của tri thức nên số học sinh, lao động phổ thông tăng lên, đặc biệt đội ngũ cán bộ xã đã cố gắng năng cao trình độ quản lý, nghiệp vụ chuyên môn bằng cách đi học các lớp bồi dỡng, học hàm thụ, tại chức
1.2.3 Kết cấu hạ tầng cơ sở
Để phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói riêng, cũng nh phát triển nền kinh tế của đất nớc nói chung, thì việc u tiên thúc đẩy để xây dựng kết cấu hạ tầng là không thể thiếu đợc Đặc biệt là cơ sở hạ tầng nông thôn hiện nay ảnh h-ởng trực tiếp đến công cuộc Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của đất nớc và ảnh hởng đến mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện Sóc Sơn
Cơ sở hạ tầng là một chỉ tiêu phản ánh bộ mặt của nông thôn, là nền tảng cho việc phát triển kinh tế xã hội nông thôn Từ quan điểm và đờng lối của Đảng, gắn với hiện trạng cơ sở hạ tầng, trong những năm qua lãnh đạo huyện Sóc Sơn cùng nhân dân địa phơng đã đầu t nâng cấp và sửa chã các công trình cơ sở hạ tầng một cách thích đáng Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng nông thôn của huyện vẫn nằm trong tình trạng chung của nông thôn miền núi
Hệ thống giao thông: Do chủ trơng đầu t phát triển giao thông trong nhiều
năm qua của huyện, đến nay Sóc Sơn nói chung, các xã đặc biệt khó khăn nói riêng có mạng lới giao thông tơng đối phát triển Phân theo cấp quản lý thì hệ thống giao thông các xã này:
Đờng Trung ơng, tỉnh quản lý: 8,5 km
Đờng liên huyện có: 31km, trong đó 17 km đờng nhựa còn lại là đờng cấp phối
Trang 35Đờng liên xã: Hiện nay ở các xã này có 82km đờng liên xã, trong đó đờng nhựa 11km đờng bê tông xây gạch 14km, đờng cấp phối 36km, còn lại 12km đ-ờng đất cần phải nâng cấp trong thời gian tới
Đờng liên thôn: Hiện nay ở các xã này có 197 km đờng liên thôn Trong đó chủ yếu vẫn là đờng đất (110km), trong đó thời gian qua các xã mới đầu t nâng cấp đợc 9,6km đờng bê tông và 77km đờng cấp phối
Về chất lợng đờng thì đờng giao thông nội đồng chủ yếu là đờng đất Hệ thống đờng giao thông đã đợc tập trung đầu t, song tốc độ phát triển còn chậm, chất lợng cầu, đờng còn hạn chế Đầu t sửa chữa còn mang tính chấp vá, nhất là
hệ thống giao thông trên đồng ruộng cha đợc đầu t gây khó khăn cho việc thu hoạch, chăm sóc và hạn chế khả năng sản xuất hàng hoá
Hệ thống thuỷ lợi: Đến năm 2001 9 xã này đã có 52 trạm bơm tới tiêu vối
tổng công xuất máy là 33.274 m3/h Trong đó có nhiều trạm bơm đợc xây dựng đã lâu
Tổng chiều dài kênh mơng của vùng này là 331km, trong đó có mới cứng hoá đợc 17,5km Kênh cấp III có chiều dài là 99,9 km (cứng hoá 17,1 km), kênh nội đồng dài 231,2km (cứng hoá 0,4 km)
Tổng diện tích đợc tới của toàn vùng là 2.339 ha (chiếm 59,4 % tổng diện tích canh tác) Tổng diện tích đợc tiêu là 2.129 ha (chiếm 49,5%)
Các công trình thuỷ lợi khác gồm: 26 hồ và 16 đập
Đầu t cho hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là đầu t, nâng cấp, cải tạo hệ thống thuỷ lợi đã đợc huyện Sóc Sơn hết sức quan tâm Trên cơ sở hệ thống thuỷ lợi đã đợc xây dựng trớc đây, huyện tiếp tục thực hiện cải tạo, nâng cấp và làm mới hồ đập, kiên cố hoá hệ thống kênh mơng bằng nguồn đầu t của Trung ơng, thành phố và của huyện
Hệ thống điện: Hiện nay vùng đợc cấp điện từ lới điện quốc gia qua 5
trạm trung gian: Sóc Sơn, Phù Lỗ, Đa Phúc, Vĩnh Phúc, Trung Giã Nguồn điện tại các trạm trung gian nhìn chung đủ khả năng cung cấp điện cho các phụ tải của
Trang 36vùng Toàn vùng có 46 trạm biến áp với tổng công suất 8730KVA, cung cấp điện sinh hoạt, sản xuất cho 20159 hộ dân và các trạm bơm.
Phần lớn các trạm biến áp đều do nhà nớc đầu t, tự xây dựng từ năm 1998
Đến nay, các trạm này vẫn đang đợc vận hành bình thờng song do sự phân bố cha hợp lý và bán kính cung cấp điện xa nên một số trạm đang ở trong tình trạng quá tải và xuỗng cấp, nhiều tủ hạ thế của một số trạm biến áp đã cũ, hỏng khồn còn khả năng sủ dụng, mặc dù nhiều xã đã đầu t cải tạo nhng đến nay vẫn cha hoàn chỉnh
Toàn bộ mạng lới đờng dây trung thế của vùng đợc nhà nớc đầu t xây dựng
từ năm 1998, với tổng chiều dài khoảng 12,7km Hiện nay, đợc điện lực quản lý nên nhìn chung đờng dây, xà, cột vẫn còn tốt
Mạng lới hạ thế vùng đợc xây dựng theo sơ đồ hình tia và rẽ nhánh Đờng trục chính và đờng ra các trạm bơm toàn vùng hiện có 136,3km, phần lớn trong
số này đợc nhà nớc đầu t, xây dựng từ năm 1998 đến nay vẫn sử dụng đợc
Nhìn chung, việc cung cấp điện cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu kinh phí xây dựng Mặt khác do việc xuống cấp của mạng lới cung cấp điện nên đã hạn chế việc sử dụng điện của nhân dân
Văn hoá, giáo dục: Trong những năm qua hệ thống trờng học các cấp của huyện Sốc Sơn nói chung và vùng nói riêng đã đợc đầ t xây dựng mới và cải tạo nâng cấp với phòng học tạm, xoá lớp học 3 ca và xây dựng phòng học cao tầng Đến năm 2001, toàn vùng có 6 trờng THCS đợc xây dựng cao tầng với tổng
số 133 phòng học Khối THCS còn khoảng 27 phòng học cấp 4 Những xã cha có trờng THCS cao tầng cũng đã có kế hoạch đầu t xây dựng trong thời gian tới Trên địa bàn không có trờng THPT
Trờng tiểu học có 8 trờng đợc xây dựng cao tầng với tổng số 128 phòng học, hiện nay trong khối tiểu học vẫn còn 50 phòng học cấp 4
Việc xây dựng trờng mẫu giáo mần non còn nhiề khó khăn, đến nay hầu hết các trờng đều học tạm, cơ sở vật chất cho dạy và học còn nghèo nàn và cha
Trang 37đồng bộ, mà nhu cầu của ngời dân lại rất cao Bình quân mỗi xã cần có 3-4 điểm trờng mần non Đây cũng là vấn đề đợc huyện đặc biệt quan tâm.
Y tế: Đến năm 2002 mỗi xã trong vùng đã đợc xây dựng một trạm y tế, với
tổng diện tích xây dựng là 1262m2 Trong đó diện tích nhà kiên cố là 550m2, nhà bán kiên cố 652m2 và còn 60m2 nhà tạm
Trang thiết bị của các trạm y tế cấp xã trong mấy năm trở lại đây đã đợc thành phố và huyện chú trọng đầu t, ngoài ra nhiều xã còn chủ động đầu t thêm
để xây dựng vờn thuốc nam, tờng rào thành phố cũng rất quan tâm đầu t… đào tạo bồi dỡng cho đội ngũ cán bộ y tế xã nên chất lợng phục vụ đợc nâng lên rõ rệt
1.3 Tình hình phát triển kinh tế của 9 xã đặc biệt khó khăn
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Sóc Sơn đợc xác định là: Công dịch vụ-nông lâm thuỷ sản, trong đó công nghiệp chiếm 60-62% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn, các ngành dịch vụ chiếm 28-29%, nông lâm ng nghiệp chiếm khoảng 8-9%
Giá trị sản xuất trên địa bàn huyện tăng 13-14%/năm (năm 2002) Giá trị sản xuất bình quân đầu ngời trên địa bàn huyện tăng gấp 3 lần so với năm 2000 (năm 2000 đạt trên 3,27 triệu đồng/ngời/năm)
Một thế mạnh của huyện là một huyện ngoại thành của thủ đô nên đ ợc rất nhiều nguồn đầu t Vì vậy mục tiêu đề ra trong giai đoạn mới là khai thác mọi nguồn đầu t và lợi thế của huyện, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ từ bên ngoài, u tiên
đầu t cho phát triển kinh tế hộ gia đình, kết hợp chặt chẽ giữa tăng trởng kinh tế với phát triển xã hội
1.4 Đánh giá thuận lợi khó khăn
1.4.1 Thuận lợi:
Huyện Sóc Sơn có vị trí tơng đối thuận lợi, cùng với các mối quan hệ nội thành huyện còn có đIũu kiện giao lu trực tiếp với các tỉnh lân cận là Vĩnh Phúc, Thái Nguyên
Trang 38Tiềm năng đất đai còn lớn, ngoài việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thâm canh tăng vụ, huyện còn có quỹ đất cha sử dụng tơng đối lớn Nếu biết đầu t khai thác sử dụng có hiệu quả thì đây là một lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế xã hội của huyện.
Có điều kiện khí hậu tơng đối thuận lợi và đa dạng, cần kết hợp tốt với điều kiện đất đai của từng vùng để mở rộng sản xuất nông lâm nghiệp theo hớng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi: Phát triển ngành nông nghiệp sinh thái và chuyển
đổi cơ cấu kinh tế theo hớng sản xuất hàng hoá với những sản phẩm có chất lợng cao cho tiêu dùng và xuất khẩu
Lực lợng lao động dồi dào lại có truyền thống cần cù lao động chắc chắn rằng sẽ phát huy đợc tiềm năng đất đai
Nền kinh tế của huyện đã và đang chuyển dịch đúng hớng tốc độ tăng ởng khá, đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm có chính sách u tiên với những xã đặc biệt khó khăn
Vùng nằm trên địa bàn huyện Sóc Sơn là địa bàn đợc thành phố quan tâm
đầu t Đây cũng là những xã còn nhiều hộ nghèo của huyện nên cũng đợc huyện tạo nhiều thuận lợi trong quá trình phát triển
Vấn đề xoá đói giảm nghèo hiện nay đang đợc nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, do vậy việc đầu t cho xoá đói giảm nghèo có nhiều khả năng thực hiện hơn
1.4.2 Khó khăn
Kinh tế phát triển chậm, cha vững chắc, nhịp độ tăng trởng và điểm xuất phát thấp Cơ cấu kinh tế nặng về nông lâm nghiệp, nên mặc dù tốc độ tăng trởng của các ngành khá cao nhng cơ cấu kinh tế huyện vẫn chậm chuyển đổi Sản xuất tiểu thủ công, công cụ vân còn thô sơ, lạc hậu, sản phẩm hàng hoá chất lợng thấp, năng lực quản lý, khả năng đầu t phát triển sản xuất còn hạn chế
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá diễn
ra còn chậm, năng xuất, chất lợng còn thấp
Trang 39Xây dựng, nâng cấp, cải tạo kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất dân sinh các xã cần vốn đầu t lớn nhất là đầu t cho thuỷ lợi, giao thông.
Trong vùng có hộ làm ăn giỏi song cha đợc phổ biến, nhân rộng để tham quan và học tập kinh nghiệm
Trình độ dân trí thấp, chủ yếu là sản xuất tự cung tự cấp nên ảnh hởng đến việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống
Công tác quản lý nhà nớc của các cấp chính quyền ở một số lĩnh vực còn yếu kém, việc kiểm tra, đôn đốc, giám sát chỉ đạo thực hiện không sâu sắc, thiếu
cụ thể, ảnh hởng đến việc tổ chức thực hiện các chủ trơng, chính sách, của Đảng
Kinh tế của nhân dân huyện Sóc Sơn chủ yếu dựa vào lâm, nông nghiệp,
đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ nghèo đói cao Do vậy đòi hỏi sự quan tâm đầu t hơn nữa của Đảng, nhà nớc, thành phố Hà Nội, trong việc phát triển kinh tế, nâng cao mức sống góp phần xoá đói giảm nghèo của huyện này Theo tiêu chuẩn mới về phân loại hộ nghèo của UBND thành phố Hà Nội: Hộ nghèo nội thành là những hộ có mức thu nhập bình quân dới mức 170.000đ/ng-ời/tháng, hộ nghèo ngoại thành là hộ có mức thu nhập bình quân dới 130.000đ /ngời/tháng
Hộ giầu và hộ khá là hộ mức thu nhập bình quân đầu ngời trên ời/tháng
Trang 40500.000đ/ng-Hộ trung bình là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngời từ 500.000đ/ngời/tháng.
130.000đ-Hộ đói là có mức thu nhập bình quân dới 130.000đ/ngời/tháng
2.1.2 Thực trạng nghèo đói của 9 xã đặc biệt khó khăn.
Theo kết quả điều tra năm 2002, toàn huyện Sóc Sơn còn 7.854 hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới của UBND thành phố Hà Nội), tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn huyện là 14,8%
Đến nay trong số 26 xã, thị trấn của huyện Sóc Sơn có 9 xã còn nhiều hộ nghèo: Bắc Phú, Tân Dân, Quang Tiến, Minh Trí, Đông Xuân, Bắc Sơn, Tân Minh, Hiền Ninh, Xuân Giang, với tổng số hộ nghèo là 3.853 hộ; 17 xã còn lại
có tổng số hộ nghèo là 4001 hộ
Tỷ lệ hộ nghèo bình quân của 9 xã là 20%, các xã còn lại tỷ lệ hộ nghèo bình quân là 11,9% So với thời điểm tháng 05/2001, tổng số hộ nghèo toàn huyện giảm 2.208 hộ, tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm từ 19% xuống còn 14,8%
Bảng 3: Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã thuộc huyện Sóc Sơn
Hộ Tỷ lệ %
Hộ nghèoCuối năm
2001
Hộ nghèoCuối năm 2002