Chúng tôi chọn nghiên cứu trong giai đoạn 2001-2010 để thấy được sự thay đổi về chính sách nhập cư của Canada qua các giai đoạn khác nhau và đánh giá tác động của những chính sách nhập c
Trang 11
Mục lục
Mục lục 1
LỜI MỞ ĐẦU .3
1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích nghiên cứu 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 8
4.2 Phương pháp sử học 9
4.3 Phương pháp so sánh 9
4.4 Phương pháp phân tích nội dung, bảng biểu 10
5 Sản phẩm khoa học dự kiến của đề tài 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NHẬP CƯ Ở CANADA 13
1.1 Khái niệm xuất – nhập cư 13
1.2 Tình hình nhập cư vào Canada từ 2001-2010 14
1.3 Nguyên nhân của tình trạng nhập cư vào Canada 22
1.3.1 Chính sách nhập cư 22
1.3.2 Điều kiện tự nhiên 22
1.3.3 Điều kiện kinh tế 23
1.3.4 Điều kiện văn hóa – giáo dục 23
1.3.5 Điều kiện xã hội 24
1.4 Chính sách của Canada về nhập cư 25
Trang 22
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CÚA NHẬP CƯ ĐỐI VỚI CANADA 32
2.1 Tác động tích cực 32
2.1.1 Tác động của nhập cư tới lực lượng lao động 32
2.1.2 Nhập cư góp phần tăng thuế đóng góp hàng năm 36
2.1.3 Nhập cư giúp thu hút thêm đầu tư 37
2.1.5 Nhập cư thu hút chất xám 42
2.2 Tác động tiêu cực 43
2.2.1 Nhập cư tác động đến dân số và lực lượng lao động 44
2.2.3 Nhập cư làm tăng các tệ nạn xã hội 48
2.2.4 Nhập cư gây ra tình trạng xung đột văn hóa 49
2.2.6 Nhập cư và nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ NHẬP CƯ CỦA CHÍNH PHỦ CANADA 55
3.1 Đưa ra các chương trình thu hút lao động có trình độ 55
3.2 Hỗ trợ người nhập cư định cư tại Canada 62
3.3 Ngăn chặn nhập cư bất hợp pháp và các biện pháp buôn người qua biên giới 64
KẾT LUẬN 67
Tài liệu tham khảo 69
Tiếng Việt 69
Tiếng Anh 70
Trang 33
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu
1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, Thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mang tính toàn cầu Trong
đó, nhập cư là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu và có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của mỗi quốc gia Mỗi năm có hàng triệu người dân nhập cư vào các quốc gia phát triển hơn, mong có được một cuộc sống tốt đẹp hơn
Trên thực tế, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, "cung" và "cầu" trong vấn đề nhập cư vẫn chưa tìm được tiếng nói chung Nhu cầu tuyển dụng lao động nhập cư để bảo đảm phát triển kinh tế có mâu thuẫn việc văn hóa ngoại lai ảnh hưởng nền nếp, bản sắc văn hóa của nước sở tại? Làm thế nào để bảo đảm quyền hợp pháp của người nhập cư hợp pháp cũng như giải quyết ổn thỏa vấn đề nhập cư bất hợp pháp luôn là bài toán hóc búa đối với bất cứ chính phủ nào
Canada - đất nước thuộc khu vực Bắc Mỹ - được coi là “miền đất hứa” đối với những người dân muốn nhập cư Canada là một quốc gia phát triển đồng thời là một trong những nền kinh tế lớn trên thế giới với các ngành công nghiệp chính gồm: khai mỏ, chế biến gỗ, giấy, thực phẩm, thiết bị vận tải, hoá chất, dầu khí, điện năng, công nghệ viễn thông, sinh học và dược phẩm điều này càng thu hút nguồn lao động từ bên ngoài đến với Canada Từ thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, số người nhập cư không ngừng tăng ở đất nước này Tuy nhiên, so với quốc gia láng giềng là Mỹ thì vấn đề nhập cư ở Canada vẫn còn khá ít người quan tâm và đi sâu vào nghiên cứu
Bước sang thế kỷ XXI, với vụ khủng bố 11/9/2001 ở Mỹ, Canada không thể tránh khỏi những quan ngại về vấn đề này Đồng thời, tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu cũng
có những tác động nhất định đến quốc gia này Vì vậy, năm 2002, Luật nhập cư và bảo vệ dân “tị nạn” được ban hành với nhiều điểm mới về nhập cư Sau đó, bộ luật tiếp tục được
Trang 44
sửa đổi để phù hợp với tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của Canada cũng như của Thế giới Chúng tôi chọn nghiên cứu trong giai đoạn 2001-2010 để thấy được sự thay đổi về chính sách nhập cư của Canada qua các giai đoạn khác nhau và đánh giá tác động của những chính sách nhập cư mà chính phủ nước này đưa ra cũng như tình hình nhập cư vào Canada trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI
1.2 Mục đích nghiên cứu
Từ những khảo sát đánh giá một cách khoa học, chính xác về những cải cách trong chính sách nhập cư cũng như tình hình nhập cư trong giai đoạn 2001- 2010 của Canada, bài nghiên cứu sẽ giúp người đọc trả lời những thắc mắc:
- Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nhập cư vào Canada?
- Tình hình nhập cư ở Canada có gì khác so với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là Mỹ?
- Chính sách nhập cư của Canada đã thay đổi như thế nào qua các năm?
- Tác động của việc nhập cư đến các mặt của đời sống của Canada như thế nào?
- Giải pháp gì cho việc cân bằng nhu cầu nhập cư?
Thông qua bài nghiên cứu, người đọc sẽ nhận thức được rõ hơn về vấn đề nhập cư Bên cạnh đó, chúng tôi có thể giúp người đọc có cái nhìn khái quát về tình hình nhập cư cũng như những tác động của nó theo cả nghĩa tích cực và tiêu cực đến đất nước Canada
Từ đây, có thể tìm ra những giải pháp mà chính phủ Canada sử dụng để cân bằng nhu cầu nhập cư, đáp ứng được yêu cầu của đất nước
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề nhập cư của Châu Mỹ nói chung và của Canada nói riêng đã thu hút được đông đảo các học giả trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu Đề tài này cũng không còn là mới mẻ nhưng chính vì sự hấp dẫn và tầm quan trọng của nó, cho nên đến nay đã có khá nhiều dự án, tài liệu và công trình nghiên cứu của cả Việt Nam và
Trang 55
nước ngoài đề cập đến dưới nhiều góc độ, quan điểm khác nhau Tuy nhiên qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu đã được công bố, có thể thấy những nghiên cứu này hầu như chưa tập trung nhiều vào vấn đề nhập cư của Canada và tác động của nó giai đoạn 2001-2010 mà chỉ mới dừng lại phân tích sâu ở những giai đoạn trước đó và cũng chưa
đề cập nhiều đến tác động và ảnh hưởng của việc nhập cư
Ở nước ngoài, trong một đạo luật sửa đổi “An Act to amend the Immigration and Refugee Protection Act, the Balanced Refugee Reform Act, the Marine Transportation Security Act and the Department of Citizenship and Immigration Act”1
được Hạ viện Canada thông qua vào ngày 11/1/2012 đã đề cập tới những chính sách mới để bảo vệ những người nhập cư Theo đó, đạo luật này sẽ dựa trên ba đạo luật cũ để sửa đổi và bổ sung thêm một số điều: đạo luật Nhập cư và bảo vệ người tị nạn, đạo luật An ninh giao thông vận tải, luật Quốc tịch và nhập cư Bằng cách đưa ra những đạo luật sửa đổi một cách chi tiết và rõ ràng, đạo luật đã cung cấp đầy đủ thông tin về các chính sách đối với người nhập cư để giúp những người dân nhập cư đã, đang và có dự định đến sinh sống và làm việc tại Canada có thể hình dung rõ nét nhất về việc nhập cư đến đất nước này Một trong số những điểm sáng giúp cho nhóm có thể tìm hiểu và phát triển vấn đề nghiên cứu của mình có thể kể đến tính mới mẻ và cập nhật (tài liệu mới được ban hành vào đầu quý
I năm 2012) và một hệ thống chi tiết đầy đủ thông tin về các điều khoản cũng như chính sách đối với việc nhập cư tới Canada Tuy nhiên, đây mới chỉ là tài liệu sơ cấp cung cấp một cách cơ bản nhất các điều luật, chứ không phải bài phân tích các chính sách cũng như vấn đề nhập cư ở Canada Sự thiếu hụt ấy và việc đi sâu phân tích cũng là một hướng
đi mới cho nhóm có thể hoàn thiện tốt nhất đề tài nghiên cứu của mình
1“An Act to amend the Immigration and Refugee Protection Act, the Balanced Refugee Reform Act, the Marine Transportation Security Act and the Department of Citizenship and Immigration Act”, Parliament of
Canada<http://www.parl.gc.ca/About/Parliament/LegislativeSummaries/bills_ls.asp?ls=c31&Parl=41&Ses=1&source=library_prb&Language=E >;[5/11/2012]
Trang 66
Công trình nghiên cứu “US and Canadian Immigration Policies”2 (11/2002) của luật sư Peter Rekai, viện nghiên cứu C.D Howe, có thể coi là một ví dụ tiêu biểu trong nghiên cứu vấn đề nhập cư: Chính sách nhập cư của Mỹ và Canada Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu khá chi tiết và tỉ mỉ với phần mở đầu, chính sách nhập cư của
Mỹ và Canada, tình hình nhập cư và thực thi chính sách của hai nước, phần kết luận Các đặc trưng đáng chú ý trong bài nghiên cứu này nằm ở những phân tích sâu sắc về tình hình nhập cư với những số liệu cụ thể, sự thay đổi chính sách trong vấn đề nhập cư giữa hai nước và các mặt tích cực- hạn chế trong chính sách của hai nước Đây cũng là nguồn thông tin tương đối thuyết phục và có nhiều đóng góp nhất cho việc tìm hiểu và phát triển vấn đề nghiên cứu của nhóm Mặc dù vậy, bài nghiên cứu cũng chưa thực sự đề cập nhiều đến nguyên nhân của tình trạng nhập cư cũng như những tác động- ảnh hưởng của
nó đến kinh tế- chính trị- xã hội Canada Hơn nữa, bởi sự biến động của tình hình nhập
cư và sự thay đổi trong chính sách của chính phủ,bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở giai đoạn trước năm 2002, cho nên chưa cập nhật được tình hình nhập cư của nước này trong những năm tiếp theo (2008-2010) Những vấn đề còn thiếu sót này sẽ là một trong những khía cạnh mới được bổ sung trong đề tài nghiên cứu của nhóm
Ở Việt Nam không có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn đề nhập cư của Canada, nhưng trong đó có thể kể đến bài nghiên cứu của tác giả Phạm Thị
Mỹ Trang với tiêu đề “Vấn đề nhập cư của Mỹ và Canada” được đăng trên Tạp chí nghiên cứu Châu Mỹ ngày nay (số 06-2011) Bài nghiên cứu được mở đầu bằng việc đưa
ra tình hình nhập cư ở Mỹ và Canada trong khoảng thời gian từ thập niên 70 của thế kỷ
XX đến năm 2008 Tác giả đã chú ý đưa ra những ví dụ tiêu biểu trong các lần thống kê dân số định kỳ của hai nước, đồng thời khái quát về tình hình nhập cư bất hợp pháp của hai nước cũng như sự thay đổi chính sách trong các mốc thời gian quan trọng Ở phần tiếp theo về những khác biệt giữa Mỹ và Canada đối với người nhập cư, cùng với việc đưa ra các tiêu chí so sánh, tác giả còn phân tích cụ thể những quan điểm và con số nhập
2
Rekai, P (2012), US and Canadian Immigration Policies, C.D Howe Institue, Toronto
(www.cdhowe.org/pdf/temp/rekai.pdf )
Trang 77
cư của cả hai nước Không dừng lại ở đó, hai phần tiếp theo tác giả đã dẫn độc giả đến với những chính sách nhập cư của Mỹ và Canada bằng việc phân tích cụ thể và chi tiết từng chính sách theo chiều dài thời gian với mục đích và kết quả thực tế của chính sách Những phân tích sâu sắc, đánh giá đầy đủ cộng với sự am hiểu của tác giả sẽ là nguồn thông tin đáng giá giúp bổ sung tư liệu học hỏi và vận dụng cho đề tài nghiên cứu của nhóm Ngoài ra, đúng như tiêu đề của bài nghiên cứu về vấn đề nhập cư của cả Mỹ và Canada, cho nên bài nghiên cứu không phải chỉ tập trung nghiên cứu riêng về Canada, việc không đưa ra những tác động của sự nhập cư cũng như các giải pháp của chính phủ cũng là điều không thể tránh khỏi Đó cũng chính là cơ hội để nhóm bổ sung và xây dựng
đề tài của mình
Bên cạnh đó, còn có nhiều tài liệu có giá trị cao như: nghiên cứu “Immigration policy, source countries and immigrant skills: Australia, Canada and the United States” (06/1987) của giáo sư Bary R Chiswick - trung tâm nghiên cứu kinh tế trường đại học Chicago; tài liệu “Canada facts and figures- immigration overview permanent and temporary residents” ( 2010) của chi nhánh nghiên cứu và đánh giá Quốc tịch và Nhập cư Canada,… cùng nhiều bài phân tích nghiên cứu khác về vấn đề nhập cư ở Canada trên các website như : nhapcucanada.com, immigration.vn, migrationexpert.ca, cic.gc.ca, canadavisa.com,…
Những công trình nghiên cứu cũng như các tài liệu đã trình bày trên đây là những
cơ sở lý thuyết quan trọng, phục vụ đắc lực cho đề tài nghiên cứu của nhóm Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề trên những khía cạnh cụ thể
về “vấn đề nhập cư của Canada và tác động của nó giai đoạn 2001-2010” Vì thế, trên tinh thần tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các học giả đi trước, nhóm chúng tôi mạnh dạn xây dựng vấn đề này để nghiên cứu, chúng tôi hi vọng sẽ có những tìm tòi và đóng góp mới cho khoa học
Trang 88
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề nhập cư ở Canada Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các đối tượng sau:
- Bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội tác động đến tình hình nhập cư ở Canada và ngược lại
- Thực trạng nhập cư (cả hợp pháp và bất hợp pháp) và đời sống của những người dân nhập cư đó, các chính sách của chính phủ và kết quả đạt được
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài nghiên cứu chủ yếu trên các phạm vi sau:
- Phạm vi thời gian: tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2001 đến
2010
- Phạm vi không gian: Canada
- Phạm vi lĩnh vực: tập trung nghiên cứu ở lĩnh vực pháp luật (các điều luật về nhập cư, các chính sách về nhập cư hợp pháp và bất hợp pháp,…) Ngoài ra còn đề cập đến các tác động của việc nhập cư đến các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Lý do cho sự lựa chọn này là do nghiên cứu trường hợp cho phép người nghiên cứu hiểu được một cách sâu sắc nhất về cách thức hoạt động và chức năng của đối tượng mình nghiên cứu
Trước hết nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra các câu hỏi, giả thuyết nhằm xác định chính xác đơn vị phân tích và đưa ra trường hợp nghiên cứu Theo đó, trường hợp nghiên cứu ở đây là một thực thể - quốc gia Canada và số lượng trường hợp là 1 Như vậy, theo phân loại phương pháp nghiên cứu, đây là nghiên cứu một trường hợp Hơn nữa trường hợp được lựa chọn để nghiên cứu là trường hợp đặc trưng nhằm giúp nhóm có thể kiểm nghiệm, và mở rộng những nghiên cứu đã có trước đó về nguyên nhân, tình hình nhập cư
Trang 99
cũng như luật nhập cư của Canada Thêm vào đó, nhóm cũng lựa chọn phương pháp nghiên cứu trường hợp theo chiều dọc để tìm ra những điểm khác biêt, những sự thay đổi của tình hình nhập cư vào Canada cũng như luật pháp về nhập cư của nước này trong các giai đoạn trước đến mười năm đầu thế kỷ XXI Tiếp theo sau khi thu thập các tài liệu, nhóm sẽ tổng hợp, phân tích, so sánh để tìm ra những những thay đổi và rút ra đánh giá, nhận xét về luật pháp cũng như các chính sách giải quyết vấn đề nhập cư của quốc gia này
4.2 Phương pháp sử học
Trong phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp sử học giúp mở rộng và làm vững chắc kiến thức nền của người nghiên cứu, tìm ra những ẩn số trong nghiên cứu; đồng thời giúp tìm được ra các mối liên hệ của các sự kiện trong quá khứ và mối liên hệ với các sự kiện hiện tại
Thời gian dự kiến được chia thành hai giai đoạn: trước những năm 2001 và từ năm
2001 - 2010, nhưng sẽ tập trung nhiều hơn vào giai đoạn thứ hai Sau khi đã xác định được giai đoạn, nhóm tiến hành thu thập tài liệu Nguồn tài liệu chủ yếu là tài liệu sơ cấp (luật nhập cư, các sắc lệnh, nghị quyết của chính phủ Canada về nhập cư…) và tài liệu thứ cấp, là sách nghiên cứu, các bài báo, bài viết trên tạp chí hay Internet về tình hình và chính sách an sinh xã hội của Canada trong các giai đoạn trên; những số liệu, bảng biểu, biểu đồ về tiền lương, tiền trợ cấp… qua các năm Tiếp đó, các dữ liệu sẽ được đặt trong bối cảnh chính trị xã hội cụ thể mà tập trung chủ yếu vào giai đoạn thứ hai (2000 -2010)
để phân tích, thống kê, so sánh, đánh giá, nhằm làm sáng tỏ những thay đổi, khác biệt, trong chính sách nhập cư của Canada cũng như những tác động của việc nhập cư tới kinh
tế, chính trị, xã hội của các quốc gia này
4.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh giúp kiểm chứng sự giống và khác nhau trên một số lượng trường hợp nhất định
Trang 1010
Trong bài nghiên cứu, nhóm dự định so sánh những thay đổi trong tình hình và chính sách về nhập cư của Canada trước và sau năm 2002 khi luật mới được ban hành Các tiêu chí so sánh dự kiến sẽ là:
- Số lượng người nhập cư vào Canada qua các năm
- Mục đích của những người nhập cư vào Canada
- Những thành phố tập trung đông dân nhập cư, số lượng người nhập cư ở các thành phố này
- Những nét thay đổi chính trong chính sách nhập cư mới (2002) của Canada Với những tiêu chí đặt ra, việc thu thập tài liệu sẽ hướng đến những tài liệu sơ cấp như các bộ luật của Canada về nhập cư cùng các tài liệu thứ cấp như tạp chí chuyên ngành, những bài viết trích dẫn nguyên văn chính sách nhập cư của Canada, những số liệu, bảng biểu về
số lượng người nhập cư qua các năm Những điểm khác biệt và tương đồng sẽ được tìm
ra thông qua việc phân tích những tài liệu trên như những điểm mới trong chính sách mới
là gì, các điều kiện cho người nhập cư và Canada liệu có được ưu tiên hơn so với các giai đoạn trước hay không…
Không chỉ so sánh tình hình nhập cư và chính sách nhập cư của Canada trong các giai đoạn khác nhau, nhóm dự kiến sẽ so sánh các vấn đề trên của Canada với các quốc gia khác mà điển hình là Mỹ để tìm ra những điểm khác biệt giữa tình hình và chính sách nhập cư của hai nước này
4.4 Phương pháp phân tích nội dung, bảng biểu
Phương pháp phân tích nội dung góp phần nghiên cứu mối quan hệ giữa những thay đổi về kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa, tìm ra những đặc điểm của văn hóa, thể chế, xã hội
Trong bài nghiên cứu, nhóm dự định sử dụng phương pháp phân tích nội dung để phân tích khái niệm “nhập cư”, “nhập cư hợp pháp” và “nhập cư bất hợp pháp”, đồng thời phân tích những tác động của việc nhập cư tới đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của
Trang 11Sau khi thu thập và phân tích nội dung tài liệu, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành xác định độ tin cậy của các thông tin đó qua việc kiểm chứng độ chính xác của tài liệu, tham khảo, so sánh với các tài liệu khác và cuối cùng là đưa ra kết quả nghiên cứu
Về phần bảng biểu, nhóm dự định sẽ phân tích các bảng biểu hay bảng số liệu về
số lượng người dân nhập cư vào Canada, mục đích của họ, phân loại dân nhập cư ở Canada qua các năm để rút ra kết luận về những thay đổi trong tình hình nhập cư ở nước này Bên cạnh đó những bảng biểu về tình hình nhập cư ở Mỹ cũng được sử dụng nhằm
so sánh với Canada Cùng với đó, các bảng biểu về các số liệu kinh tế như GPD, tỷ lệ thất nghiệp hay các thành phần kinh tế có người nhập cư hoạt động trong đó, cùng những số liệu về các vấn đề xã hội như tháp tuổi hay tỷ lệ người trong và ngoài độ tuổi lao đông… được phân tích để thấy được những tác động của nhập cư tới đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội của Canada
5 Sản phẩm khoa học dự kiến của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài dự kiến sẽ bao gồm ba chương sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nhập cư ở Canada
Chương 1 sẽ trình bày khái quát về tình hình nhập cư ở Canada trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2010 với các nội dung chính như:
- Khái niệm nhập cư, nhập cư hợp pháp và nhập cư bất hợp pháp
- Nguyên nhân của tình trạng nhập cư
Trang 1212
- Tình hình nhập cư của Canada
- Chính sách của chính phủ Canada đối với vấn đề nhập cư
Chương 2: Tác động - ảnh hưởng của vấn đề nhập cư đến Canada
Trong phần này, nhóm đưa ra những tác động tiêu biểu nhất của nhập cư đến Canada trong thời gian 2001 – 2010 từ hai hướng là các ảnh hưởng tích cực và các ảnh hưởng tiêu cực Qua việc phân tích, đánh giá tình hình thực tế, các số liệu thống kê để từ
đó chỉ ra và làm rõ mức độ tác động, những lợi ích và điểm bất lợi mà nhập cư đã mang lại cho quốc gia này
Chương 3: Giải pháp của chính phủ Canada
Từ những thực tế nêu trên, trong phần này, nhóm sẽ tập trung nêu ra và phân tích những chính sách chính phủ Canada áp dụng để giải quyết vấn đề nhập cư từ năm 2001 đến năm 2010 Cụ thể là Luật Hành động Bảo vệ người nhập cư và người tị nạn năm
2002, việc sửa đổi một số điều luật năm 2008 và những chính sách mới vào năm 2010
Trang 1313
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NHẬP CƯ Ở CANADA
1.1 Khái niệm xuất – nhập cư
Xuất- nhập cư là hiện tượng mang tính lịch sử và thời đại, nó được xuất phát từ những nguyên nhân chung của tình hình hình kinh tế- chính trị- xã hội hoặc các chính sách phát triển của mỗi nước hay xuất phát từ chính mục đích cá nhân con người Đã có khá nhiều quan niệm khác nhau về nhập cư theo cách hiểu thông thường, theo từ điển hay các văn bản pháp quy
Theo cách hiểu thông thường, nhập cư là việc một người có quốc tịch ở quốc gia này, đến cư trú tạm thời hoặc lâu dài ở một quốc gia khác Trong từ điển Oxford, nhập cư
có nghĩa là hành động đến sinh sống lâu dài ở nước ngoài Tương tự như vậy, “Luật di cư quốc tế số 27: Giải thích về di cư”- của Tổ chức di cư quốc tế (IMO), nhập cư là quá trình một người không phải công dân của một quốc gia chuyển tới đó với mục đích định cư lại
Cùng quan niệm đó nhưng có ngoại diên rộng hơn, Luật sư Edgardo Martinez, tiểu bang Iniana, Hoa Kỳ cho rằng nhập cư là thuật ngữ dùng để diễn tả hành động và quá trình một công dân của một nước xác định đến nước khác sau khi làm các thủ tục xin cư trú ở nước đó Nhập cư chỉ đơn thuần là việc phân phối lại công dân từ nước này sang nước khác3
Trong tác phẩm “100 years of immigration in Canada” xuất bản năm 2000 của hai tác giả Monica Boyd (Giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu Dân số và nhân khẩu học, Đại học Florida, Canada) và Michael Vickers (Chuyên viên nghiên cứu xu hướng xã hội Canada), nhập cư được định nghĩa là sự di chuyển vào các quốc gia khác nhằm mục đích định cư hợp pháp
Ở Canada, tài liệu “Backgrounder- 2013 Immigration Levels Planning: Public and Stakeholder Consultations” của CIC, “khi nói về nhập cư, chúng tôi đề cập đến những
3Edgardo Martinez, “What is immigration”
<http://www.martinezlawindy.com/pages/73/296/default.aspx>; [15/12/2012]
Trang 141.2 Tình hình nhập cư vào Canada từ 2001-2010
Ngày nay, xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân, quyền tự do cá nhân luôn gắn liền với quyền tự do đi lại, tự do tìm kiếm và lựa chọn nơi mình sinh sống tùy thuộc vào khả năng của mỗi người Cùng với các nước phát triển như Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Đức, Pháp,… Canada không nằm ngoài danh sách những nước tiếp nhận số lượng người nhập
cư lớn nhất thế giới Mỗi năm Canada chào đón khoảng 250.000 người nhập cư thường trú, hơn 200.000 công nhân làm việc tạm thời và sinh viên quốc tế mỗi năm.4
4
“Báo cáo thường niên trình Quốc hội Canada về vấn đề Nhập cư”, Citizenship and Immigration Canada <http://www.cic.gc.ca/english/pdf/pub/annual-report-2011.pdf>; [15/12/2012]
Trang 1515
Bảng 1.2.1: 10 nước có tổng số người nhập cư cao nhất thế giới
( năm 1990 2005 và ước tính cho năm 2010)
Tỉ lệ (%) trong tổng
số dân
Nước/ vùng lãnh thổ
Tổng
số (triệu)
Tỉ lệ (%) trong tổng
số dân
Nước/ vùng lãnh thổ
Tổng
số (triệu)
9 Canada 4.3 2.8 Vương quốc Anh 5.4 2.8 Ấn Độ 5.4
10 Australia 4.0 2.6 Tây Ban Nha 4.8 2.5 Ukraina 5.3
Nguồn: Báo cáo của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc (9/2006) và UN (2008): Trends in
Migration Stock
Có thể nói số lượng người nhập cư đến Canada đã tăng nhanh chóng trong vòng
20 năm qua (1990-2010), từ 4,3 triệu người năm 1990 đã lên đến 6,1 triệu người năm
2005, và có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo
Như một hệ quả tất yếu, với sự già hóa dân số và tỷ lệ sinh giảm, đã và đang gây
ra áp lực lớn để tăng trưởng nguồn lao động nhằm hướng tới một nền kinh tế tăng trưởng bền vững của Canada Với những chính sách hỗ trợ dân nhập cư, Bộ Quốc tịch và Nhập
cư Canada đã đưa ra những thay đổi trong chương trình nhập cư nhằm hướng đến một hệ
Trang 1616
thống nhập cư nhanh chóng và linh hoạt.5 Canada luôn mở rộng cánh cửa nhập cư, đáp ứng nguyện vọng của người dân tiến tới việc không phải thuê lao động khai thác tài nguyên của đất nước rộng thứ hai thế giới này Theo một dự án thống kê của Canada, năm 2011 số lao động nhập cư sẽ chiếm 100% lực lượng lao động của nước này Vào năm 2031, sẽ chiếm phần lớn mạng lưới tăng trưởng dân số Canada.6
Tình hình nhập cư vào Canada giai đoạn 2001-2010 được cụ thể hóa theo các tiêu chí sau:
- Xét về mặt thành phần dân nhập cư, có thể chia thành:
+ Dân nhập cư đến từ các khu vực địa lý: Nước và châu lục + Dân nhập cư theo độ tuổi ( dưới, trong và sau độ tuổi lao động) + Dân nhập cư theo mục đích (lao động- làm việc trong lĩnh vực kinh tế, hôn nhân, tị nạn, )
- Xét về điểm đến của dân nhập cư: các tỉnh/ lãnh thổ của Canada Thứ nhất, về thành phần dân nhập cư, tỉ lệ người nhập cư vào Canada tăng tương đối đáng kể nhất là những dòng di cư từ khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, Châu Phi, phần đông trong số đó từ nguồn xuất khẩu lao động Những người dân nhập cư Canada đến từ hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Chỉ tính riêng 10 nước có số dân nhập cư thường trú hợp pháp ở Canada nhiều nhất, đã chiếm tới 52.7% (147,799 người) tổng số năm 2010.7
7
“Báo cáo thường niên trình Quốc hội Canada về vấn đề Nhập cư”, Citizenship and Immigration Canada<http://www.cic.gc.ca/english/pdf/pub/annual-report-2011.pdf>; [15/12/2012]
Trang 1717
Ở Châu Á, đáng chú ý nhất là ba nước Philippin, Ấn Độ và Trung Quốc luôn dẫn đầu về số cư dân thường trú được chấp nhận ở Canada Năm 2001, Trung Quốc đứng ở vị trí số 1 của bảng xếp hạng 10 nước có số cư dân thường trú được chấp nhận ở Canada với hơn 40000 người Đến năm 2010, Philippin vươn lên đứng đầu với hơn 36000 người (năm 2001 có gần 13000 người) Điều đó cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong thành phần cư dân nhập cư thường trú của Canada Một phần của sự thay đổi đó là do chính sách xuất cư của các nước, phụ thuộc vào tình hình dân số và mức độ phát triển của mỗi nền kinh tế
Bảng 1.2.2: 10 nước dẫn đầu về số lượng người nhập cư thường trú hợp pháp ở Canada năm 2010
Source country 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
1.Philippines 12,928 11,011 11,987 13,303 17,525 17,718 19,067 23,727 27,277 36,578 2.India 27,901 28,838 24,594 25,573 33,142 30,746 26,047 24,549 26,117 30,252 3.China,People's
Republic of 40,365 33,304 36,251 36,429 42,292 33,078 27,013 29,337 29,051 30,197 4.United Kingdom 5,359 4,724 5,199 6,062 5,864 6,541 8,129 9,243 9,565 9,499 5.United States 5,909 5,294 6,013 7,507 9,263 10,943 10,449 11,216 9,723 9,243 6.France 4,428 3,962 4,127 5,028 5,430 4,915 5,526 6,383 7,299 6,934 7.Iran 5,746 7,889 5,651 6,063 5,502 7,073 6,663 6,010 6,066 6,815 8.United Arab Emirates 4,523 4,444 3,321 4,358 4,053 4,100 3,368 4,695 4,640 6,796 9.Morocco 3,951 4,057 3,243 3,471 2,692 3,109 3,789 3,906 5,221 5,946 10.Korea, Republic of 9,608 7,334 7,089 5,337 5,819 6,178 5,866 7,246 5,864 5,539 Nguồn: Bộ Quốc tịch và nhập cư Canada, những số liệu và thực tế năm 2010 (Citizenship and Immigration Canada, Facts and Figures 2010)
Trang 1818
Canada- miền đất hứa phía Đông Bán cầu với nền kinh tế lớn thứ 9 thế giới 8 đang thu hút một lực lượng lớn lao động từ các nước trên thế giới Những người trong độ tuổi lao động (từ 25 đến 44 tuổi) chiếm phần lớn trong số dân nhập cư thường trú tại Canada Trong đó, người nhập cư đến từ khu vực Châu Á- Thái Bình Dương luôn dẫn đầu về số lượng Năm 2010, số người trong độ tuổi lao động ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đến nhập cư thường trú tại là hơn 65000 người Cho thấy không chỉ là những ưu đãi lớn trong các chính sách thu hút nguồn lao động của Chính phủ Canada, mà còn là mục tiêu hướng tới một nguồn lao động dồi dào, cần mẫn, giá rẻ ở một số nước Châu Á- Thái Bình Dương như Philippin, Trung Quốc,…
Biểu đồ 1.2.1: Số dân nhập cư thường trú tại Canada theo độ tuổi và nguồn gốc khu vực, năm 2010
8
“Canada is the 9th largest economy in the world based on GDP”, Economy
Watch<http://www.economywatch.com/world_economy/canada/?page=full>; [15/12/2012]
Trang 19Bảng 1.2.3: Tỷ lệ người nhập cư vào CANADA theo phân loại mục đích, năm 2005
Total number of immigrants 262,157 (100%)
Nguồn: The Canadian Immigration System: An Overview
Trong năm 2010, Canada đã phát huy truyền thống nhân đạo của mình thông qua chương trình đón tiếp 7.265 người tị nạn được chính phủ bảo lãnh và 4.833 người tị nạn được các cá nhân bảo lãnh - con số này nhiều hơn 63% số người tị nạn được bảo lãnh tư
Trang 21http://www.immigration.vn/vn/tin-tuc/tin-di-tru-canada/canada-chao-don-luong-nguoi-nhap-cu-21
được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, hơn nữa những nơi này có một hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng hiện đại, các dịch vụ công cộng, dịch vụ giáo dục, nhà ở… được đáp ứng đầy đủ và phục vụ một cách hiệu quả nhất Theo cuộc điều tra dân số đô thị (census metropolitan areas –CMAs),bao gồm Toronto, Montreal và Vancouver, số người nhập cư chiếm 45.7 % dân số của Toronto, 39.6% của Vancouver và 20.6% của Montreal Trong
cả ba cuộc điều tra, những người mới đến cho biết họ lựa chọn những địa điểm này là vì gia dình và bạn bè của họ sống ở đó Yếu tố quan trọng thứ hai để lựa chọn Toronto là những cơ hội việc làm, để lựa chọn Montreal là do ngôn ngữ, lựa chọn Vancouver là do điều kiện khí hậu.11
Biểu đồ 1.2.3: Tỷ lệ dân nhập cư trong tổng dân số quốc gia và CMA
Nguồn: Statistics Canada, Census of Population; Canadian Chamber of Commerce
Tóm lại, nhập cư là vấn đề hết sức quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến sự phát triển
và thịnh vượng của không ít các quốc gia, trong đó có Canada Trên tất cả, những nỗ lực
11
“Immigration: The Changing Face of Canada Policy Brief”, The Canadian Chamber of
Commerce<http://www.chamber.ca/images/uploads/Reports/economic-immigration-0209.pdf>
[15/12/2012]
Trang 2222
điều chỉnh chính sách cần phải được tăng cường hơn nữa để bảo vệ tính toàn vẹn và duy trì tính ổn định của hệ thống nhập cư Canada một cách có hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước
1.3 Nguyên nhân của tình trạng nhập cư vào Canada
Có nhiều nguyên nhân dẫn khiến Canada trở thành một trong những quốc gia thu hút người nhập cư nhất trên thế giới
1.3.1 Chính sách nhập cư
Từ năm 1967, lần đầu tiên trong chính sách nhập cư của thế giới, Canada dùng chế
độ cho điểm chọn người nhập cư Từ đó chính sách nhập cư của Canada trở thành chính sách có hiệu quả nhất thế giới được nhiều nước học tập Điều đó cho thấy sự ưu việt của chính sách nhập cư của Canada, vừa hạn chế được nguồn nhập cư bất hợp pháp, vừa thu hút được nguồn dân cư chất lượng cao đến nhập cư
Dân nhập cư đã đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển và nền văn hóa của quốc gia này Với nền dân số già và tỉ lệ sinh thấp, Canada phải dựa vào nhập cư để phát triển lực lượng lao động Dân nhập cư chiếm hơn 70% lượng tăng trưởng lực lượng lao động và khoảng 20% dân số Canada Đây là nguyên nhân chính khiến chính phủ Canada vẫn chưa có ý định giảm hạn mức nhập cư mà còn có nhiều chính sách để thu hút những người dân nhập cư giàu có và nguồn nhân lực chất lượng cao đến định cư
Các chính sách cụ thể sẽ được đề cập rõ hơn ở phần sau
1.3.2 Điều kiện tự nhiên
Đất nước Canada có lãnh thổ tự nhiên gần 10 triệu km2, nhưng mật độ dân số chỉ khoảng 3,41 người/km2 , là một trong những quốc gia có mật độ dân số thấp nhất trên thế giới Về mặt khí hậu, khu vực phía bắc Canada thuộc vùng đông địa đới với khí hậu rất lạnh; địa đới dài và hẹp của phía nam thì thế đất lại bằng phẳng, khí hậu ôn hòa, tạo ra thổ nhưỡng màu mỡ, sản vật phong phú, là khu vực tinh hoa của Canada, dân số đông đúc, tập trung nhiều các loại ngành sản xuất Với nguồn thiên nhiên phong phú, có nhiều
Trang 2323
loại khoáng sản có trữ lượng đứng thứ đầu thế giới, giá tiền điện, gas rẻ, hơn nữa có nhiều nhân tài chuyên nghiệp ưu tú đã cung cấp những điều kiện cơ bản để Canada trở thành đất nước công nghiệp phát triển cao
1.3.3 Điều kiện kinh tế
Canada có Tổng thu nhập quốc nội (GDP) ước tính 1.391 tỷ đô là Mỹ thu và thu nhập bình quân trên đầu người khoảng 40,500 nghìn đô la Mỹ (năm 2011) Điều đó cho thấy sự phát triển của nền kinh tế Canada Vì thế, người ta nhập cư đến đây với hy vọng
sử dụng những kỹ năng và khả năng của mình với hy vọng đạt được một cuộc sống tốt hơn cho bản thân và gia đình Người dân chủ yếu nhập cư vào Canada để tìm kiếm cơ hội làm việc và học tập (gần 80% - năm 2010)
Năm 1989, Canada và Mỹ ký kết và thực hiện hiệp định mậu dịch tự do, hiệp định này thúc đẩy hoạt động mậu dịch của Canada với Mỹ, khiến các nhân sĩ công thương Canada thuận tiện trong việc ra vào Mỹ để triển khai nghiệp vụ Do vậy, Canada càng trở thành một nước miễn thuế mà các nhân sĩ thương gia tranh nhau đầu tư Đây còn là một địa điểm kinh doanh lợi nhuận có khả quan và cũng là một trung tâm thương mại của thế giới
Hơn nữa, những chính sách thu hút nguồn vốn từ những người nhập cư như Chương trình di dân thương mại đặc biệt để đón chào các chủ Doanh Nhân trên khắp thế giới càng khiến Canada trở thành điểm đến hấp dẫn cho những người giàu có
1.3.4 Điều kiện văn hóa – giáo dục
Năm 1971, Canada là nước đầu tiên trên thế giới có chính sách đa văn hóa Nền văn hóa đó càng trở nên phong phú thêm bởi làn sóng nhập cư của những người nhập cư
từ khắp mọi nơi trên thế giới Canada công nhận và đánh giá cao sự đa dạng về chủng tộc trong xã hội: có hơn 200 dân tộc cùng chung sống tại Canada; hơn 40 nền văn hóa được đại diện trong nền báo chí các dân tộc thiểu số của Canada; dân nhập cư hiện nay chiếm hơn 50% sự phát triển dân số Canada
Trang 2424
Luật đa văn hóa Canada ủng hộ sự hòa nhập đầy đủ và công bằng của người dân thuộc mọi nguồn gốc vào xã hội Canada cũng như sự giao thoa giữa các cá nhân và cộng đồng khác nguồn gốc
Thông qua vấn đề đa văn hóa, Canada đã công nhận tiềm năng của mọi công dân Canada, khuyến khích họ hòa nhập vào xã hội cũng như chủ động đóng góp vào các hoạt động văn hóa xã hội, kinh tế chính trị tại địa phương
Giáo dục ở Canada được chính phủ tài trợ nên chi phí học tập tương đối rẻ so với các nước khác như Anh, Mỹ và Úc Năm 2012, bảng xếp hạng 48 quốc gia do Universitas
tổ chức đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để tạo nên một hệ thống giáo dục
“tốt”, Canada xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng quốc tế mới về các hệ thống giáo dục sau đại học Và theo một nghiên cứu khác của Council of Canadian Academies cũng vào năm
2012, Canada đứng thứ 4 thế giới về nghiên cứu khoa học
1.3.5 Điều kiện xã hội
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Canada đạt mức rất cao 0.908 đứng thứ 6 thế giới (năm 2011) Đó là nhờ sự phát triển toàn diện về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ… của con người Canada Đây cũng là một nhân tố quan trọng thu hút người dân nhập cư vào quốc gia này
Người dân Canada nói chung và người dân nhập cư nói riêng được hưởng rất nhiều những chính sách phúc lợi xã hội Canada là một quốc gia rất coi trọng chế độ phúc lợi xã hội, hàng năm đều lập kế hoạch một khoản tiền dự toán trợ giúp phúc lợi lớn, giáo dục trưởng thành từ khi còn nhỏ, lập gia đình, lập nghiệp của trung niên cho tới tuổi già, chính phủ đều có chế độ phúc lợi hoàn thiện và quan tâm chu đáo tới người thất nghiệp, người tàn tật và người yếu thế Có thể kể đến như Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Tiền lương hưu (Phúc lợi của người già), Tiền phúc lợi nhi đồng và các chế độ phúc lợi khác
Trang 2525
Thêm vào đó, dân chúng Canada ủng hộ chính sách nhập cư của nhà nước Do vậy, những người mới nhập cư đến sẽ không phải chịu sự kì thị của người bản địa, dễ dàng hòa nhập vào cuộc sống mới hơn
1.4 Chính sách của Canada về nhập cư
Các cơ quan phụ trách vấn đề nhập cư ở Canada bao gồm: Bộ Quốc tịch và Nhập
cư Canada ( Citizenship and Immigration Canada), Hội đồng Nhập cư và Tị nạn (The Immigration and Refugee Board), Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canada (Canadian Border Services Agency)
Có hiệu lực vào ngày 28/06/2002, Luật Nhập cư và bảo vệ dân tị nạn đã thay thế Luật Nhập cư năm 1976 Trên cơ sở đó, các chính sách nhập cư của Canada đã được xây dựng nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nguyện vọng của dân chúng Bộ luật này là khung pháp lý hướng dẫn cho hệ thống nhập cư Canada, đề ra các mục tiêu chính như: Hỗ trợ phát triển nền kinh tế Canada mạnh mẽ và thịnh vượng, trong đó lợi ích từ việc nhập cư
sẽ được phân bố trên tất cả các khu vực ở Canada; hỗ trợ các gia đình đoàn tụ; hỗ trợ cho những người tị nạn và khẳng định cam kết của Canada cho các nỗ lực quốc tế để tăng cường sự trợ giúp cho những người có nhu cầu tái định cư; đồng thời tăng cường bảo vệ
an toàn và an ninh cho những người nhập cư Cũng theo Luật này, mỗi năm sẽ được nhập
cư thêm 1% cư dân hiện tại của Canada, tuy hủy bỏ những nghề được ưu tiên nhập cư nhưng vẫn đặc biệt quan tâm đến trình độ học vấn của dân nhập cư, nâng cao yêu cầu thông thạo tiếng Anh và tiếng Pháp Theo điều 94 của Luật, hàng năm Bộ trưởng Bộ Quốc tịch và Nhập cư Canada (CIC) phải báo cáo trước Quốc hội về hoạt động xuất nhập cảnh và đưa ra các sáng kiến cho hoạt động này Báo cáo tập trung vào việc thống kê dòng người nhập cư thường trú và tạm trú trong năm trước đó Đồng thời báo cáo cũng phân tích về tác động của Luật này và dự kiến cho hoạt động nhập cư năm tiếp theo.12
12
“Báo cáo thường niên trình Quốc hội Canada về vấn đề Nhập cư”, Citizenship and
Immigration Canada<http://www.cic.gc.ca/english/pdf/pub/annual-report-2011.pdf>;
[15/12/2012]
Trang 2626
Tháng 9/2003, Luật nhập cư và bảo vệ dân tị nạn được sửa đổi theo hướng hạ điểm nhập cư từ 75 xuống còn 67 điểm và ưu tiên chọn nhập cư những người có trình độ tay nghề cao.13
Đến năm 2008, chính sách nhập cư của Canada đã có nhiều thay đổi so với những điều quy định ở Luật Nhập cư năm 2002 Chẳng hạn như những người nhập cư sống thường trú ở Canada phải được sự đồng ý của chính quyền các tỉnh và các cơ quan hữu quan Giữa chính quyền Trung ương và chính quyền các tỉnh phải ký thỏa thuận về số người nhập cư các loại cho mỗi tỉnh cụ thể Chính sách nhập cư năm 2008 cho phép Bộ Nhập cư và Quốc tịch không phải nghiên cứu xem xét tất cả các đơn xin nhập cư mà có thể tự quyết định đơn nào cần xem trước, đơn nào cần xem sau để cho nhập cư kịp thời những lao động có tay nghề đáp ứng nhu cầu nền kinh tế.14 Nếu như trước đây CIC giải quyết các đơn xin nhập cư trong thời hạn là 6 năm, thì chính sách nhập cư năm 2008 quy định trong thời hạn 6-12 tháng Rút ngắn thời gian như vậy cho thấy Chính phủ Canada
đã tập trung hướng đến những lao động nhập cư đáp ứng nhu cầu kinh tế, không để thất
thoát dòng chất xám từ những người lao động có tay nghề
Bảng 1.4.1: Kế hoạch tuyển chọn các diện nhập cư Canada – năm 2008
Tối thiểu
Tối đa
DIỆN KINH TẾ (ECONOMIC CLASS)
Diện lao động có trình độ (Skilled Workers) 67.000 70.000 Diện có trình độ thuộc bang Quebec (Quebec Skilled Workers) 25.000 28.000 Diện đầu tư kinh doanh bang Quebec (Quebec Business) 11.000 13.000 Diện làm việc ngành chăm sóc tại gia (Live-in Caregiver) 6.000 9.000
13
Luật Nhập cư và Bảo vệ dân tị nạn ( Immigration and Refugee Protection Act)
14
Phạm Thị Mỹ Trang (2011), “Vấn đề nhập cư Mỹ và Canada”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, 6,
tr.43
Trang 2727
Diện chỉ định bang & lãnh thổ (Provincial & Territorial Nominees) 20.000 22.000 Diện có kinh nghiệm tại Canada (Canadian Experience Class) 10.000 12.000
DIỆN BẢO LÃNH THÂN NHÂN (FAMILY CLASS)
Diện bảo lãnh vợ/chồng, con cái (Spouses, Children) 50.000 52.000 Diện bảo lãnh cha mẹ, ông bà (Parents and Grandparents) 18.000 19.000
Chính sách nhân đạo (Humanitarian and Compassionate/Public Policy) 6.900 8.000
Trang 28Diện có trình độ thuộc bang Quebec (Quebec Skilled Workers) 28,100 29,100 Diện đầu tư kinh doanh bang Quebec (Quebec Business) 11,000 12,000 Diện làm việc ngành chăm sóc tại gia (Live-in Caregiver) 8,000 10,000 Diện chỉ định bang & lãnh thổ (Provincial & Territorial Nominees) 20,000 26,000 Diện có kinh nghiệm tại Canada (Canadian Experience Class) 5,000 7,500
DIỆN BẢO LÃNH THÂN NHÂN (FAMILY CLASS)
Diện bảo lãnh vợ/chồng, con cái (Spouses, Children)
Diện bảo lãnh cha mẹ, ông bà (Parents and Grandparents)
50,000 18,000
52,000 19,000
Tổng cộng dạng bảo lãnh thân nhân
68,000 71,000 DIỆN TỊ NẠN VÀ CÁC DIỆN KHÁC
Diện người tị nạn được Chính phủ hỗ trợ (Government-Assisted Refugees) 7,300 7,500 Diện người tị nạn được tư nhân tài trợ (Privately Sponsored Refugees) 3,300 4,500 Diện người tị nạn ở Canada được bảo vệ (Protected Persons inCanada) 7,000 9,000 Diện người phụ thuộc ở nước ngoài (Dependants Abroad) 6,000 6,200
Trang 2929
Chính sách nhân đạo (Humanitarian and Compassionate/Public Policy) 8,000 10,000
2010 nhiều nước hạn chế số người nhập cư vì các nước này chưa ra khỏi suy thoái kinh
tế, nhưng Canada vẫn ổn định số người được nhập cư vào, bởi vậy cho phép CIC có thể giải quyết được nhiều đơn xin nhập cư trong năm Theo Hiến pháp Canada, nhập cư được công nhận là một “quyền lực đồng thời”, có nghĩa là quyền hạn được chia sẻ chính thức giữa chính phủ trung ương và chính quyền các tỉnh.16 Do vậy giữa hai cấp này phải thỏa thuận với nhau về số người nhập cư phân bố cho các tỉnh và vùng lãnh thổ Mỗi tỉnh đều
có những chính sách khuyến khích người nhập cư có tay nghề cao vào tỉnh mình
Trang 30http://www.mapleleafweb.com/features/immigration-policy-canada-history-administration-and-30
Bảng 1.4.3: Kế hoạch tuyển chọn các diện nhập cư Canada – năm 2010
thiểu
Tối đa
Diện có kinh nghiệm tại Canada (Canadian Experience Class) Chiếm 3%
Diện làm việc ngành chăm sóc tại gia (Live-in Caregiver) Chiếm 12%
Diện có trình độ thuộc bang Quebec (QuebecSkilled Workers) 28,400 29,500 Diện đầu tư kinh doanh bang Quebec (QuebecBusiness) 1,900 2,100
Diện chỉ định bang & lãnh thổ (Provincial & Territorial Nominees) 37,000 40,000
DIỆN BẢO LÃNH THÂN NHÂN (FAMILY CLASS) Tối thiểu Tối đa
Diện bảo lãnh vợ/chồng, con cái (Spouses, Children)
Diện bảo lãnh cha mẹ, ông bà (Parents and Grandparents)
42,000 15,000
45,000 18,000
Diện người tị nạn ở Canada và người phụ thuộc ở nước ngoài được
bảo vệ (Protected Persons inCanada and Dependants Abroad)
7,300 3,300 9,000
8,000 6,000 12,000
Chính sách nhân đạo (Humanitarian and Compassionate/Public
Policy)
7,000 9,000
Trang 3131
Nguồn: CIC
Chính sách nhập cư của Canada được coi như là công cụ quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Việc đưa ra những chính sách cân bằng kịp thời là hết sức cần thiết để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, xây dựng một xã hội ổn định và bền vững
Giấy phép cho chủ sở hữu (Permit Holders) 100 200
Trang 3232
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CÚA NHẬP CƯ ĐỐI VỚI CANADA
Những người nhâp cư vào Canada đem đến những ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực đối với quốc gia này, như kinh tế, văn hóa, xã hội… Câu hỏi những người nhâp cư liệu có
là gánh nặng cho chính phủ nói riêng và xã hội nói chung hay họ có những đóng góp nhất định cho sự phát triển Canada đã và đang tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều Trên thực
tế, tác động của việc nhập cư đối với Canada diễn ra trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực Do đó, trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sẽ trình bày cả hai chiều tác động tích cực và tiêu cực của việc nhập cư đối với đất nước Canada
2.1 Tác động tích cực
2.1.1 Tác động của nhập cư tới lực lượng lao động
Nhập cư có tác động mạnh mẽ tới lực lượng lao động của Canada Năm 2010, Canada đã tiếp nhận 280.636 người nhâp cư, đông nhất trong vòng hơn 50 năm qua, vượt hơn 6% so với kế hoạch của chính phủ là từ 240.000 đến 265.000 người.17
Nguồn nhập cư đã đang và sẽ cung cấp cho Canada một lực lượng lao động dồi dào Theo thống kê của Bộ Quốc tịch và Nhập cư Canada, năm 2006, người nhâp cư chiếm 18,4% dân số Canada và 19,9% lực lượng lao động của nước này, tăng từ 0,9% - 1% so với năm 1996( các số liệu trên trong năm 1996 lần lượt là 17,4% và 19%18) Trong khi đó, ở Mỹ, lao động nhập cư chỉ chiếm có 15%19 lực lượng lao động của nước này Lao động nhâp cư ở Canada từ năm 1996 đến 2006 đã tăng khoảng 2,3 triệu người, trong
“The importance of immigration to labour force growth”, Citizenship and Immigration Canada
<http://www.cic.gc.ca/english/resources/research/2012-migrant/appa.asp>; [25/11/2012]
19
Vũ Hoàng Mai (2008), Tác động của nhập cư đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Mỹ,
Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học KHXH&NV(ĐH QGHN), Hà Nội
Trang 3333
đó có 1,1 triệu người20 nhập cư sống ở quốc gia này trên 10 năm (2006) Lao động nhâp
cư đã đóng góp gần ½ (48%) 21cho tốc độ tăng lực lượng lao động tại đây Theo ước tính của các chuyên gia, có thể trong giai đoạn 2011 – 2016, lao động nhập sẽ chiếm 100% lực lượng lao động tại Canada
Theo một nghiên cứu của Asadul Islam, trường Đai học Saskatchewan, Canada, phần lớn dân nhập cư vào Canada ở trong độ tuổi 15-44, độ tuổi lao động sung sức nhất, chiếm từ 8% đến hơn 30% dân số Canada (Bảng 1) Do vậy, họ chính là động lực chính cho sự tăng trưởng kinh tế Thêm vào đó, mặc dù những người nhập cư thường làm những công việc mà người Canada bản địa không làm và chịu nhận những đồng lương thấp hơn so với lao động trong nước, nhưng sự hiện diện của những người nhâp cư không chỉ tăng nguồn lao động mà còn giúp công nhân trong nước cạnh tranh lẫn nhau và làm việc năng suất hơn
Trang 3434
Biểu đồ 2.1.1: Dân số Canada theo cấu trúc tuổi – giới tính, 2000 22
(Canadian Population Age – Sex Structure, 2000)
Tuy nhiên, sự tăng trưởng của nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào sự gia tăng của lực lượng lao động mà còn phụ thuộc vào kỹ năng của người lao động Tỷ lệ lao động nhâp cư có bẳng cử nhân hoặc cao hơn ở Canada tăng từ 13,9% (1981) lên 42,2% (2006) Hơn nữa, người nhập cư vào Canada có trình độ học vấn ngày càng cao, hơn 40% có bằng cử nhân hoặc cao hơn, so với con số 17% của lao động trong nước Bảng số liệu sau thể hiện trình độ học vấn giữa lao động Canada sinh ra ở nước ngoài và lao động trong nước
22
Islam, A.M (2003), Labour Market effect of Immigration: Evidence from Canada, Thesis of
Master of Economics, University of Saskatchewan, Saskatchewan, Canada
Trang 35và khách hàng, đưa đến những thành công đáng kể cho các công ty nơi họ làm việc, góp phần mở rộng thương mại giữa Canada và các nước khác trên thế giới
23
Islam, A.M (2003), Labour Market effect of Immigration: Evidence from Canada, Thesis of
Master of Economics, University of Saskatchewan, Saskatchewan, Canada
Trang 3636
2.1.2 Nhập cư góp phần tăng thuế đóng góp hàng năm
Những người nhâp cư có thể đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế Canada bằng việc đóng thuế và mua những sản phẩm cũng như những dịch vụ của nước này Theo một thống kê của Viện Fraser (Fraser Institute), thu nhập và thuế đóng bởi người nhập cư và những người Canada khác trong năm 2005 là như sau:
Bảng 2.1.1: Thu nhập và thuế đóng của người nhập cư và những người Canada khác ( 2005) 24
(Income and taxes paid by immigrants and other Canadians in 2005)
Thu nhập trung bình ( Average Income)
Thu nhập lao động trung bình (Average Employment Income)
Thuế đóng trung bình (Average Income Tax Paid) (1)Người nhâp cư (từ
Do mức thu nhập cao hơn nên người Canada bản địa phải đóng thuế nhiều hơn ($5,995)
so với người Canada nhập cư ($3,438) Mặc dù số tiền thuế phải đóng của người nhập cư vào Canada chỉ chiếm 57.3% so với người dân bản địa nhưng số tiền này đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của Canada Chính phủ Canada sử dụng những
24
Fraser Institute (2011), Immigration and the Canadian Welfare State 2011, Fraser Institue,
Vancouver