Khách du lịch Hàn Quốc trong những năm gần đây lựa chọn ViệtNam nói chung, Hà Nội nói riêng như là điểm đến hấp dẫn trong khu vực.Tuy nhiên hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốc còn c
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hà Nội, thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trungtâm đầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, giáodục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước Hà nội mới có tổng diện hơn3.344 km2, dân số hơn 6,2 triệu người, với 29 đơn vị hành chính cấp quận,huyện, nằm trong top 17 thành phố lớn nhất thế giới Hà Nội là một thànhphố cổ đã được hình thành và phát triển gần 1.000 năm với truyền thống vănhóa lâu đời, quy tụ nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng Hà Nội đã là sự lựachọn của nhiều du khách khi đến Việt Nam, trong đó phải kể đến khách dulịch Hàn Quốc
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, quan hệ giữa hainước trên các lĩnh vực ngày càng được củng cố và phát triển, Hàn Quốc đãvươn lên thành nhà đầu tư số một tại Việt Nam Vài năm gần đây, ở Việt
Nam đã xuất hiện “làn sóng Hàn Quốc”, còn ở Hàn Quốc cái tên “Việt Nam”
được nhắc đến ngày càng nhiều với những sự tương đồng về văn hóa, sựthân thiện và gần gũi của người dân Đó là những tín hiệu tốt lành cho việcthúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước lên một tầm cao mới, là tiền đề quantrọng cho hoạt động phát triển du lịch
Khách du lịch Hàn Quốc trong những năm gần đây lựa chọn ViệtNam nói chung, Hà Nội nói riêng như là điểm đến hấp dẫn trong khu vực.Tuy nhiên hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốc còn chưa tương xứngvới vị thế của du lịch Hà Nội, số lượng doanh nghiệp tham gia vào thịtrường này còn ít, thiếu nhiều hướng dẫn viên tiếng Hàn Quốc,… Vì vậy,việc nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về các giải pháp nhằm thu hútkhách du lịch Hàn Quốc trên địa bàn Hà Nội là hết sức cần thiết cả về mặt lýluận và thực tiễn Với cách tiếp cận như trên tôi quyết định chọn đề tài:
“Hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốc tại thị trường du lịch Hà
Trang 22 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm nghiên cứu đặc điểm tiêudùng của khách du lịch Hàn Quốc, đánh giá điều kiện thu hút khách và đềxuất giải pháp nhằm phát triển hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốctrong thời gian tới cho du lịch Hà Nội dưới hai góc độ là cơ quan quản lýnhà nước về du lịch và các doanh nghiệp du lịch
Căn cứ vào mục tiêu đặt ra, luận văn tiến hành giải quyết nhữngnhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tổng quan về thị trường khách du lịch Hàn Quốc, tìm hiểu nét đặctrưng và các sở thích tiêu dùng của khách du lịch Hàn Quốc
- Mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc, cơ sở cho hoạt độngthu hút khách du lịch Hàn Quốc
- Tình hình khách du lịch Hàn Quốc đến Hà Nội
- Điều kiện thu hút khách du lịch Hàn Quốc của Hà Nội
- Đánh giá chung về hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốc tạithị trường du lịch Hà Nội
- Quan điểm và mục tiêu phát triển của du lịch Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường thu hút khách du lịch Hàn Quốctại thị trường du lịch Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động thu hút khách du
lịch Hàn Quốc tại thị trường du lịch Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: luận văn giới hạn nghiên cứu hoạt động thu hút
khách du lịch trên địa bàn Hà Nội, các số liệu phục vụ nghiên cứu tập hợptrong 5 năm từ năm 2003 đến 2007
Trang 3Về mặt nội dung: đề tài có xu hướng trở nên rất rộng, vì hoạt động
thu hút khách du lịch Hàn Quốc có sự tham gia của các cơ quan quản lýnhà nước về du lịch, các hoạt động khai thác cụ thể tại các doanh nghiệp dulịch với nhiều loại hình dịch vụ du lịch phong phú, đa dạng Do vậy, đề tài
đã giới hạn phạm vi nghiên cứu hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốctại Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, và dưới góc độ doanh nghiệp đề tài tậptrung chủ yếu vào các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có tổ chức hoạtđộng khai thác khách du lịch Hàn Quốc
Về mặt không gian: nghiên cứu trường hợp điển hình cho hoạt động
thu hút khách du lịch Hàn Quốc trên địa bàn Hà Nội
Về mặt thời gian: nghiên cứu tiến hành chủ yếu trong 5 năm từ 2003
đến 2007 và đầu năm 2008 Các nghiên cứu được tiến hành thường xuyên,đảm bảo tính cập nhật và khách quan của số liệu và tư liệu thu thập
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và phươngpháp duy vật lịch sử
- Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp thu thập thông tinthứ cấp từ sách báo, tạp chí, báo cáo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch HàNội, từ các thông tin do các doanh nghiệp khách sạn - du lịch trên địa bàncung cấp ; Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: phương pháp điều tra,khảo sát thực tế, lấy ý kiến chuyên gia của các cơ quan quản lý nhà nước,các viện nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: sử dụng các phương pháp phântích thống kê, phương pháp quy nạp, từ đó tổng hợp thành những vấn đềcốt lõi nhất, chung nhất, rút ra bài học kinh nghiệm về hoạt động thu hút
Trang 45 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đềtài, tác giả đã tiếp cận, kế thừa và hệ thống các kết quả đó cho đề tài nghiêncứu của mình như:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Một số giải pháp phát triển nguồn khách
du lịch Hà Nội” do GS TS Nguyễn Văn Đính và nhóm nghiên cứu thực
hiện (6/2000), Hà Nội;
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển thị trường du lịch nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến năm 2010” do TS Bùi Xuân Nhàn và nhóm nghiên cứu thực hiện năm 2003;
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Một số giải pháp phát triển thị trường khách du lịch Nhật Bản của Hà Nội” do PGS TS Trần Thị Minh Hòa và
nhóm nghiên cứu thực hiện năm 2007;
- Đề tài khoa học cấp ngành: “Nghiên cứu và đánh giá một số đặc điểm của thị trường Nhật Bản và Trung Quốc nhằm phát triển nguồn khách của du lịch Việt Nam” do bà Nguyễn Quỳnh Nga và nhóm nghiên
cứu thực hiện năm 2001;
- Luận án tiến sĩ của Phạm Hồng Chương: “Một số giải pháp nhằm khai thác, mở rộng thị trường du lịch quốc tế của các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội”, 2001.
- Kết quả cuộc điều tra chi tiêu khách du lịch được Tổng cục Thống
kê tiến hành theo Quyết định số: 1083/QĐ-TCTK ngày 20 tháng 6 năm
2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Cuộc điều tra này tiến hànhtrên địa bàn 26 tỉnh, thành phố trọng điểm về du lịch với đối tượng điều tra
là khách du lịch quốc tế và Việt Nam đang nghỉ ở các cơ sở lưu trú du lịchtại các tỉnh, thành phố này
Và một số luận văn thạc sĩ khác nghiên cứu về nguồn khách NhậtBản, hoạt động xúc tiến du lịch Việt Nam vào thị trường Pháp,…
Trang 5Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về hoạtđộng thu hút khách du lịch Hàn Quốc tại thị trường Hà Nội Vì vậy, việcnghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển thị trường khách nàytrong thời gian tới có ý nghĩa rất thiết thực cho ngành du lịch Hà Nội nóichung, các doanh nghiệp du lịch nói riêng.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn cung cấp bức tranh tổng quát về thị trường khách du lịchHàn Quốc, về đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch Hàn Quốc, đánh giámối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trên các lĩnh vực để làm
cơ sở cho hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốc; phân tích điểm mạnh,điểm yếu, thuận lợi và khó khăn trong hoạt động thu hút khách du lịch HànQuốc của Hà Nội; từ đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm tăngcường thu hút thị trường khách du lịch Hàn Quốc đến Hà Nội
7 Kết cấu luận văn
Với mục đích nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu và phươngpháp nghiên cứu ở trên, luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết luận nội dungđược kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan về thị trường khách du lịch Hàn Quốc và mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc
Chương 2 Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch Hàn Quốc tại thị trường du lịch Hà Nội
Chương 3 Một số giải pháp tăng cường hoạt động thu hút khách
du lịch Hàn Quốc tại thị trường du lịch Hà Nội
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH HÀN QUỐC
VÀ MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM - HÀN QUỐC
1.1 Một số đặc điểm về đất nước Hàn Quốc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Hàn Quốc nằm trên Bán đảo Triều Tiên, một bán đảo trải dài1.000km từ Bắc tới Nam, ở phần Đông Bắc của lục địa châu Á, nơi hảiphận của bán đảo tiếp giáp với phần cực tây của Thái Bình Dương PhíaBắc bán đảo tiếp giáp với Trung Quốc và Nga Phía Đông của bán đảo làBiển Đông, xa hơn nữa là nước láng giềng Nhật Bản Ngoài bán đảo chínhcòn có hơn 3.200 đảo nhỏ
Tổng diện tích của bán đảo Triều Tiên là 222.154 km2, gần bằngdiện tích của Anh hay Romania riêng phần Hàn Quốc là 99.617 km2, đườngbiên giới dài 214 km, đường bờ biển dài 2.412 km [4, tr.7]
Địa hình núi non chiếm khoảng hai phần ba diện tích lãnh thổ, giốngThổ Nhĩ Kỳ, Hungary hoặc Ai-len Dãy Taebaeksan chạy suốt chiều dài bờbiển phía đông, nơi những con sóng của Biển Đông đập mạnh vào núi đãtạo ra các vách đá dốc và các bãi đá Sườn phía Tây và phía Nam bán đảobằng phẳng hơn, với những vùng đồng bằng và rất nhiều đảo ở ngoài khơitạo thành những vịnh nhỏ Bán đảo nổi bật với nhiều ngọn núi và dòngsông kỳ vĩ, vì vậy người Hàn Quốc thường ví đất nước mình như một tấmgấm thêu đẹp đẽ
Núi Baekdusan ở miền Bắc bán đảo là ngọn núi cao nhất với độ cao2.744m so với mực nước biển và trải dài theo đường biên giới phía Bắc tiếp
Trang 7giáp với Trung Quốc Baekdusan là ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động, nơimột hồ nham thạch rộng đã được hình thành với cái tên Cheonji Ngọn núinày được coi là một biểu tượng đặc biệt của tinh thần Hàn Quốc và đượcnhắc đến trong bài quốc ca
So với quy mô lãnh thổ, bán đảo Triều Tiên có số lượng sông suốitương đối lớn Hệ thống đường thủy này đóng một vai trò hết sức quantrọng trong việc hình thành lối sống của người Hàn Quốc và trong cả côngcuộc công nghiệp hóa đất nước Hai con sông dài nhất ở Bắc bán đảo làAmnokgang (Yalu, 790km) và Dumangang (Tumen, 521km) Hai con sôngnày đều bắt nguồn từ ngọn núi Baekdusan rồi lần lượt đổ xuống theo hướngTây và Đông, tạo nên biên giới phía Bắc của bán đảo Còn hai con sôngNakdonggang (525km) và Hangang (494 km) tạo thành hai đường thủy ởNam bán đảo Sông Hangang chảy ngang qua Seoul, thủ đô của Hàn Quốc,được coi là con đường sinh mệnh cho dân cư tập trung đông đúc ở khu vựctrung tâm của đất nước Hàn Quốc ngày nay, như nó đã từng giúp cho dân
cư các vương quốc cổ đại phát triển dọc theo hai bờ sông
Bao quanh ba mặt của bán đảo, đại dương đóng một vai trò quantrọng đối với cuộc sống của người Hàn Quốc từ ngàn xưa và đã góp phầnvào sự phát triển ngành công nghiệp đóng tàu và kỹ năng hàng hải
Thành phố lớn nhất Hàn Quốc là Seoul, dân số chính thức khoảngtrên 10 triệu người, nằm ở phía Tây Bắc Những thành phố lớn khác làIncheon (Nhân Xuyên) ở phía Tây Seoul, Daejeon (Đại Điền) ở miền trung,Kwangju (Quang Châu) ở phía Tây Nam, Daegu (Đại Khâu) và Busan (Phủ San) ởphía Đông Nam
Trang 81.1.1.2 Khí hậu
Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, mùa
hè nóng và ẩm ướt, mùa đông thì lạnh, khô và tuyết rơi nhiều, đặc biệt là ởcác khu vực miền núi, không phải dọc theo bờ biển phía nam Khí hậu cũngkhác nhau tại các vùng trên đất nước, với nhiệt độ trung bình từ 60C (430F)đến 160C (610F), nhiệt độ trung bình vào tháng Tám, tháng nóng nhấttrong năm là từ 190C (660F) đến 270C (810F), trong khi đó nhiệt độ vàotháng Giêng, tháng lạnh nhất trong năm từ -80C (170F) đến 70C (430F)
Khí hậu gió mùa đã đem lại cho Hàn Quốc một hệ động thực vật phongphú Theo thống kê năm 1946 ở bán đảo có 201 họ cây trong đó có 1.102 loài,3.347 chủng loại, 1.012 loài thân cây cao trong đó có 400 loài đặc biệt Vềsông ngòi, ở Hàn Quốc có 6 con sông lớn và con sông dài nhất là 790 km.Mùa hè nước sông lớn do mưa nhiều còn các mùa khác tương đối khô
Bờ biển dài, tương đối khúc khuỷu và cạn, độ sâu của biển phía Nam
là không quá 100m Thềm lục địa nông cạn một bên tạo thuận lợi cho việcđánh bắt cá nhưng lại gây cản trở cho việc đi lại bằng đường thuỷ HànQuốc với sự ưu đãi về thiên nhiên, các con sông và biển với nhiều loài thuỷsản, 14 loài cá lưỡng cư và 130 loài cá nước ngọt Hệ động thực vật phongphú đã tạo cho đất nước hoa thơm quả ngọt, quanh năm cây cối xanh tốt vànhiều loại động vật quý hiếm Trái lại, tài nguyên khoáng sản của HànQuốc vô cùng nghèo nàn, trên khắp đất nước hầu như không có loại khoángsản nào có giá trị để phục vụ cho ngành công nghiệp phải dùng nhiều tàinguyên như Hàn Quốc
Trang 91.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội
1.1.2.1 Kinh tế
Sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên vào năm 1953, đất nước HànQuốc đạt được sự tăng truởng kinh tế đáng kể phần lớn nhờ vào các kếhoạch mở rộng của Chính phủ và nhờ vào sự lao động cần cù của ngườidân Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc đã phát triển được một đội ngũ laođộng có trình độ cao, được giáo dục tốt và đã đề ra kế hoạch 5 năm kể từnăm 1962 để tạo một hệ thống phát triển tập trung vào chiến lược côngnghiệp hoá hướng vào xuất khẩu Từ năm 1970, tổng sản phẩm kinh tếquốc dân đã tăng 35 lần, khoảng 45% giá trị tổng sản phẩm kinh tế quốcdân hiện nay là từ các ngành sản xuất và xuất khẩu hàng thành phẩm chứkhông phải xuất khẩu nguyên liệu thô Hàn Quốc được xếp vào nhóm cácquốc gia buôn bán lớn nhất thế giới Chính phủ cũng tham gia một cáchnăng động trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả các ngành dịch vụ công cộng
và các ngành công nghiệp yêu cầu đầu tư lớn Hiện nay, trong nước đã cócác tuyến đường cao tốc và các tuyến vận tải lớn nối liền các thành phố,mạng lưới liên lạc viễn thông hiện đại rộng khắp cả nước
Hàn Quốc không có nhiều tài nguyên dầu mỏ và các tài nguyên khácrất hạn chế, nguyên liệu cho ngành công nghiệp phụ thuộc chủ yếu vàonhập khẩu Năm 1970, Nhà nước bắt tay vào việc nghiên cứu chính sách đadạng hoá các nguồn năng lượng, và tăng cường sử dụng năng lượng nguyên
tử và năng lượng từ khí thiên nhiên, thuỷ điện
Ngành công nghiệp chính của Hàn Quốc bao gồm điện tử, chế tạo ô
tô, dệt, may mặc, chế tạo vũ khí và sản xuất hàng da Riêng lĩnh vực chếtạo ô tô Hàn Quốc được biết đến như một bước nhảy vọt thần kì, xếp thứ 6trên thế giới về công nghiệp sản xuất ô tô với sản lượng hơn 3 triệu xe mỗinăm Thêm vào đó một nguồn thu ngoại tệ của đất nước là dịch vụ đấu thầu
Trang 10xây dựng, Chính phủ đã ban hành nhiều đạo luật khuyến khích đầu tư nướcngoài dài hạn ở Hàn Quốc trong cả hai lĩnh vực kinh tế lẫn xã hội.
Hàn Quốc nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngay từđầu cuộc khủng hoảng năm 1997 Chính phủ đã đề xuất một mô hình mớibao gồm việc nâng cấp các thông lệ kinh doanh theo chuẩn mực quốc tế,bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát triển công nghệ và đẩy mạnh hiệu quả củacác định chế Chính phủ cam kết xúc tiến cải cách, tiếp tục thực hiện cảicách tài chính và công ty, đồng thời theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ môlinh hoạt có lợi cho tăng trưởng
Với lịch sử là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh củathế giới, Hàn Quốc đang phấn đấu trở thành đầu mối của khối kinh tế hùngmạnh châu Á trong thế kỷ 21
1.1.2.2.Văn hoá - xã hội
Hàn Quốc, với dân số khoảng 50 triệu người, là một trong nhữngnước có mật độ dân cư cao nhất thế giới với 474 người/km2, có gần 50%dân số sống ở các thành phố lớn Nhờ thành công về mặt kinh tế, mức sốngcủa người dân đô thị Hàn Quốc có phần cao hơn so với hầu hết các nướcláng giềng Châu Á khác
Tính dân tộc của người Hàn Quốc tương đối cao và đã từng có thờigian thi hành chính sách bài ngoại Họ không chấp nhận một xã hội đachủng tộc, đa sắc tộc như kiểu Hợp Chủng Quốc Hoa Kì Quan niệm vềtính đồng nhất này là một lý do giải thích vì sao người Triều Tiên ở cả haimiền Nam - Bắc đều cho rằng sự chia cắt của bán đảo Triều Tiên là hoàntoàn trái với quy luật tự nhiên Dù hai miền Nam - Bắc có chế độ chính trị
và chính sách kinh tế khác nhau nhưng nhân dân hai miền đều chung mộttruyền thống văn hoá Triều Tiên rất gần gũi với Trung Quốc cả về vị trí
Trang 11địa lý, kinh tế lẫn lịch sử tạo ra một nhịp cầu văn hoá tự nhiên nối liềnquần đảo Nhật Bản với lục địa Châu Á
Giáo dục luôn được coi là một công cụ của sự tiến bộ xã hội Tuynhiên, trong suốt chiều dài lịch sử chỉ có một số ít các gia đình giàu có mới
có thể chu cấp cho con cái đi học và do vậy việc thúc đẩy xã hội Hàn Quốc
đi lên là rất khó khăn Nhưng cho đến ngày nay, hệ thống trường học ở HànQuốc có quy mô và mô hình tương tự Mỹ Cấp tiểu học 6 năm, cấp trunghọc 6 năm và cao hơn là 4 năm nữa Bốn năm học ở bậc cao là rất khó khăn
và bắt buộc phải thi qua một kì thi rất khắt khe
An sinh xã hội được Chính phủ Hàn Quốc quan tâm và bắt đầu đượctriển khai thực hiện từ những năm 1980 Hệ thống chính sách liên quan đếnvấn đề này bao gồm việc mở rộng hệ thống bảo hiểm y tế và hệ thống trợ giúp
y tế tương đương và áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp Chính phủ đã tạonền tảng cho việc xây dựng một xã hội bảo đảm phúc lợi cho người dân Nhờmức sống tăng và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và y tế ngày càng được cải thiệnnên tuổi thọ trung bình của người dân Hàn Quốc đang tăng nhanh dẫn đến sốngười già tăng đáng kể trong những năm qua Nếu năm 1960, dân số ở độ tuổi
từ 65 trở lên chiếm 2,9% trong tổng dân số Hàn Quốc thì năm 2005, tỷ lệ này
đã tăng lên 9,1% và dự kiến sẽ đạt tới 14,4% năm 2019
1.2 Những nét đặc trưng và sở thích tiêu dùng của khách du lịch Hàn Quốc
1.2.1 Những nét đặc trưng của người Hàn Quốc
Hàn Quốc, một quốc đảo, đã phát triển những đặc tính dân tộc độcđáo nhờ tính chất riêng biệt về địa hình và lịch sử Độ nghiêng của đạidương và lục địa đã kết hợp với nhau tạo thành cơ sở của bản sắc dân tộc
Là một bán đảo có một môi trường văn hóa với những đặc điểm ngoại vi và
Trang 12trung tâm Mặt ngoại vi liên quan đến nền văn hoá lục địa tràn vào bán đảo,trong khi những yếu tố trung tâm là kết quả của các nền văn hoá ngoại vi
được cấu trúc để hình thành một trung tâm mới (Xem Phụ lục 1)
Nhờ ảnh hưởng của yếu tố này, người Hàn Quốc đã phát triển tìnhyêu hoà bình, tình yêu thiên nhiên và họ luôn thể hiện là những người hamhọc hỏi, năng động cần cù, coi trọng đạo đức và yếu tố tinh thần
Trong 3 yếu tố cơ bản của cuộc sống: nhà ở, quần áo, thực phẩm thìnhững thay đổi trong thói quen ăn uống đã tác động đến người Hàn Quốcrất nhiều Gạo vẫn là lương thực chính của hầu hết người dân Hàn Quốc,nhưng trong thế hệ trẻ ngày nay, nhiều người lại thích ăn đồ Phương Tây.Bữa cơm truyền thống của người Hàn Quốc không thể thiếu được món KimChi, đây là món ăn được làm từ nhiều loại rau như cải thảo, củ cải, hànhxanh và dưa chuột Gia vị sử dụng là tỏi và ớt bột
Trong xã hội truyền thống Hàn Quốc, một gia đình thường gồm cácthành viên thuộc ba, bốn thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà Ởthời đó, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao và một gia đình lớn, đông thànhviên thường được xem như có nhiều phúc lộc, nên mọi người luôn mong
có nhiều con cháu
Do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng, người con trai cả đảm nhậntrách nhiệm trụ cột trong gia đình, tâm lý trọng nam cũng là một tâm lýphổ biến ở Hàn Quốc Để giải quyết những vấn đề liên quan đến tâm lýtrọng nam khinh nữ, Chính phủ Hàn Quốc đã sửa đổi hầu hết các vănbản luật liên quan đến quan hệ gia đình nhằm đảm bảo sự công bằnggiữa nam và nữ về quyền thừa kế
Quá trình công nghiệp hoá đất nước cũng đã khiến cho đời sốnggia đình của người dân Hàn Quốc trở nên sôi nổi hơn và phức tạp hơn,những đôi vợ chồng trẻ mới thành hôn tách khỏi đại gia đình bắt đầu
Trang 13cuộc sống riêng Ngày nay, hầu hết các gia đình đều là những gia đình hạtnhân với trung tâm là hai vợ chồng.
Không giống như một số nền văn hoá khác chỉ có một tôn giáo thốnglĩnh, văn hoá Hàn Quốc quy tụ nhiều yếu tố thành phần tôn giáo khác nhauhình thành nên cách suy nghĩ và ứng xử của con người
Trong lịch sử, người Hàn Quốc sống dưới ảnh hưởng của đạoSaman, đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng và trong lịch sử hiện đại lòng tin
ở đạo Thiên Chúa đã thâm nhập vào Hàn Quốc Tốc độ công nghiệp hoánhanh diễn ra trong vài thập kỉ qua so với vài trăm năm ở Châu Âu đãgây ra những lo ngại và thay đổi, phá vỡ sự yên bình trong tâm hồnngười Hàn Quốc làm cho họ kiếm tìm sự bình yên trong tôn giáo Vìvậy, số người đi theo đạo ngày càng đông đảo, và các tổ chức tôn giáocũng trở thành tổ chức có ảnh hưởng lớn trong xã hội
Trước đây, lễ hội của người Hàn Quốc chỉ là theo lễ nghi tôn giáo.Cho tới thời kỳ các vương quốc thống nhất, lễ hội tạ ơn Trời đã cho vụmùa bội thu mới được chính thức tổ chức Các lễ hội đó là Yeonggo(múa trống gọi hồn) của Buyeo, Dongmaeng (nghi lễ cúng tổ tiên) củaGoguryeo, và Mucheon (thiên vũ) của Dongye Các lễ hội thường được
tổ chức vào tháng Mười, sau mỗi vụ mùa, chỉ trừ lễ Yoenggo được tổchức vào tháng Mười hai (tính theo âm lịch) Truyền thống vui chơi sau
vụ thu hoạch mùa thu và đón chào năm mới trong không khí vui vẻ, phấnchấn còn được kéo dài đến các thời vua và các triều đại sau này, mặc dùmỗi triều đại vua đều có những sửa đổi riêng cho ngày hội truyền thống
có một phong cách riêng (Xem Phụ lục 2)
Do nhịp sống của cuộc sống hiện đại, Hàn Quốc ngày nay đã mất đirất nhiều ngày lễ truyền thống Nhưng một số ngày lễ vẫn được kỷ niệmcho tới ngày nay và đây là dịp để mọi thành viên trong gia đình đoàn tụ
Trang 14Mọi người đều mặc áo truyền thống Hanbok hoặc chọn cho mình những
bộ quần áo đẹp nhất, cả gia đình cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên Sau lễnghi này, những người ít tuổi trong gia đình sẽ cúi lạy những người lớntuổi trong gia đình
Người Hàn Quốc rất yêu thể thao và tham gia vào rất nhiều các hoạtđộng thể thao cùng các trò chơi giải trí Những bước tiến ấn tượng trongkinh tế những năm qua đã góp phần tăng cường sự quan tâm của người HànQuốc đến thể thao Các môn thể thao truyền thống được mọi người ưa thích
đó là: bóng đá, trượt băng tốc độ, trượt băng nghệ thuật, trượt tuyết, khúccôn cầu trên băng, golf, bóng chày, taekwondo và vật
1.2.2 Sở thích tiêu dùng của khách du lịch Hàn Quốc
Hàn Quốc có tốc độ gia tăng khá cao về lượng khách ra nước ngoài
du lịch (trên 20%/năm) Về số lượng khách ra nước ngoài du lịch tươngđương với số khách du lịch vào Hàn Quốc, thậm chí du lịch đi ra nướcngoài có phần nhỉnh hơn Theo thống kê của Cục du lịch quốc gia HànQuốc (KNTO – Korea National Tourism Organization), năm 2007 có tớihơn 13 triệu người dân nước này đi du lịch nước ngoài Như vậy, vớikhoảng 475.535 lượt khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam như hiện naythì chúng ta mới chỉ đón được chưa tới 4% lượng du khách Hàn Quốc đi du
lịch ở nước ngoài (Xem biểu đồ 1.1)
Điểm đến của du khách Hàn Quốc chủ yếu là Châu Á, chiếm khoảng70% tổng số người Hàn Quốc đi du lịch nước ngoài Trong đó, Trung Quốc
và Nhật Bản là hai điểm đến chính của khách du lịch Hàn Quốc Ngoài rangười Hàn Quốc thích đến khám phá Châu Mỹ ,tiếp đến là Châu Âu vàChâu Đại Dương
Trang 15Biểu đồ 1.1 Số lượng khách Hàn Quốc đi du lịch nước ngoài
và số lượng khách quốc tế đến Hàn Quốc
m (Nguồn: KNTO – Cục du lịch quốc gia Hàn Quốc - Korea National
Tourism Organization)
Đặc thù của thị trường khách Hàn Quốc đi du lịch nước ngoài là dulịch theo chuyên đề và du lịch gia đình với các chương trình lựa chọnphong phú, đa dạng, tiếp đến là du lịch thương mại với các chuyến bay thuêbao riêng và du lịch nghỉ dưỡng với các loại hình sau:
- Các chương trình du lịch riêng biệt chỉ bao gồm vé máy bay vàphòng khách sạn và thường là khách du lịch ba lô
- Chương trình du lịch trọn gói đến một nước, một điểm du lịch
- Kết hợp giữa du lịch giá rẻ, du lịch phân hạng với du lịch tiết kiệm,
du lịch truyền thống và du lịch chất lượng cao
- Du lịch chơi golf: các công ty du lịch có nhóm chuyên trách tổchức các chương trình chơi golf hay xây dựng một trang web chuyên về
Số lượng khách Hàn Quốc đi du lịch
13.3
6.4 6.2 6.0
Số lượng khách Hàn Quốc đi du lịch
Số lượng khách quốc tế đến Hàn Quốc
5.3
(Đơn vị: triệu lượt khách)
Trang 16Về căn bản, mục đích ra nước ngoài của người Hàn Quốc là du lịchthuần túy Du khách Hàn Quốc ra nước ngoài không chỉ quan tâm đến cácdanh thắng thiên nhiên và di tích lịch sử mà còn muốn đến thăm các thànhphố lớn, khu vui chơi giải trí, tắm hơi nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe, Lượng du khách Hàn Quốc lựa chọn chương trình du lịch cá nhân ngàycàng tăng và du lịch theo đoàn đang giảm dần khi đi du lịch nước ngoàinhư là phần thưởng hàng năm của các công ty dành cho nhân viên khôngcòn được thịnh hành nữa
Sau khi Chính phủ Hàn Quốc áp dụng thời gian làm việc 5 ngày mộttuần vào năm 2004, nhiều người lao động đã có cơ hội đi du lịch cuối tuầnnên thời gian lưu lại nước ngoài của du khách Hàn Quốc có phần giảm.Khách Hàn Quốc đi du lịch trung bình khoảng 10 - 11 ngày, đối với khách
đi theo tour thì thời gian lưu trú trung bình là 11 - 13 ngày và đối với khách
đi lẻ khoảng 7 - 8 ngày
Cơ sở lưu trú chính của khách du lịch Hàn Quốc đi ra nước ngoài làkhách sạn, ngoài ra là nhà gia đình, bạn bè Khách sử dụng khách sạn nhiều
là khách du lịch công vụ, khách du lịch đi tuần trăng mật và khách du lịchthuần túy
Thời điểm người Hàn Quốc đi du lịch tương đối dàn đều, tuy nhiênmùa du lịch cao điểm của khách du lịch Hàn Quốc là tháng 10 đến tháng
3, bắt đầu giảm từ tháng 4 và tháng 5
Người Hàn Quốc ra nước ngoài có xu hướng là những người có họcvấn cao, sống ở các đô thị lớn Với mức sống khá cao, phần lớn người HànQuốc đánh giá chi tiêu dành cho đi du lịch nước ngoài hiện nay là hợp lý.Theo số liệu thống kê của Tổ chức du lịch thế giới -UNWTO về chi tiêucủa khách du lịch quốc tế outbound thì chi tiêu nước ngoài của khách dulịch Hàn Quốc gia tăng nhiều vào những năm 2005, 2006 Các đối tượng
Trang 17khách chi tiêu nhiều nhất trong chuyến du lịch là khách trong độ tuổi 51
-60 và dưới 20 tuổi Các nhóm tuổi từ 31 - 50 cũng chi tiêu khá nhiều, cònkhách ở nhóm tuổi trên 60 thì chi trả rất ít
Bảng 1.1 Chi tiêu du lịch của thị trường khách du lịch Hàn Quốc
so với thị trường khách quốc tế
(Nguồn: UNWTO- Tổ chức du lịch thế giới,[15, 235])
Về mua sắm, du khách nước này thích nhất đồ mỹ phẩm, đồ uống, Khác với việc mua đồ có chất lượng giá rẻ, xu hướng mua sắm mới hiệnnay của họ là thực phẩm chăm sóc sức khỏe, sản vật địa phương và đồ lưuniệm; một số lại thích mua quà lưu niệm bán trên máy bay
Các vấn đề chính khách gặp phải khi đi du lịch nước ngoài chủ yếu
là các trở ngại về ngôn ngữ, thức ăn không hợp và sử dụng các phương tiệngiao thông địa phương ,
Các xu hướng tìm thông tin du lịch của khách chủ yếu là từ gia đình,bạn bè và xu hướng tìm thông tin và mua bán chương trình du lịch trênmạng gia tăng với tốc độ nhanh chóng Như vậy, biện pháp xúc tiến du lịch
Trang 18tốt nhất đối với thị trường này là marketing trực tiếp, quảng cáo truyềnmiệng, mạng internet và đảm bảo chất lượng dịch vụ để nhóm khách nàytrở thành khách thường xuyên và ảnh hưởng đến bạn bè gia đình.
1.3 Quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc trong các lĩnh vực chủ yếu
Ngày 22/12/1992, Việt Nam và Hàn Quốc đã chính thức thiết lậpquan hệ ngoại giao, đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, mở ra mộtchương mới trong lịch sử quan hệ hai nước
Nhìn lại chặng đường hơn 15 năm, có thể nhận thấy rằng quan hệhữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã phát triểnnhanh chóng và có hiệu quả thiết thực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
ở mỗi nước
1.3.1 Quan hệ chính trị, ngoại giao
Về chính trị, hai bên thường xuyên trao đổi đoàn các cấp, các ngành,tạo sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước Các chuyếnthăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước trong thời gian qua, đặc biệt
là cuộc tiếp xúc cấp cao giữa Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và tổngthống Roh Moo-Hyun tháng 11 năm 2006 tại Hà Nội và tháng 9 năm 2007
tại Sydney, đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI” giữa hai nước không ngừng phát triển.
Dưới đây là những cuộc viếng thăm quan trọng của các nhà lãnh đạocấp cao của hai nước:
05/1993 Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thăm Hàn Quốc
08/1994 Thủ tướng Hàn Quốc Lee Young-deok thăm ViệtNam
Trang 19 11/1996 Tổng thống Hàn Quốc Kim Young-sam thăm ViệtNam
12/1998 Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung thăm Việt Nam
08/2001 Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương thăm HànQuốc
04/2002 Thủ tướng Hàn Quốc Lee Han-dong thăm Việt Nam
10/2004 Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun thăm ViệtNam
04/2005 Thủ tướng Hàn Quốc Lee Hae-chan sang thăm ViệtNam
01/2006 Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki sangthăm Việt Nam
05/2007 Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Việt NamNguyễn Sinh Hùng thăm và làm việc tại Hàn Quốc
11/2007 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông ĐứcMạnh sang thăm chính thức Hàn Quốc
Trong thời gian qua, quan hệ hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao ViệtNam - Hàn Quốc phát triển tốt đẹp Việc thường xuyên duy trì cơ chế traođổi chính sách cấp Thứ trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng Bộ Ngoại giao hainước, các hoạt động giao lưu, trao đổi thông tin, phối hợp trên các diễn đànkhu vực và quốc tế, sự hợp tác giữa hai Học viện Quan hệ quốc tế trựcthuộc Bộ Ngoại giao đã góp phần thiết thực vào việc quan hệ hợp tác giữa
Bộ Ngoại giao hai nước Bộ Ngoại giao hai nước luôn làm tốt vai trò cầunối, tham mưu cho Chính phủ hai nước những quyết sách quan trọng trongviệc thúc đẩy quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực hợp tác
Trang 20Bộ Ngoại giao Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hàn Quốc luôn có sựphối hợp tốt trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong khuôn khổLiên hợp quốc, diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương(APEC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN+3, Diễn đàn hợp tác Á–Âu (ASEM),
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo sự tin cậy lẫn nhau giữa hainước và góp phần tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trongviệc giải quyết các vấn đề chung ở khu vực và thế giới Vừa qua, Hàn Quốc
đã tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO, ủng hộ Việt Nam vào chức
Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, hỗ trợ ViệtNam tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao APEC-14
Thời gian tới, hai Bộ Ngoại giao sẽ tăng cường trao đổi, duy trì và mởrộng cơ chế gặp gỡ, trao đổi chính sách, thúc đẩy hơn nữa các hoạt động phốihợp, trao đổi ý kiến giữa các Cục, Vụ, Viện giữa Bộ Ngoại giao hai nước
1.3.2 Quan hệ hợp tác kinh tế
Từ khi Hàn Quốc và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao năm
1992, hợp tác kinh tế giữa hai nước đã phát triển tới mức Việt Nam hiệntrở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọng nhất của Hàn Quốctrong số các nước đang phát triển Nếu như năm 1992, kim ngạch thươngmại song phương chỉ đạt 490 triệu USD, thì năm 2006 con số này đã tănggấp 10 lần, lên 4,85 tỷ USD
Kể từ năm 2000, xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tăng mạnh
đã dẫn đến nhu cầu gia tăng về nguyên liệu thô và nguyên phụ liệu phục vụcho sản xuất hàng xuất khẩu Điều này đã thúc đẩy thương mại songphương tăng trung bình 16,4%/năm trong giai đoạn 2000-2006 Đến tháng8/2007, Hàn Quốc đã vượt lên đứng đầu trong số các nước và lãnh thổ đầu
tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký trên 10,5 tỷ USD Chỉ
Trang 21tính riêng năm 2006, Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam với 203 dự án, tổngvốn đầu tư là 2,4 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2005 Kim ngạch thươngmại giữa hai nước năm 2006 đạt gần 5 tỷ USD, tăng 10 lần so với 15 nămtrước đây (năm 1992 mới chỉ đạt 490 triệu USD)[3, tr.8].
Việt Nam là nước tiếp nhận vốn vay lớn nhất của Quỹ Hợp tác Pháttriển Kinh tế của Hàn Quốc (EDCF), với khoảng 309 triệu USD cho 12 dự
án Hàn Quốc cũng đã giành cho Việt Nam một khoản tài trợ 70 triệu USD
để mời các thực tập sinh Việt Nam sang Hàn Quốc và cử các chuyên gia, cácnhà chuyên môn về lĩnh vực xây dựng năng lực sang giúp đỡ Việt Nam
1.3.3 Quan hệ hợp tác văn hoá, du lịch
Hợp tác giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong 16 nămqua đã không ngừng gia tăng mạnh mẽ Hai bên thường xuyên trao đổi cáchoạt động văn hóa - nghệ thuật, các đoàn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu, họcgiả và các cán bộ quản lý văn hóa Là nước có tiềm lực kinh tế mạnh vàthực hiện chính sách tăng cường giới thiệu hình ảnh đất nước ra ngoài, HànQuốc cũng rất chủ động trong các hoạt động văn hóa đối ngoại Phim ảnh,nghệ thuật biểu diễn, các sản phẩm công nghiệp văn hóa, giải trí là nhữngthế mạnh của Hàn Quốc Vài năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu văn hóa
đã thừa nhận sự tồn tại của hiện tượng gọi là “làn sóng” hay “trào lưu Hàn Quốc” trong đời sống văn hóa khu vực châu Á Phim Hàn Quốc đã trở
thành niềm đam mê của một bộ phận khán giả ngoại quốc; nhiều ngôi sao
ca nhạc và điện ảnh Hàn Quốc đã trở thành “thần tượng” của khán giả trẻ
khắp nơi trên thế giới Chính phủ Hàn Quốc đã huy động được nhữngnguồn lực to lớn từ nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân phục vụ chochính sách văn hóa đối ngoại của mình Hàn Quốc cũng đã khai trươngTrung tâm Văn hóa Hàn Quốc tại Hà Nội, đây là trung tâm văn hóa đầutiên của nước này ở khu vực Đông Nam Á
Trang 22Hợp tác về du lịch thời gian qua đã có những bước phát triển đáng kể.Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam chủ động miễn thị thực xuất nhập cảnh chokhách du lịch Hàn Quốc, hàng năm số lượng khách du lịch Hàn Quốc đếnViệt Nam không ngừng gia tăng Hiện nay, đầu tư du lịch của Hàn Quốc vàoViệt Nam đang đứng sau Singapore, Đài Loan và Hongkong Một số nhàđầu tư trong lĩnh vực du lịch của Hàn Quốc đã đến tìm hiểu về khả năng đầu
tư các khách sạn, khu vui chơi giải trí, sân golf cao cấp tại Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hội An Trong những năm tới, một mặt Việt Nam
sẽ tích cực ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Hàn Quốc xâydựng và phát triển hạ tầng cơ sở du lịch tại Việt Nam, mặt khác sẽ tăngcường quảng bá, xúc tiến du lịch Việt Nam tại Hàn Quốc, đặc biệt là quảng
bá du lịch Việt Nam thông qua văn hóa
Bảng 1.2 Trao đổi du lịch Hàn Quốc - Việt Nam
28.244(19,8%)
33.738(19,5%)
45.455(34,7%)
46.077(13,7%)Hàn Quốc
tới Việt Nam
90.886(50,2%)
112.673(24%)
203.300(80,4%)
268.111(31,9%)
350.000(31%)
(Nguồn: Báo đầu tư, [3, tr.38])
1.3.4 Quan hệ hợp tác trên một số lĩnh vực khác
1.3.4.1 Hợp tác giáo dục, đào tạo
Kể từ năm 1992, hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữa ViệtNam và Hàn Quốc bắt đầu được đẩy mạnh và phát triển Năm 1994, Hiệpđịnh Văn hóa - Giáo dục Việt Nam - Hàn Quốc được ký kết lần đầu tiên làdấu mốc chứng tỏ mong muốn phát triển hợp tác văn hóa, giáo dục giữa hai
Trang 23nước Tính đến ngày 01/04/2007, số người Việt Nam học tập tại Hàn Quốc
đã lên tới 2.298 người Chính phủ Hàn Quốc tài trợ một số dự án xây trườngtiểu học ở các tỉnh miền Trung, xây dựng trường dạy nghề ở Hà Nội, QuyNhơn; trường Cao đẳng Công nghệ thông tin tại Đà Nẵng Chính phủ HànQuốc cố định hàng năm cấp cho Việt Nam một số học bổng đại học và sauđại học tại các trường đại học hàng đầu của Hàn Quốc [3, tr.18]
Nhiều cuộc thi tiếng Hàn cho sinh viên các trường đại học có dạytiếng Hàn trong cả nước đã được tổ chức, tạo động lực khuyến khích sinhviên theo học ngành học này
Hiện nay, trường học Hàn Quốc (từ bậc tiểu học tới trung học) dànhcho con em người Hàn Quốc đã được Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Namcấp phép thành lập nhằm phục vụ cho các cán bộ, người lao động HànQuốc tại Việt Nam Trong những năm tới đây, hy vọng sẽ có trường đạihọc Hàn Quốc với tiêu chuẩn quốc tế được thành lập tại Việt Nam nhằmtạo điều kiện cho học sinh, sinh viên Việt Nam được thụ hưởng nền giáodục đại học tiên tiến của nước bạn Để triển khai chương trình hợp tác này,
dự kiến Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam sẽ tổ chức các chương trình kêugọi giới kinh doanh Hàn Quốc đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đại học, đồngthời phối hợp với các cơ quan chức năng Hàn Quốc tạo những điều kiện tốtnhất để mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia trong lĩnh vực giáodục và đào tạo
1.3.4.2 Hợp tác lao động - xã hội
Là một quốc gia có trình độ cao trong phát triển công nghiệp, với kinhnghiệm và thế mạnh của mình, ngay từ khi hình thành quan hệ ngoại giao vớiViệt Nam, Hàn Quốc đã quan tâm tới nội dung phát triển nguồn nhân lực, cụthể là trình độ và chất lượng đội ngũ lao động Việt Nam Các trường, trungtâm đào tạo, dạy nghề tại Hàn Quốc đã tiếp nhận hàng trăm lượt giáo viên,cán bộ quản lý của Việt Nam sang học tập, thực tập nâng cao trình độ chuyên
Trang 24môn; cử nhiều chuyên gia sang giúp đỡ cho các cơ quan chức năng của ViệtNam trong việc hoạch định chính sách và trực tiếp truyền đạt kinh nghiệmthực tế trong đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, tham gia huấn luyện độituyển Việt Nam dự thi tay nghề ASEAN
Quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong lĩnh vực xuất khẩu laođộng đã được bắt đầu từ năm 1993, trong tương lai Hàn Quốc sẽ vẫn là mộttrong những thị trường nhiều tiềm năng đối với xuất khẩu lao động củaViệt Nam Theo thỏa thuận được ký kết giữa hai Chính phủ, Việt Namcung ứng lao động cho Hàn Quốc theo các hình thức sau: cung ứng tunghiệp sinh làm việc trong các ngành công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp
và thủy sản; cung ứng thuyền viên làm việc trên các tàu đánh cá Hàn Quốc;cung ứng lao động cho các tập đoàn Hàn Quốc trúng thầu ở nước ngoài;chương trình thẻ vàng, tiếp nhận chuyên gia công nghệ cao
Hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực phúc lợi, xã hội, viện trợ nhânđạo cũng đã được tăng cường Trong những năm qua, các tổ chức nhànước, xã hội, đoàn thể nhân dân và các tổ chức phi chính phủ của HànQuốc đã hợp tác và hỗ trợ rất tích cực chương trình giảm nghèo, khắc phụchậu quả chiến tranh, thiên tai Được sự khuyến khích của Chính phủ HànQuốc, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện của Hàn Quốc đã ngàycàng tham gia sâu rộng hơn vào các hoạt động hỗ trợ cho các địa phươngkhó khăn của Việt Nam nhiều chương trình, dự án thiết thực về y tế, chỉnhhình, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng các đối tượng xãhội tại các trung tâm Bảo trợ xã hội và tại cộng đồng Việt Nam đánh giácao sự hợp tác và hỗ trợ trong lĩnh vực lao động và xã hội của Chính phủ
và nhân dân Hàn Quốc, đây là tiền đề và cơ sở cho sự tăng cường hợp tácgiữa hai nước trong lĩnh vực lao động - xã hội thời gian tới
Trang 251.3.4.3 Hợp tác báo chí
Năm 1993, Hội nhà báo Việt Nam và Hội nhà báo Hàn Quốc chínhthức đặt quan hệ hợp tác, trao đổi đoàn Theo thỏa thuận, hàng năm Hộinhà báo mỗi nước cử một đoàn 10 người sang thăm nước kia Từ mốiquan hệ hợp tác của Hội, hàng trăm bài báo giới thiệu về đất nước, conngười Việt Nam, cũng như về đất nước và nhân dân Hàn Quốc, nhữngthành tựu của nhân dân mỗi nước đã được các nhà báo giới thiệu với nhândân hai nước
Nhiều cơ quan báo chí Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác songphương với các cơ quan báo chí Hàn Quốc Thông tấn xã Việt Nam đã mởVăn phòng đại diện tại Seoul từ năm 1994, và ký hiệp định hợp tác và traođổi thông tin với hãng thông tấn lớn nhất Hàn Quốc là Younhap Bên cạnhcác thỏa thuận hợp tác song phương, Hội Nhà báo Việt Nam và một số cơquan báo chí còn hợp tác chặt chẽ với các đối tác Hàn Quốc trong cáchoạt động hợp tác đa phương như trong Hiệp hội Các nhà báo châu Á, Tổchức Các hãng thông tấn châu Á - Thái Bình Dương (OANA)
Báo chí hai nước đã giúp cho nhân dân hai nước hiểu nhau hơn,giúp cho doanh nghiệp Hàn Quốc hiểu rõ tiềm năng to lớn của Việt Nam
để thu hút các nhà đầu tư Hàn Quốc vào Việt Nam Báo chí hai nước cũng
đã giới thiệu có hiệu quả nền văn hóa của hai nước, góp phần quan trọngtrong quảng bá du lịch Việt Nam với du khách Hàn Quốc
Trang 26Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về thị trường khách Hàn Quốc vớicác nội dung cơ bản sau: khái quát điều kiện tự nhiên, đời sống kinh tế, vănhóa, xã hội, những nét đặc trưng của người Hàn Quốc cũng như sở thíchtiêu dùng du lịch của khách du lịch Hàn Quốc Chương 1 cũng đã tổng kếtmối quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc trong các lĩnh vực chủ yếu
Hàn Quốc có tốc độ gia tăng khá cao về khách ra nước ngoài du lịch,trên 20%/năm Theo thống kê của Cục du lịch quốc gia Hàn Quốc (KNTO -Korea National Tourism Organization), năm 2007 có tới hơn 13 triệu ngườidân nước này đi du lịch nước ngoài Như vậy với lượng khách Hàn Quốc
mà Việt Nam đón như hiện nay chưa tới 4% lượng khách Hàn Quốc đi dulịch nước ngoài
Điểm đến của du khách Hàn Quốc: chủ yếu là Châu Á, chiếm khoảng70% tổng số khách đi du lịch nước ngoài Đặc thù của thị trường khách dulịch Hàn Quốc đi du lịch nước ngoài là du lịch theo chuyên đề và du lịch giađình với các chương trình lựa chọn phong phú, đa dạng, tiếp đến là du lịchthương mại với các chuyến bay thuê bao riêng và du lịch nghỉ dưỡng
Với mối quan hệ ngoại giao lâu năm, Hàn Quốc đã trở thành đối táccủa Việt Nam trong nhiều lĩnh vực quan trọng Lãnh đạo cấp cao giữa hainước đã nhất trí phát triển mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trở thành quan
hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ 21 Khuôn khổ hợp tác này đã tạo nền tảngvững chắc để thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hainước phát triển nhanh và hiệu quả, tiền đề quan trọng cho hoạt động thu hútkhách du lịch của du lịch Việt Nam nói chung, du lịch Hà Nội nói riêng
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH HÀN QUỐC TẠI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH HÀ NỘI2.1 Điều kiện thu hút khách du lịch của du lịch Hà Nội
2.1.1 Hệ thống luật pháp, chính sách về phát triển du lịch
Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia,trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tếcủa cả nước; là nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng và Nhànước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổchức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọngnhất của đất nước
Hà Nội mới có tổng diện hơn 3.344 km2, dân số hơn 6,2 triệu người,với 29 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, nằm trong top 17 thành phố lớnnhất thế giới Hà Nội là một thành phố cổ đã được hình thành và phát triểngần 1.000 năm với truyền thống văn hóa lâu đời, quy tụ nhiều danh lamthắng cảnh nổi tiếng
Du lịch Hà Nội được sự quan tâm của Thành ủy - UBND Thành phốngay từ những ngày đầu đổi mới Cơ cấu kinh tế thay đổi lớn theo hướngtăng tỷ trọng của các ngành dịch vụ, với sự thay đổi này Hà Nội trở thànhđầu mối thúc đẩy các khu vực khác phát triển và có sức hút mạnh mẽ vớicác nhà đầu tư
Hà Nội là nơi tập trung của nhiều cơ quan, doanh nghiệp của cả nước(chỉ đứng sau TP Hồ Chí Minh) với lĩnh vực kinh doanh đa dạng Về lĩnhvực công nghiệp trên địa bàn thành phố đã có mặt các ngành công nghiệp:điện tử, vật liệu xây dựng, may mặc, sành sứ thuỷ tinh, cơ khí giao thông,
Trang 28lắp ráp… cùng với sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp là sự ra đờicủa hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế xuất tạo việc làm cho hàngtrăm ngàn lao động và làm thay đổi đáng kể bộ mặt kinh tế thành phố trongthời gian gần đây Về lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch hiện đã chiếm
tỷ trọng lớn trong GDP kinh tế thủ đô, các loại hình dịch vụ ngày càng pháttriển như tài chính, ngân hàng, pháp lý, dịch vụ thương mại và du lịch… đãlàm cho đời sống kinh tế của đại bộ phận nhân dân thành phố ngày càng cảithiện, thu hút nhiều khách du lịch tới Hà Nội, cải thiện cơ sở hạ tầng vànhững điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
2.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật và môi trường kinh doanh du lịch
Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho ngành du lịch như giao thông,điện, nước, thông tin liên lạc… đang được cải thiện, có thể đánh giá điềukiện phục vụ du lịch ở Hà Nội thuộc loại tốt nhất cả nước, những điều kiệnnày một mặt tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình kinhdoanh, mặt khác giúp nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến Hà Nội Bêncạnh đó do kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp du lịch Hà Nội đangtiến hành đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp mìnhnhư đầu tư nâng cấp trụ sở hoạt động, các cơ sở kinh doanh, đầu tư cho cácthiết bị hiện đại phục vụ kinh doanh Cụ thể đối với từng loại hình doanhnghiệp du lịch sẽ có sự đầu tư khác nhau về cơ sở vật chất và các điều kiệnkinh doanh
Về cơ sở vật chất và các điều kiện kinh doanh của các cơ sở cung ứng dịch vụ lữ hành: các doanh nghiệp lữ hành đều có văn phòng không
lớn nhưng thường đặt tại các khu trung tâm thành phố để thuận lợi cho việc
đi lại Tại các văn phòng này đều có trang thiết bị đầy đủ để hoạt động, đặcbiệt là máy vi tính nối mạng Internet để cập nhật thông tin Hầu hết cácdoanh nghiệp lữ hành quốc tế và các khách sạn lớn đều đã và đang tạo lập
Trang 29trang Web riêng, giao tiếp với khách hàng qua thư điện tử, quảng cáo trênmạng và áp dụng các chương trình phần mềm quản lý chuyên dụng,
Tính đến tháng 07/2008, trên địa bàn Hà Nội có 15.968, doanh nghiệp
có đăng ký ngành nghề kinh doanh lữ hành, tăng thêm 1.039 doanh nghiệp sovới 2007, trong đó bao gồm: 324 doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh lữhành quốc tế, tăng 16 doanh nghiệp so với 2007; 21 văn phòng đại diện củacác doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong và ngoài nước gồm 11 văn phòng đạidiện nước ngoài, 13 văn phòng đại diện trong nước; 15.644 doanh nghiệpkhác đăng ký ngành nghề lữ hành nhưng chưa đủ điều kiện hoạt động.[19,tr.1]
Về cơ sở vật chất và các điều kiện kinh doanh của các cơ sở cung ứng dịch vụ lưu trú: Hà Nội hiện có 543 cơ sở lưu trú, với 13.281 phòng,
trong đó có 185 khách sạn đã được xếp hạng với 8.627 phòng Khách sạn
từ 3 sao trở lên là 35 với khoảng 5.450 phòng (9 khách sạn 5 sao, 6 kháchsạn 4 sao, 20 khách sạn 3 sao) [19,tr.3]
Đa phần các khách sạn được đặt tại các cửa ngõ giao thông của thủ
đô và các khu vực có tài nguyên du lịch hấp dẫn như Hồ Tây, khu phố cổ…Các khách sạn liên doanh là những khách sạn có cơ sở vật chất hiện đạinhất, có kiến trúc hiện đại thiết kế hợp lý mang tính chuyên nghiệp cao.Các cơ sở lưu trú này có vị trí kinh doanh rất thuận lợi, có diện tích rộng và
có số lượng dịch vụ phong phú đáp ứng được nhu cầu đa dạng của kháchlưu trú như hội nghị hội thảo, tiệc, bể bơi, sân tennis, sauna massage… Tuynhiên nhìn chung thì cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện kinh doanhcủa các khách sạn trên địa bàn Hà Nội mới chỉ ở mức độ trung bình
Về cơ sở vật chất và các điều kiện kinh doanh của các cơ sở cung ứng dịch vụ vận chuyển khách du lịch: Hiện nay có hơn 80 doanh nghiệp
Trang 30và hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh vận chuyển khách du lịch với
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, ước tính có 1.200 xe du lịch các loại trênđịa bàn thành phố, trong đó có 400 xe 45 chỗ đời mới, 300 xe từ 24 - 35chỗ, khoảng 500 xe du lịch từ 4 - 16 chỗ Hiện trên địa bàn có khoảng 300
xe xích lô đủ điều kiện hoạt động vận chuyển khách du lịch; 2 doanhnghiệp kinh doanh vận chuyển khách du lịch đường thủy là Công ty Tráchnhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Thăng Long GTC (3 tàu chởkhách) và Công ty Du lịch Thiên Minh,… và một số doanh nghiệp, cánhân cung cấp dịch vụ xích lô lọng vàng, xe trâu thăm làng nghề được dukhách rất thích thú [19,tr.4]
Ngoài ra, còn rất nhiều các cơ sở khác phục vụ khách du lịch nhưngkhông thuộc quản lý của ngành như các cửa hàng bán đồ lưu niệm, các nhàhàng, các điểm vui chơi giải trí Cơ sở cung ứng dịch vụ bưu chính viễnthông, tài chính ngày càng thuận tiện Hệ thống nhà hàng, quán bar ở HàNội ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng dịch vụ, phục vụ món
ăn của cả 3 miền ở Việt Nam cũng như của nhiều nước như Thái Lan,Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Mêhicô…
Các khu vui chơi giải trí hiện nay trên địa bàn Hà Nội chủ yếu là cáccông viên cây xanh như Công viên Lê Nin, Vườn Bách thảo, Công viênThủ Lệ, chỉ phục vụ nhu cầu dạo chơi thư giãn của nhân dân, chưa hấpdẫn khách du lịch Mấy năm gần đây một số điểm, trung tâm giải trí nhưmột số vũ trường, hồ bơi bốn mùa, sân tennis, được xây dựng quy mônhỏ, nội dung chưa phong phú, giá lại cao Vì vậy, việc xây dựng các khuvui chơi giải trí có tầm cỡ quốc gia và quốc tế tại thủ đô Hà Nội là yêu cầuđặt ra không những góp phần kéo dài được thời gian lưu trú của khách đểtăng doanh thu mà còn đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp dân cư trên địabàn thành phố
Trang 312.1.3 Nguồn lực tự nhiên, văn hoá và nhân lực
2.1.3.1 Nguồn tài nguyên tự nhiên
Với vị trí nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, giữa vùng đồng bằngchâu thổ sông Hồng nổi tiếng, Hà Nội là cầu nối quan trọng giữa các tỉnhtrung du, đồng bằng và miền núi Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi - là đầumối giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không nốivới các tỉnh, địa phương của Việt Nam và với các nước trong khu vực vàthế giới, có điều kiện để phát triển du lịch Hà Nội hấp dẫn với hệ thốngsông ngòi, ao, hồ phong phú, có giá trị như sông Hồng, Hồ Gươm, Hồ Tây,
Ao Vua, Khoang Xanh,… là điểm dừng chân và kết thúc của các chươngtrình du lịch hấp dẫn ở nước ta
Hà Nội có khí hậu rất phù hợp cho hoạt động du lịch với nhiệt độtrung bình 170C-230C có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông và đặc biệt
hấp dẫn với “mùa thu vàng” Trung bình hằng năm, nhiệt độ không khí
23,6oC; độ ẩm 79%; lượng mưa 1.245 mm Mỗi năm có khoảng 114 ngàymưa Sự luân chuyển của các mùa làm cho khí hậu Hà Nội thêm phongphú, đa dạng và có những nét riêng Từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa hè:nóng và thi thoảng có mưa rào Từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu Thờitiết khô ráo, trời cao, xanh Từ tháng 11 đến tháng 01 năm sau là mùađông: Thời tiết lạnh, khô ráo Từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa xuân: mùa củanhững lễ hội truyền thống độc đáo, mở đầu là Tết nguyên đán, lễ hội lớn vàquan trọng nhất của người Việt Nam
2.1.3.2 Nguồn tài nguyên văn hoá
Trải qua mấy ngàn năm, với truyền thống lịch sử lâu đời, đã để lạitrên mảnh đất này nhiều di tích nổi tiếng, nhiều công trình kiến trúc đẹp,nghệ thuật dân gian phong phú đa dạng cả về thời gian và loại hình có giátrị cực kỳ to lớn đối với du lịch
Trang 32Nếu so sánh giữa 3 trung tâm văn hoá du lịch lớn của cả nước là HàNội, thành phố Hồ Chí Minh, và Thừa Thiên - Huế thì tỷ lệ di tích được xếphạng của Hà Nội có lợi thế hơn về số lượng các di tích Trong số các di tích
đã được xếp hạng của Hà Nội thì số lượng các di tích kiến trúc nghệ thuậtchiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là di tích lịch sử và di tích nghệ thuật Hà Nộicũng là nơi tập trung nhiều bảo tàng lớn và quan trọng nhất của nước ta,đáng chú ý nhất là Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng HồChí Minh, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Phụ nữ, Bảotàng Quân đội, Bảo tàng Địa chất, Những bảo tàng này phản ánh tậptrung nhất, hàm súc nhất và khá đầy đủ những chặng đường phát triển củađất nước và của dân tộc, phản ánh những nét đặc sắc nhất về văn hoá vàcon người Việt Nam, nên thường là điểm xuất phát đầu tiên của các tour dulịch của du khách đến tham quan Hà nội
Hà Nội, còn có những di tích có giá trị đặc biệt, có khả năng thu hútkhách du lịch, nhất là khách quốc tế, cần được coi là lợi thế khi thiết kế cácchương trình du lịch
Đồng bằng sông Hồng mà Hà Nội là trung tâm, còn có nhiều các lễhội truyền thống cần được khai thác Những lễ hội dân gian ở Hà Nội baoquát những nét cơ bản của lễ hội cả nước, tuy vậy, Hà Nội cũng có những
lễ hội mang tính đặc trưng riêng như lễ hội An Dương Vương ở Cổ Loa(mùng 6 tháng Giêng âm lịch), Hội Chùa Hương (mùng 6 tháng giêng đếnrằm tháng 3 âm lịch), Hội Gióng ở Phù Đổng (mùng 9 tháng Tư âm lịch),Hội Đền Hai Bà Trưng (mùng 6 tháng Hai âm lịch),
Đến Hà Nội du khách có thể tìm thấy những nghề đặc sắc nhưnghề làm tranh dân gian (tranh Hàng Trống, tranh Đông Hồ); nghề gốm
sứ Bát Tràng; nghề làm giấy gió lụa, dệt tơ tằm ở Bưởi; nghề thêu ở YênThái; nghề đúc đồng ở Ngũ Xã; nghề dệt lụa Vạn Phúc; nghề thêu Quất
Trang 33Động; nghề trạm khảm trang trí (khảm trai Chuyên Mỹ, sơn mài DuyênThái, mây tre đan Phú Vinh, nơi đây tập trung nhiều nghề thủ côngtinh xảo, và có nhiều thợ thủ công tài ba.
Hà Nội là trung tâm lớn về văn hoá của cả nước, trong quá khứ đã làkinh đô của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam Mấy năm gần đây HàNội hình thành nhiều trung tâm văn hoá nghệ thuật có sức hấp dẫn lớn như:Nhà hát Múa rối nước Trung ương; Nhà hát Múa rối nước Thăng Long;Nhà hát Chèo Trung ương, Rạp Xiếc Trung ương Việt Nam,
Người Hà Nội rất chú trọng đến cách ăn uống và coi đó như là một
sự thưởng thức văn hoá Món ăn Hà Nội phong phú và hấp dẫn, nhiều món
ăn dân dã nhưng rất đặc sắc và cầu kỳ trong chế biến như các loại bún (bún
ốc, bún riêu cua, ), bánh cuốn Thanh trì, chả cá Lã vọng, bánh tôm HồTây, và đặc biệt các du khách đến Hà Nội không thể bỏ qua món phở vàcốm Vòng,
2.1.3.3 Nguồn nhân lực
Lực lượng tham gia vào hoạt động du lịch ngày càng đông đảo Toànthành phố có khoảng 30.000 người trực tiếp tham gia các hoạt động kinhdoanh du lịch, tập trung vào các lĩnh vực: lữ hành, khách sạn, vận chuyểnkhách du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ phục vụ khách du lịchkhác Con số trên chưa kể đến một số lượng lao động lớn đang phục vụtrong các ngành dịch vụ liên quan đến khách du lịch như hàng không,thương mại, giao thông, vận tải, bưu chính, viễn thông
Theo điều tra trong lĩnh vực lữ hành: các doanh nghiệp nhà nướcthường có từ 20 - 30 nhân viên và 10 - 50 cộng tác viên hướng dẫn Cácdoanh nghiệp liên doanh thường có từ 15 - 20 nhân viên văn phòng và 100cộng tác viên hướng dẫn Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường có
từ 5 - 15 nhân viên văn phòng và 20 cộng tác viên hướng dẫn
Trang 34Về trình độ nhân lực, phần lớn nhân viên các doanh nghiệp lữ hànhquốc tế và khách sạn lớn có trình độ đại học, sử dụng được ngoại ngữ vàcác thiết bị thông tin hiện đại như máy tính, kết nối Internet, trao đổi quathư điện tử, trang Web Đặc biệt các doanh nghiệp liên doanh có đội ngũcán bộ trình độ cao, các doanh nghiệp nhà nước có tình trạng vừa thừavừa thiếu lao động, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lực lượng cán bộ
ít và không ổn định
2.1.4 Cơ cấu sản phẩm du lịch chủ yếu
Sản phẩm du lịch chủ yếu của Hà Nội là: du lịch văn hóa, du lịch hội nghịhội thảo, triển lãm, sự kiện (MICE), du lịch làng nghề, du lịch sinh thái,…
Du lịch văn hoá: Hà Nội có tiềm năng lớn và đặc trưng nhất về du
lịch văn hoá với truyền thống lịch sử lâu đời, nhiều di tích nổi tiếng, nhiềucông trình kiến trúc đẹp, nghệ thuật dân gian phong phú đa dạng Các công
ty du lịch Hà Nội đã có hơn 200 chương trình du lịch phục vụ khách đithăm tới tất cả các địa danh thiên nhiên nổi tiếng, các di tích lịch sử vănhóa lâu đời, các làng nghề, các dân tộc với những phong tục đặc trưng v.v
Du lịch hội nghị hội thảo, triển lãm, sự kiện (MICE): tận dụng lợi thế
về trang bị tại các khách sạn và trung tâm hội nghị hội thảo lớn và đội ngũnhân viên có trình độ cao của Hà Nội để tổ chức các chương trình sự kiệnvới số lượng người tham dự lớn
Du lịch làng nghề: việc tổ chức các tour du lịch làng nghề kết hợp
với gìn giữ, phát triển các phố nghề, làng nghề thủ công truyền thống của
Hà Nội và vùng phụ cận như các nghề vàng bạc, thuốc bắc, thêu đan, mỹnghệ tại khu vực phố cổ Hà Nội; gốm sứ Bát Tràng; lụa Vạn Phúc; tranhĐông Hồ, mây tre đan Phú Vinh là nét khác biệt trong sản phẩm du lịchcủa thủ đô Việc tổ chức các khu vực trưng bày giới thiệu sản phẩm và biểudiễn các công đoạn sản xuất tạo cho du khách sự thích thú và lựa chọn muasản phẩm làm hàng lưu niệm
Trang 35Du lịch sinh thái: vùng Hồ Tây và các khu du lịch sinh thái quanh
trung tâm Hà Nội: Sóc Sơn, Ao Vua, là những địa chỉ yêu thích cho dukhách khi lựa chọn loại hình du lịch sinh thái khi đến Hà Nội
Ngoài ra, các doanh nghiệp lữ hành của Hà Nội cũng phối hợp vớicác cơ sở dịch vụ ở các tỉnh tổ chức những chương trình du lịch tham quancác địa danh phụ cận của khu vực phía Bắc và trong cả nước như: du lịchmạo hiểm khám phá núi rừng miền Bắc, khám phá các hang động sâu ở HạLong, bơi đường dài trên biển với trang thiết bị hỗ trợ hiện đại, có đội ngũứng cứu cơ động giỏi chuyên môn, ngoại ngữ, các trang thiết bị y tế, tinhọc hiện đại; du lịch nghỉ dưỡng sử dụng dịch vụ các khu nghỉ dưỡng caocấp của các vùng biển, vùng núi, suối khoáng; du lịch đi bộ trekking,
Tóm lại, Hà Nội có nhiều lợi thế trong hoạt động thu hút khách quốc
tế đến Việt Nam với hệ thống luật pháp, chính sách tạo nhiều điều kiện chophát triển du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật và môi trường kinh doanh du lịchngày càng được quan tâm đầu tư, hoàn thiện Nguồn lực tự nhiên, văn hoá
và nhân lực được đánh giá cao Những thế mạnh của sản phẩm du lịch vănhóa, du lịch hội nghị hội thảo, triển lãm, sự kiện (MICE), du lịch làng nghề,
… tạo ra sức hút đối với khách du lịch quốc tế, trong đó có khách du lịchHàn Quốc, đang lựa chọn Hà Nội như là một trong những điểm đến hấpdẫn trong khu vực Đông Nam Á
2.2 Tình hình khách Hàn Quốc đến Hà Nội
2.2.1 Số lượng khách, cơ cấu khách Hàn Quốc
Hà Nội đón khách quốc tế đến từ hơn 160 thị trường trên thế giới,hàng năm tăng 20 - 30%, luôn hoàn thành vượt kế hoạch hàng năm Nhữngthị trường trọng điểm chi trả cao như Tây Âu, Đông Bắc Á, Mỹ, Úc đượcduy trì ổn định Lượng khách từ 10 thị trường đứng đầu thường chiếm từ
75 - 80% tổng khách quốc tế vào Hà Nội Thị trường khách du lịch quốc tế
Trang 36đến Hà Nội khá đa dạng, đến từ nhiều nguồn khác nhau không chỉ từ châu
Á mà còn nhiều du khách đến từ Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc … Các thịtrường dẫn đầu về lượng khách đến trong những năm qua gồm có TrungQuốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Úc, Anh, Đức, đặc biệtthị trường Hàn Quốc, Thái Lan đang có sự tăng trưởng mạnh
Bảng 2.1 10 thị trường khách hàng đầu đến Hà Nội (2003 - 2007)
(Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội)
Thị trường Hàn Quốc giai đoạn 2004 - 2005 có tốc độ tăng trưởngmạnh, nếu như năm 2003 mới có 32.204 lượt khách du lịch Hàn Quốc đến
Hà Nội thì năm 2005 con số này đã là 143.571, gần gấp 5 lần năm 2003,
gấp 3 lần năm 2004), nhưng năm 2006 tốc độ tăng giảm, đạt 1,7% (tức tănghơn 2400 khách), thị phần từ 7% năm 2004 lên gần 14% năm 2005 và2006
Trang 37Thị trường khách du lịch Hàn Quốc đang đứng ở vị trí số 1 (14%)năm 2006 đã xuống vị trí thứ 3 năm 2007 trong số các thị trường gửi kháchđến Hà Nội (8,7%), thị trường Trung Quốc đã trở lại vị trí số 1 (14,5%),tiếp theo là Pháp (9,1%), Nhật (8,5%), Mỹ (6,7%)….
Biểu đồ 2.1: Thị trường khách du lịch quốc tế đến Hà Nội (2007)
(Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội)
Sở dĩ, lượng khách du lịch Hàn Quốc có mức tăng đột biến do ViệtNam bỏ visa cho khách du lịch Hàn Quốc vào du lịch 15 ngày và nhiềunước Đông Nam Á tăng cường kiểm tra, trục xuất người Hàn Quốc lao độngtrái phép nên họ chuyển hướng sang Việt Nam khiến thị trường này tăngmạnh những năm 2004 - 2005 Bên cạnh đó cũng phải khẳng định du lịchViệt Nam, du lịch Hà Nội ngày càng là sự lựa chọn, là điểm đến du lịch mới,hấp dẫn trong khu vực đối với khách du lịch Hàn Quốc
Hà Nội hiện là trung tâm phân phối khách du lịch Hàn Quốc cho cảnước, đã đưa khách đến và tạo doanh thu đáng kể cho các địa phươngđặc biệt là khu vực phía Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng, Lào Cai,….Năm 2007, Hà Nội đã đón 111,797 lượt khách, chiếm tỷ lệ 30% trên
Nhật
8,5%
Trung Quèc 14,5%
Thị trường khác
52,6%
Ph¸p 9,1%
Hµn Quèc
8,7%
Mỹ 6,7%
Trang 38tổng số lượng khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam (năm 2007 cả nướcđón được 475.535 lượt khách du lịch Hàn Quốc)
Biểu đồ 2.2 Số lượng khách du lịch Hàn Quốc đến Hà Nội (2003-2007)
(Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội)
Khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêngthường đi theo chương trình tour trọn gói không có thời gian tự do củaCông ty gửi khách của Hàn Quốc, còn chương trình tour trọn gói có thờigian tự do ít được tổ chức, và khách đi theo tour tự sắp xếp hầu như không
có (Xem phụ lục 4)
Xét về cơ cấu khách, từ tổng hợp kết quả điều tra của Tổng cụcThống kê về chi tiêu khách du lịch năm 2005, và kết quả điều tra các doanhnghiệp lữ hành cho thấy khách du lịch Hàn Quốc sang Việt Nam nói chung
và Hà Nội nói riêng ở độ tuổi từ 40 - 49 chiếm ưu thế nhất, tiếp theo làkhách ở độ tuổi 18 - 29; 30 - 39; 50 - 59, đối tượng khách ở các độ tuổikhác (dưới 18 tuổi; trên 60 tuổi) chiếm tỷ trọng không đáng kể
Trang 392.2.2 Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch Hàn Quốc
Hàn Quốc hiện này được đánh giá là nước có nền kinh tế phát triển
và đất nước này đang nỗ lực để trở thành một trong những quốc gia hàngđầu về kinh tế trong thiên niên kỉ mới Với thành tựu về kinh tế phát triểnkéo theo nhu cầu du lịch của người dân Hàn Quốc cũng ngày một tăng cao,
đi du lịch nước ngoài trong những kì nghỉ là xu thế của người dân HànQuốc trong những năm gần đây
Khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam tham gia nhiều loại hình dulịch khác nhau như nghỉ dưỡng, tắm biển, tham quan di tích văn hóa, lịch
sử cách mạng, tham quan thắng cảnh thiên nhiên, du lịch mua sắm, du lịchhội nghị, hội thảo, thăm thân…
Bảng 2.2 Các hoạt động khách du lịch Hàn Quốc
tham gia khi đi du lịch Việt Nam
3 Tìm hiều cuộc sống và tập tục địa phương 9.73 8
Trang 40Bảng 2.2 cho thấy các hoạt động chính mà khách du lịch Hàn Quốcthích khi đi du lịch Việt Nam là: tham quan thắng cảnh thiên nhiên(49,56%) và đi tham quan các di tích lịch sử văn hóa (26,55%); Các hoạtđộng tham quan các di sản văn hóa và thiên nhiên, mua sắm, ẩm thực cũngthu hút được số lượng lớn du khách tham gia (22,12%).
Thời gian lưu trú và cơ cấu chi tiêu của du khách:
- Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch Hàn Quốc đến ViệtNam nói chung và đến Hà Nội nhìn chung chưa dài, trung bình 3 - 4 ngàycho khách đi theo tour
Mức sống của người Hàn Quốc ngày nay không ngừng được nâng cao
và theo đó là sức mua của họ cũng tăng cao, đặc tính chi tiêu của người Hàn
Quốc theo những người tiếp xúc và phục vụ trực tiếp họ cho biết “người Hàn Quốc có khả năng thanh toán cao, hào phóng, mua nhiều và mua với
số lượng lớn và rất nóng tính”, quà lưu niệm họ thường mua là búp bê,
tượng nghệ thuật các cô gái trong tà áo dài Việt Nam, tranh thêu… Hàngtiêu dùng Việt Nam người Hàn Quốc rất thích mua đó là chăn ga gối đệm vìgiá cả phải chăng Phụ nữ Hàn Quốc rất sành về mua sắm, nhưng nếu mộtngười trong đoàn của họ đã mua mặt hàng đó thì hầu hết những người cònlại cũng sẽ mua Đối với nam giới người Hàn Quốc thì ngược lại, họ chi tiêuchủ yếu cho ăn uống, sử dụng các dịch vụ massage, dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ, Khi mua đồ họ thường quam tâm đến chất lượng, công dụng hơnmẫu mã, nếu món đồ nào họ thích thì họ quyết mua bằng được và ít quantâm đến giá cả
Mùa du lịch: Khách du lịch Hàn Quốc thường đi du lịch theo đoàn
đông 4.000 đoàn khách du lịch Hàn Quốc/năm (mỗi tháng 330 đoàn).Cao điểm có ngày có 30 đoàn vào, mỗi đoàn đi tour phía Bắc 3 - 4 ngày.Tháng 1 - 3 thời điểm tập trung khách đi theo gia đình, trung bình mỗi