4.10 Một số chỉ tiêu năng suất, chất lượng củ của các dòng khoai lang 4.11 Mức ựộ nhiễm sâu hại của các dòng, giống tham gia thắ nghiệm 4.14 đánh giá chất lượng ăn uống và tắnh chấp nhận
Trang 1HÀ NỘI – 2011
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ bất cứ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ dẫn
rõ nguồn gốc
Tác giả
Hoàng Thị Thuận
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi nhận ựược sự quan tâm, giúp ựỡ tạo ựiều kiện thuận lợi của các thầy cô và cán bộ Viện ựào tạo sau đại học; bộ môn Công nghệ sinh học; bộ môn Di truyền và chọn giống
đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Thầy giáo PGS TS Vũ đình Hoà, cám ơn những chỉ dẫn sâu sắc, tận tâm, chu ựáo của các Thầy trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin ựược gửi lời cảm ơn tới các ựồng chắ Lãnh ựạo Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Hải Phòng cùng toàn thể cán bộ công chức Trung tâm, các bạn bè ựồng nghiệp ựã tạo mọi ựiều kiện về thời gian, cơ sở vật chất cũng như luôn ựộng viên khắch lệ, giúp ựỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin ựược cảm ơn tới lãnh ựạo UBND xã đoàn Xá, xã Mỹ đức, nông dân ựịa ựiểm tôi tham gia thực hiện luận văn ựã tạo ựiều kiện cơ sở vật chất, giúp ựỡ tôi thực hiện luận văn
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả người thân, bạn bè luôn ựộng viên, khắch lệ và tạo mọi ựiều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhận những giúp ựỡ quý báu ựó
Hải Phòng, tháng 8 năm 2011
Tác giả
Hoàng Thị Thuận
Trang 4
2.3 Những nghiên cứu khoai lang trên thế giới và trong nước 21
2.4 Tình hình sử dụng và chế biến khoai lang trong và ngoài nước 25
Trang 54.2.1 Kết quả khảo nghiệm một số giống khoai lang mới trong vụ
4.2.2 đánh giá lựa chọn giống có sự tham gia của người dân 64
4.2.3 Kết quả khảo nghiệm một số dòng ưu tú vụ xuân năm 2011 71
4.2.4 Lựa chọn giống khoai lang vụ xuân 2011 có sự tham gia của người
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KLTB : Khối lượng trung bình NSTLT : Năng suất lý thuyết NSCTP :Năng suât củ thương phẩm NSCKTP :Năng suất củ không thương phẩm NSSK :Năng suất sinh khối
NSCT :Năng suất củ tươi NSTT : Năng suất thực thu HKCKTL : Hàm lượng chất khô thân lá HSKT :Hệ số kinh tế
HLCKC: : Hàm lượng chất khô củ NSCK
: Năng suất chất khô HLCK
: Hàm lượng chất khô HLTB : Hàm lượng tinh bột
NSTB : Năng suất tinh bột
TB : Trung bình Tr.ñ : Triệu ñồng
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.2 Thành phần hóa học trong 100g củ khoai lang tươi và khô 14
2.4 Thành phần axita min không thay thế của củ khoai lang 192.5 Diện tắch, năng suất, sản lượng cây lương thực thế giới 2008 29
2.8 Sản lượng khoai lang phân theo ựịa phương (1000tấn) 314.1 Tình hình sản xuất khoai lang tại Hải Phòng năm 2005 - 2010 414.2 đặc ựiểm hình thái thân, lá và củ của các dòng khoai lang 434.3 Thời gian qua các giai ựoạn sinh trưởng của các giống khoai
4.4 động thái tăng chiều dài thân chắnh của các giống khoai lang
4.5 Sự tăng trưởng số củ qua các thời kỳ của các dòng, giống 52
4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống khoai lang
khi thu hoạch trong vụ đông năm 2010 tại Hải Phòng 554.7 Năng suất củ, năng suất thân lá và năng suất sinh khối của các
dòng, giống khoai lang trong vụ đông năm 2010 Tại Hải Phòng 564.8 Hàm lượng chất khô của các dòng, giống khoai lang tham gia thắ
4.9 Một số chỉ tiêu phân tắch chất lượng khoai lang vụ ựông năm
Trang 84.10 Một số chỉ tiêu năng suất, chất lượng củ của các dòng khoai lang
4.11 Mức ựộ nhiễm sâu hại của các dòng, giống tham gia thắ nghiệm
4.14 đánh giá chất lượng ăn uống và tắnh chấp nhận của giống 68
4.17 Thời gian qua các giai ựoạn sinh trưởng của một số dòng ưu tú
4.18 Sự tăng trưởng số củ qua các thời kỳ của các dòng, giống khoai
4.19 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống khoai lang
4.20 Năng suất củ, năng suất thân lá và năng suất sinh khối của các
dòng, giống khoai lang trong vụ xuân năm 2011 Tại Hải Phòng 764.21 Yếu tố cấu thành năng suất và tắnh chấp nhận giống 77
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
4.1 động thái tăng chiều dài thân chắnh của các giống khoai lang
4.2 Sự tăng trưởng số củ qua các thời kỳ của các dòng, giống khoai
4.3 Năng suất củ, năng suất thân lá và năng suất sinh khối của các
dòng, giống khoai lang trong vụ đông năm 2010 Tại Hải Phòng 57
Trang 101 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Khoai lang, Ipomoea batatas L (Lam.), là cây thân thảo, sống hàng
năm, thân mềm bò hoặc leo, hoa lưỡng tính, lá ñơn, mọc cách, lá ñều ñặc hoặc có khía Khoai lang là nguồn cung cấp calo chính cho một số nước Thái Bình Dương
Ở Việt Nam, khoai lang là cây lương thực truyền thống lâu ñời, nằm trong hệ thống canh tác góp phần ña dạng hóa và ñảm bảo an ninh lương thực, ñặc biệt những khi giáp hạt Trong những năm gần ñây, khoai lang là cây trồng có hiệu qủa kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Khoai lang dễ trồng, có thể sử dụng với nhiều mục ñích: lấy củ ăn tươi hoặc chế biến, thân lá cho chăn nuôi, ngọn khoai làm rau xanh Vì vậy trong sản xuất khoai lang là cây trồng ñược sử dụng theo hướng ña mục ñích, ñáp ứng ñược nhu cầu tiêu thụ khác nhau của người tiêu dùng
Sản phẩm thu hoạch chủ yếu của cây khoai lang là củ và ñược coi là loại lương thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng tốt Ngoài thành phần dinh dưỡng chính là tinh bột, khoai lang còn có các thành phần khác như Protein, các Vitamin (Vitamin C, tiền Vitamin A (Caroten), B1, B2…) các khoáng chất (P, Fe…) góp phần quan trọng trong dinh dưỡng con người Các chất trong khoai lang có tác dụng giảm chlolesterol, cầm máu, giữ cân bằng axit và muối trong máu Khoai lang là thức ăn rất tốt cho người mắc bệnh tiểu ñường thông qua sự ổn ñịnh ñường trong máu và giảm ñề kháng insulin Ngoài ra, khoai lang còn có hàm lượng magiê (Mg) khá cao (559mg Mg/100g khoai lang khô) Các nghiên cứu cho thấy chế ñộ ăn giàu Mg có thể làm giảm nguy
cơ mắc bệnh ñái tháo ñường type 2 Ở một số giống cải tiến, củ khoai lang chứa hàm lượng β-caroten – tiền vitamin A tương ñối cao Khoai lang còn
Trang 11chứa kali, các vitamin C, B6, riboflavin, ñồng, axit pantothetic và axit folic Trên thế giới, khoai lang ñược chế biến thành nhiều sản phẩm lương thực, thực phẩm khác nhau ðặc biệt, những giống khoai ruột vàng còn ñược sử dụng ñể sản xuất bột dinh dưỡng cho trẻ em, khoai lang ruột tím có khả năng chống ung thư do các chất kháng ô xy hóa và làm chất màu thực phẩm
Trong những năm qua, một số giống khoai lang cho năng suất cao chất lượng tốt ñã và ñang ñược ñưa vào sản xuất ở một số tỉnh phía bắc Mặc dù ñã
có giống mới tốt hơn các giống truyền thống, song những năm gần ñây diện tích khoai lang ở các ñịa phương giảm ñáng kể, trong ñó có Hải Phòng Năm
2000 diện tích trồng khoai lang tại Hải phòng là 4061 ha ñến năm 2008 diện tích khoai lang còn 1720 giảm 2,36 lần so với năm 2000 Năng suất khoai lang tại Hải Phòng ñạt 9-10 tấn/ha Nguyên nhân trên là do khả năng tiếp cận giống mới của người dân còn hạn chế, các giống khoai trồng tại Hải Phòng chủ yếu là giống ñịa phương: giống Bất luận xuân, giống khoai lim, Hoàng Long là những giống cũ do người sản xuất tự ñể giống năng suất thấp (trung bình 200 – 250 kg/sào), chất lượng kém Mặt khác, người nông dân chưa có
cơ hội tiếp cận ñược những giống mới và những giống có ñặc tính giống như mong muốn, khả năng áp dụng giống khoai lang mới ở Hải Phòng còn thấp
Hiện nay, nhu cầu ăn tươi của khoai lang trên thị trường lại khá lớn Tại Hải Phòng những giống khoai ăn tươi chủ yếu nhập từ các tỉnh phía nam nên giá thành cao, thời gian bảo quản ngắn, không cung cấp ñủ cho nhu cầu ăn tươi
và chế biến của thị trường Hải Phòng Việc lựa chọn những giống phù hợp thị trường và phát triển sản xuất khoai lang thương phẩm tại ñịa phương có thể giải quyết nhu cầu tại chỗ, ñồng thời giúp người sản xuất nâng cao thu nhập
Giống cây trồng nói chung và giống khoai lang nói riêng phản ứng rất khác nhau với sự thay ñổi của môi trường Vì vậy việc ñánh giá các giống mới nhằm khẳng ñịnh năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng với ñiều kiện sinh thái tại Hải Phòng là rất cần thiết nhằm từng bước nâng cao năng
Trang 12xuất, chất lượng khoai lang tại Hải Phòng nói chung và các vùng lân cận nói riêng Xuất phát từ tình hình sản xuất khoai lang trong nước, ựịa phương và
nhu cầu của người sản xuất chúng tôi thực hiện ựề tài :Ộ Nghiên cứu tuyển
chọn một số giống khoai lang mới ựể phát triển giống khoai lang thương phẩm tại Hải PhòngỢ
1.2 Mục ựắch, yêu cầu của ựề tài
1.2.1 Mục ựắch của ựề tài
- đánh giá thực trạng sản xuất khoai lang tại Hải Phòng
- Tìm hiểu thị hiếu của người dân Hải Phòng ựang quan tâm trong sản xuất
- Tuyển chọn ựược các giống khoai lang mới thắch hợp ựể phát triển khoai lang thương phẩm ở Hải Phòng ựược người dân chấp nhận
1.2.2 Yêu cầu của ựề tài
- Khảo sát tình hình sản xuất khoai lang ở Hải Phòng trong những năm gần ựây
- Làm rõ thị hiếu của người sản xuất hoặc người tiêu dùng
- đánh giá ựặc ựiểm nông học, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống khoai lang thắ nghiệm có sự tham gia ựánh giá lựa chọn của người sản xuất
- đánh giá khả năng thắch ứng của các giống trên các chân ựất khác nhau tại Hải Phòng
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ựề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của ựề tài
đề tài tuyển chọn giống khoai lang có năng suất, chất lượng tốt, thắch ứng tốt với ựiều kiện sinh thái ựịa phương Các kết quả là dẫn liệu khoa học làm cơ sở cho các nhà chọn giống nghiên cứu và tham khảo, qua ựó góp phần
bổ sung nguồn giống khoai lang cho nghiên cứu và sản xuất ựại trà ở Hải
Phòng
Trang 131.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của ñề tài chọn lọc ñược một số giống khoai lang năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với mong muốn của người trồng Thúc ñẩy sản xuất khoai lang phát triển tại Hải Phòng
Trang 14
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của ựề tài
2.1.1 Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây khoai lang
Khoai lang, Ipomoea batatas (L.) Lam, là cây 2 lá mầm thuộc họ Bìm
Bìm (Convolvulaceae) (Purse glove, 1974 ; Võ Văn Chi và CS, 1969 Trong
tổng số 50 chi và hơn 1000 loài thuộc họ này thì Ipomoea batatas là loài có ý nghĩa quan trọng ựược sử dụng làm lương thực Số loài Ipomoea dại ựược xác ựịnh là hơn 400 loài nhưng loài Ipomoea batatas là cây trồng duy nhất có củ
ăn ựược Cây khoai lang có khả năng thắch ứng rộng hơn các cây trồng khác như cây sắn, củ từ, củ mỡẦ Cây khoai lang khác với các loài khác về màu sắc vỏ củ (trắng, kem, ựen, nâu, vàng hoặc hồngẦ) hay màu ruột củ (trắng, kem, vàng, nghệ, ựốm tắm, tắmẦ) và khác nhau về khả năng ựề kháng ựối với sâu bệnh (Woodfe, 1992)
Khoai lang có nguồn gốc nguyên thủy từ vùng nhiệt ựới châu Mỹ lan ựến vùng Nam Thái Bình Dương Tuy nhiên, những nước mà cây khoai lang ựóng vai trò quan trọng nhất lại là các nước mà cây khoai lang mới du nhập gần ựây Các thương gia và các nhà thống trị châu Âu ựã mang ựến châu Phi, châu Á và ựông Thái Bình Dương Cây khoai lang ựược ựưa vào Trung Quốc năm 1594 và Papua Niu Ghinê khoảng 300 ựến 400 năm trước (Yen, 1974)
Khoai lang là cây rau lương thực ựứng hàng thứ bảy trên thế giới sau lúa mì, lúa nước, ngô, khoai tây, lúa mạch, sắn (FAO, 1992) [11] Trong số cây có củ, khoai lang ựạt sản lượng ựứng thứ 2 trên thế giới ( Bùi Huy đáp, 1984) [23] Theo số liệu của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) năm 2006 [23], toàn thế giới ựã có 111 nước trồng khoai lang trên diện tắch 8,99 triệu ha trong ựó 95% tại các nước ựang phát triển, năng suất bình quân 13,72 tấn/ha, sản lượng 123,50 triệu tấn
Trang 15Khoai lang là loài cây thân thảo dạng dây leo sống lâu năm, có các lá mọc so le hình tim hay sẻ thùy chân vịt ( Mai Thạch Hoành, 1998)[19], các hoa có tràng hợp và kắch thước trung bình Rễ củ ăn ựược có hình dáng thuôn dài và thon, lớp vỏ nhẵn nhụi có màu từ ựỏ, tắm, nâu, kem hay trắng Lớp cùi thịt có màu từ trắng, kem, vàng nghệ, cam hay ựốm tắm và khác nhau với khả năng ựề kháng với sâu bệnh (Woolfe, J.A, 1992)[64]
Cây khoai lang ựược trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 400 Bắc ựến 320 Nam và lan ựến ựộ cao 3.000m so với mặt nước biển (Woofe J.A, 1992)[64] Tuy nhiên, cây khoai lang vẫn ựược trồng nhiều ở các nước Nhiệt ựới, á nhiệt ựới, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh
Khoai lang có nguồn gốc từ khu vực nhiệt ựới Châu Mỹ, nó ựược con người trồng cách ựây trên 5.000 năm (Bùi Huy đáp, 1961)[2] Nó ựược phổ biến rất sớm trong khu vực này, bao gồm cả khu vực Caribe Nó cũng ựược biết tới trước khi có sự thám hiểm của người Phương tây tới Polynesia Cây khoai lang ựược ựưa vào Trung Quốc năm 1594 và Papua Niu Ghinê khoảng 300-400 năm trước (Yên, D.E, 1974)[66]
đầu tiên khoai lang ựược ựưa về Tây Ban Nha, tiếp ựó lan tới một số nước ở châu Âu và ựược gọi là Batatas (hay padada), sau ựó là Spanish Potato (hoặc Sweet potato)
Các nhà thám hiểm Bồ đào Nha ựã thu thập cây khoai lang vào châu Phi (có thể bắt ựầu từ môdămbic hoặc Ănggôla) theo hai con ựường từ châu
Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan sang Ấn độ
Các thương gia Tây Ban Nha ựã thu nhập cây khoai lang vào Philippin (Yên, 1982) và từ Philippin vào Phúc Kiến (Trung Quốc) năm 1594 Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng khoai lang ựã ựược tái nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc
Cây khoai lang ựược trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 400Bắc và 320 Nam và lan rộng ựến ựộ cao 3000m so với mặt nước biển
Trang 16(Woodfo J.A, 1992) Tuy nhiên,cây khoai lang vẫn ựược trồng nhiều ở các nước nhiệt ựới, á nhiệt ựới châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh
Vào năm 1942 trong chuyến vượt biển ựầu tiên của Christopher Clumbus ựã tìm ra tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra khoai lang ựược trồng ở Hispaniola và Cuba Từ ựó khoai lang mới thực sự lan rộng ở Châu
mỹ và sau ựó ựược di thực ựi khắp thế giới đầu tiên khoai lang ựược ựưa về Tây Ban Nha, tiếp ựó lan tới một số nước Châu Âu và ựược gọi là Batatas hoặc (Padada), sau ựó là Spanish Potato hoặc (Sweet Potato).Các nhà thám hiểm Bồ đào Nha ựã du nhập cây khoai lang vào Châu Phi theo 2 con ựường
là từ Châu Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan sang Ấn độ Các thương gia Tây Ban Nha ựã du nhập cây khoai lang vào Philippin (Yên, D.E, 1982)[66] và từ Philippin vào Phúc Kiến Trung Quốc năm 1954, ngoài
ra cũng có ý kiến cho rằng khoai lang có thể vào Trung Quốc sớm hơn từ Ấn
ựộ hoặc Myanma, vào những năm 1563 (Ho và CS, 1994) Và ở nước ta khoai lang có thể ựược du nhập vào khoảng cuối thế kỷ 16 từ Phúc Kiến Trung Quốc (Vũ đình Hòa, 1997)[1997] Người Anh ựã ựưa khoai lang vào Nhật Bản năm 1615 nhưng ựã không phát triển ựược, ựến năm 1674 cây khoai lang ựã ựược tái nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc
Hầu hết, các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học ựều cho thấy Châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang Bằng chứng lâu ựời nhất là những mẫu khoai lang khô thu ựược từ hang ựộng Cilca Canyon (Peru) sau khi phân tắch phóng xạ cho thấy có ựộ tuổi từ 8.000 ựến 10.000 năm (Engel, 1970)[44] Ngoài ra, các nhà khảo cổ học về cây khoai lang còn ựược tìm thấy tại thung lũng Casma của Peru có ựộ tuổi xấp xỉ 2.000 năm trước công nguyên (Ugent, Poroski và Poroski, 1983), Austin 1977, OBrien, P.J 1972, và Yên, D.E 1982)[36], và cây khoai lang thực sự lan rộng ở Châu
Mỹ khi người Châu Âu ựầu tiên ựặt chân tới
Trang 17Theo các tài liệu cổ xưa thì cây khoai lang gần như chắc chắn là cây trồng nhập nội và có thể ñược ñưa và nước ta từ ñảo Luzon, Philippin vào khoảng cuối ñời nhà Minh (Viện Hán Nôm, 1995)[34]
Sách Biên niên lịch sử Cổ Trung ñại Viêt Nam ( Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1987) có ghi: “Năm 1558 (năm mậu ngọ), khoai lang từ Philippin ñược ñưa vào nước ta, trồng ñầu tiên ở An Trường, thủ ñô tạm thời của ñời Lê Trung Hưng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Như vậy, khoai lang ñã có mặt và gắn bó ở nước ta cách ñây khoảng 300- 400 năm
2.1.2 ðặc tính sinh vật học và yêu cầu sinh thái của khoai lang
2.1.2.1 ðặc ñiểm thực vật học
a) Rễ
Trong ñiều kiện trồng bằng dây (sinh sản vô tính) kể từ khi ñặt dây cho ñến khi cây bén rễ (ra rễ) mất khoảng 7-10 ngày Khoai lang ra rễ sớm hay muộn phụ thuộc vào phẩm chất dây giống và thời vụ trồng ðiều kiện tốt ñể cho khoai lang bén rễ nhanh là ñất phải thoáng, nhiệt ñộ cao, ñất ñủ ẩm, ñủ dinh dưỡng Rễ ñầu tiên xuất hiện ở các mắt sát gần mặt ñất Sau ñó phát triển dần xuống các mắt phía dưới Các mắt trên thân khoai lang ñều có khả năng
ra rễ, nhưng các mắt trên mặt ñất ra rễ không có lợi Mỗi mắt khoai lang có thể ra ñược 15-20 rễ, nhưng trong thực tế thường chỉ ra ñược 5-10 rễ, trong ñó 3-4 rễ tập trung ở mỏ ác (mắt gần sát mặt ñất) có nhiều khả năng phân hóa thành củ
Trong ñiều kiện trồng bằng hạt (sinh sản hữu tính) thì 3-5 ngày sau khi gieo ñã ra rễ chính, một tuần sau bắt ñầu ra rễ con, sau 20 ngày lá ñầu tiên xuất hiện và lúc ñó ñã ra nhiều rễ con
b) Thân
Sau khi dây khoai lang bén rễ thì thường mầm nách ở các mắt thân cũng bắt ñầu phát triển và tạo thành các thân phụ (cành cấp 1) và từ cành cấp 1 lại phát triển tiếp cành cấp 2
Trang 18Thân chính của cây khoai lang ñược phát triển từ phần ngọn của dây khoai lang ñem trồng, thân chính dài hay ngắn phụ thuộc vào ñặc tính giống, ñiều kiện ngoại cảnh và biện pháp kĩ thuật trồng Thân chính dài nhất có khi tới 3-4m, trung bình khoảng 1,5-2m Phần lớn các giống hiện trồng có dạng thân
bò, nằm ngang, có một số giống thân leo, thân ñứng hoặc hơi ñứng có năng suất cao hơn các giống thân bò
Trên thân có nhiều lóng (ñốt), các giống có ñốt ngắn là giống có khả năng cho nhiều củ Tiết diện thân khoai lang thường tròn hoặc có cạnh Màu sắc thân cũng tùy giống khác nhau : Trắng vàng, xanh ñậm, xanh nhạt, trên thân
có lông hoặc không lông
c) Lá
Lá khoai lang mọc cách, có cuống dài (trên dưới 10cm) Nhờ có cuống dài nên lá khoai lang có thể xoay chuyển phiến lá ra ngoài ánh sáng mặt trời Hình dạng, màu sắc lá phụ thuộc vào giống: hình tim, mũi mác, có khía, khía lông, khía sâu, màu vàng nhạt,xanh,xanh ñậm… Mặt trên của lá màu xanh ñậm, mặt dưới màu xanh nhạt Trên cùng một giống, màu sắc thân lá và màu sắc lá ngọn cũng khác nhau
Một ñặc ñiểm ñáng lưu ý là cây khoai lang có rất nhiều lá, trên thân chính
có khoảng 50-100 lá Nếu kể cả các thân phụ, một cây khoai lang có vào khoảng 300-400 lá ðây là một nhược ñiểm của cây khoai lang: thân bò, số lá lại nhiều nên ñã xảy ra tình trạng các lá che khuất nhau nhiều làm giảm khả năng quang hợp
d) Hoa, quả, hạt
* Hoa: Giống hoa bìm bìm, hình chuông có cuống dài Hoa thường mọc ở
nách lá hoặc ñầu ngọn thân, mọc riêng rẽ hay thành chum 3-7 hoa Tràng hoa hình phễu, màu hồng tía, cánh hoa dính liền Mỗi hoa có 1 nhị cái và 5 nhị ñực cao thấp không ñều nhau và ñều thấp hơn nhị cái Sau khi nở hoa nhị ñực mới tung phấn Phấn chín chậm,cấu tạo hoa lại không thuận lợi cho tự thụ
Trang 19phấn, nên thường trong những quả ñậu, tỷ lệ tự thụ phấn khoảng 10%, còn 90% thụ phấn khác cây, khác hoa Hoa thụ phấn tốt nhất vào khoảng 8-9 giờ (ðinh thế lộc, 2005)
ðiều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng tới ra hoa khoai lang Thường nhiệt
ñộ tương ñối cao, ấm áp, ngày ngắn (8-10 giờ ánh sáng/ngày), cường ñộ ánh sáng yếu (bằng 26,4% cường ñộ ánh sáng trung bình) là ñiều kiện thuận lợi ñể khoai lang ra hoa ðể xúc tiến khoai lang ra hoa, có thể dùng biện pháp xử lý ánh sáng ngày ngắn, hoặc xử lý chấn thương
* Quả: Quả khoai lang thuộc dạng quả sóc, hình tròn Sau khi thụ tinh
khoảng 1-2 tháng thì quả chín Khi quả chín, quả tự tách làm hạt bắn ra bên ngoài
* Hạt: Mỗi quả có từ 1-4 hạt màu nâu ñen, hình bầu dục hay ña giác, vỏ
hạt cứng, khi gieo cần phải xử lý hạt ñể chóng mọc
2.1.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây khoai lang
a) Nhiệt ñộ
Cây khoai lang có nguồn gốc nhiệt ñới nên trong quá trình sinh trưởng cây cũng yêu cầu ôn ñộ cao, không chịu rét lạnh, cần thời tiết ấm áp Nhiệt ñộ thích hợp nhất cho khoai lang phát triển là trong khoảng từ 20-280C
Trong ñiều kiện nhiệt ñộ từ 100C ñến 150C hoặc thấp hơn nữa thì khả năng phân hóa và hình thành củ hầu như không diễn ra (Spence và Humphris, (1972)[57]
Nhiệt ñộ càng cao ñặc biệt trong ñiều kiện ñủ nước và chất dinh dưỡng thân lá phát triển càng tốt, sự hình thành củ thuận lợi do ñó số củ/ cây càng nhiều Tuy nhiên, tốc ñộ lớn của khoai lang còn phụ thuộc vào biên ñộ chênh lệch nhiệt ñộ ngày ñêm, chênh lệch này càng lớn thì càng có lợi cho sự lớn lên của củ (Trịnh Xuân Ngọ và ðinh Thế Lộc, 2004)[30] Nhưng nếu như nhiệt ñộ cao quá nhất là trong ñiều kiện ñất ẩm nhiều, giàu ñạm thì sẽ làm cho
sự phát triển thân lá bốc quá mạnh, ức chế quá trình tập chung chất vào củ,
Trang 20hoạt ựộng của tượng tầng sẽ yếu, mức ựộ hóa gỗ của tế bào trung tâm lại mạnh Và nhiệt ựộ quá thấp thân lá sẽ phát triển xấu, quá trình tổng hợp chất hữu cơ về sau kém cũng ảnh hưởng ựến quá trình tập trung chất dinh dưỡng
về củ Vì vậy tùy từng giai ựoạn sinh trưởng của khoai lang mà ảnh hưởng của ựiều kiện nhiệt ựộ khác nhau
Ở miền Bắc nước ta do có mùa ựông lạnh nên khoai lang vụ đông Xuân thường bị ảnh hưởng của ựiều kiện nhiệt ựộ thấp trong giai ựoạn phân cành ra củ, vì vậy khi trồng cần có biện pháp chống rét, tránh trồng vào ngày
có nhiệt ựộ thấp sẽ làm ảnh hưởng ựến quá trình bén rễ, mọc mầm của cây Khoai lang vụ đông cần tranh thủ trồng sớm tạo ựiều kiện cho thân lá sinh trưởng và củ phát triển trong giai ựoạn nhiệt ựộ còn cao
Thời kỳ phát triển thân lá: cây cần nhiều nước phục vụ cho quá trình tạo thành và tắch lũy chất khô trong thân lá
Thời kỳ phình to của củ: quá trình phát triển tập trung chủ yếu vào sự vận chuyển, tắch lũy vật chất hữu cơ từ thân lá vào củ, và ựể củ phát triển thuận lợi thì giai ựoạn này cũng cần ựảm bảo ựộ ẩm ựất 70-80% ựộ ẩm tối ựa ựồng ruộng (Trịnh Xuân Ngọ và đinh Thế Lộc, 2004)[30]
c) đất ựai và dinh dưỡng
Cây khoai lang có phạm vi thắch ứng rộng, có thể trồng ựược trên nhiều loại ựất khác nhau: ựất cát, ựất thịt nặng, ựất bạc màu, ựất ựồi núi, ựất cát ven biển Nhưng phát triển tốt nhất trên ựất cát pha tơi sốp, màu mỡ và thoáng khắ
Trang 21Theo ý kiến của (Lưu Bảo Nhiệm, 1963) thì tỷ lệ cát pha là 3sét + 7 cát
và 4 sét + 6 cát là tốt ðất nhiều cát quá sẽ giữ nước kém, mất nước nhanh, khi trời nắng nhiệt ñộ ñất quá cao dễ bị sùng hà ðất thịt nặng quá củ khoai lang thường méo mó chậm chín, phẩm chất giảm, nước nhiều khó bảo quản, ñất thịt dí chặt và khô hạn, hoạt ñộng của tượng tầng tuy có mạnh nhưng ñồng thời mức ñộ hóa gỗ của tế bào trung tâm cũng lớn; như vậy dễ hình thành rễ ñực và rễ cám Khoai lang chịu mặn tương ñối khỏe, biên ñộ PH trồng khoai tương ñối cao từ 4,2-8,3 nhưng khoai lang phát triển tốt vào những ñộ ph 5-6, ñất hơi chua khoai mọc tốt
2.2 Thành phần dinh dưỡng của cây khoai lang
Khoai lang chứa ñầy ñủ chất dinh dưỡng, có thể gọi các loại khoai là rau vì nó cung cấp cho cơ thể caroten và Vitamin C, nhưng là rau ñặc biệt vì
nó có chứa hàm lượng các chất sinh nhiệt cao Vì chứa nhiệt lượng cao, nên các loại khoai có thể thay ñược 1 phần lương thực Nếu cần 1000Kcal, phải ăn trên 4kg rau muống, trong khi ñó, nếu ăn khoai lang tươi, chỉ cần 800gr Trong 100gr khoai lang khô có nhiệt lượng tương ñương 100gr gạo Tuy nhiên, vì lượng protein rất thấp nên ăn khoai lâu dài sẽ dễ dẫn ñến thiếu protein Giá trị của khoai là vừa có phần thay lương thực lại có phần là rau (Caroten, Vitamin C) mà ở lương thực không có
Theo kết quả công bố của Viện Dinh dưỡng Bộ Y Tế NXB Y học Hà Nội, 2000 Cho thấy hàm lượng các chất dinh dưỡng trong củ khoai lang tươi
so với khoai lang khô, các loại củ khác với gạo tẻ và rau muống là cao hơn hẳn (bảng 2.5)
Trang 22Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam
Thành phần
dinh dưỡng
K
lang tươi
K lang nghệ tươi
Gạo
tẻ
Rau muốn
g Năng lượng
(Kcal) 119 116 109 114 92 333 344 23 Protein (g) 0,8 1,2 1,5 1,8 2,0 2,2 7,9 3,2 Lipid (g) 0,2 0,3 0,2 0,1 - 0,5 1,0 - Glucid (g) 28,5 27,1 25,2 26,5 21,0 80 76,2 2,5
Xơ (g) 1,3 0,8 1,2 1,2 1,0 3,6 0,4 1,0 Calci (mg) 34 36 44 64 10 - 30 100 Phospho (mg) 49 56 44 75 50 - 104 37 Sắt (mg) 1,0 0,9 0,8 1,5 1,2 - 1,3 1,4 Caroten (mcg) 150 1470 - 10,0 29 - - 2280 VTM B1 (mg) 0,05 0,12 0,09 0,06 0,1 0,09 0,1 0,1 VTM B2 (mg) 0,05 0,05 0,03 0,03 0,05 0,07 0,03 0,09 VTM PP (mg) 0,6 0,6 0,1 0,1 0,9 - 1,6 0,7
Trang 23tươi có 6,8g nước, 0,8g protid, 0,2g lipid, 28,5g glucid (24,5g tinh bột, 4g glucoza), 1,3g xenluloza, cung cấp cho cơ thể 122 calo Ngoài ra trong khoai lang tươi còn có nhiều vitamin và muối khoáng (34mg canxi, 49,4g photpho, 1mg sắt, 0,3mg caroten, 0,05mg vitamin B1, 0,05mg vitamin B2, 0,6mg vitamin PP, 23mg vitamin C )
Bảng 2.2 Thành phần hóa học trong 100g củ khoai lang tươi và khô
Chỉ tiêu
Loại khoai
Nước (g,%)
Gluxit (g,%)
Protein (g, %)
Lipit (g, %)
Xenlulo (g, %)
Tro (g, %) Khoai lang tươi 68 28,5 0,8 0,2 1,3 1,2 Khoai lang khô 11 80,0 2,2 0,5 3,6 2,7
( Trắch Thành phần hóa học trong 100g củ khoai lang tươi và khô của Cục Quân nhu tổng cục Hậu cần)
Khi phơi khô, rút gần hết nước, giá trị dinh dưỡng của khoai tăng hơn nhiều Trong 100g khoai lang khô có 11g nước, 2,2g protid, 0,5 lipid, 80g glucid, 3,6g xenluloza, cung cấp cho cơ thể tới 342 calo Như vậy, khoai lang
là một thức ăn tốt, rất giàu tinh bột, nên thường ựược dùng làm lương thực nuôi sống con người và làm nguyên liệu phục vụ cho chế biến công nghiệp
Trong 100g rau khoai lang có 91,9g nước, 2,6g protid, 2,8g glucid, 1,4g xenluloza, 48mg canxi, 54mg photpho, 11mg vitamin C, v.v Theo tác giả: Phùng Huy, 1980 và Bùi Huy đáp, 1984[22] đưa ra kết quả phân tắch như sau : Thân lá khoai lang có 1,21% chất tươi Protein và 10,06 chất khô, 16,50% chất tươi và 38,40% chất khô, riêng hàm lượng lipit trong thân lá khoai lang tươi có tỷ lệ cao hơn trong thân lá khoai lang khô, vì vậy cũng như kết quả nghiên cứu của Bùi Huy đáp, 1984; đinh Thế Lộc và CS, 1979[3] ta
có thể kết luận, dây lá khoai lang là một trong những nguồn thức ăn không những chỉ phục vụ ựược cho chăn nuôi mà còn là sản phẩm rau sạch và giàu vitamin cho bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta
Trang 24Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thân lá khoai lang
Chỉ tiêu Loại củ
Protein (%chất khô)
Lipit (%chất khô)
Gluxit (%chất khô)
Vì có giá trị dinh dưỡng cao nên ngoài sử dụng ăn tươi thì vào những mùa ựông giá rét khô hanh, hiếm rau, khi thu hoạch ựại trà trong vụ Xuân và đông Xuân người dân còn băm thân lá khoai lang phơi khô cất trữ ựể dùng
dần những lúc khan hiếm thức ăn gia súc
a) Chất khô
Hầu như phần lớn các loại củ ựều có hàm lượng nước cao, khoai lang cũng vậy Do có hàm lượng nước cao nên hàm lượng chất khô thường thấp, trung bình hàm lượng chất khô trong khoai lang xấp xỉ khoảng 25-30% và có biến ựộng lớn phụ thuộc vào các giống, thời tiết khắ hậu, tắnh chất ựất ựai và
kỹ thuật trồng trọt mỗi mùa vụ (Giáo trình cây lương thực, đại học Nông nghiệp I, 1968) Chất khô của khoai lang chứa 60-70% tinh bột và 80-90% Hydratcacbon
Theo Anon 1981, các dòng khoai lang trồng ở đài Loan có hàm lượng chất khô biến ựộng từ 13,6-35,1% Còn tại Braxin, hàm lượng chất khô của 18 dòng giống khoai lang biến ựộng từ 22,9 % ựến 48,2% (Cedera và CS, 1982)[41] và từ 21%-39% của các dòng giống trồng ở các nước Nam Thái Bình Dương (Bradbury và Hollway, 1988)[39]
Ở Việt Nam theo tác giả Lê đức Diên và Nguyễn đình Huyên, 1966[1967] cho thấy hàm lượng chất khô của 25 giống khoai lang biến ựộng
từ 18,4% - 41,5 %, trong ựó nhóm có năng suất cao, chất lượng kém biến ựộng từ 18,4% - 23,7%, nhóm có chất lượng tốt biến ựộng từ 32,5%-34,7% và nhóm có năng suất thấp, chất lượng kém biến ựộng từ 21,8%-31,1%
Trang 25Ở Miền Nam, hàm lượng chất khô của khoai lang biến ựộng từ 34,4% (Hoàng Kim và CS, 1990)[24]
27,5%-Khi nghiên cứu các giống trồng trong ựiều kiện vụ đông và vụ Hè cho thấy hàm lượng chất khô biến ựộng từ 23,4%- 33,8% (vụ đông) và 23,0%-33,0% (vụ Hè), (Vũ Tuyên Hoàng và CS, 1990)[18]
b) Gluxit
Thành phần chủ yếu của khoai lang là gluxit, trong tổng lượng chất khô của cây khoai lang gluxit chiếm tới 80%-90% và 24%-27% chất tươi (Woolfe, 1992)[64] Gluxit bao gồm tinh bột, ựường ( glucoza, fructoza, sacaroza, mantoza) và các hợp chất pectin, hemixenluloza và xenluloza (chất xơ) với lượng thấp hơn Thành phần các chất này thay ựổi phụ thuộc vào giống, tuổi chắn của củ, thời gian bảo quản, sử dụng hay chế biến Trong quá trình bảo quản sau thu hoạch và chế biến, thành phần gluxit sẽ ắt nhiều bị thay ựổi Theo Wollfe, 1992 nơi trồng với các ựiều kiện sinh thái cụ thể hình như
là tác nhân quan trọng ảnh hưởng ựến từng loại gluxit Và trong quá trình sinh trưởng, phát triển gluxit trong khoai lang biến ựổi không ngừng từ dạng này sang dạng khác (Bùi Huy đáp, 1984; Nguyễn đặng Hùng và Vũ Thị Thư, 1993)[3]
i) Tinh bột
Tinh bột là thành phần quan trọng của gluxit Trung bình tinh bột chiếm tới 60-70% chất khô (Woolfe, 1992; Palmer, J.K 1982[64] Hàm lượng tinh bột biến ựộng mạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong ựó yếu tố giống là quan trọng nhất Theo Cedera và CS, 1982)[41] tại Braxin 18 giống khoai lang trồng ở 1 ựịa ựiểm có hàm lượng tinh bột biến ựổi từ 42,6%-78,7% chất khô Còn ở Philippines và Mỹ, hàm lượng tinh bột biến ựộng từ 33,2%-72,9% chất khô (Truong Van Den, Bien man và Marlett, 1986) Nếu tắnh theo chất tươi thì củ khoai lang có hàm lượng tinh bột trung bình là 18% ở ấn độ, trên
31 giống có hàm lượng tinh bột biến ựộng từ 11%-25,5% chất tươi
Trang 26(Shanmugan và Venugopal, 1975)[56] ở đài Loan trong 272 giống có hàm lượng tinh bột biến ựộng từ 7%-22,2% chất tươi ( Li L.và C.H Liao, 1983) ở
75 giống của Thái Lan biến ựộng từ 4,1%-26,7% chất tươi (Prabhudham và CS; 1987) và 164 dòng, giống tại vùng Nam Thái Bình Dương biến ựộng từ 5,3%- 28,4% chất tươi (Bradbury và Hollway, 1988)[38]
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu 50 mẫu giống khoai lang thấy hàm lượng tinh bột trong củ biến ựộng từ 52,3%-75,4% chất khô và 10,6%-31,2% chất tươi (Lê đức Diên, Nguyễn đình Huyên, 1967)[1967] Theo (Vũ Tuyên Hoàng và CS, 1994)[18] ở 5 giống trồng vụ đông có hàm lượng tinh bột biến ựộng từ 16,8%-25,4% chất tươi Và Ngô Xuân Mạnh, 1996 khi nghiên cứu 28 dòng giống khoai lang cho thấy các giống khoai lang trồng vụ đông ở miền Bắc Việt Nam, nói chung có hàm lượng tinh bột thấp, biến ựộng từ 11,56%-17,48% chất tươi và các dòng giống khoai lang này trồng ở vụ Xuân Hè có hàm lượng tinh bột cao hơn ở vụ đông từ 1,02-1,40 lần
Ngoài các yếu tố giống, thì các yếu tố di truyền và các yếu tố khác như nơi trồng, vụ mùa trồng, cường ựộ chiếu xạ ngày ựêm của từng mùa vụ và chế
ựộ bón phân cũng có ảnh hưởng ựến hàm lượng tinh bột của củ khoai lang Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả (Bradbury và Hollway, 1988)[38] hàm lượng tinh bột trung bình của 8 giống biến ựộng từ 13,1%-15,9% khi trồng ở 4 ựịa ựiểm khác nhau và của 15 giống biến ựộng từ 17,1%-18,5% giữa
2 năm trồng khác nhau Vì vậy ta có thể khẳng ựịnh các tương tác giữa giống với nơi trồng và giữa giống với năm trồng có ý nghĩa cao, do vậy việc trồng thắ nghiệm các giống ở các ựịa ựiểm khác nhau và các năm khác nhau là quan trọng ựể xác ựịnh giống thắch hợp cho từng vùng, từng vụ cụ thể
ii) đường
Hàm lượng ựường trong khoai lang khá giàu, nó bao gồm cả ựường monoxacazit lẫn polyxacarit Hàm lượng ựường này có thể biến ựổi phụ thuộc nhiều yếu tố như: Bản chất di truyền của giống, các dạng củ khác nhau và
Trang 27cũng có ý kiến cho rằng giống mới là yếu tố quan trọng nhất làm cho hàm lượng ñường trong khoai lang thay ñổi Các giống ở Philippines có hàm lượng ñường tổng số biến ñộng từ 5,6%-38,3% chất khô (Truong Van Ben, Bienman
và Marlett, 1986) Tại Puerto Rico, hàm lượng ñường biến ñộng từ 23,6% chất khô từ các dạng lương thực qua các dạng trung gian ñến ăn tươi (Martin và Deshpande, 1985)[49] Trên cơ sở khối lượng chất tươi các giống
6,3%-từ các vùng của Nam Thái Bình Dương hàm lượng ñường tổng số biến ñộng
từ 0,38%-5,64% (Bradbury và Hollway, 1988), và các giống ở Mỹ biến ñộng
từ 2,9%-5,5%[39]
Ngoài các yếu tố trên thì quá trình thu hoạch và bảo quản cũng là yếu
tố có ảnh hưởng rất rõ ñến quá trình thay ñổi hàm lượng ñường trong củ khoai lang Thời gian cất trữ càng dài, hàm lượng ñường tổng số trong củ càng cao Theo Martin F.W và CS, 1985[49], hàm lượng ñường tổng số ở củ thu hoạch sau 6 tháng cao hơn so với củ thu hoạch lúc 4 tháng Ngoài các ñường monoxacazit, dixacarit có trong khoai lang thời gian gần ñây người ta còn quan tâm ñến một số oligoxacazit khác, ñặc biệt là raffinoza, stachyoza và verbascoza có liên quan ñến hiện tượng ñầy hơi khó tiêu ở một số người sau khi sử dụng khoai lang (Bradbury, J.H; Hammer, B, 1985)[39]
Những oligoxacazit trên có tác dụng ức chế men tiêu hóa trip-xin, vì vậy Dai Peter và CS ñã khuyến cáo người sử dụng khi chế biến khoai lang nên nấu kỹ hoặc ủ yếm khí củ, thân lá trước khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi lợn ñể tăng khả năng tiêu hóa thức ăn
iii) Xơ tiêu hóa
Xơ của khoai là loại Pectin có tác dụng giúp tiêu hóa tốt, tăng thải Cholesterol, ñóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng có khả năng phòng chống một số bệnh như: Ung thư ruột kết, ñái ñường, tim, táo bón và các bệnh tiêu hóa khác (Collins W.W, 1985; Woolfe J.A, 1992)[43] Xơ tiêu hóa bao gồm các hợp chất pectin, celluloza, hemicenlluloza; hàm lượng xơ tiêu hóa
Trang 28trong khoai lang thay ñổi phụ thuộc vào giống, ñiều kiện ñất ñai ở ñảo Tonga,
xơ trong các giống khoai lang chiếm 4% tổng chất tươi, còn ở Mỹ xơ chiếm 3,6% tổng lượng chất tươi (ðinh Thế Lộc và CS, 1968)[1979] ðặc biệt trong chăn nuôi ñại gia súc, xơ tiêu hóa ñóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa thức ăn
c) Protein
Hàm lượng protein trong khoai lang không cao, ở khoai lang tươi hàm lượng protein chiếm khoảng 0,8 %, và 2,2% ở khoai lang khô Nhưng do năng suất thu hoạch cao nên sản lượng protein thu ñược trên ñơn vị diện tích không thua kém các loại cây trồng khác (Woolfe J.A, 1992)[64] ðặc biệt protein của khoai lang thuộc loại có giá trị dinh dưỡng cao, gồm ñầy ñủ 8 loại axit amin không thay thế rất cần thiết cho con người (ðinh Thế Lộc và CS, 1979)[26]
Bảng 2.4 Thành phần axita min không thay thế của củ khoai lang
(Theo % trọng lượng protein thô) Giống
Axit amin
Lim Bất luận
xuân
Cao nông 58-14
Theo tài liệu của Hopper Lyzin
2,46 2,19 2,20 4,43 2,17 2,78 1,22 0,85
29,8 2,80 2,86 3,90 2,34 3,46 1,26 0,86
4,30 3,80 5,60 4,80 3,00 4,30 1,80 1,70
Trang 29Tuy protein khoai lang chứa ựầy ựủ các axit amin nhưng nó có hạn chế bởi thiếu axit amin chứa S và Lizin Vắ dụ ở giống khoai lang Lim trồng ở Việt Nam là giống bị hạn chế về 2 loại axitamin này (Nguyễn Quốc Khang và
Lê Doãn Diên, 1984)[23]
d) Các vitamin
Trong khoai lang hàm lượng Vitamin C chiếm tỉ lệ khá cao (axit ascorbic) và chứa một lượng vừa phải thiamin (vitaminB1, Riboflavin (vitamin B2) vitamin B6, axit pantothenic (vitamin B5), axit foclic và caroten (tiền vitamin A) Hàm lượng caroten cao hay thấp phụ thuộc vào từng giống, theo Wang H và Lin C.T, 1989)[63] các giống khoai lang đài Loan có hàm lượng caroten biến ựộng từ 0,4mg-24,8mg/100g chất tươi ở các giống có màu sắc ruột củ thay ựổi từ trắng ựến vàng da cam ở nước ta theo số liệu công bố của Viện dinh dưỡng (dựa trên số liệu của bảng thành phần dinh dưỡng của FAO dùng cho vùng đông á) các loại khoai lang khác nhau có hàm lượng vitamin C biến ựộng từ 23mg/100g chất tươi ở củ khoai lang ruột trắng ựến 30mg/100g chất tươi ở củ khoai lang ruột vàng
e) Các chất khoáng
Vai trò chất khoáng trong cơ thể rất ựa dạng nó tham gia vào quá trình tạo tổ chức xương, tạo protit, duy trì cân bằng kiềm toan, tham gia chức phận nội tiết, ựiều hoà chuyển hóa nước trong cơ thể Các khoáng chất có nhiều ở các loại thực phẩm có nguồn gốc, ựộng vật và thực vật, trong khoai lang hàm lượng một số nguyên tố như: Ca, Fe, Mg, Zn và Mn thường có ở vỏ củ cao hơn ở thịt củ, hàm lượng tro trung bình 1% chất tươi (khoảng 3-4% chất khô), hàm lượng K, Photpho, Ca, Na là những nguyên tố khoáng có tỉ lệ cao nhất trong củ khoai lang (Woolfe J.A, 1992)[64] Hàm lượng khoáng chất cao hay thấp còn phụ thuộc vào ựiều kiện ựất ựai, giống, tỉ lệ phân bón và cách sử dụng chế biến
Trang 302.3 Những nghiên cứu khoai lang trên thế giới và trong nước
2.3.1 Nghiên cứu về giống khoai lang
Cây khoai lang là cây lục bội (2n = 90), với số nhiễm sắc thể cơ bản là
X = 15 Loài khoai lang trồng (Ipomoea batatas) với bộ nhiễm sắc thể 2n = 6x
= 90 Theo Yen (1982)[67] cho rằng khoai lang có thể là một lục bội hỗn hợp
có tắnh chọn lọc cao, nhờ ựặc tắnh giao phấn và thường không có hoặc có thì rất yếu khả năng tự thụ phấn do tắnh tự bất hợp Vì vậy cây khoai lang có tắnh
dị hợp tử cao, luôn có sự biến ựộng rất lớn về nhiều tắnh trạng
Các nhà nghiên cứu chọn giống trên thế giới thấy rằng trong quá trình phân bào giảm nhiễm luôn có sự cặp ựôi của cặp nhiễm sắc thể tương ựồng (Bacusmo, Acedo,Mariscal and Oracion, 1994)[37] Vì vậy những giả thuyết
về di truyền số lượng sử dụng với các dạng cây lưỡng bội cũng có thể áp dụng ựối với cây khoai lang thông qua phương pháp lai hữu tắnh, nhất là lai xác ựịnh ( Jones, 1994)[45]
Chọn giống khoai lang mang ựặc ựiểm của cả cây sinh sản vô tắnh lẫn sinh sản hữu tắnh ( Vũ đình Hòa, 1996)[21], nên chọn giống khoai lang có thể bằng 2 cách:
Chọn dòng vô tắnh tốt nhất bằng phương pháp gây ựột biến nhân tạo hoặc ựột biến tự nhiên làm cây khởi nguyên của giống dòng vô tắnh mới
Lai kiểm soát, thụ phấn tự do trong vườn ựa giao hoặc giao phao phấn
tự do hoàn toàn và lai xa Cây tốt nhất từ hạt ựược nghiên cứu chọn ra làm dạng khởi nguyên cho giống dòng vô tắnh mới vì mỗi cây con có ựặc ựiểm di truyền khác với tất cả các cây khác và ựều có khả năng trở thành một giống mới
Ở cây khoai lang có ba phương pháp tuyển chọn ựể thu nhận giống cải tiến: Thông qua ựánh giá, chọn lọc từ nguồn gen (tập ựoàn) ựịa phương ựể thu nhận giống
Nhập nội các giống tốt ở các nước khác nhằm ựánh giá chọn lọc trong ựiều kiện sinh thái cụ thể của từng vùng và phổ biến rộng vào sản xuất những
Trang 31giống thích hợp nhất ðây là con ñường nhanh nhất và hiệu quả nhất trong việc ñưa ra các giống mới vào sản xuất Bằng con ñường này, hàng loạt các giống mới nhập nội ñược tuyển chọn thay thế dần các giống cũ ñịa phương năng suất chất lượng kém không phù hợp với sản xuất hiện nay
Chọn tạo giống mới bằng phương pháp gây ñột biến cảm ứng và lai nhằm tạo ra vật liệu mới, rồi tiến hành chọn lọc ðột biến cảm ứng ở khoai lang ñược quan tâm nhiều do cây khoai lang có mức ña bội thể cao nên khi bị các tác nhân xử lý làm cấu trúc không bền vững thay ñổi, bị phá vỡ, gây ra những biến dị mới Tuy nhiên, các biến dị ñột biến ở các yếu tố cấu thành năng suất thường xuất hiện với tần suất thấp, chủ yếu ở các tính trạng: màu sắc vỏ và thịt củ Ngày nay người ta chủ yếu chọn giống ñột biến theo hướng biến ñổi dạng cây, hướng tăng hàm lượng chất khô và tinh bột với các tác nhân gây ñột biến là tia X, tia với liều lượng sử lý là 50-150 Gy (ðinh Thế Lộc và CS, 1979)[26]
Việc tạo giống khoai lang bằng phương pháp lai tạo truyền thống thường khó thực hiện vì các giống thường bất thụ Vì vậy, ñể lai tạo giống (dòng) mới, một số tiếp cận khác như lai sô-ma và chuyển nạp gen ñã ñược các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Khoai lang là cây trồng hấp dẫn - ñược sử dụng như một ñối tượng nghiên cứu về nông nghiệp phân tử vì nó có năng suất sinh khối rất cao Sự phát triển ở lãnh vực công nghệ di truyền thời gian gần ñây hứa hẹn khả năng sản xuất từ khoai lang chuyển gen nhiều loại phân tử sinh học khác nhau như acid béo, các phân tử polypeptide dược phẩm, enzym công nghiệp, và chất dẻo có khả năng phân hủy sinh học Ngoài
ra, có thể sử dụng phôi sôma khoai lang trong lĩnh vực nghiên cứu hạt nhân tạo Mô sẹo và tế bào huyền phù có khả năng sinh phôi là những nguồn nguyên liệu lý tưởng cho các nghiên cứu chuyển nạp gen Tuy nhiên, cây khoai lang có ñáp ứng không cao ñối với nuôi cấy tái sinh invitro do phụ thuộc rất nhiều về kiểu gen Do vậy, mục ñích nghiên cứu này nhằm xây dựng
Trang 32môi trường thích hợp cho việc tái sinh invitro cây khoai lang qua con ñường sinh phôi và con ñường sinh trồi bất ñịnh
2.3.2 Những nghiên cứu về di truyền và hệ số tương quan của các tính trạng ở khoai lang
Sự di truyền của tính trạng số lượng cũng như chất lượng ñều kiểm soát bởi các yếu tố di truyền riêng biệt gọi là gen So với tính trạng chất lượng thì tính trạng số lượng không có khả năng phân chia rõ rệt thành các lớp kiểu hình, kiểu gen Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, qui luật di truyền của tính trạng số lượng là trong sự tương tác gen sự tác ñộng cộng gộp ở con lai F1 thường thấy giá trị trung gian của tính trạng
Trong biến dị chung của kiểu hình phần ñóng góp do sai khác về kiểu gen mới có ý nghĩa quan trọng, vì nó di truyền cho thế hệ sau Phần ñóng góp này càng lớn thì hiệu quả chọn lọc tính di truyền của quần thể càng cao, ñây chính là hệ số di truyền
Trong hệ số di truyền bao gồm cả hệ số di truyền theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hệ số di truyền nghĩa rộng có thể sử dụng trong chọn lọc quần thể cây tự thụ phấn, và ñược tính bởi tổng phương sai di truyền và phương sai kiểu hình Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp là tỉ số giữa phương sai di truyền cộng và phương sai kiểu hình (Giáo trình Di truyền học, 1999)
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp ñều có ý nghĩa quan trọng trong chọn giống Hệ số di truyền cao (từ 0, 8 trở lên) tính trạng có tính chọn lọc cao, ngược lại hệ số di truyền thấp (nhỏ hơn 0,4) thì tính trạng có tính chọn lọc kém hiệu quả
Khi nghiên cứu hệ số di truyền của 10 tính trạng của củ khoai lang của
40 dòng quần thể hạt thụ phấn tự do cho thấy: Vai trò của phương sai di truyền cộng quan trọng hơn của phương sai di truyền không cộng ñối với tất
cả các tính trạng trừ tính trạng gân củ và số củ (Jones, Steinbauer và Pope,1969)[46]
Trang 33Theo nghiên cứu của Jones, 1986, ựể ước lượng hệ số di truyền ở chọn giống khoai lang cho thấy: đối với các tắnh trạng hàm lượng chất khô và năng suất có hệ số di truyền cao, kết quả chọn giống nhanh ựạt ựược thông qua phương pháp chọn lọc quần thể, dựa trên cơ sở kiểu hình của bố mẹ
Khi nghiên cứu 128 dòng từ 10 tổ hợp ựã cho thấy hàm lượng chất khô
có hệ số di truyền tương ựối cao điều này cho thấy có thể nâng cao tỷ lệ chất khô bằng con ựường lai tạo và chọn lọc ( Vũ đình Hòa, 1996)[21]
đối với những tắnh trạng có hệ số di truyền thấp, do phương sai di truyền nhỏ như ở khoai lang cần tăng số lần lặp lại của bố mẹ, tức là tăng số lượng bố mẹ hoặc là tăng nguồn vật liệu ban ựầu bằng cách sử dụng vật liệu
từ nhiều nguồn khác nhau, nhằm tạo ựiều kiện cho chọn tạo giống khoai lang ựạt kết quả tốt
2.3.3 Tương tác kiểu gen Ờ môi trường và ứng dụng trong chọn tạo giống cây trồng
Tương tác kiểu gen Ờ môi trường biểu thị một thành phần của kiểu hình
có thể làm sai lệch giá trị ước lượng của các thành phần khác ( Nguyễn Văn Hiển, Giáo trình Chọn giống cây trồng- NXBGD, 2000)[16] Tương tác kiểu gen môi trường tồn tại khi cả hai hay nhiều kiểu gen phản ứng khác nhau với
sự thay ựổi của môi trường ( năm, vụ gieo trồng, ựịa ựiểm ) Sự phản ứng khác nhau với các thay ựổi về ựiều kiện môi trường của hai hoặc nhiều kiểu gen thì có sự tồn tại của tương tác kiểu gen môi trường Do ựó, tương tác kiểu gen - môi trường có vai trò quan trọng trong chọn lọc và tạo ra giống mới Mối tương tác ựược biểu thị bằng sự khác nhau về chiều phản ứng hoặc mức
ựộ phản ứng hoặc cả hai
Tương tác kiểu gen Ờ môi trường ựóng vai trò quan trọng trong công tác chọn giống cây trồng, cho phép ựánh giá một cách ựầy ựủ tắnh thắch ứng, tắnh ổn ựịnh của cây trồng từ năm này qua năm khác và những vùng xác ựịnh ựòi hỏi sự thắch ứng ựặc thù ( Campbell và laferver, 1977)
Trang 34Sự biến ñộng của môi trường ñược chia làm hai loại ñó là: Biến ñộng
có thể dự báo và biến ñộng không thể dự báo (Allard và Bradshaw, 1964) Loại có thể dự báo là tất cả các ñặc ñiểm của môi trường, ví dụ các ñặc ñiểm chung của khí hậu, loại ñất, ñộ dài ngày Các tác nhân của môi trường là những yếu tố ñược hình thành và xác ñịnh bởi các biện pháp kỹ thuật như thời vụ trồng, mật ñộ trồng, cách thu hoạch Loại không thể dự báo là sự biến ñộng môi trường không thể dự báo trước ñược như lượng mưa, nhiệt ñộ
và các yếu tố khác
Nghiên cứu về tương tác kiểu gen – môi trường thể hiện rõ ràng nhất là
về tính trạng năng suất (Carpena, 1980) Theo Collins, 1987 cho rằng các tính trạng hàm lượng chất khô và protein ở khoai lang ít bị ảnh hưởng bởi tương tác kiểu gen – môi trường hơn tính trạng năng suất
Các mối tương tác kiểu gen- thời vụ, kiểu gen - ñịa ñiểm và kiểu gen – biện pháp kỹ thuật là rất khác nhau bởi những biến ñộng từ năm này ñến năm khác là không thể biết trước ñược, do ñó mà các nhà chọn giống rất khó xác ñịnh và ñưa ra những giống cây trồng tới những vùng có ñiều kiện ñặc thù mà
họ không thể dự báo trước Vì vậy các nhà chọn giống nên tạo ra những giống cây trồng có khả năng thích ứng ñể chống lại những biến ñộng nhất thời của môi trường và ñiều chỉnh các quá trình này ( Allard và Bradshaw), 1964)
2.4 Tình hình sử dụng và chế biến khoai lang trong và ngoài nước
2.4.1 Sử dụng và chế biến khoai lang trên thế giới
Trên thế giới ñại ña số các nước trồng khoai lang ñều sử dụng cả hai bộ phân thân lá và củ cho việc sử dụng làm lương thực hay nguyên liệu cho công nghiệp chế biến của mình Theo Collins và Walter, 1985; Woolfe, 1992; Kay,
1985, Sakamoto và Bouwkamp, 1985[43] cho rằng có các hướng chế biến khoai khoai lang sau: chế biến các món ăn trực tiếp cho con người, chế biến công nghiệp và chế biến thức ăn cho gia súc Phần lớn khoai lang ñược bảo quản và tích trữ trong một thời gian nhất ñịnh bằng cách thái lát rồi phơi khô
Trang 35Khoai khô có thể nghiền thàh bột ựể làm bánh, chế biến tinh bột hoặc sản xuất cồn, rượu
Ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ và Nhật ựã xây dựng qui trình sản xuất công nghiệp bánh nổ và bánh miếng nhỏ khô (Woolfe, 1992) Ngoài ra, ở Mỹ, Oxtraylia, đài loan, ấn ựộ và Braxin khoai lang còn ựược ựóng hộp cả củ, bổ ựôi hoặc cắt khúc trong nước xiro, hoặc ựóng hộp chân không không có xiro (Walter và Hoonver, 1986; Mason 1982; Chew,1972)[42]
Khoai lang còn có thể ướp lạnh, rán ròn, làm mứt kẹo, mì ăn liền hay nước giải khát
2.4.2 Sử dụng và chế biến khoai lang ở Việt Nam
Ở Việt Nam, khoai lang ựã ựược sử dụng rộng rãi làm lương thực và thực phẩm từ lâu ựời, nhưng chế biến khoai lang chưa ựược quan tâm ựầu tư nên mới chỉ dừng lại ở qui mô sản xuất nhỏ lẻ Ngoài thái con chì và phơi khô
ựể nấu với ựỗ, nghiền là bánh, làm mứt (Bùi Huy đáp, 1984; đinh Thế Lộc, 1979; Lương Thị Thịnh, 1977)[3] thì viện Công nghệ sau thu hoạch ựã ựưa ra qui trình kỹ thuật sản xuất ựường nha và dextrin từ khoai lang và sắn (Nguyễn Công Ngữ và CS, 1990 Hay tinh bột khoai lang có thể sản xuất miến hay sản xuất tinh bột khoai lang sử dụng enzym ( Phùng Hữu Hào, Lê Doãn Diên và
CS, 1995)[14] và hiện nay tùy theo nhu cầu thị trường mà củ khoai lang ựã ựược phân loại củ ựể tiêu thụ và chế biến cho hợp lắ Củ lớn và củ vừa ựược dùng ựể bán tươi và chế biến thực phẩm, củ nhỏ và dây lá dùng cho chăn nuôi đặc biệt lá của một số giống khoai lang ựược chọn lọc hiện ựược ưa chuộng ựể làm rau xanh và làm nước sinh tố
Thời gian gần ựây ở Phú Thọ ựã xây dựng ựược nhà máy sản xuất rượu, hiện tại mỗi năm nhà máy sản xuất ựược 60.000-70.000 lắt rượu sản xuất sang Nhật
Trang 36Việc sử dụng củ hoặc thân lá khoai lang cho người và gia súc cũng rất khác nhau giữa các vùng ở miền Bắc, những nơi chủ yếu trồng lúa thì khoai lang ñược sử dụng chính là cho gia súc chiếm từ 40-80%, các vùng khác khoai lang có thể dùng ñể ăn chơi, làm nguyên liệu chế biến các ra các sản phẩm khác nhau hoặc xuất khẩu Có thể thấy việc sử dụng khai lang làm lương thực ở các vùng chỉ ñạt từ 1%-40%, và khoai lang ñược lưu hành trên thị trường chỉ ñạt khoảng 20%
2.5 Tình hình sản xuất khoai lang trong và ngoài nước
2.5.1 Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới
Khoai lang là một trong 5 cây có củ quan trọng trên thế giới, nếu không tính khoai tây (cây có củ cho vùng ôn ñới) thì khoai lang là cây có củ quan trọng thứ hai sau sắn ở các vùng nhiệt ñới Theo số liệu thống kê của FAO năm 2001, diện tích trồng khoai lang trên thế giới ñạt 9,076 triệu ha, năng suất bình quân là 14,92 tấn/ha và tổng sản lượng ñạt 135,448 triệu tấn.Năm
2004, toàn thế giới ñã trồng 9,01 triệu ha khoai lang, ñạt sản lượng 127,53 triệu tấn, sản lượng khoai lang của Việt Nam là 1,65 triệu tấn Khoai lang giữ vai trò quan trọng trong sản xuất lương thực, ñặc biệt ở những nước nghèo có nền nông nghiệp chậm phát triển thì khoai lang là cây lương thực dẫn ñầu về năng lượng sản
sinh/ha/ngày (TS Trịnh Xuân Ngọ - PGS.TS ðinh Thế Lộc, 2004)
Hiện nay, toàn thế giới có 111 nước trồng khoai lang (FAO 2009) trên diện tích 8,17 triệu ha, trong ñó 95% tại các nước ñang phát triển, năng suất bình quân 13,46 tấn/ha, sản lượng 110,13 triệu tấn (so với năm 2005 là 123,27 triệu tấn và năm 1961 là 98,19 triệu tấn) Việt Nam có sản lượng khoai lang 1,32 triệu tấn, ñứng thứ năm của toàn thế giới sau Trung Quốc (85,21 triệu tấn), Nigeria (3,31 triệu tấn), Uganda (2,70 triệu tấn) và Indonesia (1,87 triệu tấn) Khoai lang dùng làm lương thực cho người, thức ăn chăn nuôi và làm nguyên
Trang 37liệu chế biến tinh bột, rượu, cồn, xi rô, nước giải khát, bánh kẹo, mì, miến, phụ gia dược phẩm và gần ựây ựang ựược nghiên cứu làm màng phủ sinh học
Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới ựều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa Ờ CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang ựược duy trì năm 2005 Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác) Việc duy trì nguồn gen ở CIP ựược thực hiện trong ống nghiệm, trên ựồng ruộng, bảo quản bằng hạt và ựược ựánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế
Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều khoai lang nhất; chiếm tới 80% sản lượng toàn thế giới (với sản lượng năm 1990 là 130 triệu tấn; bằng khoảng một nửa sản lượng khoai tây của quốc gia này) Trong quá khứ, phần lớn khoai lang tại Trung Quốc ựược trồng ựể làm lương thực, nhưng ngày nay phần lớn (60%) ựược trồng ựể chăn nuôi Phần còn lại ựược dùng làm lương thực hay chế biến các sản phẩm khác cũng như ựể xuất khẩu, chủ yếu là sang Nhật Bản Tại Trung Quốc hiện nay có trên 100 giống khoai lang.Khoai lang trở thành phổ biến từ rất sớm tại các ựảo trên Thái Bình Dương, từ Nhật Bản tới Polynesia Một lý do có lẽ là nó có thể cho thu hoạch khá sớm nếu như các loại cây trồng khác bị thất thu do bão, lụt Nó là ựặc trưng trong nhiều món ăn
ở Nhật Bản, đài Loan, Philippines và các quốc gia khác Indonesia, Việt Nam, Ấn độ cùng một số quốc gia châu Á khác cũng là các quốc gia trồng nhiều khoai lang Uganda (quốc gia ựứng thứ ba sau Indonesia), Rwanda và một số quốc gia châu Phi khác cũng trồng nhiều khoai lang do nó là một thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại các quốc gia này Bắc và Nam
Mỹ, quê hương của khoai lang nhưng ngày nay chỉ chiếm không quá 3% sản
Trang 38lượng toàn thế giới Châu Âu cũng có trồng khoai lang, nhưng sản lượng
không ựáng kể, chủ yếu tại Bồ đào Nha (nguồn: JRT, FAO)
Bảng 2.5 Diện tắch, năng suất, sản lượng cây lương thực thế giới 2008
(Thông tin tổng hợp của FAO về bức tranh cây lương thực toàn cầu)
Cây lương thực
Diện tắch (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Có thể thấy khoai lang ựạt năng suất tương ựối cao, cao hơn nhiều so với
ngô, lúa, lúa mì,sắn nhưng diện tắch và sản lượng khoai lang trên thế giới thì
ngày càng có chiều hướng suy giảm Khoai lang ựã từng là một phần quan
trọng trong khẩu phần ăn tại Hoa Kỳ trong phần lớn lịch sử của quốc gia này,
ựặc biệt là tại khu vực ựông nam Tuy nhiên, trong những năm gần ựây thì nó
ựã trở nên ắt phổ biến hơn Tiêu thụ bình quân trên ựầu người tại Hoa Kỳ ngày
nay chỉ khoảng 1,5-2 kg (4 pao) mỗi năm, trong khi trong thập niên 1920 là
13 kg (31 pao) Kent Wrench viết: "Khoai lang ựã gắn liền với thời kỳ khó
khăn trong suy nghĩ của tổ tiên chúng ta và khi họ trở nên giàu có ựủ ựể thay
ựổi thực ựơn của mình thì người ta ắt ăn khoai lang hơn."
2.5.2 Tình hình sản xuất khoai lang ở Việt Nam
Ở nước ta, từ lâu khoai lang ựã trở thành một cây lương thực quan
trọng và hết sức gần gũi với người dân
Theo số liệu thống kê, diện tắch trồng khoai lang hàng năm ở nước ta
khoảng 250.000 ha, theo số liệu ước tắnh của tổng cục thống kê thì năm 2007
Trang 39là năm có diện tích trồng khoai lang thấp nhất chỉ ñạt khoảng 185,300 ha năm
ñó giảm dần theo các năm từ năm 2001-2006 Diện tích trồng khoai lang năm 2001-2006 biến ñộng giảm dần từ 254,300ha năm 2001 xuống còn 185,300ha năm 2006 và sản lượng biến ñộng từ 1611,300 tấn năm 2001 xuống còn 1443,100 tấn năm 2007
Vùng ðồng Bằng Sông Hồng, tỉnh có diện tích trồng cao nhất là Hà Tây, như tình trạng chung thì diện tích trồng khoai lang của Hà Tây cũng ñang dần giảm ñi theo các năm, năm 2002 Hà Tây có diện tích trồng cao nhất
là 10.800 ha nhưng ñến năm 2006 diện tích giảm nhanh một cách ñáng kể và chỉ còn 7.000 ha Tỉnh có diện tích trồng thấp nhất của vùng này là Hưng Yên, năm 2002 ñạt 3.700ha- 1.500ha năm 2006
Trang 40Bảng 2.7 Năng suất khoai lang phân theo ñịa phương (tấn/ha)
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007
Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê cho thấy, năng suất khoai lang trung bình hàng năm ở nước ta còn quá thấp, năng suất/ha ước ñạt khoảng 7-7,5 tấn/ha (Tổng cục thống kê 2007)
Bảng 2.8 Sản lượng khoai lang phân theo ñịa phương (1000tấn)