1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tự quản làng xã - môn xã hội học nông thôn

21 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 114 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm : Tự quản cộng đồng bào gồm: 1nguyên tắc dân chủ cộng đồng làng xã ,nghĩa là các thành viên đến độ tuổi nhất định đều phải có nghĩa vụ nhất định, trong những công việc của cộng

Trang 1

TỰ QUẢN LÀNG XÃ

1 Khái niệm :

Tự quản cộng đồng bào gồm: 1)nguyên tắc dân chủ cộng đồng làng xã ,nghĩa là các thành viên đến độ tuổi nhất định đều phải có nghĩa vụ nhất định,

trong những công việc của cộng đồng, 2) trong nhóm xã hội đặc thù này tồn tại

những vị trí xã hội mang tính chất đứng đầu để điều khiển mọi hoạt động chung

có lợi cho cộng đồng, thông thuờng là những người đuợc cộng đồng chọn và bầu

cử ra theo nguyên tắc “chọn mặt gửi vàng” , 3) mọi thành viên của nhóm xã hội

này đều có những mục tiêu chung để gắn bó với nhau; 4) Cộng đồng có những

luật lệ riêng của mình để đánh giá hoạt động của mọi thành viên “ (Tống Văn

Chung – xã hội học nông thôn, NXB ĐHQGHN, 2000 tr55)

Tự quản có nghĩa là cho phép các cộng đồng xã hội được tổ chức,điều hành các công việc, đời sống của mình Mặt khác, có những trường hợp các

cộng đồng dân sự hình thành một cách tự phát, tồn tại một cách khách quan bên

ngoài tầm quản lí của nhà nuớc Ví dụ: hình thành các nhóm xã hội thứ cấp Như

thế trong trường hợp này tự quản cộng đồng là tất yếu

Có thể nói tự quản làng xã là một hiện tượng xã hội trong đó mỗi cộngđồng là một chủ thể xã hội (dưới danh nghĩa tập thể , nhóm xã hội, mỗi cá nhân

hay thành viên) của nó là một bộ phận, mỗi hoạt động của nó trở thành đối

tuợng quản lí của một chủ thể tập thể Khách thể quản lý là những hoạt động

thuộc về đời sống của cá nhân được coi là có liên quan đến lợi ích chung của tập

thể (cộng đồng) và phải được cộng đồng điều chỉnh để có sự hài hoà về quyền

lợi của mỗi cá nhân trong cộng đồng đó

Tự quản là một sản phẩm của nhiều sự tự nguyện Truớc hết là sự tựnguyện của nhà nước dành quyền tự điều chỉnh cho mỗi cá nhân của cộng đồng,

Trang 2

cũng tức là dành quyền cho cộng đồng tự tổ chức điều chỉnh các hoạt động cần

thiết của nó Thứ hai, là sự tự nguyện của người dân trong việc tham gia hay uỷ

nhiệm cho người khác tham gia vào chủ thể quản lí có tính tậpp thể Thứ ba, đó

là sự tự nguyện xá đinh những công việc gì sẽ thuộc về khách thể của sự quản lí

bởi tập thể Thứ tư, đó là sự tự nguyện thoả thuận những biện pháp quản lí,

chẳng hạn xác định những quy định hay những điều khoản thuởng, phạt; tự

nguyện đóng góp các nguồn tài chính cần thiết cho tập thể để thực hiện các công

việc chung

Như vậy tự quản một mặt mang tính tự nguyện, bình đẳng nội bộ cao,

mặt khác không thể tạo thành một cộng đồng khép kín tới mức nhà nước không

thể can thiệp đuợc như trong chế độ tự trị (Tô Duy Hợp, Luơng Hồng Quang –

2000, Phát triển làng xã , NXBVH – Thông tin Hà Nội, tr 38)

2 Sự phân biệt các khái niệm “tự quản”, “tự tri”, “dân chủ”.

Tự quản một hiện tượng xã hội tất yếu khách quan.

Trong quá trình nhận thức thực tiễn chính trị xã hội, trong hệ thống các

khái niệm, nhân loại đã làm sang tỏ các khái niệm cụ thể như sau: Tự quản, tự

trị, quản lý, dân chủ, phân quyền, đảm quyền hành chính……điều cơ bản ở chỗ,

các khái niệm này phản ánh mối quan hệ xã hội khác nhau, và xã hội hpọc

không thể không nghiên cứu và xem xét

Các khái niệm trên đều có vai trò quan trọng trong các khoa học khác

nhau như: chính trị học, xã hội học… nhưng vấn đề ở chỗ xã hội học xem nó

như là một sự “kiện xã hội” (Durkheim) như kà một quá trìh một hiện tượng

khách quan, vốn như nó nảy sinh trong qua trình tự tổ chức sống , hoạt động và

sinh hoạt của các chủ thể hành động xã hội

Trang 3

Việc phân biệt các khái niệm trên có tầm quan trọng to lớn, nếu không dễnhầm lẫn các khái niệm này.Từ đó dễ làm cho người ta dễ nhầm lẫn khi đứng

trước một sự kiện hay một quá trình nào đó, Hay khó phân biệt đay là hiện

tượng gi? Ví dụ như “tự quản” hay “quản lý “

Điều này cho thấy khái niệm tự quản cần thiết trong sự phân biệt vớicác khái niệm khác , chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa chúng Dưới đây là

một số phân biệt :

2.1 Tự trị chỉ có sự có quyền tự quản lấy công việc của mình “thường nói

về một bộ phận trong một quốc gia ví dụ: khu tự trị, nước cộng hoà trự trị trong một

lien bàng (Nga _Pháp _Mỹ)

Tự trị là một hiện tượng có ở nhều nơi trên thế giới.Nó thường là sản phẩm của cuộc đấu tranh giữa một cộng đồng người dân trị, hay cộng đồng xã

hội đang sống trong một khu vực đặc biệt nào đó đối với nhà nước, tức chính

quyền của một quốc gia.Với khía cạnh nào đó nó biểu thị mối quan hệ chính trị

giữa nhà nước trung ương với một cộng dodòng dân cư “cộng dodòng dân sự “

Trang 4

Như vậy , tự tổ chức chỉ là một cộng đồng xã hội ngoài quyền tổ chức tự

cai trị nội bộ, phải nhượng lại quyền ngoại giao và quyền bảo toàn lãnh thỗ cho

nhà nước trung ương

Với tư cách tự cai trị , tự trị (cộng đồng) chỉ - cộng đồng thực hiện các

quyền :lập pháp , tư pháp , hành pháp nhưng chỉ trong lãnh thỗ của mình dưới

khuôn khổ chung của nhà nước Như thế, tự trị là khái niệm tự quản của một

quốc gia chưa hoàn chỉnh (chưa đầy đủ ) , mà trong đó có chính quyền và công

dân, có người cai trị và nị trị, có ngời quản lý và bị quản lý, có áp bức và có đấu

tranh…….có đầy đủ các mối quan hệ giai cấp – xã hội đa dạng và phong phú

2.2 Dân chủ

Là khái niệm chỉ mối quan hệ chính trị giữa nhà nước và công dân

nhằm đảm bảo cho các công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Với

nghĩa vụ đó nó chỉ phương thức , cách thức công tác, tôn trọng và thực hiện

quyền mọi người tham gia bàn bạc và quyết định các công việc chung.Như vậy

dân chủ về bản chất là mối quan hệ chính trị giữa nhà nước và công dân của nó

trong đó xác định quyền của mỗi công dân tham gia xây dựng nhà nước và giám

sát hoạt động nhà nước Tham gia xây dựng cả về thể chế bộ máy, dân sự, giám

sát hoạt động của n hà nước là giám sát cả trước và sau mỗi công việc Tuy

nhiên dân chủ có nhiều hình thức : dân chủ chính trị, dân c hủ cộng đồng, dân

chủ nhóm… Nghĩa là mọi thành viên có quyền tham gia và thực hiện các vai trò

xã hội của mình trước các thành viên khác là như nhau.Sự giám sát này phải

theo một trình tự và thủ tục pháp luật chứ không phải tuỳ tiện

Đối tượng của dân chủ là nhà nước và công việc của nhà nước Công

dân xây dựng nhà nước và tham gia giám sát các hoạt động của nhà nước không

thông qua khâu trung gian, một tổ chức nào, việc thực hiện ý chí của công dân

Trang 5

2.3 Các dạng thức của các dạng tự quản làng xã hiện nay thể hiện ra ở

chỗ nó được thể chế thành một bộ máy điều hành công việc chung của cộng

đồng, tổ chức thực hiện các quyết nghị của hội nghị thôn, làng, ấp bản….mà tổ

chức thực hiện những chủ trương, quyết định của hội đồng nhân dân, uỷ ban

nhân xã và cấp trên vào trong làng xã.Tuy nhiên, bộ máy điều hành này của

thôn, làng, ấp, bản…hiện nay không hoàn toàn độc lập với bộ máy quản lý nhà

nước, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đói trong một số lĩnh vực tổ chức

sinh hoạt chung cho mọi thành viên trong làng

Trong lịch sử các công trình cho thấy “tự quản làng xã “ là sự tự quản lý

mình thông qua : “lệ làng và hương ước” “Lệ làng là những quy phạm hoạt

động của mỗi thành viên trong làng, còn hương ước tức là lệ làng thành văn Lệ

làng cũng có tính cưỡng chế Cái khác nhau giữa luật nước và lệ làng chỉ yếu là

ở lực lượng nào duy trì các quy phạm đó.Luật nước thì chủ yếu dựa vào quyền

vào quyền lực chính quyền (có công an, quân đội , toà án…)còn lệ làng dựa vào

truyền thống được cộng đồng chấp nhận và tuân thủ được hình thành từ kinh

nghiệm của con người của cộng đồng truyền từ đời này sang đời khác”

“Kết cấu quyền lực mang tính tự quản của làng xã phần nào được xây

dựng trên cơ sở quyền trưởng lão Dân gian Việt Nam có câu “triều đình trọng

tước, làng trọng xỉ” … “sự tồn tại của lệ làng chính là sự nhân nhượng của luật”

“Nhìn chung, lệ làng phải tuân theo luật nước, thậm chí còn bổ sung cho luật

nứơc”

“Hương ước là công cụ tự điều khiển, tự điều chỉnh của làng xã…Hương

ước làng xã bao gồm nhiều nội dung kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường…Cụ

thể:

- Quy định về những thiết chế xã hội trong làng như: Hội đồng kỳ

mục, lý dịch, dòng họ ngụ cư, chính cư Quy định về những thứ bậc xã hội: già

Trang 6

trẻ , nam nữ…Hương ước đề cao lão quyền Người già trong làng rất được tôn

trọng

- Quy định những điều khoản giữ gìn trật tự, trị an thôn xóm, đồng

điền và môi trường

- Quy định những nghĩa vụ đối với nhà nước , thuế, phu phen, lính

tráng

- Quy định việc giữ gìn phong tục, tập quán, truyền thống gia đình,

họ hàng, thôn xóm quan hệ thân thiết, nam nữ…Nhiều hương ước còn đề cao

học hành thi cử,…

Các hương ước đều có những khoản thưởng phạt rõ ràng nhằm khuyến

khích những hoạt động có lợi cho cộng đồng và trừng phạt những kẻ làm

phương hại nó.Tinh thần của hương ước là tinh thần tự quản cộng đồng.Tinh

thần này nếu phát huy đúng hướng, phù hợp với hiến pháp và pháp luật

3, Vai trò của thể chế tự quản đối với mối quan hệ nhà nước và xã

hội dân sự

Từ cấu trúc tự qiản hiện nay có thể rút ra một số kết luận:

1, Xã hội dân sự ở nông thôn Việt Nam vẫn luôn tồn tại mà trên nó là

nhà nước

2, Trong mọi xã hội truyền thống và hiện đại luôn song hành mối liên hệ

qua lại lẫn nhau giữa xã hội dân sự và nhà nước.Trong nông thôn, các chủ thể xã

hội của xã hội dân sự có những mô hình và cấp độ tồn tại khác nhau đa dạng và

phong phú

3, Trong các làng xã nông thôn , sự hoạt động của nó bị chi phối bởi sự

chỉ đạo của thể chế chính trị xã hội (Đảng, đoàn thể chính trị xã hội) Ban quản

Trang 7

lý thôn và các ban tự quản khác cũng chịu sự chỉ đạo của thể chế chính trị - xã

hôi

4, Các “chân rết, “cánh tay dài” của nhà nước chỉ đạo các ban quản lý

của thôn làng “ban tự quản thôn, ban an ninh, Các ban khác đều chịu sự chỉ đạo

của trưởng thôn, và dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng trong thôn

5, Các thể chế dân sự do dân lập ra hoạt động trong khuôn khổ chi phối

của hương ước làng mà bản thân hương ước lại chịu sự hương ước của pháp

luật: mọi hoạt động đều bị giới hạn trong các quy phạm cho phép của quy chế

dân chủ cơ sở Có thể nói, sự nhất quán trong quản lý cấp cộng đồng từ nhà

nước, và một phần tự chủ từ xã hội dân sự đã bổ sung cho nhau Vì thế trong các

cộng đồng xã hội nông thôn luôn trong xu thế ổn định, hài hoà Nó làm cho mối

quan hệ nhà nước - xã hội dân sự luôn ở thế “hoà, hợp”

6, Các ban tự quản theo pháp luật quy định và các ban tự quản do dân tự

cử ra đều có vai trò nhất định trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng nó đảm

bảo cho làng xã trong xã hội dân sự ở nông thôn tạo thành một khối đoàn kết,

tạo ra sự đồng thuận xã hội, tạo ra sự hỗ trợ các thành viên trong mỗi thể chế ,

trong làng xã Và mỗi thể chế đều mang một ý nghĩa củng cố gắn bó với cộng

đồng Đây là truyền thống tốt đẹp trong mỗi cộng đồng dân sự ở nông thôn

7, Với cấu trúc này “nhà nước” và “xã hội dân sự” không đối lập nhau

mà bổ sung cho nhau , hoàn thiện hoạt động quản lý xã hội Nó tạo ra “thế ứng

xử” giữa cộng đồng xã hội dân sự và nhà nước” Vấn đề , kiểm soát sâu hơn ,

nhà nước cần có đạo luật về lập các phường, hội Đó là sự cụ thể hoá Hiến Pháp

8, Trong cộng đồng dân sự, hương ước và phong tục tập quán, tín

ngưỡng vẫn là công cụ quản lý xã hội quan trọng

Trang 8

4 Các tổ chức chính thức và các kiểu dạng “tư quản” trong thôn, ấp

bản hiện nay.

Điều quan trọng là trong làng xã hện nay, việc lãnh đạo và tổ chức các

hoạt động đều thống nhất theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện

mọi mặt hoạt động của cộng đồng, các đoàn thể có vai trò vận động quần chúng

và các thành viên của tổ chức mình thực hiện các nghị quyết của nhà nước Các

tổ chức chính thức bao gồm:

 Chi bộ, hay tổ chức Đảng của thôn, làng, ấp, bản…

 Chi hội nông dân

 Chi đoàn thanh niên, có vai trò lãnh đạo thanh niên ngoài đoàn, đội,

thiếu niên tiền phong và đội nhi đồng

 Chi hội cựu chiến binh,

 Chi hội phụ nữ

 Ban (tổ) công tác mặt trận thôn,

 Chi hội người cao tuổi

Các nhân vật bán chính thức trong thôn, làng, ấp, bản…làm nhiệm vụ

chuyên môn với tư cách là “chân rết” (cánh tay dài) của chính quyền nhà nước:

 Công an viên thôn

 Y tế thôn bản (ở vùng sâu vùng xa)

 Thanh tra viên thôn

 Cộng tác viên dân số với chức năng tuyên truyền dân số kế hoạch

hoá gia đình

Trang 9

Với sự hiện diện của các tổ chức và những vị trí bán chính thức với vai trò

tổ chức thực hiện công việc nhà nước trong thôn, làng, ấp, …làm cho xã hội

nông thôn Việt Nam hiện đại làm giảm và đánh mất đi tính tự trị, chỉ còn là sự

tự quản trên một số hoạt động chung của cộng đồng Sự tự quản của làng xã

nông thôn Việt Nam không bị mất đi, mà đó là “tự quản có mức độ” (thuật ngữ

cử GS Tô Duy Hợp, 2000)

Sự tự quản đó được thực hiên trong khuân khổ có tính pháp lí do quy

chế dân chủ ở cơ sở quy định như sau: “ Điều 17: thôn làng, ấp, bản có thể thành

lập các ban hoà giải, ban an ninh, tổ bảo vệ sản xuât, ban kiến thiết Các tổ chức

này do dân bầu, trưởng thôn, làng, ấp, bản phối hợp với ban công tác mặt trận

quản lý và chỉ đạo” [ Quy chế dân chủ ở cơ sở]

5 Các đặc trưng của tự quản làng xã :

Khi nghiên cứu về làng xã đồng bằng Bắc bộ Nguyễn Đức Truyến nêu ra

một số đặc điểm tự quản làng xã Theo ông những đặc điểm đó là:

5.1 Sự tự trị tương đối của cộng đồng nông dân với xã hộ bao trùm lên nó,

thống trị nhưng nó lại bao dung với những đặc tính riêng của chúng

5.2 Tầm quan trọng về cấu trúc của nhóm gia đình trong tổ chức đời sống

kinh tế của đời sống xã hội và của cộng đồng

5.3 Hệ thống kinh tế có tính tự cung tự cấp tương đối, không có sự phân

biệt giữa sản xuất và tiêu thụ và luôn duy trì các mối quan hệ với kinh tế bao

trùm lên nó

5.4 Cộng đòng địa phương được đặc trưng bởi các mối quan hệ nội tại có

sự biểu hiện lẫn nhau và cac mối quan hệ lỏng lẻo cả nó với các cộng đồng bao

quanh

Trang 10

5.5 Chức năng quyết định của các vai trò trung gian, của các chức sắc

giữa các cộng đồng nông dân và xã hội bao trùm lên nó.( báo cáo : quan hệ cộng

đông trong thời kì đổi mới ĐBSH Đề tài tiềm lực 1998 do Nguyễn Đức Truyến

làm chủ nhiệm đề tài Phòng XHH văn hoá, viện xã hội học)

Tự quản là một sản phẩm của nhiều sự tự nguyện

Trước hết đó là sự tự nguyện của nhà nước dành quyền tự điều chỉnh cho

mỗi cá nhân cộng đồng hay rộng hơn là một thành viên của nó ( Ví dụ hộ gia

đình trong lang, hay mọt suất đing trong dòng họ) điều đó có nghĩa là dành

quyền cho cộng đồng đó tự tổ chức, tự điều chỉnh, kiểm soát các hoạt động cần

thiết của nó

Thứ hai, là sự tự nguyện của người dân trong việc tham gia hay uỷ

nhiệm (uỷ quyền ) cho người khác khi tham gia vào chủ thể quản lí có tính tập

thể Ví dụ minh hoạ cho vấn đề này là sự uỷ quyền cho ban quản lí thôn

Thứ ba, đó là sự tự nguyện xác định những hoạt động gì, những công

việc gì sẽ thuộc về khách thể quản lí bởi tập thể Ví dụ ở nông thôn việc xây

dựng đường xá, hệ thống điên đều do các thành viên thảo luận và quyết định

Nếu vượt qua khuân khổ này thì lúc đó có những người được uỷ quyền sẽ mất

tín nhiệm trước cộng đồng đó

Thứ tư, là sự tự nguyện thoả thuận các biện pháp quản lí, các hoạt

động Ví dụ: để quản lí việc bảo vệ các thành viên xây dựng các điều khoản

trong quy ước làng, quy định các mức thưởng phạt khác nhau cho những vi

phạm cụ thể đối với chuwnr mực mà các thành viên trong làng xã đã thoả thuận

Điều đó cũng hàm chứa sự tự nguyện cảu các tành viên cũng như đóng

góp tài chính, vật chất cần thiết cho tập thể để tập thể phục vụ hiện ccacs công

Ngày đăng: 18/12/2014, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w