Chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện pháp lý mà một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện hợp đồng, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.” Từ điển gi
Trang 1DE BAI LAO DONG NHOM THANG 2
Đề bài số 4: chị N kí hợp đồng không xác định thời hạn với công ty H từ
ngày 01/10/2005, mức lương 4.000.000 đồng/tháng
Ngày 05/05/2007, do mâu thuẫn cá nhân, chị N đã đỗ keo 502 vào ô khóa
của phòng nhân sự nên bị chuyên làm công việc khác trong thời gian 6 tháng với mức lương 3.000.000 đồng/tháng
Trong thời gian làm việc khác, ngày 05/03/2007,chị N bị người quản lý ghi
số trực “ Tự ý rời khỏi nơi làm việc vì lý do cá nhân” Ngày 15/3/2007, Chị N lại
bị ghi số trực “ tán gau với nhân viên bộ phận khác trong giờ làm việc” Vì vậy,
ngày 05/04/2007, Công ty H đã ra thông báo ngừng thực hiện hợp đồng lao động (
HĐLĐ) với chị N, thanh toán tiền lương cho chị đến hết ngày 26/03/2007 và 3
ngày lương phép năm 2007 chưa nghỉ Cùng ngày, chị N hoàn trả các loại giấy to, tài liệu cho công ty Các ngày 28/04/2007, ngày 02/05/2007 và ngày 05/05/2007,
công ty đã 3 lần gửi giấy báo cho chị N đến họp kỉ luật nhưng N đều không đến Ngày 15/05/2007, giám đốc công ty với sự đồng ý của công đoàn đã hợp xử lý kỷ
luật có đầy đủ thành phần ( chỉ vắng mặt chị N) Sau đó, giám đốc đã ra quyết định
sỐ 295/QĐÐ sa thải chị N vì “ tái phạm nhiều laanftrong thời gian chưa xóa kỷ luật.” Trong thời gian này chị N đã đi làm cho một công ty khác nên công ty H đã
gửi toàn bộ số lao động và hồ sơ xử lý sa thải chị N theo địa chỉ nơi chị đang làm
viéc
Ngày 05/06/2007, chị N không được ký tiếp hợp đồng lao động với công ty
mới vì lý do “ thử việc không đạt.” Ngày 10/06/2007, chị N đến công ty H yêu cầu:
- _ Hủy Thông báo ngừng thực hiện HĐLĐ và Quyết định số 295/QĐ;
- Stra lai sé lao động là công ty H sa thải trái pháp luật;
-_ Bồi thường các khoản tiền lương, tiền ăn giữa ca, tiền nghỉ phép;
-_ Trả trợ cấp thôi việc;
Trang 2-_ Bồi thường 2 tháng lương:
- _ Bồi thường khoản tiền dé chi N không yêu cầu trở lại làm việc;
-_ Bồi thường khoản tiền vì công ty H làm cho chị mắt việc tại công ty mới;
- Bồi thường ton hại về tinh than;
Céng ty H cho rang mới chỉ ra thông báo ngừng thực hiện HĐLĐ nhưng chị N lại
không đến công ty theo các giấy báo xử lý kỷ luật nên chính chị N đã tự ý chấm
dứt HĐLĐ trái pháp luật Công ty H đã xử lý đúng pháp luật nên không chấp nhận
bất cứ yêu cầu nào của chị N
Hỏi:
1 HĐLĐ của các bên chấm dứt vào thời điểm nào? Tại sao? ( 2 điểm)
2 Để Bảo vệ quyền và lợi ích của mình, chị N có thể gửi đơn đến những cơ
quan có thâm quyền nào yêu cầu giải quyết?( 2 điểm)
3 Những yêu cầu nào của chị N có cơ sở, những yêu cầu nào không có cơ sở giải quyết? Tại sao?( 3 điểm)
4 Hành vi vi phạm của chị N có thể bị xử lý như thế nào? Hãy tư vấn cho công
ty H xử lý đúng nhất các vi phạm của N? ( 3 điểm)
Trang 3GIAI QUYET TINH HUONG
1 HĐLĐ của các bên chấm dứt vào thời điểm nào? Tại sao? (2 điểm)
Chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện pháp lý mà một hoặc cả hai bên
không tiếp tục thực hiện hợp đồng, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên đã
thỏa thuận trong hợp đồng.” ( Từ điển giải thích từ ngữ luật học — Trường đại học
luật hn)
Theo quy định của pháp luật hiện hành và bộ luật lao động ( đã được sửa đổi
bổ sung năm 2002,2006,2007) thì có hai trường hợp:
- Thứ nhất là chấm dứt hợp đồng lao động do ý chí của hai bên và ý chí của người
thứ ba ( Điều 36 BLLD sửa đổi, bổ sung)
- Thứ hai là chấm dứt hợp đồng lao động do ý chí của I bên gồm quyền đơn
phương cham hợp đồng của người lao đông ( Điều 37BLLĐ)và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao đông ( Điều 38 BLLĐ)
- Theo tình huống thì chị NÑ đã kí với công ty H HĐLĐ không xác định thời hạn
từ ngày 1/10/2005 với mức lương 4 triệu đồng/tháng và trong thời gian làm việc chị đã có ba hành vi vi phạm kỉ luật lao động: đó là các ngày 5/2/2007 đổ keo 502 vào ổ khóa phòng nhân sự, ngày 5/3/2007 vắng mặt tại nơi làm việc vì lý do cá nhân và ngày 15/3/2007 tán gấu với nhân viên bộ phận khác trong giờ làm việc Vì
vậy, ngày 15/5/2007 hội đồng kỉ luật đã ra quyết định số 295/QĐ sa thải chị N vì lý
do “2ái phạm nhiều lần trong thời gian chưa xóa kỉ luật”,
Ở đây để xác định HĐLĐ của các bên chấm dứt vào thời điểm nào thì ta cần xét
cái quyết định sa thải số 295/QĐÐ trên có đúng pháp luật không Vì vậy ở đây có hai
trường hợp sảy ra:
Trang 4Trường hợp thứ nhất, là nêu quyét dinh sa thai s6 295/ QD cua céng ty H 1a
đúng pháp luật thì hợp đồng lao động của các bên sẽ chấm dứt vào thời điểm chị
N nhận được quyết định sa thải trên
Trường hợp thứ hai, nêu quyết định sa thải số 295/QĐ_ là trái luật thì đây là
người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật( Khoản
1, Điều 41 BLLĐ) Vì vậy, trường hợp này thì việc xác định kết thúc hợp đồng lao
động sẽ được căn cứ theo điều 41 của BLLĐ
Điều 41 BLLĐ đã sửa đổi, bố sung có quy định:
1— Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đông lao động trải pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bôi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp
lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng voi it
nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)
Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản
tiền được bôi thường quy định tại đoạn l khoản này, người lao động còn được trợ
cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này
Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiên bôi thường quy định tại
đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Diéu 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa
thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động
Như vậy nếu quyết định sa thải trên là trái luật thì sẽ có ba khả năng sảy ra:
Một là người sử dụng lao động( công ty H) phải nhận người lao động ( chị N) trở lại làm công việc theo hợp đồng đã kí và phải bồi thường cho chị N theo đúng quy
định của pháp luật Như vậy ở đây hợp đồng lao động giữa chị N và công ty H chưa chấm dứt tức là vẫn còn hiệu lực Nên ở đây không xác định được thời điểm
chấm dứt hợp đồng
Trang 5Hai là công ty H đã nhận chị N trở lại làm việc rồi mà chị N không muốn trở lại
làm việc thì hợp đồng lao động sẽ chấm dứt vào thời điểm chị N ra quyết định không trở lại làm việc và công ty đã hoàn thành nghĩa vụ bồi thường cho chỉ theo đúng quy định của pháp luật
Ba là công ty H không muốn nhận chị N trở lại làm việc và được chị N đồng ý thì hợp đồng lao động giữa chị N và công ty H sẽ chấm dứt vào thời điểm chị N đồng
ý không trở lại làm việc và công ty H đã hoàn thành nghĩa vụ bồi thường cho chị N theo đúng quy định của pháp luật cũng như theo đúng thỏa thuận hai bên
2 Dé Bao vệ quyền và lợi ích của mình, chị Ñ có thé gửi đơn đến những cơ quan có thâm quyên nào yêu câu giải quyêt?( 2 diém)
Có thể thấy, vụ việc trên là một tranh chấp LD ca nhan, va sé được giải quyét theo quy định của pháp luật lao động hiện hành Để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của
mình thì chị N có quyền gửi đơn yêu cầu đến các tổ chức có thẩm quyền tranh chấp lao động cá nhân theo quy định tại điều 165, BLLĐ sửa đổi, bỗổ sung năm
2006 và các văn bản hướng dẫn liên quan
Khoản I, điều 157 đã đưa ra định nghĩa tranh chấp lao động như sau:
“tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyên và lợi ích phát sinh trong quan
hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động”
Có thể hiểu một cách khái quát thì tranh chấp lao động là mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa các bên trong quá trình phát sinh, tồn tại và chấm đứt quan hệ lao
động Vụ việc trên là một tranh chấp cá nhân, và chị N có thể gửi đơn đến: Hội
đồng hòa giải lao động cơ sở; tòa án nhân dân (điều 165, BLLĐ)
Chị N gửi đơn đến hội đồng hòa giải lao động cơ sở
Theo quy định của khoản 4, điều 162; khoản l1, điều 165 BLLĐ; khoản 1,
điều 5, nghị định của Chính phủ số 133/2007/NĐ-CP ngày 8-8-2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sửa đồi, bổ sung một số điều của bộ
Trang 6luật lao động bộ luật lao động về giải quyết tranh chấp lao động thì hội đồng hòa
giải hoặc hòa giải viên lao động có thâm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân xảy ra tại doanh nghiệp Mặt khác, theo quy định của khoản a, điều 2, mục I
thông tư của Bộ lao động - thương binh xã hội số 22/2007/TT-BLĐTBXH ngày
23-10-2007 hướng dẫn về tô chức hoạt động của hội đồng hòa giải lao động cơ sở
và hòa giải viên lao động cũng nói rõ hội đồng hòa giải có nhiệm vụ hòa giải tất cả tranh chấp lao động cá nhân xảy ra tại doanh nghiệp theo đơn yêu cầu của một bên
hoặc của các bên tranh chấp Hội đồng hòa giải lao động cơ sở làm việc theo
nguyên tắc thỏa thuận và nhất trí Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng hội đồng hòa giải
không phải là cơ quan giải quyết tranh chấp lao động có thâm quyền quyết định vụ
việc, mà chỉ đưa ra các phương án giải quyết để cho các bên tranh chấp cùng cân
nhắc và quyết định Nhưng hội đồng hòa giải vẫn có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong giải quyết tranh chấp lao động trên tinh thần hợp tác, qua đó để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên Ở đây không đề cập đến vấn đề hòa giải bởi hòa giải viên, vì theo quy định của pháp luật thì hòa giải viên chỉ đặt ra trong trường hợp doanh nghiệp không có hội đồng hòa giải, mà vụ việc trên thì theo quy định của pháp luật doanh nghiệp có hội đồng hòa giải (vì doanh nghiệp có công đoàn ) Chị N có thể gửi đơn tòa án nhân dân có thẩm quyền
Khoản 2, điều 165 BLLĐ cũng quy định tòa án nhân dân cũng là cơ quan có thắm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Để việc giải quyết lao động được thực hiện đúng pháp luật và đảm bảo hiệu quả, một trong những yêu cầu đặt
ra là tranh chấp phải được tòa án có thẩm quyền giải quyết Điều 31, BLTT dân sự
quy định tranh chấp lao động thuộc thâm quyền của tòa án bao gồm: tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà hội đồng hòa
giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện hòa giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định Như vậy, không phải mọi tranh chấp lao động cá nhân đều
5
Trang 7thuộc thâm quyền giải quyết của tòa án mà nhìn chung tòa án chỉ giải quyết những tranh chấp đã qua tại hội đồng hòa giải cơ sở hoặc hòa giải viên lao động nhưng
không thành, hoặc do các tổ chức, cá nhân này không giải quyết trong thời hạn mà pháp luật quy định Tuy nhiên, theo khoản 2, điều 166 BLLĐ thì những tranh chấp
lao động cá nhân sau đây cũng có thê thuộc thẳm quyền giải quyết của tòa: cũng có thể thuộc thâm quyền giải quyết của tòa án dù chưa có hòa giải tại cơ sở: Tranh
chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động: tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm đứt hợp đồng lao động; tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; tranh
chấp về bảo hiểm xã hội giữa người lao động đã nghỉ việc theo chế độ với người sử
dụng lao động hoặc với cơ quan bảo hiểm xã hội ; tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khâu lao động Quy định như vậy
nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của bên chủ thể đang bị xâm phạm nghiêm trọng
(hoặc nhằm giải quyết sớm dứt điểm các tranh chấp mà không nhằm tiếp tục duy
trì quan hệ lao động ) Theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì đối
với vụ việt trên sẽ thuộc thâm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện Như vậy, chị N có thể gửi đơn đến tòa án yêu cầu giải quyết mà không cần qua
bước hội đồng hòa giải
3 Những yêu cầu nào của chị N có cơ sở, những yêu cầu nào không có cơ sở giải quyết? Tại sao?( 3 điểm)
Giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại những mối quan
hệ gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ Khi Người lao động hay người sử dụng lao
động có những vi phạm thì bên còn lại sẽ có quyền yêu cầu bên kia bồi thường cho
mình Những yêu cầu này thì phải phù hợp với những quy định của pháp luật đối chiếu với trường hợp trên ta thấy:
Trang 8Những yêu cầu của chị N có cơ sở để giải quyết đó là:
- Về vẫn đề húy thông báo ngừng thực hiện HĐLĐ và Quyết định số 295/QĐ: Chị
N yêu cầu hoàn toàn có cơ sở vì công ty không thể sử dụng lý do sa thai chi N do
* tái phạm nhiều lần trong thời gian chưa xóa kỷ luật" theo quy định tại Điều 9
Nghị định 41/ CP / 6-7-1995 Quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất:
* Điều 9 Tái phạm theo Khoản 1 Điều 88 của Bộ Luật lao động là trường hợp đương sự chưa được xoá kỷ luật lao động lại phạm cùng lỗi mà trước đó đã phạm ”
Trong trường hợp của chị N, chị N đã vi phạm kỷ luật nhưng là các lỗi khác
nhau trước tiên là do mâu thuẫn cá nhân chị N đổ keo 502 vào ô khóa của Phòng nhân sự nên bị chuyền làm công việc khác trong thời gian 6 tháng, sau đó chị N lại
vi phạm với lý do “tự ý rời khỏi nơi làm việc vì lý do cá nhân”, sau đó lại vi phạm với lý do “tán gẫu với nhân viên bộ phận khác trong giờ làm việc” Đây hoàn toàn
là các lỗi khác nhau, nếu công ty muốn sa thải chị N thì phải đựa vào Điều 85
BLLĐ hoặc có thể xử lý kỷ luật sa thải nếu Nội quy công ty (đã đăng ký) hoặc Thỏa ước lao động tập thê có quy định về trường hợp sa thải vì người lao động vi
phạm kỷ luật lao động trong thời gian chưa xóa kỷ luật
Yêu cầu : Bồi /hường các khoản tiền lương, tiền nghỉ phép; trả trợ cấp thôi việc;
bôi thường hai tháng lương và yêu cầu bôi thường khoản tiền để chị N không yêu
cấu trở lại làm việc đếu được cháp nhận VÌ:
Xét thấy: Công ty H ra quyết định sa thai chi N đồng nghĩa với việc công ty H đã đơn phương chấm dứt hợp đồng với chị Việc công ty giải thích chị H đã không
đến theo giấy báo xử lý kỉ luật thì chị N đã tự ý chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là
không có cơ sở pháp lí Hơn nữa, quyết định sa thai chi N của công ty H để nhằm
cham dứt hợp đồng lao động với chị theo điểm b khoản 1 điều 38 BLLĐ là trái với pháp luật lao động , Do vậy căn cứ theo quy định tại điều 41 khoản 1, điều 42
BLLĐ chị N sẽ được hưởng các quyền lợi theo như sau:
7
Trang 9+ Được bồi thường các khoản tiền lương , tiền nghỉ phép và tiền phụ cấp nếu có trong những ngày chị N không được làm việc
+ Riêng về khoản tiền ăn giữa ca: Tại quy định ở mục 2 chương III của
Thông tư số 22/2008/TT-BLĐTBXH quy định về
“ Nguyên tắc thực hiện chế độ ăn giữa ca:
2 Ngày không làm việc, kề cả ngày nghỉ 6m dau, thai san, nghi phép, nghi không hưởng lương thì không ăn giữa ca và không được thanh toan tiền.”
Vi vay chị N không có quyền yêu cầu công ty đòi bồi thường tiền ăn giữa ca
+ Được bồi thường hai tháng tiền lương
+ Do chị N không muốn trở lại công ty làm việc nữa nên chị sẽ còn được hưởng trợ cấp theo quy định tại điều 42 của Bộ luật này.Cụ thể: Chị N có kí hợp đồng không xác định thời hạn với công ty H và trên thực tế chị đã làm việc cho
công ty là trên hai năm cho nên theo khoản 1 điều này, công ty H có trách nhiệm phải trả trợ cấp thôi việc cho chị N Tức yêu cầu của chị N sẽ được giải quyết Những yêu cầu của chị N không có cơ sở để giải quyết đó là:
- Boi_thuong khoan tién vi céng ty H lam cho chi N mắt vệc tại công ty mới
không được chấp nhân bởi vì:
Việc chị H không được kí tiếp hợp đồng với công ty mới vì lí do “ thử việc không đạt” Lí do này xuất phát từ trình độ chuyên môn của chị N không đáp ứng được yêu cầu của công ty mới chứ không phải đo sự sa thải sai pháp luật của công
ty H Hay nói cách khác do hồ sơ xử lý sa thải của chị Ñ do công ty H chuyển đến
trong thời gian chị đang làm việc cho công ty mới Cho nên yêu cầu này của chị không có cơ sở để giải quyết
- Bi thường tồn hai vé tinh than:
Việc công ty sa thải trái pháp luật đối với chị H không có căn cứ chứng minh hành vi này của công ty H đã ảnh hưởng trầm trọng tới tinh thần của chị Hơn nữa pháp luật lao động không có quy định về vấn đề này cho nên chị N không có quyền
Trang 10yêu cầu bồi thường mà chỉ có quyền buộc xin lỗi công khai và khôi phục danh du
4 Hành vi vi phạm của chị Ñ có thế bị xứ lý như thế nào? Hãy tư van cho
công ty xử lý đúng nhât các vi phạm của N?
Các hình thức kỉ luật được quy định tại điều 6 nghị định 41/1995 ND/CP stra
d6i bé sung bang nghi dinh 33/2003 ND/CP nhu sau:
Hình thức khiển trách bằng miệng hoặc bằng văn bản được áp dụng đối với người lao động phạm lỗi lần đầu, nhưng ở mức độ nhẹ ( gọi là hình thức khiển
trách)
Hình thức kéo dài thời hạn nâng bậc lương không quá sáu tháng hoặc chuyển làm việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là sáu tháng
hoặc cách chức được áp dụng đối với người lao động đã bị khiển trách bằng văn bản mà tái phạm trong thời hạn ba tháng kể từ ngày bị khiển trách hoặc những
hành vi vi phạm đã được quy định trong nội quy lao động Người sử dụng lao động
căn cứ vào mức độ vi phạm kỷ luật của người lao động, tình hình thực tế của
doanh nghiệp và hoàn cảnh của người lao động để lựa chọn một trong ba hình thức quy định tại khoản này
Hình thức sa thải được áp dụng đối với người lao động vi phạm một trong những trường hợp quy định tại khoản I Điều 85 của Bộ Luật Lao động và đã cụ thể hóa trong nội quy lao động được quy định như sau:
a) Người lao động vi phạm một trong các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1
Điều 85 của Bộ Luật Lao động, nếu hành vi vi phạm đó chưa có đầy đủ hoặc khó
xác định chứng cứ thì yêu cầu cơ quan có thâm quyền điều tra, xác minh, kết luận
để làm căn cứ xử lý kỷ luật
b) Người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày
cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng
dương lịch, năm dương lịch.