1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận và thực tiễn giải quyết án hôn nhân gia đình

58 958 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 9,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề tài sản riêng quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có đặc trưng riêng và không hoàn toàn giống như quy định về tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật Hôn nhân và gia

Trang 1

A NHUNG VAN ĐÈ CHUNG VỀ GIẢI QUYÉT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

I Đặc điểm của công tác giải quyết án Hôn nhân gia đình

Qua thống kê, tổng kết hàng năm cho thấy khối lượng công việc về án Hôn nhân gia đình chiếm một nữa số án kiện mà Tòa án nhân dân phải giải quyết Ngoài ra, tính chất phức tạp trong quan hệ Hôn nhân và gia đình ngày càng tăng dẫn đến việc giải quyết án dân sự ngày càng phức tạp hơn

Tính chất phức tạp trong quan hệ hôn nhân và gia đình cũng được thể hiện trong các văn

bản pháp luật về Hôn nhân và gia đình ban hành sau thì số lượng điều luật ngày càng nhiều

hơn Ví dụ: Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chỉ có Š7 điều luật, thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 số điều luật đã tăng lên 110 điều Điều đó chứng tỏ rằng quan hệ Hôn nhân và gia đình ngày càng yêu cầu pháp luật phải điều chỉnh chỉ tiết hơn, cụ thê hơn

Thực tiễn cống tác xét xử án Hôn nhân và gia đình thé hiện rõ điều này Trong số các vụ

án khiếu nại bức xúc kéo dài, mà Tòa án nhân dân tối cao phải đang cùng với vụ dân nguyện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét thì có 03 trong 04 vụ phải tường trình cụ thê là án Hôn nhân và gia đình Tính chất phức tạp của án Hôn nhân và gia đình ngày càng tăng, sự quan

tâm của xã hội, của báo chí đối với loại án kiện này ngày càng nhiều hơn

Tòa án nhân dân tối cao đã có tờ trình đề nghị thành lập Tòa hôn nhân và gia đình nhưng

chưa được thông qua Việc Quốc hội chưa thông qua đề nghị thành lập Tòa Hôn nhân và gia đình không có nghĩa là chưa cân phải có một Tòa riêng để giải quyết loại việc này Theo chúng

tôi có thê các lập luận, chưa đủ tính thuyết phục; có thê chúng ta mới chỉ nói được số lượng công

việc mà chúng ta đang phải giải quyết ngày càng nhiều, mà chưa làm rõ được cái đặc trưng của loại án Hôn nhân và gia đình khác với án dân sự, nhất là yêu cầu riêng về tố tụng

Một số nước trên thế giới (như ở Úc), thì Tòa Hôn nhân và gia đình từ cấp Tỉnh trở xuống thành lập một hệ thống độc lập riêng, chỉ ở cắp Trung ương mới hội tụ lại Tòa án tối cao

Ở nhật người ta cũng tô chức hệ thông Tòa án Hôn nhân và gia đình riêng Tòa án Hôn nhân và gia đình ở Nhật xét xử các vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Điểm đặc trưng của việc thành lập Tòa Hôn nhân và gia đình là đặc trưng về tố tụng Trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình người ta cho rằng nó là lĩnh vực rất riêng tư và phải có tố tụng riêng Điểm đặc trưng nhất của loại tô tụng này là phải kín Người ta rất ngạc nhiên khi thấy chúng ta đưa các vụ án về Hôn nhân và gia đình ra xét xử công khai, thậm chí còn mang về Hội trường Ủy ban nhân dân xã, sân đình, sân kho mà giải quyết viêc ly hôn

Xã hội càng phát triển, càng có sự quan tâm đến việc giải quyết án Hôn nhân và gia đình Tại Úc, người ta nói chỉ riêng có Thảm phán Gia đình cần được bảo vệ hai bốn trên hai bốn giờ (24/24 giờ) còn các Thâm phán của các Tòa khác không cần bảo vệ như vậy Về điều này, người

ta lý giải răng, việc gia đình tưởng là một việc nhỏ nhưng nó lại gây nên bức xúc, gay gắt ngay

cả khi tranh chấp và sau khi án đã sử xong rồi, các đương sự van cho rằng cuộc đời của họ bây giờ khốn khổ như thế này, gia đình họ tan nát như thế này là do ông bà Thảm phán của Tòa gia đình gây ra Sự ám ảnh này đã dẫn đến họ luôn luôn tắn công Tham phan

Một vài ví dụ trên đề tháy rõ hơn hướng phát triển của loại án Hôn nhân gia đình Án Hôn nhân và gia đình không phải là đơn giản, mà có những đặc trưng riêng, xét xử loại án này

có yếu tố khó hơn với các loại án khác, chứ không phải là loại án, loại việc dễ nhất như chúng ta thường quan niệm

Trang 2

I Một số nội dung chính cần thế hiện rõ khi áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình

1 Phạm vi áp dụng của Luật Hôn nhân gia đình năm 1959, 1986, 2000

Hiểu và áp dụng đúng đắn Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong khi giải quyết án hôn nhân và gia đình là rât cân thiệt

Dé việc áp dụng được thônga nhất và đúng đắn trước tiên chúng ta cần lưu ý và nắm rõ ngày có hiệu lực của Luật

+ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực ngày 13/01/1960

+ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực ngày 03/01/1987

+ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực ngày 01/01/2001

ta cần phải nhớ được ngày có hiệu lực bởi nó liên quan đến phạm vi có hiệu lực của luật Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực từ ngày 13/01/1960, thì việc kết hô của một người đang có vợ hoặc đang có chồng với người khác vào ngày 12/01/1960, có nghĩa không thuộc vào phạm vi điều chỉnh của luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, và như vậy hôn nhân của họ vẫn hợp pháp Xác định hôn nhân hợp pháp còn liên quan đến xét xử án về chia thừa kế chứ không chỉ đề giải quyết đúng án kiện về hôn nhân và gia đình

Hiện nay có nhiều sai lầm là bản án cho rằng Luật hôn nhân gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 không còn giá trị nữa nên chỉ áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Nhiều bản án thấy rằng việc xác định tài sản riêng ở thời điểm trước năm 1986

là sai, nhưng tại sao sai thì bản án không chỉ ra được

Trước năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chưa quy định vợ chồng có tài sản riêng, thì không có tài sản riêng trong quan hệ vợ chồng Tắt cả tài sản mà vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân cũng như trước hô nhân đã và nhập vào khối tài sản chung do Luật hôn nhân

và gia đình năm 1959 quy định rằng vợ chồng có quyền sở hữu ngang nhau, tài sản trước và sau khi cưới, tất cả tài sản đó là tài sản chung, vì vậy, không thế có tài sản riêng Cho nên, năm 2000 anh xin ly hôn vợ mà bảo rằng năm 1961, 1962 ông bó tôi cho tôi thừa kế tài sản riêng hoặc tôi kết hôn năm 1962, tài sản này, ngôi nhà này tôi đã có từ năm 1961, nó là tài sản trước khi kết hôn cho nên nó là tài sản riêng thì không thể chấp nhận được Đã là trước ngày 03/01/1987 thì thuộc phạm vi ảnh hưởng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, vì vậy, phải điều chỉnh theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và lúc đó không có vấn đề tài sản riêng

Từ ngày 03/01/1987 cho đến ngày 01/01/2000 các quan hệ Hôn nhân và gia đình thuộc

phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trong thời gian này mới quy định

Ê tài sản riêng của vợ chồng Vấn đề tài sản riêng quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm

1986 có đặc trưng riêng và không hoàn toàn giống như quy định về tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên cũng phải phân biệt, áp dụng phù hợp cho từng thời điểm Do đó, trong tay Thâm phán luôn phải có cả Luật Hôn nhân gia đình năm 1959, năm

1986 chứ không chỉ có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

- Quan hệ giao dịch phát sinh ở thời điểm nào thì chịu ảnh hưởng của pháp luật ở thời điềm đó, phải lây pháp luật của thời kỳ đó làm thước đo đề xác định hợp pháp hay không hợp pháp Không thê lây thước đo là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đề đo sự kiện, giao dịch,

Trang 3

các hành vi mà con người đã thực hiện vào những năm trước đây Đó là nguyên tắc trừ trường hợp các văn bản có hiệu lực hôi tô

Ví dụ: Nghị quyết số 35/2000/QH 10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực hồi tố đối với vấn đề hôn nhân thực tế Tất cả

những sự kiện trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực),

trước khi ban hành Nghị quyết 35 đều được điều chinh bằng Nghị quyết 35 Vì vậy, Nghị quyết

Thứ nhất: những trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày mà Luật hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn (mà trước đây quen gọi

là hôn nhân thực tế) thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyêt theo quy định vệ ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 Đây là trường hợp không bắt buộc đăng ký kết hôn mới được coi là hợp pháp

Thứ hai: Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm (từ 01/01/2001 đến 01/01/2003), trong thời hạn họ đăng ký kết hôn thì công nhận quan hệ hôn nhân của họ hợp pháp từ ngày họ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ không đăng ký kết hôn mà có yêu câu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết Trong thời hạn này họ không đăng ký kết hôn mà một bên chết trước thì bên còn sóng được hưởng thừa kế

đi sản của bên đã chết theo quy định của pháp luật Trong trường hợp họ đã làm thủ tục xin đăng

ký kết hôn vào thời gian từ ngày 01/01/2001 đến 01/01/2003 nhưng chưa được cấp đăng ký kết

hôn mà xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu có một bên chết trước thì bên kia được hưởng thừa kế di sản của người chết

Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ

là vợ chồng (nếu họ đăng ký kết hôn thì chỉ công nhận quan hệ hôn nhân của họ từ ngày đăng ký); nêu có yêu cầu ly hôn thì Tòa thụ lý và tuyên bô không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu

có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đề giải quyết Nếu có một bên chết trước thì bên còn sống không được hưởng

di sản của bên đã chết

Thứ ba: Kẻ từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà

không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu câu xin ly hôn thi Tòa thụ lý và tuyên bó không công nhận vợ chông; nếu có yêu câu về con và tài sản thì Tào áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết Nếu có một bên chết trước thì bên còn sống không được hưởng di sản của bên đã chết Đối với trường hợp "thứ hai" (chung sống từ khoảng 03/01/1987 đến 01/01/2001) xin nói rõ thêm rang rat khác nhau giữa người xin ly hôn vào trước ngày 01/01/2003 với người xin

ly hôn vào sau ngày0 1/01/2003 Nếu xin ly hôn vào trước ngày 01/01/2003 thì hôn nhân là hợp pháp và đến bây giờ mình mới xử thì hôn nhân của người ta vẫn hợp pháp Nhưng nếu chậm một ngày sau ngày 01/01/2003 mới nộp đơn xin ly hôn thì không được công nhận là hợp pháp nữa

Trang 4

Cho nên chúng ta phải phân biệt ngày thụ lý là như vậy Ngày thụ lý trước ngày 01/01/2003 thì không đăng ký vẫn là hợp pháp dù cho tới bây giờ ta mới xét xử sơ thâm, phúc thâm Trừ trường hợp, nếu quay lại sơ thâm thì tính thời điểm sơ thâm lại là ngày thụ lý

Riêng về vấn đề hôn nhân không có đăng ký kết hôn mà ta vẫn quen gọi là hôn nhân thực

tẾ, sẽ còn gặp rất nhiều trong những vụ án, không chi trong những vụ án vê ly hôn mà còn trong

những vụ án về chia thừa kế

Vi du: Vụ án chia thừa kế có thể vợ hoặc chồng chết rất lâu rồi, nhưng một người còn sông, mãi sau này việc thừa kê mới phát sinh, cho nên mãi sau này Tòa án vân phải xem xét tính chât của quan hệ hôn nhân trước đây

Khi xem xét, nam và nữ có phải chung sống với nhau như vợ chồng hay không phải căn

cứ vào các tiêu chuẩn quy định tại Thông tư 01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp ngày 03/01/2001 Thông tư này quy định về căn cứ xác định chung sống với nhau nhưvợ chồng đã được mở rộng hơn nhiều (các quy định trước đây thì tương đối chặt chẻ như quá trình sông chung được xã hội, gia đình công khai thừa nhận, thậm chí còn đòi hỏi có con chung, tài sản chung)

Tiêu chuẩn để được coi là sống chung với nhau như vợ chồng quy định ở Thông tư 01/2001 là một trong những trường hợp sau (chỉ một cghứ không phải tât cả các trường hợp)

- Có tô chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình một hoặc cả hai bên chấp nhận;

- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

-_ Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đở nhau, cùng nhau xây dựng gia đình; Trong thực tế việc đã được coi là chúng sống như vợ chồng hay chưa cũng rất phức tạp, gây

tranh cãi quyết liệt, có khi ở chung 5 đến 7 năm rồi, có tài sản, nhà cửa chung rồi nhưng đến khi

ly hôn một bên lại cãi không phải là vợ chồng Do đó, Thgông tư quy định tiêu chuẩn được coi

là chung sống như vợ chồng hay chưa là rất quan trọng

3 Vấn đề "tham khảo" Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 86 hay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đối với việc thụ lý trước và sau khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật

Cụ thể là cần chú ý trường hợp nào áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trường hợp nào áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 dé giải quyêt

+ Đối với những vụ, việc, mà Tòa án đã thụ lý trước ngày 01/01/2001 thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, đê giải quyêt nhưng có tham khảo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

+ Đối với những vụ, việc, mà Tòa án đã thụ lý từ ngày 01/01/2001 thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đê giải quyêt;

Điều quan trọng là hiểu "tham khảo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) như thê nào cho đúng Nghị quyết sô 02 của Hội đông Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao và Thông tư liên tịch sô 01 đã có giải thích cụ thê vê vân đê này Vận dụng Luật hôn nhân

Trang 5

và gia đình năm 2000 phải dựa trên cơ sở Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định rồi, cái mới chỉ là cụ thê thêm

Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, quy định "con còn bé thì giao cho mẹ” nhưng không biết còn bé như thế nào? có thể là một năm cai sữa, có thê đến ba năm mới Cai sữa,

nên bây giờ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định rõ ràng, dứt khoát là dưới 03 tuổi thì

phải giao cho mẹ Đây là quy định rõ, thì dù con đã cai sữa rồi, nhưng dưới 03 tuổi thì mặc dù van ap dụng Luật 1986 nhưng vận dụng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì Tòa vẫn giao con cho mẹ nuôi dưỡng

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, chỉ quy định bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên thôi, nhưng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, lại quy định thêm, cụ thể đối với con tàn tat, con mat năng lực dân sự thì cha mẹ vẫn có trách nhiệm nuôi dưỡng Đây là những quy định

cụ thể, của những vấn dé đã được định ra trên nguyên tắc của những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì mới được vận dụng, còn những quy định hoàn toàn mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì không thể vận dụng cho loại việc đã thụ lý trước

ngày01/01/2001 được

Điểm mới của việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khác với Luật Hôn nhân và gia đình cũ ở chồ, trước đây chúng ta thường áp dụng Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tôi cao về việc đó, nhưng nay đã có cả văn bản của Chính phủ và văn bản đó có tính pháp quy mà Tòa án phải áp dụng Vì vậy, phải đọc, nghiên cứu kỹ, đầy đủ Áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, là áp dụng cả văn bản pháp luật của Chính phủ chứ không phải chỉ áp dụng văn bản của Tòa án

4 Xác định trường hợp hôn nhân hợp pháp đối với trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Để giải quyết vấn đề này chúng ta phải chú ý đến thời điểm có hiệu lực của Luật Hôn nhân và gia đình Xin đê cập đên 04 trường hợp sau:

Thứ nhất: Những trường hợp kết hôn trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có

hiệu lực (13/01/1960)

Trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực thì chưa có quy định về chế

độ một vợ một t chong, vì vậy một người lấy đến 03 đến 04 vợ hoặc một người lấy nhiều chồng thì pháp luật vẫn phải công nhận tắt cả các mối quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp, quan hệ tài sản của người ta với nhau là tài sản trong hôn nhân hợp pháp, người ta được hưởng thừa kế tài sản của nhau, được hưởng tài sản chung, được hưởng quyền chăm sóc thực hiện nghĩa vụ như

Ngày 02/7/1976 Quốc hội nước Việt Nam thống nhất mới xác định thành lập nước Việt Nam thông nhât - Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và mới giao cho Chiúnh phủ chọn lọc đê ban hành những văn bản pháp luật đê phô biên áp dụng trong cả nước

Trang 6

Ngày 25/03/1977, Hội đồng Chính phủ mới ban hành Nghỉ quyết 76/CP công bố danh mục 411 văn bản pháp luật áp dụng chung cho cả nước, trong đó có Luật Hôn nhân và gia đình

Vì vậy, ngày 25/031977 được coi là ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực ở miền Nam Việt Nam

Những trường hợp kết hôn trước ngày 25/03/1977 trở về trước (ở miền Nam) thì dù có vi

phạm chê độ một vợ một chông, nhưng có hôn nhân thực tê thì chúng ta vân phải công nhận quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp

Thứ ba: Những trường hợp cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954 đến năm 1975

đã có vợ có chồng ở miền Nam sau do lai lay vợ lầy chồng khác ở miền Bắc thì giải quyết theo Thông tư 60 của Tòa án nhân dân tối cao năm 1978

Theo Thông tư 60, thì những trường hợp này cũng, được co là hôn nhân hợp pháp, vì do hoàn cảnh chiến tranh đặc biệt, hoàn cảnh công tác, việc lấy nhau này không phải là coi thường pháp luật, không phải duy trì chế độ đa thê phong kiến cho nên với tỉnh thần đó thì hôn nhân thực tế của họ được công nhận là hôn nhân hợp pháp

Đối với những cán bộ, bộ đội miền Bắc vào Nam công tác trước ngày giải phóng mà đã

CÓ VỢ, có chong 6 ở miên Bắc, lại lấy vợ, lấy chồng ở miền nam thì Tào án nhân dân tôi cao cũng

có giải thích rằng, nếu có vận dụng Thông tư 60 thì vận dụng rất hạn chế vì:

_ + Một là, cán bộ, bộ đội ở miền bắc đã được học Luật Hôn nhân và gia đình, đã biết duy trì chê độ nhiêu vợ, nhiêu chông là vi phạm pháp luật;

+ Hai là, hậu phương của họ ở miễn Bắc, là nơi được bảo vệ, khi vào miền Nam lại tiếp tục kết hôn hoặc sau giải phóng có kết ô ôn thì không công nhận hôn nhân sau là hợp pháp Chỉ những trường hợp rất hạn chế Nói rất hạn chế lại mở ra một điều rằng ngoài việc vận dụng Thông tư 60 thì ta còn phải vận dụng tinh thần của Thông tư 60 trong một số trường hợp đặc

biệt

5 Vấn đề tài sản riêng

Đối với những trường hợp mà tài sản hình thành trước khi quy định tài sản riêng thì chúng ta phải xác định đó phải là tài sản đã nhập chung rồi không thê coi riêng được Như tài sản của hai vợ chồng hình thành trước ngày 03/01/1987, bất kẻ tài sản có được hình thành từ nguồn nào thì nó cũng đã nhập vào tài sản chung rồi Những tài sản sau ngày 03/01/1987 tiếp tục hình thành thì mới có thể là tài sản riêng Cũng có trường hợp kết hôn năm 1960, tắt cả tài sản, nhà cửa người ta đã nhập vào tài sản chung ri, đến năm 1987 sua khi thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng, thì người chồng mới xin tách cái

nhà của mình có trước khi kết hôn ra thành của riêng đề làm trụ sở công ty, để kinh doanh riêng

và việc tách đó đãđược Tòa án công nhận cho chia tách ra thì lúc bấy giờ nó là tài sản riêng Còn nếu không có việc tách ta, không có chuyện chia tài sản trong hôn nhân thì những tài sản đã hình thành trong thời kỳ hôn nhân trước ngày 03/01/1987 là của chung, không có tài sản riêng Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có quy định tài sản riêng Đó là tài sản của vợ hoặc chông có trước khi ket hôn, được hưởng thừa kê riêng, được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc được chia trong thời kỳ hôn nhân, đô dùng tư trang cá nhân

Mặc dù Luật quy định được thừa kế riêng, cho riêng nhưng trong thực tế rất phức tạp Thông thường Tào án vẫn chấp nhận cho riêng nêu như văn bản giây tờ, hình thức đã xác định là cho riêng và sau này việc đi đăng ký, việc sử dụng đắt, nhà tiếp tục lấy tên riêng Nếu chỉ căn cứ

Trang 7

vào xác nhận của cha mẹ thì không chính xác vì bầy giờ con cái mâu thuần đòi ly hôn, nếu tài sản là tài sản của cha mẹ vợ cho trước đây thì bây giờ thì cha mẹ vợ sẽ đứng ra bảo cái đó toi cho con gái tôi, nếu tài sản là tài sản của cha mẹ chồng cho trước đây thì bây giờ cha mẹ chồng đứng ra bảo cái tôi cho riêng con trai tôi Vì vậy, chúng ta phải ết hợp với các chứng cứ khác và nói chung phải dựa vào các văn bản, chứng cứ từ thời được giao tài sản đó

Không nhất thiết cứ tài sản sử dụng chung thì tài sản đó là của chung Pháp luật quy định

có những trường hợp là tài sản riêng nhưng sử dụng chung bây giờ nếu tách riêng thì ảnh hưởng đến quyên lợi của người đang sử dụng nên đã có quy định hạn chế phân chia Như vậy, có nghĩa

là không phải cứ tài sản đem sử dụng chung là nhập vào tài sản chung Thực tiễn xét xử xác định kké ca mang dat ra lam nha, cái nha đó là của chung, nhưng đất vẫn là của riêng và khi chia vẫn phải chia đất cho người có quyền được hưởng Không thể bảo là "cô ấy mang đất góp với tôi làm nhà rối, thì bây giờ mảnh đấy đó là của chung được" Đã là của riêng thì luôn luôn là của riêng, trừ trường hợp làm đầy đủ thủ tục chuyền thành của chung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định thủ tục nhập tài sản riêng vào tài sản chung rat chặt chẻ

Khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định việc nhập tài sản là nhà

ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vơ và chồng, văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật Việc

nhập tài sản rieng vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm rồn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về tài sản là vô hiệu

II Một số vấn đề về kỹ năng giái quyết án hôn nhân và gia đình

1 Cách thế hiện ý kiến của Luật sư, của đại diện Viện kiếm sát nhân dân trong bản

án dân sự

Hiện nay phần ý ý kiến của Luật sư, của đại điện Viện kiểm sát nhân dân trong nhiều bản

án hay được viết ở phần cuối cùng của nhận định Nếu đề ở phần cuối cùng của phần nhận định thì nó chăng còn ý nghĩa gì để mà nhận xét nữa, mà các ý kiến của Luật sư phải được đưa lông VỚI ý kiến của đương sự về từng vấn đè mà Tòa án nhận xét luôn Nếu nhận xét xong tat cả rồi đến cuối cùng mới đưa ý kiến của Luật sư thì không còn ý nghĩa gì cả Có Luật sư đã nói "Các Thâm phán trích dẫn lời của chúng tôi ra làm gì, trích dẫn ra rồi đẻ đấy, chả nhận xét nó đúng hay sai gì cả thì trích dan lam gì" Đề nghị cần lưu ý để khắc phục tình trạng này

2 Vấn đề điều luật, căn cứ pháp luật được thể hiện trong bản án dân sự như thế

nào?

Án Hô nhân và gia đình thường phải giải quyết 03 quan hệ:

+ Choly hôn hay không cho ly hôn;

+ Vấn đề nuôi con;

+ Chia tai san;

` Số lượng điều luật viện dẫn trong bản án riêng về quan hệ hôn nhân và nuôi con là không nhiều, nhưng cũng không nên liệt kê điêu luật trước phân quyết định bởi vì phân chia tai sản thì chúng ta phải vận dụng rất nhiều điều luật, mà nêu như tât cả các điều luật chúng ta đã dùng nó

đê lập luận và viện dân vào thì không biêt bao nhiêu điêu luật Cho nên đôi với án phúc thâm chỉ

Trang 8

nên vận dụng điều luật tố tụng; sửa, y hay hủy còn án sơ thẩm thì không cần viện dẫn điều luật trước phân quyêt định

Khi nhận xét về từng phần là chúng ta phải viện dẫn điều luật, căn cứ pháp luật (điều luật

cụ thê) cho phân lập luận ây

Tính có căn cứ, tính hợp pháp của bản án là phải viện dẫn luôn điều luật cóliên quan đến van dé ma ban án, quyét định đề cập đến: có vấn đề liên quan đến hợp đồng; có vấn đề liên quan đến thừa kế; có vấn đê liên quan đến Luật Hôn nhân và gia đình thì trong từng đoạn chúng ta viện dẫn điều luật luôn Còn đến khi viện dẫn xong rồi, đã nhận xét xong rồi, trước phần quyếy định không cần phải liệt kê điều luật nữa

3 Cách thể hiện ngày xét xứ trong bản án dân sự

Chúng ta nên nhạy bén đối với những thuật ngữ mới dùng trong văn bản pháp luật thay cho các thuật ngữ củ trước đây Ví dụ, thuật ngữ "chung sống với nhau như vợ chồng" đã được

sử dụng trong pháp luật hôn nhân và gia đình thay cho thuật ngữ "Hôn nhân thực tế" Vậy thì khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, chúng ta phải sử dụng thuật ngữ "chung sống với nhau như vợ chồng" trong khi viết án, khi trình bày tại phiên tòa, không nên dùng thuật ngữ "Hôn nhân thực tế" nữa

Có thể trao đổi với nhau, chúng ta vẫn dùng, nhưng khi phát biểu tại phiên tòa; viết trong bản án thì phải dùng thuật ngữ chíng xác là "chung sống với nhau như vợ chồng"

Vấn đề hủy hôn nhân trái pháp luật trước đây thường gọi là "tiêu hôn", nhưng bây giờ phápmluật hôn nhân và gia đình không dùng thuật ngữ này nữa, vì vậy, khi phát biêu tại phiên tòa; việt trong bản án không được dùng thuật ngữ này

Xin lưu ý là Luật dùng chính thức thuật ngữ nào, từ nào thì chúng ta dùng thuật ngữ đó,

từ đó Đó chính là văn hóa xét xử

Trong Luật dùng từ "cha", tir "e" thi khi xét xử Tòa án cũng phải dùng đúng các từ đó

Lời khai của đương sự được viện dẫn trong bản án thì có thể dùng từ địa phương, vì là viện dẫn

lời khai của đương sư, nhưng phải đóng mở ngoặc kép (" ") Ví dụ, viện dẫn lời khai của đương sự: "Ba tôi đã khai rằng, ba toi cho chị ấy", nhưng nếu là nhận xét của Tòa thì phải dùng theo ngôn ngữ của Luật

4 Van dé chia tài sản

Ngay triong quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử chúng ta đã phải có một bảng thống kê những tài sản gì mà các đương sự đã thống nhất được với nhau, còn những tài sản gì mà các đương sự tranh chấp thì tách riêng ra thành một bản, có như vậy thì khi chúng ta tuyên án mới

dễ, không dài dòng, mà người nghe cũng dễ hiểu hơn

Có thể chỉ tuyên một câu ngắn gọn là: "đối với các đồ dùng sinh hoạt gia đình, thì anh chị đã thỏa thuạn theo văn bản ngày, tháng, năm" Làm như vậy thì tránh được tình trạng trong

án hôn nhân của chúng ta liệt kê đủ thứ, cả cái bát, cái đĩa nghe như có vẻ không nghiêm túc,

có vẻ lắm cảm

Đối vơúi những tài sản, những vấn đề còn đang tranh chấp thì lại phải tuyên rất cụ thể, chính xác đảm bảo làm sao cho người không tham giua trong vụ này, đọc Bản án, quyêt định của Tòa án cũng biệt được phân tài sản được thi hành như thê nào

Trang 9

Đối với nhà, đất cần phải ghi thật đầy đủ và chỉ tiết, để bát cứ người nào đọc cũng hiểu được tòa chia như thế nào Muốn vậy, bản án, quyết định của tòa về nhà, đất phải thể hiện đượcvị trí của nó như: Phía đông giáp phía tây giáp diện tích, kích thước của mỗi người ; ranh giới được xác định như thế nào đề không nhằm lẫn được bên này với bên kia Trên bản đồ chia nhà, đất phải đánh móc 1,2,3,4 cho cụ thể Nói chung, việc phân chia hiện vật, nhà đất phải

có sơ đồ kèm theo bản án, có đu chữ ký của Hội đồng xét xử

Đối với những vùng đất không chia được phải dùng chung hoặc khi chia nhà có kèm

theo một khuôn viên nào đó thì chúng ta cần phải ghi rõ trong bản án, quyết định để tránh tình

trạng các đương sự tranh chấp nhau sau này Những công trình kiến trúc, cây cối trên đất cần

giải quyết ngay cùng với việc chia đất

Hiện nay, có khá nhiều vụ cơ quan thi hành án kiến nghị, kháng nghị giám đốc thâm vì không giải quyêt hêt các tài sản trên đât nên không thi hành được

Theo Luật dân sự người được sử dụng đất là người có quyền | sử dụng lòng đất và không

gian theo chiều thắng đứng - đây là quyền của người sử dụng đất Về nguyên tắc, tài sản của người khác còn tồn tại trên đất đã chia thì phải chuyên đi mNhà nước chỉ cho phép trong trường hợp sự di chuyền đó dẫn đến thiệt hại về tài sản thì hỗ trợ Ví dụ, cái nhà còn ở nguyên trên đất thì giá trị của nó là 3 triệu đồng, nhưng khi dap nó ra mang nó đi chỗ khác thì nguyên vát liệu của nó chỉ còn I triệu đồng Vi vậy, chủ sở hữu bị thiệt 2 triệu đồng Chính 2 triệu đồng đó, nhà

nước phải có trách nhiệm giải quyêt cho chủ sở hữu ngôi nhà bị di chuyển Nếu chủ sở hữu ngôi nhà bị đi chuyển này thay việc đi chuyển là thiệt hại, thì có quyền khới kiện dé tòa án giải quyết thiệt hại do việc phải đi chuyển ngôi nhà gây ra Chủ sở hữu ngôi nhà bị di chuyên có quyên lựa chọn việc khởi kiện và anh phải nộp tạm ứng án phí, nếu không nộp thì tòa không giải quyét

Cơ quan thi hành án ấn định cho chủ sở hữu ngôi nhà bị di chuyên một thời hạnh nhất định để khởi kiện, nếu không khởi kiện thì cơ quan thi hành án tiến hành thi hành bình thường tức là chủ sở hữu ngôi nhà bị di chuyên đã từ bỏ yêu cầu bồi thường thiệt hại cho việc di chuyền Chúng ta làm như vậy thì mới giải quyết được tình trạng xảy ra hiện nay, nếu cứ lầy lý do chưa giải quyết tài sản trên đất mà yêu cầu kháng nghị bản á án là rât vô lý Chúng ta phải năm được những lập luận đó dé khi cơ quan thi hành án có htắc mắc, Viện kiền sát có kiến nghị thì chúng

ta phải giải thích Tòa án chỉ giải quyết nếu việc đi chuyển tài sản trên đất gây thiệt hại cho chủ

sở hữu tài sản bị di chuyển so với tài sản ban đầu Chủ sở hữu tài sản bị di chuyển có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại về việc di chuyên tài sản, do đó phải khởi kiện trong thời hạn nhất định Nếu không khởi kiện là đã từ bỏ quyền đó Dé dam bảo quyền hợp pháp của người đã được tòa án giao đất thì cơ quan thi hành án phải áp dụng các biện pháp để giao toàn bộ đất cho người có quyền sử dụng hợp pháp và đưa tài sản trên đất đi

Tòa án phải chú ý khi tuyên án, phải tuyên cho rõ ràng, dứt khoát và việc tuyên này có liên quan đến việc sau này người ta có quyên khởi kiện lại nữa hay không ? Theo nguyên tắc

những tài sản gì tòa giải quyết thì giải quyết dứt điểm để các đương sự không có quyên khởi

kiện lại nữa Những tài sản còn sót lại, vcác đương sự chưa yêu câu giải quyết thì họ có quyền khởi kiện tiếp

Pháp luật hiện hành dành cho ácc đương sự nhất là đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình quyền hoàn toàn tự quyết định việc yêu cầu tòa giải quyết Do đoa các duong : sự yêu câu tòa giải quyết cái gì thì tòa giải quyết cái đó và \ phải chịu án phí đối với việc yêu cau giải quyết Tòa khuyến khích các đương sự tự giải quyết với nhau Nếu đơng sự tự giải quyết được thì tòa không can thiệp và đương sự không phải mât án phí Vì vây, một khối tài sản chung của

VỢ chồng có thể sẽ khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết làm rất nhiều lần, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một lần Chính vì vậy phải tuyên cho rõ đề sau này xác định được việc này (tài sản

Trang 10

này) còn được khởi kiện lại nữa hay không Thực tế hiện nay thường xảy ra là trong, bản án chỉ tuyên một câu "bác các yêu cầu khác" Tuyên như vậy là không đúng vì có những vân đề đương

sự yêu cầu mà tòa án chưa giải quyết, nhưng trong phần nhận định có đề cấp đến yêu cầu đó và trong phần quyết định lại "bác các yêu câu khác” sẽ khó khăn nếu sau này đương sự khởi kiện

Vì vậy, trong bản án ghi rõ bác yêu câu nào, chứ không nên nghi "bác các yêu câu khác" Yêu cầu nào của đương sự được chấp nhận thì giải quyết cụ thể, còn yêu cầu nào chưa

giải quyết thì cũng phải nêu rõ Yêu cầu mà tòa án bác, cũng chính là các đã giải quyết rồi, đã phán quyêt rồi

Trong bản án mà chúng ta nêu rõ ràng cụ thể về những van dé da giai quyét (chap nhan yéu cau hoặc bác yêu cầu) thì cũng dễ dàng cho việc phúc thâm Bởi vì cấp phúc thâm chỉ xem xét những vấn đề tòa sơ thảm đã giải quyết

B THỰC TIÊN GIẢI QUYẾT CÁC LOẠI ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Các loại án hôn nhân và gia đìn Toà án giải quyết bao gồm:

- Các vự án ly hôn : Thuận tình ly hôn hay ly hôn do một bên yêu cầu

- Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

- — Yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con

- _ Yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng

- Yéu cau chia tai san vợ chồng sau khi ly hôn

I TRƯỜNG HỢP GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN THUẬN TÌNH LY HÔN

1.Cơ sở pháp lý cuả việc giải quyết

+ Dựa vào căn cứ ly hôn

Lnật hôn nhân - gia đình 1959 (điều 6), Luật Hôn nhân - gia đình 1986 (điều 40) và Luật Hôn nhân - gia đình 2000 (điêu 89) đã quy định căn cứ ly hôn dựa trên quan điềm của chủ nghĩa Mác - Lê nin nên không quy định căn cứ riêng biệt mà quy định không thống nhất dù hai bên thuận tình hoặc một bên vợ hoặc chồng yêu câu: "đời sông chung không thể kéo đài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyêt định cho ly hôn"

Nội dung của căn cứ ly hôn: Theo quy định tại khoản I điều 89 thi Tòa án quyết định cho ly hôn nêu xét thây tình trạng trâm trọng, đời sông chung không thê kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được

* Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như: người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muôn sống ra sao thì sông ,da được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở nhiều lần

Trang 11

- Vợ chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như; thường xuyên đánh đập, có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc

cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần

- Vợ chồng không chung thủy với nhau: có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chông hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tô chức nhắc nhỏ, khuyên bảo nhưng vân có quan hệ ngoại tình

* Đời sống chung không thể kéo dài: Đẻ có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đến mức trầm trọng như thế nào Nếu thực tế cho thây đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, hoặc bỏ nhau mà vẫn có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau thì có căn cứ đề nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo

đài được

Mục đích của hôn nhân không thể đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng

về nghĩa vụ và quyền vợ chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín vợ chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng; không giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt

Đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mắt tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyêt cho ly hôn Thực tê có thê xảy ra hai trường hợp sau:

+ Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu ‹ cầu Tòa án tuyên bố người vợ hoặc người chồng của mình mắt tích và yêu câu Tòa án giải quyết cho ly hôn Trong trường hợp này nêu Tòa án tuyên bố người đó mắt tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Tòa án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mắt tích thì bác yêu cầu của vợ hoặc chồng

+ Người vợ hoặc người chồng đã bị Tòa án tuyên bố mắt tích theo yêu cầu của những người có quyên, lợi ích liên quan Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người vợ, người chồng mới yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn

+ Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải Trong trường hợp Tòa án hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn

và hòa giải đoàn tụ không thành Trong thời han 15 ngay kế từ ngày lập biên bản nêu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không phản đối sự thỏa thuận đó thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên tòa trong các trường hợp sau đây:

- Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn

- Hai bên thỏa thuận được với nhau vê việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con

- Sự thỏa thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thê này là đảm bảo quyên lợi chính đáng của vợ và con

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thảm

Trong trường hợp hòa giải tại Tòa án mà thiếu một trong các điều kiện trên thì Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành vê những vân đê hai bên không thoả thuận được hoặc

Trang 12

thỏa thuận được nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ, con đồng thời mở phiên tòa xét xử

2.Một số trường hợp cụ thé

Yêu cầu:

- Nghiên cứu các vụ án thực tế năm được việc áp dụng pháp luật trong những vụ án cụ thê

- — Viết Quyết định công nhận thuận tình ly hôn

Trang 13

a Truong hop 1:

TÒA ÁN NHÂN DÂN CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM

Số: 03 /QĐTTLH Huê, ngày 10 thang 11 nam 2003

QUYET DINH CONG NHAN THUAN TINH LY HON

Toa án nhân dân

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành về việc thuận tình ly hôn được lập ngày 24-

10- 2003 giữa

Chị : Nguyễn Thị B.L sinh ngày 27-6- 1978 Trú tại: Phường P - Huế Nghề nghiệp : Buôn bán

Và anh : Hà Ph T, sinh ngày 27 -5- 1974 , Trú tại :Phường H- Huế Nghề nghiệp : Buôn bán

Căn cứ hồ sơ thụ lý vụ án số : 159/SDST ngày 6/10/2003 của Tòa án nhân dân Thành phó Huế nhận thây :

Chị Nguyễn Thị B.L và anh Hà P T tìm hiểu từ 1996 sau đó được hai bên gia đình chấp thuận

và tổ chức lễ cưới từ tháng 8/1999.Đến 21-2- 2000 đăng ký kết hôn tại UBND phường P - Huế.Việc kết hôn là hòan tòan tự nguyện Nhưng sau khi sinh con thì vợ chồng xảy ra mâu

thuẫn do chênh lệch về trình độ học vân Mặt khác anh T có quan hệ ngoại tình do đó tình cảm

vợ chồng ngày càng trằm trọng , đời sóng hôn nhân không đạt được nên hai người thuận tình ly hôn

Về con chung anh T thỏa thuận giao cho chị L trông nom nuôi dưỡng cháu Hà thị U, sinh ngày 17-3- 1999 , chị L không yêu cầu cập dưỡng , nhưng anh T tự nguyện đóng góp nuôi con một lần 20.000 000đ ( hai mươi triệu đồng ) và đã giao chị L quản lý số tiền trên

Về tài sản và công nợ chị L anh T không có yêu cầu

Xét thấy việc thỏa thuận xin được thuận tình Iy hôn của hai bên là tự nguyện và phù hợp với pháp luật, nên cân được châp nhận Bởi các lẽ đó

Căn cứ điều 31, 44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

Căn cứ vào điều 90, 92 và 94 luật hôn nhân và gia đình ngày 9/6/2000 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam

Trang 14

QUYÉT ĐỊNH 1.Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau :

Công nhận sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thi B.L va anh Ha P T

- Vé con chung : Giao cho chi Nguyén Thị B.L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu: Hà Thị U

„sinh ngày 17 -3- 1999 Việc câp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu nhưng anh T tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu Linh với số tiền 20.000.000đ ( hai mượi triệu đồng) -Nay anh T

đã giao nhận cho chị L quản lý sử dụng trong việc nuôi con chung , người không trực tiếp nuôi

con có quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn căn

Thông báo UBND phường P, Huế xóa đăng ký kết hôn giữa chị Nguyễn Thị B.L và anh Hà Ph

T

2.Về án phí dân sự sơ thấm là 50.000đ, mỗi người phải chịu một nữa số tiền là 25.000đ , nhưng chị L đã tự nguyện nộp thay cho anh T và đã nộp đủ tại BL sô 930 ngày 6-10-2003

3.Quyết định này có hiệu lực ngay

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ HUÉ

Tham phan

Trang 15

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 36/DSST ngay 26/2/2004

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành và sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn được lập ngày 04/6/2004 giữa:

Anh Lê Thừa K, sinh năm 1966 , nghề nghiệp : thợ mộc Tạm trú tại: 22 Đường „ Huế Chị Trương Thị V, sinh năm › nghề nghiệp : Thợ thủ công Nơi ĐKNKTT: -

NOI DUNG

Annh Lê Thừa K và chị Trương thị V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đã được UBND phường Huế chứng nhận kết hôn vào ngày 07/10/1987.Quá trình chung sống với nhau lâu nay không ( có hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài.Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là

K, không quan tâm đến đời sống của vợ con.Từ đó đã làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng tram trọng, không hàn gắn đòan tụ được Nhận thay tình cảm vợ chồng không còn , sông với nhau không có hạnh phúc nên anh K và chị V tự nguyện và thỏa thuận xin được thuận tình ly hôn

Về con chung : Anh K và chị V công nhận vợ chồng có 2 con chung là Lê T, sinh ngày

04/07/1988 và Lê thị Á, sinh ngày 15/10/1990 Hai bên thỏa thuận giao cả hai con cho chị V

Trang 16

nuôi dưỡng Về việc cấp dưỡng tiền nuôi con , anh K thỏa thuận cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 300.000đ Thời gian câp dưỡng là từ tháng 5/2004 trở đi

Về tài sản chung : Anh K và chị V công nhận vợ chồng có tạo lập một nhà đất tọa lạc tại

" ( chưa làm thủ tục đăng ký nhà ở ,đất ở), nhưng vợ chồng đã thỏa thuận tự giải quyết phân chia tài sản với nhau xong Nay anh K và chị V thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết

vê mặt tài sản

Về công nợ: Anh K và chị V công nhận có nợ của một số khách hàng và quỹ tín dụng tổng cộng

là 31.500.000đ , nhưng nay vợ chồng đã trả nợ xong , nên anh K chị V và những người có

quyên lợi liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết về mặt công nợ nữa

Xét thấy mâu thuẫn giữa anh D, chị V da tram trọng , đời sống chung không thẻ kéo dài , mục đích hôn nhân không đạt được Việc thỏa thuận xin được thuận tình ly hôn của hai bên là tự nguyện , phù hợp với pháp luật, nên cân được châp nhận

IV) Yêu cầu UBND phường - Huế xóa tên đăng ký kết hôn của anh Lê Thừa K và chị Truong Thị V trong sô đăng ký kết hôn

5.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ HUÉ

Trang 18

c.Trường hợp 3:

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Sô : 3 /QĐTTLH Huê ,ngày tháng 6 năm 2004

TL số: 4/DSST

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành và sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn được lập ngày 25-6- 2004 giữa:

Một bên: Ông L.V.A - sinh năm 1964

Và một bên : L.T P - sinh năm 1962

Cùng trú tại „ phường - Huê

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :

1 Ông V.V- 55 tuổi Trú tại -

2 Ông LM, sinh năm 1957 và bà Lê Thị Ngọc B- sinh năm 1963 Trú tại:

3 Ông L.N - sinh năm 1964 Trú tại: -¿¿ +2

4 Ngân hàng Công Thương

5 Ngân hàng Ngoại Thương

Với nội dung

- Về tình cam vg chồng : Ong AbàP tựnguyện kết hôn sau 8 năm tìm hiểu , được hai bên „ gia đình đông ý , hai người có tô chức lê hỏi cưới theo phong tục địa phương và làm đăng ký kêt

Trang 19

hôn tại UBND phường - Huế ngày 16/10/1986.Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đầu , sau đó vì cuộc sống khó khăn về kinh tế nên hai vợ chồng tìm biện pháp đề làm kinh tế , nhưng do hai bên có say mê riêng ,ông A thì theo đuổi sự nghiệp kinh doanh ; còn bà P thì theo sự nghiệp khoa học nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống và phát sinh mâu thuẫn , đã hơn một năm nay hai vợ chồng đã sống ly thân , tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa; đến nay tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn đã đến mức tram trọng nên ông A và bàP cùng tự nguyện xin thuận tình ly hôn

- Về con chung : Ong A , ba P cùng thống nhất thỏa thuận việc nuôi con theo nguyện vọng của các con : Nay giao 2 con chung: L.S sinh ngày 28/6/1987 và L V- sinh ngày 9/9/1990 cho ba P trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông A tự nguyện đóng góp phí tôn nuôi con chung với bà

P một tháng 900.000đ tinh ké tir thang 5/2004 trở đi cho đến khi cháu V trưởng thành

Về tài sản chung : Ông A và bà P đã thống nhất tự thỏa thuận phân chia tài sản chung ( trên cơ

sở hai bên tự lập biên bản thỏa thuận phân chia tài sản ngày 25/4/2004 ) như sau : Trong số tài sản chung của vợ chồng ; giao cho ông A được quyền sỡ hưữ và sử dụng sé tai san gồm : 1) Tòan bộ tài sản hiện có tại Công ty tọa lạc tại trong số tài sản này

bao gồm cả nhà xưởng được xây dựng trên diện tích thuộc tờ bản đồ số se thửa đất số

cee ( thửa đất đã có giây chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND TP Huế cấp ngày

.mang tên người được quyên sử dụng là ông A ) ; số tiền góp vốn cổ phần tại Công ty

chiếm 87% là 694.579.000đ, vật tư , thiết bị máy móc sản xuất

" ( ngôi nhà đang được dùng kinh

3 trong đó 1 căn có diện tích xây dựng là được xây dựng trên diện tích đất m2 thuộc thửa đất số „ tờ bản đồ số ( nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã

có giấy chứng nhận do UBND tỉnh TT Huế cấp ngày ) và một căn có diện tích xây dựng là m2 được xây dựng trên diện tích đất m2 thuộc thửa đất số , to ban dé số ( nhà và quyền sử dụng đất này đã đươc được UBND tỉnh TT Huế cấp giầy chứng nhận

ngày ); đồng thời thời ông A được quyền sử dụng 1⁄4 diện tích đất ở và một phần diện tích nhà ở tọa lạc tại .- cụ thể điện tích đất ở ông An được chia là m2 được trích ra từ thửa đất số „ ( có diện tích m2 ) tọa lạc we Huế, nhà đất đã được UBND tỉnh TT Huế cấp giấy chứng nhận quyền sỡ hữu , sử dụng ngày cấp cho bà P, ông A trên đất có một phan nhà ở có diện tích Xây, dựng là m2 ( có 9 hiệu thửa đất mới tách là 3 to ban dé s6 ) có đặc điểm : Phía bắc giáp thửa đất số .phía nam giáp thửa đất số : phía đông giáp thửa đất sô ¡ phía tây giáp đường

„ phía nam giáp thửa đất số .; phía đông giáp thửa đất só ; phía

tây giáp đường „ (thửa đât có ký hiệu mới tách thửa là sô ) Đông thời bà P được

quyên sỡ hữu tòan bộ số đồ dùng gia đình có ở số nhà 32 xe may ; 1 xe Wave Thai Lan sản xuất mang biên số : : Ixe máy Dream do Nhật sản xuât mang biển số

đều mang tên sỡ hưữ L.T.P; và sỡ hưữ tòan bộ só tiền góp vốn cổ phần tại cơ

Trang 20

trong đó phần cho con trai L.K a m2 dat ,trén đất có diện tích nhà ở là .m2 ; có đặc điểm; Phía bắc giáp đường .phía nam giáp thửa đất số , phía đông giáp thửa đất số ; phía tây giáp thửa đất số phan cho con gái L.S có diện tích đất ở là m2, trên đất

có diện tích nhà ở là .m2 ; có đặc điểm ;Phía bắc giáp đường phía nam giáp thửa đất số ;phía đông giáp thửa đất số ; phía tây giáp thửa đất số thửa đất của cháu K

có ký hiệu mới tách thửa là và thửa đất của cháu S có ký hiệu mới tách thửa là Do hiện nay 2 con chưa đến tuổi trưởng thành nên bà P được quyên quản lý sử dụng cả phần diện tích nhà và phần diện tích đất ở của 2 con được chia , cho đến khi 2 con K và S trưởng thành thì bà

P có trách nhiệm làm thủ tục chuyền quyền sỡ hữ nhà ở và quyền sử dụng đất 6 cho hai con tại

cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Ông An bà P đều công nhận vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ riêng : Ông A có nợ đề đầu tư kinh doanh sản xuất và kinh doanh

TH HH re, tông cộng là : 5.097.000.000đ ( năm tỉ không trăm chín mươi bảy triệu đồng ), trong đó nợ Ngân hàng Ngoại thương TT Huế : 725.000.000đ tiền gốc , nợ Ngân hàng Công thương TT Huế là 165.000.000đ tiền gốc , còn lại là nợ của cá nhân ( số tiền nợ 2 ngân hàng Công thương TT Huế và Ngoại thương TT Huế )do vợ chồng ông L M, bà L.N ( em gái và em

rẻ ông A đứng tên vay giúp cho ông A) nên ông A có nghĩa vụ trả số nợ riêng này thông qua

ôngM ,bà N trả nợ cho 2 ngân hàng, trong đó có cả một phần nợ ông M ,bà N, ông V bảo lãnh cho ông để tiền Ngân hàng để đầu tư kinh doanh „ nếu khi có tranh chấp xảy ra ,ông A ,ôngM ,bà N,ông V có trách nhiệm giải quyết nợ với Ngân hàng

Về nợ của các cá nhân,ông A có nghĩa vụ thanh tóan Bà P không có liên quan ; kể cả khi hai người còn là vợ chồng hoặc sau khi đã nhận được quyét định giải quyết cho thuận tình ly hon của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Xét thấy cuộc hôn nhân của ông A ,bà P đã mâu thuẫn trầm trọng , đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Ông A ,bà P tự nguyện xin thuận tình ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật cân được chấp nhận

Áp dụng khoản 3 điều 33, điều 44, 45, 46 diéu 90,92,94,95,97,98 luật Hôn nhân và gia đình ngày 09/6/2000 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ;

Điều 31,43.44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ; Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 quy định về án phí

QUYÉT ĐỊNH

1) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

a) Về tình cảm vợ chồng :

Công nhận sự thuận tình ly hôn gitta Ong L.V.A va ba L.T.P

- Dé nghi UBND phường xóa tên ông A ,ba P trong số lưu đăng ký kết hôn tại phường ( quyên số số thứ tự ngày 16/10/1987)

Trang 21

b) Về con chung : Công nhận sự thỏa thuận của anh ông A ,bà P ( trên cơ sở nguyện vọng của các con )

Giao 2 cháu : L.S- sinh ngày 28/6/1987 và L.K sinh ngày 9/9/1991 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành Ông An tự nguyện đóng góp phí ton nuôicon với bà P một tháng

900.000đ tính ké tir thang 6/2004 trở đi cho đến khi cháu K trưởng thành

Ông A được quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn can e) Về tài sản chung : Công nhận sự thỏa thuận của ông An,bà P:

Phần tài sản ông L.V.A được giao quyền sỡ hữu và sử dụng

+ Phan tai sản bà L.T.P được giao sỡ hưữ và sử dụng gồm:

Giao cho bà Phương Anh được quyền sử dụng diện tích đất ở là m2được trích ra 1/4 từ thửa

đất số 94 trên đt có diện tích nhà là .m2 ( thửa đất có ký hiệu mới tách thửa là : ; tờ bản đồ

số ) có đặc điểm : Phía bắc giáp đường › phía nam giáp thửa dat ¡ phía đông giáp thửa đất ; phía tây giáp đường „ nhà và đất tọa lạc tại số

„phường - Huế Bà P có quyền căn cứ vào quyết định này khi có hiệu lực pháp luật đẻ làm thủ tục chuyền quyền sử dụng đất ở và tài sản có trên đất tại cơ quan Nhà nước có thâm quyền theo quy định của pháp luật mang tên bà P

Đồng thời bà P được quyền sỡ hữu tòan bộ số đồ dùng gia đình có ở số

nhà «<< «2 : 2 xe máy ; | xe Wave Thai Lan san xuất mang biển số : 31 xe may | Dream do Nhat san xuất mang biển số : đều tên sỡ hưữ L.T.P và sỡ hưữ tòan bộ

Giao cho cháu L.K được quyền sử dụng diện tích đất ở là .m2, trên đất có diện tích nhà ở là

m2; thửa đât có ký hiệu mới tách thửa là sô ; có đặc điêm : Phía băc giáp

đường : phía Nam giáp thửa đất số phía đông giáp thửa số , phía tây giáp thửa đât sô ; phía tây giáp thửa đât sô

Do hiện nay 2 cháu L.S và L K chưa đến tuổi trưởng thành nên tạm giao cho bà P được quyền quản lý và sử dụng cả phần diện tích đất và diện tích nhà ở của 2 cháu S và K được chia cho đến khi 2 cháu S và K trưởng thành, bà P có trách nhiệm làm thủ tục chuyên quyền sỡ hưữ nhà

ở và quyền sử dụng dat ở cho hai con S, K tai co quan nhà nước có thâm quyền theo quy định của pháp luật

Ông A, bà P không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết

Trang 22

Về nợ riêng: Ông A có nợ riêng đề đầu tư kinh doanh . - và kinh doanh ã" tông cộng là : 5.097.000.000d ( năm tỉ không trăm chín mươi bảy triệu đồng ) trong đó nợ của Ngân hàng Ngoại thương TT Huế só tiền 720.000.000đ tiền gốc, nợ Ngân hàng Công Thương TT Huế số tiền 165.000.000đ; số nợ còn lại nợ của các cá nhân

Số tiền nợ 2 Ngân hàng Công thương và Ngoại thương TT Huế do vợ chồng ông L M,bà.N (em gái , em rê ông A) đứng tên vay giúp cho ông A nên ông A có nghĩa vụ trả nợ số nợ riêng này thông qua ông M , bà N trả cho 2 Ngân hàng (trong đó có cả một phần nợ ông M,bà N, ông V bao lãnh đề vay tiền Ngân hàng Công Thương TT Huế để đầu tư kinh

doanh ) Nếu có tranh chấp xảy ra ông A ,ôngM bà N,ông V có trách nhiệm giải quyết nợ với Ngân hàng Công Thương và Ngân hàng Ngoại Thương TT Huế ( kế cả tiền lãi phát sinh ) về số nợ của các cá nhân , ông A có trách thanh tóan , bà P không có liên quan ké

cả khi hai bên còn là vợ chồng hợp pháp hoặc sau khi đã nhận được quyết định giải quyết cho thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật

2.Về án phí : ông A sba P mỗi bên phải chịu 25.000đ án phí dân sự sơ thâm, nhưng ông A da tu nguyện xin nộp cả phân án phí cho bà P phải chịu và đã tạm nộp dự phí đủ 50.000đ Căn cứ biên lai sô quyên sô 04 ngày của Đội thi hành án Tp Huê

3.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Tham phan

Trang 23

CONG NHAN THUAN TINH LY HON

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành và sự thỏa thuận về việc thuận tình Iy hôn được lập ngày 1I8-5- 2004 giữa:

Một bên: Chi Hoàng thị T - sinh năm 1979.Tạm trú :

Và một bên: Anh Nguyễn N sinh năm 1977 Trú tại:

Với nội dung

- Về tình cảm vợ chồng : AnhN, chị T cùng học tại trường nên có quen biết nhau từ trước ; sau đó 2 bên tìm hiểu nhau 2 tháng thì tự nguyện kết hôn ,nhưng anh chị chỉ được gia đình anh Nghệ thuật đồng ý , còn gia đình chị T không đồng ý ; nhưng vì hai anh chị quyết tâm lấy nhau nên đã tự đến UBND xã tỉnh Quảng Bình làm đăng ký kết hôn ngày 20/6/1999, sau khi làm đăng ký kết hôn anh chị có làm bữa tiệc nhỏ đề hai gia đình gặp nhau .Nhưng sau đó anh N, chi T chung sống hạnh phúc chỉ được máy tháng dau thi vợ chong xay ra mâu thuẫn do không hợp tính nhau, và đồng thời vợ chồng không tin tưởng nhau về lòng chung thủy cũng như về kinh tế , tiền bạc,đần dần vợ chồng sống không có sự ràng buộc ve kinh tê gia

đình ,ai làm người đó ăn , không còn quan tâm chăm sóc đến nhau nữa cho đến nay tình cảm vợ chồngthực sự đã hết nên anh N, chị T đều nhất trí tự nguyện xin thuận tình ly hôn

- Về con chung : Anh N, chị T chung sống đã sinh được một con trai chung ,nay haibên thỏa thuận giao con cho chung la N L- sinh ngày 8/9/1999 cho chị T trực tiếp nuôi dudng ,anh N đóng góp phí tổn nuôi con với chị Hằng 200.000đ /thang , tinhké tir thang 5/2004 trở đi cho đến khi cháu L trưởng thành,

Về tài sản chung : Anh N, chị Tđã thỏa thuận:

Trang 24

Giao cho anh N sỡ hưữ một dàn máy nghe nhạc gồm ( 1 âm li , 2 loa) số tài sản còn lại gồm : I

ti vi Samsung ; 1 dau dia hinh , 1 tu trưng đô phòng khách và tòan bộ đô dùng sinh hoạt gia đình giao cho chị Tsở hữu.Hai người đêu công nhận vợ chông không có nợ chung nên không yêu cau tòa án giải quyêt

Xét thấy cuộc hôn nhân của anh N, chị T đã mâu thuẫn trầm trọng , đời sóng chung không thé kéo dài , mục đích của hôn nhân không đạt được Việc anh N, chị T tự nguyện xin thuận tình ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật cần được châp nhận

Căn cứ vào các điều 90, 92,94, 95 Luật Hôn nhân và gia đình của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2000 ; điều 31,43,44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ; Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 quy định vê án phí

QUYÉT ĐỊNH

1) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

a) Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng T Tvà anh Nguyễn N

- Đề nghị UBND xã - Huyện - Tỉnh Quảng Bình xóa tên chị T, anh N trong số lưu đăng ký kết hôn tại xã ( quyên sô ngày 20/4/1999)

b) Về con chung : Công nhận sự thỏa thuận của anh N ,chị T: Nay giao cháu N.L - sinh ngày 8/9/1999 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng ,anh N tự nguyện đóng góp phí tốn nuôi con với chị T 200.000đ /tháng , tính kể từ tháng 5/2004 trở đi cho đến khi cháu L trưởng thành.Anh N được quyền qua lại thăm nom , chăm sóc con chung không ai được cản trở

c) Về tài sản : Công nhận sự thỏa thuận của anh N, chi T,

Giao cho anhN sở hưữ một dàn máy nghe nhạc gồm ( 1 âm li,2 loa)

Giao cho chịT được quyền sỡ hưữ tòan bộ số tài sản chung còn lại gồm : I tỉ vi Samsung ; 1 đâu đĩa hình , I tủ trưng đô phòng khách và tòan bộ đô dùng sinh hoạt gia đình

2.Về án phí : Anh N, chi T mỗi bên phải chịu 25.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị T đã tự nguyện xin nộp cả phân án phí cho anh N và đã tạm nộp dự phí đủ 50.000đ , nay được trừ Căn

cứ biên lai sô ., quyên sô ngày .của Đội thi hành án Tp Huê

3.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Tham phan

Trang 25

CONG NHAN THUAN TINH LY HON

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành và sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hon được lập ngày II tháng 5 nam 2004 giữa:

Chi :H.M , sinh1975 „ Trú tại - Thuận Thành - Hué

Theo biên bản thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn thì chị H.M kết hôn hợp pháp với anh D.T vào tháng 2/2000.Sau khi cưới vợ chông sông với nhau tại nhà anh T chỉ hạnh phúc được I năm thì xảy ra mâu thuẫn Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không phù hợp , anh T ham chơi không có trách nhiệm với vợ con, chính vì vậy vợ chồng hay cải vả nhau „gia đình hai bên đã nhiều lần dàn xếp nhưng không đem đến kết quả , vợ chồng sống không có hạnh phúc mâu thuẫn kéo dài , vợ chồng đã cắt đứt quan hệ tình cảm nên anh T và chị M xin thuận tình ly hôn

Về con chung : Hai bên đương sự xác nhận có 2 cháu và thỏa thuận như sau:

Về nợ chung ,tài sản chung :Không có

Về án phí chị M và anh T phải chịu án phí theo luật định

Trang 26

Xét việc thuận tình ly hôn giữa hai bên đương sự là hòan tòan tự nguyện và phù hợp với pháp luật

Căn cứ vào các điều 90,92.94 Luật Hôn nhân và gia đình của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2000, Tòa án nhân dân Thành phô Huê

QUYÉT ĐỊNH

1.Công nhận sự thỏa thuận của các đương như sau:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H.M và anh Ð.T

Về con chung : Giao 2 cháu

-Ð.T.E sinh 24/10/2001,

-Ð.T.F, sinh 26/11/2003 cho chị M, anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000đ/2 cháu kế

từ tháng 6/2004 đên khi các cháu trưởng thành 18 tuôi

Việc lui tới chăm sóc , thăm nom con chung không ai có quyền ngăn cản

Đề nghị UBND phường xóa tên chị M, anh T trong số lưu đăng ký kết hôn tại phường

về án phí: chị H.M và anh Ð.T mỗi người phải chịu 25.000đ án phí DSST ( đã nộp theo biên lai SỐ ngày 4ạI Đội thi hành án Tp Huê )

3 Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Tham phan

Trang 27

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành và sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn được lập ngày 22 tháng 4 năm 2004, giữa:

Một bên: Chị Nguyễn thị Yến - sinh năm 1973,

Và một bên : Anh nguyễn Văn Dạng - sinh năm 1969.Cùng trú tại : : -s

NỘI DUNG VỤ VIỆC

Anh Dang , chi Yến tự nguyện kết hôn sau 3 năm tìm hiểu , được sự đồng ý của 2 gia đình.Anh chị có tô chức lễ cưới theo phong tục địa phương và làm đăng ký kết hôn ngày 22/02/1997 tại UBND phường Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sông không có hạnh phúc do tính tình không hợp ,bat đồng quan điểm sống, ngoài ra phía anh Dũng còn thường uống rượu; khi say là anh Dạng gây gô với chị Yến và đập phá đồ dùng trong nhà ; thời gian đã kéo dài nhiều năm nhưng vợ chồng vẫn không khắc phục cải thiện được nên cuộc sống ngày càng căng thắng mâu thuẫn trằm trọng, vì tình cảm vợ chồng đã hết nên anh Dạng, chị Yến đã cùng nhất trí tự nguyện thỏa thuận xin thuận tình ly hôn

Về con chung : Anh Dạng, chị Yến chung sống đã sinh được 2 con chung, nay anh chị

đã thống nhất thỏa thuận :

Giao 2 con chung là : Nguyễn Thị Lan- sinh ngày 20/12/1997 và nguyễn Thị Nhài - sinh ngày 27/4/2000 cho chị Yến trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành , anh Dạng tự nguyện đóng góp phí tốn nuôi con với chị Nga một tháng 1.000.000đ ; tính kẻ từ tháng 4 năm 2004 trở đi cho đến khi cháu Nhài trưởng thành

Trang 28

Về tài sản chung : Anh Dạng, chị Yến cùng công nhận vợ chồng không có tài sản chung , nợ chung nên không yêu câu tòa án giải quyêt

Xét thấy cuộc hôn nhân của anh Dạng, chị Yến đã đến mức trầm trọng , đời sống chung sống không thê kéo dài , mục đích hôn nhân không đạt được.Việc anh Dạng, chị Yên xin thuận tình

ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật cân được châp nhận

Căn cứ vào các điều 90,92.94 Luật hôn nhân và gia đình của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam năm 2000;Căn cứ vào điêu 3 I,43,44 Pháp lệnh thủ tục giải quyêt các vụ án dân sự

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 quy định về án phí ;

QUYÉT ĐỊNH

1.Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau :

a) Về tình cảm vợ chồng : Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Yến và anh Nguyễn Văn Dạng

Đề nghị UBND phường xóa tên của chị hi Nguyen Thị Yến và anh Nguyễn Văn Dạng tại số lưu đăng ký kết hôn tại phường quyền số số thứ tự , ngày 22/2/1997

b) Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Yến và anh Dạng: Giao 2 cháu :

Nguyễn Thị Lan- sinh ngày 20/12/ 1997

Nguyễn Thị Nhài - sinh ngày 27/4/2000 cho chị Yến trực tiếp nuôi dương đến trưởng thành , Anh Dạng tự nguyện đóng góp phi tôn nuôi con với chị Yên một tháng 1.000.000đ ( Một triệu đông ) tính kê từ tháng 4 năm 2004 trở đi cho đên khi cháu Nhài trưởng thành

Anh Dũng được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở

2.Về án phí : Anh Dạng ,chị Yến mỗi bên phải chịu 25.000đ án phí dân sự sơ thẩm , nhưng chị Yến tự nguyện nộp cả phần án phí của anh Dạng và chị Yến đã nộp đủ 50.000đ Căn cứ biên lai số ., quyền số ngày 17/3/2004 của Đội thi hành án Tp Huế

3.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Tham phan

Trang 29

CONG NHAN THUAN TINH LY HON

TOA AN NHAN DAN THANH PHO HUE

Căn cứ vào hồ sơ dân sự sơ tham thy lý số :230/DSST ngày 08/12/2003

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành và sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn được lập ngày 31/3/2004; giữa:

Anh R.R, sinh nam 1965, nghé nghiệp: „ xóm Côn, Trường Bia,

Chị K.K, sinh năm 1964, nghề nghiệp : Trú tại: xóm Côn, Trường Bia , An Cựu, Huế

Người bảo vệ quyền cho anh R.R là Luật sư F.F.F ,thuộc văn phòng Luật sư .-.- -

Hue

NOI DUNG

Anh R.R và chị K.K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường

TH Hee vào ngày 12/10/1987.Quá trình chung sống trước đây hạnh phúc , nhưng thời gian

may năm trở lại đây giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn , nguyên nhân mâu thuẫn chủ

yếu là do giữa vợ chông không hợp tính nhau , mặt khác do anh R.R có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không quan tâm gì đến cuộc sống gia đình vợ con.Từ đó giữa vợ chồng thường xuyên gây gô , xâu âu nhau Tình cảm vợ chông lạnh nhạt sông ly thân nhau gần hai năm nay , không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau nữa Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn ,

Ngày đăng: 18/12/2014, 20:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam năm 1995 Khác
2. Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam năm 1985, nam 1999 Khác
3. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 Khác
6. Luật Hôn nhân - gia đình năm 1959, 1986 va 2000 Khác
9. Nghị định 77/ 2001/ NÐ - CP ngày 22 /10/ 2002 của chính phủ quy định chỉ tiết về đăng ký kêt hôn theo nghị quyêt 35 Khác
10. Nghị định 87/ 2002/ NÐ - CP ngày 21/ 3/ 2002 của chính phủ quy định xử phạt hành chính do vi phạm lĩnh vực Hôn nhân và gia đình Khác
11. Nghị định 32/ 2002/ NÐ - CP ngày 27/ 3 /2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia dình đôi với dân tộc thiêu sô Khác
12. Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch (sinh tử, kết hôn) Khác
13. Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2000 Khác
14. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thâm phán ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một sô quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 Khác
15. Nghị quyết só 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân - gia đình 1986 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w