Trong những năm gần đây, thời tiết, khí hậu ở nước ta có sự biến đổi, làm cho tình hình dịch bệnh trên gia súc xảy ra thường xuyên, lúc rải rác lúc ồ ạt và biến đổi khôn lường, ngày càng phức tạp nó gây ảnh hưởng đến nền kinh tế. Một trong những dịch bệnh nguy hiểm là dịch heo tai xanh: không chỉ ảnh hưởng tới người chăn nuôi mà còn gây mất cân đối về khả năng cung cầu, ảnh hưởng đến người tiêu dùng, sức khỏe cộng đồng và môi trường sống.Qua thực tế cho thấy, khi có dịch bệnh xảy ra, các cơ quan chức năng quản lý ở địa phương luôn trong tình trạng thiếu thông tin cần thiết để đánh giá nhằm có biện pháp phòng chống kịp thời. Do chưa có một hệ thống tổ chức điều tra, thu thập thông tin hoàn chỉnh, thiếu cả phương tiện lưu trữ và xử lý thông tin, vì vậy nó làm cho việc tổng hợp phân tích thông tin chậm chạp, không đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, giám sát tình hình dịch và ra quyết định phòng chống. Khi có dịch bệnh xảy ra, cán bộ thú y phải sử dụng bản đồ giấy, cùng với phương pháp tô màu cũ kỹ. Với cách làm như vậy, bản đồ không kịp thời phản ánh đúng tình hình diễn biến trong thực tế. Vì vậy, cần có một hệ thống thông tin hiện đại để lưu trữ các loại thông tin, điều tra thu thập được, xử lý chúng một cách nhanh chóng, kịp thời và trong nhiều trường hợp có thể đưa ra những ý kiến tư vấn cho các nhà quản lý.Bình Định là một trong số nhiều tỉnh, thành trong cả nước bắt đầu xuất hiện dịch heo tai xanh từ năm 2007, nó không chỉ gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi mà còn có khả năng đe dọa nghiêm trọng trong thời gian tới. Nhu cầu cấp thiết hiện nay là cần có phần mềm với đầy đủ chức năng, đáp ứng yêu cầu quản lý thông tin về chăn nuôi và diễn biến dịch bệnh để kịp thời khoanh vùng ngăn chặn không cho dịch bệnh lây lan sang địa phương khác.Hiện nay, có rất nhiều công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác khống chế dịch bệnh, trong đó có hệ thống GIS (Geographic Information System hệ thống thông tin địa lý). Trong công tác thú y, GIS thường được sử dụng để tiến hành các phân tích dịch tễ học mô tả về tình hình dịch bệnh, chăn nuôi, di chuyển động vật, giám sát, phát hiện và đánh giá nguy cơ rủi ro. Do đó các loại hình dịch bệnh và các yếu tố liên quan được hiểu một cách rõ ràng hơn, từ đó sẽ giúp nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng chống.Xuất phát từ tình hình trên, dưới sự hướng dẫn của Thầy và Chi cục thú y tỉnh Bình Định, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra, khảo sát tình hình bệnh heo tai xanh (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản PRRS) trên đàn heo; ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) xây dựng bản đồ phân bố đàn heo và bản đồ dịch tễ; đề xuất một số giải pháp ứng phó dịch heo tai xanh tại Bình Định”.
Trang 1CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, thời tiết, khí hậu ở nước ta có sự biến đổi, làmcho tình hình dịch bệnh trên gia súc xảy ra thường xuyên, lúc rải rác lúc ồ ạt vàbiến đổi khôn lường, ngày càng phức tạp nó gây ảnh hưởng đến nền kinh tế.Một trong những dịch bệnh nguy hiểm là dịch heo tai xanh: không chỉ ảnhhưởng tới người chăn nuôi mà còn gây mất cân đối về khả năng cung cầu, ảnhhưởng đến người tiêu dùng, sức khỏe cộng đồng và môi trường sống
Qua thực tế cho thấy, khi có dịch bệnh xảy ra, các cơ quan chức năngquản lý ở địa phương luôn trong tình trạng thiếu thông tin cần thiết để đánh giánhằm có biện pháp phòng chống kịp thời Do chưa có một hệ thống tổ chức điềutra, thu thập thông tin hoàn chỉnh, thiếu cả phương tiện lưu trữ và xử lý thôngtin, vì vậy nó làm cho việc tổng hợp phân tích thông tin chậm chạp, không đápứng được yêu cầu của công tác quản lý, giám sát tình hình dịch và ra quyết địnhphòng chống Khi có dịch bệnh xảy ra, cán bộ thú y phải sử dụng bản đồ giấy,cùng với phương pháp tô màu cũ kỹ Với cách làm như vậy, bản đồ không kịpthời phản ánh đúng tình hình diễn biến trong thực tế Vì vậy, cần có một hệthống thông tin hiện đại để lưu trữ các loại thông tin, điều tra thu thập được, xử
lý chúng một cách nhanh chóng, kịp thời và trong nhiều trường hợp có thể đưa
ra những ý kiến tư vấn cho các nhà quản lý
Bình Định là một trong số nhiều tỉnh, thành trong cả nước bắt đầu xuấthiện dịch heo tai xanh từ năm 2007, nó không chỉ gây thiệt hại nặng nề chongười chăn nuôi mà còn có khả năng đe dọa nghiêm trọng trong thời gian tới.Nhu cầu cấp thiết hiện nay là cần có phần mềm với đầy đủ chức năng, đáp ứngyêu cầu quản lý thông tin về chăn nuôi và diễn biến dịch bệnh để kịp thờikhoanh vùng ngăn chặn không cho dịch bệnh lây lan sang địa phương khác
Hiện nay, có rất nhiều công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác khống chế dịchbệnh, trong đó có hệ thống GIS (Geographic Information System- hệ thốngthông tin địa lý) Trong công tác thú y, GIS thường được sử dụng để tiến hành
Trang 2các phân tích dịch tễ học mô tả về tình hình dịch bệnh, chăn nuôi, di chuyểnđộng vật, giám sát, phát hiện và đánh giá nguy cơ rủi ro Do đó các loại hìnhdịch bệnh và các yếu tố liên quan được hiểu một cách rõ ràng hơn, từ đó sẽ giúpnâng cao hiệu quả các biện pháp phòng chống.
Xuất phát từ tình hình trên, dưới sự hướng dẫn của Thầy và Chi cục thú y
tỉnh Bình Định, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra, khảo sát tình hình bệnh heo tai xanh (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản - PRRS) trên đàn heo; ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) xây dựng bản đồ phân bố đàn heo và bản đồ dịch tễ; đề xuất một số giải pháp ứng phó dịch heo tai xanh tại Bình Định”.
Trang 3CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Phía Bắc giáp tỉnh QuảngNgãi; phía Tây giáp tỉnh Gia Lai; phía Nam giáp tỉnh Phú Yên và phía Đônggiáp biển Đông với bờ biển dài 134km và được xem là một trong những cửa ngõ
ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng Nam Lào
Bình Định có diệntích tự nhiên là 6.050km2,toàn tỉnh có nhiều hồ đầmnhân tạo để phục vụ mụcđích tưới tiêu trong mùakhô và một đầm nước ngọtkhá rộng là đầm Trà Ổ(huyện Phù Mỹ), hệ thống
hồ đầm này tạo thuận lợicho việc phát triển nôngnghiệp và nuôi trồng thủyhải sản Ngoài ra, tỉnh còn
có hệ thống giao thôngkhá đồng bộ với 118kmQuốc lộ 1A chạy qua địabàn - là trục giao thôngxương sống của tỉnh Với
21 km trong 34km chiềudài Quốc lộ 1D là bộ mặt
và cửa ngõ vào thành phố.Quốc lộ 19 nối từ cảngQuy Nhơn tới các tỉnh TâyNguyên là tuyến đường quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa qua cụmcảng Quy Nhơn
Bên cạnh những thuận lợi trên, tỉnh cũng có nhiều khó khăn do tự nhiênmang lại như: Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông.Phía Tây của tỉnh là rìa núi phía Đông của dãy Trường Sơn nam, kế tiếp là vùng
Hình 1: Bản đồ hành chính của tỉnh Bình Định
Trang 4trung du và tiếp theo là vùng ven biển Các dạng địa hình phổ biến là các dãynúi cao, đồi thấp, xen lẫn thung lũng hẹp với độ cao trên dưới 100 mét, hướngvuông góc với dãy Trường Sơn Các đồng bằng lòng chảo, đồng bằng duyên hải
bị chia nhỏ bởi các nhánh núi đâm ra biển Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độdốc không đối xứng giữa 2 sườn Đông và sườn Tây Hệ thống sông ngòi khônglớn, độ dốc cao, ngắn, trữ lượng phù sa thấp, lũ lên xuống rất nhanh
Khí hậu có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Do sự phức tạp của địa hình nêngió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều nhiệt độ trungbình năm 2010 là 27,4 độ C, độ ẩm trung bình là 81% lượng mưa cả năm2.684,9mm Mưa bắt đầu từ tháng 9 tới tháng 12, khu vực miền núi có thêm mùamưa phụ từ tháng 5 tới tháng 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây nguyên, trongnhững năm gần đây, khi hậu thay đổi, xuất hiện mưa trái mùa trên địa bàn tỉnh, đây
là điều kiện cho dịch bệnh bùng phát và lây lan do không kiểm soát được thời tiết
Dân số hiện nay của tỉnh là 1.489.700 người nhưng phân bố không đều,trong đó dân số nông thôn chiếm 72,3% Dân tộc Kinh chiếm 98% tổng số dân số,
3 dân tộc thiểu số (Bana, Chăm, H’rê) chiếm khoảng 2% Cơ cấu dân số trẻ dưới
30 tuổi chiếm 62,8% là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho các ngành kinh tế
2.1.2 Tình hình phát triển nông nghiệp và nông thôn tỉnh Bình Định
Bình Định có diện tích đất nông nghiệp là:171.544 ha, diện tích đất lâmnghiệp là 110.134 ha, diện tích sản xuất muối 225 ha Tổng đàn trâu, bò là272.056 con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 119.249,68 tấn Trong những nămqua, tuy dịch bệnh trên gia súc có xảy ra rải rác, giá cả sảm phẩm nông nghiệptăng, nhưng đã được khống chế và kiểm soát nên tình hình phát triển chăn nuôi
và nuôi trồng thủy sản ổn định, bền vững Từ đó, người dân yên tâm đầu tư pháttriển sản xuất về chăn nuôi gia cầm, gia súc
Trong năm 2011, cả tỉnh có tổng đàn trâu 20.571 con, tăng 8,3% so với kếhoạch; tổng đàn bò 251.485 con, tăng 83,8% so với kế hoạch; tổng đàn heo660.446 con, đạt 100% so với kế hoạch; tổng đàn gia cầm 6.226,932 nghìn con;tăng 7,4% so với kế hoạch Sản lượng thịt hơi các loại xuất chuồng 119.249,68tấn tăng 6,4% so với kế hoạch Toàn tỉnh có 1.217 con bò sữa tăng 3,8% so cùng
kỳ, tỷ lệ hộ chăn nuôi đạt 42,1% tăng 2,6% so với cùng kỳ Toàn tỉnh có 18trang trại chăn nuôi heo và gia cầm, giảm 260 trang trại theo tiêu chí xác địnhkinh tế trang trại mới
Trang 5Về tiềm lực khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh ngày càng được nâng cao
và mở rộng, nguồn lợi thủy sản ven bờ được phục hồi và bảo vệ, Sở nông nghiệp
và phát triển nông thôn Tỉnh có nhiều chính sách hỗ trợ công tác phổ cập chuyểngiao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
2.2 LỊCH SỬ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN
2.2.1 Khái quát chung
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo (PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndome) còn gọi là “ bệnh heo tai xanh”, là một bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm đối với loài heo (kể cả heo rừng), gây ra bởi virus Lelystad.
Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặngnhư: sốt, ho, thở khó, ở heo nái có các rối loạn sinh sản: sảy thai, thai chết lưu,heo sơ sinh chết yểu Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc(FAO) xác định bệnh không lây truyền sang gia súc khác và con người
Bệnh được gọi bằng nhiều tên khác nhau dựa vào triệu chứng lâm sàng
Hội chứng vô sinh và sảy thai ở heo Vô sinh và sảy thai ở heo nái
Hội chứng sảy thai và bệnh đường hô hấp Sảy thai và bệnh đường hô hấp
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở
2.2.2 Lịch sử của hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
Các ổ dịch có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của PRRS được báo cáolần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào cuối những năm 80 thế kỷ XX, tuy lúc đó chưa biết
rõ căn nguyên gây bệnh Triệu chứng thường biểu hiện bao gồm rối loạn sinhsản nghiêm trọng, viêm phổi ở heo con sau cai sữa, chậm lớn, giảm năng suất và
tỷ lệ tử vong tăng
Các ổ dịch có triệu chứng lâm sàng tương tự đã được thông báo ở CHLBĐức vào năm 1990; sau đó dịch đã lây lan khắp châu Âu vào năm 1991 và xuấthiện ở châu Á vào đầu những năm 1990 Vào thời điểm đó, do chưa xác địnhđược căn nguyên bệnh nên được gọi là “bệnh bí hiểm ở heo” (Mistery Swine
Trang 6Disease - MSD), một số người căn cứ vào triệu chứng gọi là “bệnh tai xanh ởheo” Tiếp theo dịch bệnh lây lan rộng trên toàn thế giới và được gọi bằng nhiềutên khác nhau: Hội chứng hô hấp và vô sinh của heo (Swine infertility andrespiratory disease - SIRS), tại Mỹ đặt tên gọi bệnh bí hiểm ở heo hay Hộichứng hô hấp và sảy thai ở heo (Porcine Endemic abortion and Respiratorysyndrome - PEARS), Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo (Porcinerespiratory and reproductive syndrome - PRRS), bệnh tai xanh của heo (BlueEar disease - BED) ở châu Âu
Năm 1991, virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) đãđược định dạng bởi các nhà nghiên cứu Hà Lan và Hoa Kỳ Năm 1992, Hộinghị quốc tế về bệnh này tại St Paul, Minnesota (Mỹ) đã nhất trí sử dụng têngọi Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo - PRRS do Hội đồng Châu Âuđưa ra Tổ chức Thú y thế giới (OIE) cũng công nhận tên gọi này
Cho đến nay, PRRS đã lan rộng khắp thế giới với những đặc trưng của từngchủng ở các vùng khác nhau, gây ra những thiệt hại kinh tế nặng nề hàng năm
Ngày nay, PRRSV gây ra dịch địa phương cho quần thể heo toàn cầu, tuynhiên một vài quốc gia như Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Niu Dilân và Úc khẳng địnhkhông có bệnh này Ở Việt Nam, PRRS được phát hiện năm 1997 trên đàn heonhập từ Mỹ, 10/51 heo giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS.Các nghiên cứu về bệnh ở những trại heo giống tại các tỉnh phía Nam cho thấy
tỷ lệ heo có huyết thanh dương tính với bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới68,29% (Hoàng Văn Năm, 2001) [7] Ở các nước khác, tỷ lệ đàn trong vùngbệnh có huyết thanh dương tính rất cao, như ở Anh là 60 - 75%, Mỹ là 36%
2.3 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH
2.3.1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới và trong khu vực
Những ca bệnh dương tính đầu tiên dựa trên phản ứng huyết thanh đượcphát hiện ở Iowa năm 1985 và Minnesota, Mỹ năm 1986 Tỷ lệ PRRS ở dạnglâm sàng tăng lên nhanh chóng vào năm 1988 và 1989 Khoảng năm 1990, mộtcuộc điều tra của Hiệp hội các nhà Thú y chuyên về bệnh heo của Mỹ báo cáohơn 1600 ca bệnh ở 19 bang dựa trên triệu chứng lâm sàng Điều tra huyết thanhhọc đã đánh giá chắc chắn sự thịnh hành PRRS ở đàn heo của Mỹ Chưa có mộtbáo cáo tỷ mỷ nào về PRRS ở châu Âu Nhiều ổ dịch lâm sàng ở châu Âu đãgiảm sau giai đoạn kịch phát từ đầu đến giữa năm 1991 Tháng 11/1990, sự lây
Trang 7tìm thấy kháng thể kháng PRRSV ở đàn heo Tây Đức từ 1988 và 1989, đúngtrước khi trường hợp đầu tiên phát ra ở vùng Munster Những nghiên cứu chỉ rarằng trên đàn heo nhiễm chủ yếu với PRRSV vẫn âm ỉ kéo dài.
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo đã trở thành dịch địa phương
ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi heo phát triểnnhư Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức…, đã gây ra những tổn thất rất lớn
về kinh tế cho người chăn nuôi lên đến hàng trăm triệu đô la Tại Mỹ hàng nămphải chịu tổn thất do bệnh tai xanh gây ra khoảng 560 triệu USD
Các nước trong khu vực có tỷ lệ PRRS lưu hành rất cao, ví dụ ở TrungQuốc là 80%; Đài Loan 94,7 - 96,4% ; Philippine 90% , có cả virus chủng độclực cao; Thái Lan 97%, Malaysia 94% ; Hàn Quốc 67,4 - 73,1% Nga là nướcthứ 4 đã báo cáo chính thức có dịch bệnh Tai xanh do chủng PRRSV thể độc lựccao gây ra (Cục Thú y, 2008) [2]
Tại Thái Lan, một nghiên cứu với quy mô rộng lớn từ năm 2000 - 2003cho thấy các PRRSV được phân lập từ nhiều địa phương thuộc nước này gồm
cả chủng dòng Châu Âu và dòng Bắc Mỹ Trong đó virus thuộc chủng dòngBắc Mỹ chiếm 33,58%, dòng Châu Âu chiếm 66,42% Các nghiên cứu trước đó
đã khẳng định PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và tỷ lệlưu hành huyết thanh của bệnh này cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào năm
1991 và trên 76% vào năm 2002 Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc sửdụng tinh heo nhập nội đã bị nhiễm PRRSV hoặc do các đàn heo nhập nội mangmầm bệnh
Từ những năm 95 của thế kỷ XX trở lại đây, Trung Quốc cũng ghi nhậnxảy ra các trường hợp heo chết hàng loạt do PRRS ghép với các bệnh khác.Chủng virus đang lưu hành tại Trung Quốc là chủng thuộc dòng Bắc Mỹ, chúngđược chia thành hai dạng, gồm chủng cổ điển độc lực thấp và chủng độc lực caogây ốm, chết nhiều heo… Trong vòng hơn 3 tháng của năm 2006, chủngPRRSV độc lực cao đã gây ra đại dịch lây lan ở hơn 10 tỉnh phía Nam, làm hơn
2 triệu con ốm, trong đó có hơn 400.000 heo mắc bệnh bị chết Năm 2007, cáctỉnh Anhui, Hunan, Guangdong, Shandong, Liaoning, Jilin và một số tỉnh khác
bị ảnh hưởng nặng buộc Trung Quốc phải tiêu huỷ tới 20 triệu heo để ngăn chặndịch lây lan [2] Điều đáng chú ý vào năm 2006 ở Trung Quốc, virus gây ra đạidịch PRRS có những thay đổi, tính cường độc mạnh hơn rất nhiều so với cácchủng PRRSV cổ điển được phân lập ở nhiều địa phương khác nhau tại nướcnày từ năm 1996 - 2006
Trang 8Bên cạnh đó một báo cáo khác cũng cho thấy, tại Trung Quốc tỷ lệ heo
có huyết thanh dương tính với PRRS tại tỉnh Quảng Đông là trên 57%, đặc biệtcác trại chăn nuôi tập trung với số lượng lớn có tỷ lệ lưu hành virus cao hơn cáctrại chăn nuôi nhỏ lẻ Điều đáng chú ý tại Hồng Kông, người ta đã xác địnhđược heo có thể nhiễm đồng thời cùng một lúc cả 2 chủng virus dòng Bắc Mỹ
và dòng Châu Âu
Từ năm 2005 trở lại đây, 27 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châulục (trừ châu Đại dương) trên thế giới đã báo cáo cho Tổ chức Thú y thế giới(OIE) khẳng định phát hiện có PRRS lưu hành (Cục Thú Y, 2008) [1] Con sốthực tế sẽ còn khác rất nhiều
2.3.2 Tình hình dịch bệnh trong nước
Tại Việt Nam bệnh được báo cáo vào năm 1998 Điều tra ở TP Hồ ChíMinh và các tỉnh lân cận cho thấy 25% mẫu huyết thanh heo có kháng thể khángPRRSV (596/2308 mẫu) và 5/15 trại (chiếm 33%) nhiễm PRRS (Nguyễn LươngHiền và ctv, 2001) [5] Tỷ lệ nhiễm ở một số trại chăn nuôi công nghiệp tại TP
Hồ Chí Minh là 5,97% (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân, 2003) [6] Năm
2003, tỷ lệ nhiễm PRRS trên heo nuôi tập trung ở Cần Thơ là 66,86% (La TấnCường, 2005) [12] Điều tra huyết thanh học của các tác giả Akemi Kamakawa
và Hồ Thị Viết Thu từ năm 1999 - 2003 cho thấy tỷ lệ heo có kháng thể khángPRRSV tại Cần Thơ là 7,7% (37/478 mẫu dương tính với PRRSV)
Các kết quả điều tra huyết thanh học tại một số trại heo giống phía Nam
đã phát hiện có sự lưu hành của bệnh do chủng virus cổ điển, độc lực thấp gây ravới một tỷ lệ nhất định heo giống có huyết thanh dương tính với bệnh (Cục Thú
y, 2007) [13]
Như vậy có thể thấy PRRSV đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trongmột thời gian dài Tuy nhiên, kể từ khi xác định được heo có kháng thể khángPRRSV ở đàn heo giống nhập từ Mỹ, tại Việt Nam chưa từng có vụ dịch PRRSnào xảy ra Sự bùng phát thành dịch gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi bắtđầu từ tháng 3 năm 2007 Dịch xuất hiện từng đợt tại cả 3 miền Bắc, Trung vàNam, gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi heo, đặc biệt là ảnh hưởng đến pháttriển đàn giống Trong các ổ dịch, ngoài PRRSV đã được xác định là nguyênnhân chính, hàng loạt các loại mầm bệnh khác như: Dịch tả heo, hội chứng còicọc của Heo sau cai sữa, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Liên cầu khuẩn,Suyễn heo…
Trang 9+ Đợt dịch đầu tiên: dấu ấn quan trọng của PRRS tại Việt Nam được bắtđầu từ ngày 12/3/2007, hàng loạt đàn heo tại Hải Dương có những biểu hiện ốmkhác thường Ngày 23/3/2007, lần đầu tiên Chi cục Thú y tỉnh đã báo cáo CụcThú y về tình hình dịch, ngay sau đó ngày 26/3/2007, Trung tâm Chẩn đoán Thú
y Trung ương - Cục Thú y đã tiến hành lấy mẫu xét nghiệm và kết quả dươngtính với PRRSV[10] Do lần đầu tiên PRRS xuất hiện tại Việt Nam và khôngquản lý được việc buôn bán, vận chuyển heo ốm, dịch đã lây lan nhanh và pháttriển mạnh tại 6 tỉnh thành thuộc Đồng bằng Sông Hồng, gồm: Hưng Yên,Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Phòng làm hàng ngàn conheo mắc bệnh
+ Đợt dịch thứ 2: ngày 25/6/2007, dịch lại xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam.Mặc dù đã có những bài học từ các tỉnh phía Bắc, cũng như những cảnh báo,hướng dẫn phòng chống bệnh cụ thể của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, nhưng do không được phát hiện kịp thời, Chi cục Thú y địaphương không nắm chắc được tình hình dịch, việc quản lý vận chuyển heo ốmkhông triệt để đã làm dịch lây lan trên diện rộng tại 14 tỉnh, thành trong cả nước:
Cà Mau, Long An, Bà Rịa-Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ngãi,Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, TháiBình và Hải Dương làm trên 30 ngàn heo mắc bệnh, hàng ngàn heo chết và phảitiêu hủy
Tương tự như đợt dịch tại các tỉnh phía Bắc, PRRS tại miền Trung
có tốc độ lây lan nhanh do yếu kém trong công tác kiểm dịch vận chuyển; dịchxảy ra nhiều ở heo nái và heo con với tỷ lệ chết rất cao (khoảng 20 - 30%
số heo nhiễm bệnh) So với đợt dịch ở các tỉnh phía Bắc, heo nhiễm bệnh tạicác tỉnh miền Trung có tỷ lệ chết cao, tốc độ lây lan nhanh hơn Đặc biệt là tỉnhQuảng Nam dịch lây lan nhanh hơn rất nhiều do phát hiện chậm, không kiểmsoát chặt chẽ việc vận chuyển heo ốm ra khỏi vùng dịch
+ Đợt dịch thứ 3: gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi heo và gây hậu quả xấu
về môi trường cũng như về kinh tế xã hội Dịch xảy ra đầu tiên tại Bạc Liêu vàotháng 1 năm 2008 với số lượng heo mắc bệnh ít Đến tháng 3 năm 2008, sau khiphát hiện bệnh ở Hà Tĩnh, cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn tại Thanh Hóa
và Nghệ An cũng xảy ra dịch Tại tỉnh Thanh Hóa, số lượng các xã bị dịch tănglên từng ngày với tốc độ chóng mặt Đến ngày 22/4/2008, dịch đã xuất hiện tại
11 tỉnh, thành: Bạc Liêu, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam, Nghệ An,Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Thái Nguyên, Ninh Bình và Nam Định
Trang 10+ Đợt dịch thứ 4: tái xuất hiện bắt đầu từ ngày 14/2/2009 tại tỉnh QuảngNinh Sau đó dịch tiếp tục xảy ra tại các tỉnh Hưng Yên, Bạc Liêu, Gia Lai, BắcGiang Đắk Lắk, Bà Rịa-Vũng Tàu và đặc biệt là tỉnh Quảng Nam dịch xảy ra trầmtrọng và kéo dài Đến ngày 15/7/2009 có 4.313 con heo mắc bệnh, chết và tiêuhuỷ 4.210 con Tình hình dịch đợt này có giảm so với năm 2008 cả về phạm vi,quy mô dịch và số lượng gia súc phải tiêu huỷ (Cục Thú y, 2009) [4]
Nguyên nhân giảm mức độ dịch: (1) chủ quan do Bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn đã chỉ đạo địa phương triển khai tốt công tác tiêm phòng, đặcbiệt đối với các bệnh đỏ, tăng cường công tác giám sát dịch bệnh, phát hiện vàbáo cáo sớm về các ổ dịch, áp dụng có hiệu quả các biện pháp phòng chống;người dân cũng đã thấy rõ tính nguy hiểm của PRRS nên đã từng bước có nhữngthay đổi về nhận thức trong chăn nuôi; (2) khách quan cho thấy PRRS đã xuấthiện ở hầu hết các địa phương trong cả nước, PRRSV đã lưu hành rộng rãinhưng không gây ra các ổ dịch lớn do heo mang trùng có thể có khả năng miễndịch chống lại bệnh ở một mức độ nào đó Tuy nhiên, do mầm bệnh đã lưu hành
ở nhiều nơi, chăn nuôi còn rất nhỏ lẻ, vệ sinh chăn nuôi chưa được chú trọng,tiêm phòng vacxin còn chưa đồng đều, tỷ lệ thấp, thời tiết thay đổi liên tục nênkhả năng mầm bệnh lây lan và gây thành dịch là rất lớn
2.4 HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN - PRRS
2.4.1 Nguyên nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh được Collins và cộng sự xác định năm 1990 dựa trênkết quả gây bệnh đường hô hấp thực nghiệm đối với heo bằng cách dùng bệnhphẩm của heo bệnh ngoài thực địa đã qua lọc, gây nhiễm cho heo thí nghiệm.Năm 1991, Viện nghiên cứu Thú y Trung ương ở Lelystad (Hà Lan) đã phânlập được virus trên tế bào đại thực bào phế nang heo Các tác giả đã đặt tên virus
là virus Lelystad Một năm sau các tác giả người Mỹ cũng phân lập được một
virus và đặt tên là VR-2332
Các kết quả nghiên cứu sau này cho thấy PRRSV có quan hệ gần gũi vềmặt sinh học, cấu trúc và di truyền với virus gây viêm động mạch truyền nhiễm
ở ngựa EAV (Equine arteritis virus), LDHV (virus gây cô đặc sữa ở chuột
Lactate dehydrogenase elevating virus) và SHFV (virus sốt xuất huyết khỉ Simian hemorrhagic fever virus) Dựa vào đặc điểm đó người ta xếp 4 virus này
-vào một nhóm mới với danh mục phân loại như sau: giống Arterivirus, họ
Arterviridae, bộ Nidovirales
Trang 11Những nghiên cứu gần đây ở Trung Quốc cho thấy PRRSV tồn tại dướihai dạng: cổ điển độc lực thấp và biến thể độc lực cao gây nhiễm và chếtnhiều heo…
Tại Việt Nam, Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW - Cục Thú y đã tiến hànhcác nghiên cứu độc lập và hợp tác, phối hợp với Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)
và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc để xác chẩn và nghiên cứu độc lực củaPRRSV Các virus phân lập từ các ổ dịch heo mắc PRRS có mức độ tương đồngcao so với PRRSV chủng độc lực cao của Trung Quốc, heo ốm với triệu chứngsốt cao; virus, vi khuẩn kế phát hoặc đồng nhiễm đóng vai trò quan trọng làmcho tỷ lệ heo chết không nhỏ ngoài thực địa [10]
Virus có đặc điểm là rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thựcbào vùng phổi Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ vàgiết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức đề kháng củaheo mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng, do vậy heo bị bệnh thường dễ dàng bịnhiễm khuẩn thứ phát Điều này có thể thấy rõ ở những đàn heo vỗ béo hoặcchuẩn bị giết thịt nhiễm PRRSV có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát
do vi khuẩn có sẵn trong đường hô hấp của heo như: liên cầu khuẩn
(Streptococcus suis), tụ cầu khuẩn (Staphylococcus aureus), suyễn
(Mycoplasma hyopneumoniae), vi khuẩn tụ huyết trùng (Pasteurella multocida,
Pasteurella haemolytica)[11].
Một số vi khuẩn kế phát thường gặp trong cơ thể heo mắc PRRS
2 Actinobacilus pleuropneumoniae APP (Viêm phổi màng phổi)
5 Bordetella bronchiseptica Viêm teo mũi
Trang 12PRRSV là ARN virus với bộ gen là phân tử ARN sợi đơn dương, có
những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này có kích thước
khoảng 15 kilobase Sợi ARN virus có 1 cổng 5’ và 1 dải cổng 3’ Gen ARNpolymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen, gen mã hóa cho các proteincấu trúc của virus nằm ở đầu 3’
2.4.1.2 Sức đề kháng của virus
Virus bị diệt dưới ánh nắng mặt trời Virus dễ dàng bị diệt trong dung môi
hoà tan chất béo như cloroform và ete Các virus Lelystad không thể ngưng kết
hồng cầu của bất kỳ loài động vật nào Tuy nhiên, nghiên cứu ở Nhật Bản thấyvirus nguồn gốc châu Mỹ (VR 2332) có khả năng ngưng kết hồng cầu heo [11]
Virus trong bệnh phẩm
Virus trong huyết thanh
72h ở 40C hoặc -200C Vẫn phát hiện được virus
Các thuốc sát trùng thông thường đều có thể diệt được virus như iodin1%; cloramin B, T (Clorin) 2 - 3%; NaOH 3%; formol 3%; Virkon 1%; nướcvôi 10%; vôi bột
2.4.1.3 Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào cơ thể heo, đích tấn công của virus là các đại thựcbào Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt virus, vì thế
Trang 13virus hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó.Một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhiễm rất sớm
Lúc đầu, PRRSV có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3ngày virus sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễmsang các tế bào khác Ở giai đoạn đầu quá trình xâm nhiễm của PRRSV, dườngnhư hiệu giá kháng thể chống lại các loại virus và vi khuẩn không liên quankhác trong cơ thể của heo tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong hệthống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độmiễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể heo
Cần phải thấy rằng, trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thựcbào đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đáp ứng miễn dịch cả không đặc hiệu
và đặc hiệu Đây là loại tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu, mở đầu choquá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ,các phản ứng miễn dịch không xảy ra, heo nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suygiảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát Điều này có thểthấy rõ ở những đàn heo vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRSV sẽ có sựtăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trongđường hô hấp
2.4.2 Dịch tễ học
2.4.2.1 Động vật cảm nhiễm
Heo ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus Các cơ sở chăn nuôicông nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng tồn tại lâu dài trong đànnái, rất khó thanh toán Heo nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảythai, thai chết lưu và heo chết yểu với tỷ lệ cao Heo rừng ở các lứa tuổi khácnhau đều có thể cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng thường không cótriệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên Chođến nay kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy virus gâyPRRS không cảm nhiễm cho các loại thú khác và người Tuy nhiên, từ thựcnghiệm các nhà khoa học đã chứng minh một số loại gia cầm chân có màng nhưvịt trời (mallard duck) rất mẫn cảm với PRRSV, virus có thể nhân lên ở loài vịtnày Vì thế việc phát tán PRRSV trên diện rộng là khó tránh khỏi [11]
2.4.2.2 Động vật môi giới mang và truyền virus
Trong tự nhiên, heo đực và heo nái mang virus là nguồn tàng trữ truyềnmầm bệnh cho heo nhà Heo rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàngcũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho heo nhà và ngược lại
Trang 14Trong thực nghiệm cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột
và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khỏe (dòng châu Âu)
2.4.2.3 Điều kiện lây lan bệnh
Bệnh có thể lây lan từ nước này sang nước khác qua việc xuất nhập heomang mầm bệnh Một số nước đang phát triển nhập heo giống có phẩm chất
và năng suất cao từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, do không thực hiện tốt côngtác kiểm dịch nên đã đưa bệnh vào nước mình Thực tế cho thấy PRRS đãtrở thành dịch địa phương ở nhiều nơi trên thế giới
Việc xác định chính xác tỷ lệ lưu hành ở những khu vực mắc dịch địaphương không dễ dàng bởi nhiều lý do như: quy trình lấy mẫu trong quần thể không có giá trị thống kê; nhiều nơi dùng vacxin nhược độc phòng PRRS làmkết quả điều tra huyết thanh học không còn chính xác
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanhnăm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều heo nái phối giống và bệnh phát sinhthành dịch cao
Virus có trong dịch mũi, nước bọt, tinh dịch (trong giai đoạn nhiễm trùngmáu), phân, nước tiểu, sữa và phát tán ra môi trường qua các dịch tiết, các chấtbài thải này Virus bài thải qua nước tiểu đến 42 ngày, qua nước mũi, nước mắtđến 14 ngày, qua tinh dịch 43 và 92 ngày sau khi gây nhiễm Virus tồn tại lâutrong cơ thể vật chủ Người ta có thể phát hiện được virus từ mẫu dịch hầu họng
157 ngày sau khi tiêm thí nghiệm Bệnh có thể truyền lây qua tiếp xúc trực tiếpgiữa thú nhiễm bệnh và thú mẫn cảm, cũng xảy ra sự lây truyền qua tinh dịch ởheo đực nhiễm Đối với heo mẹ mang trùng, virus có thể lây nhiễm qua bào thai
từ giai đoạn giữa đến giai đoạn cuối của thai kỳ Sự tồn tại kéo dài của PRRSVtrong từng cá thể dao động trong khoảng thời gian từ 154 - 157 ngày sau khinhiễm đã được báo cáo [14]
Virus có khả năng phân tán thông qua các hình thức: vận chuyển heomang trùng, theo gió (có thể đi xa tới 3 km); thông qua thức ăn, nước uống,dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng, thụ tinh nhân tạo và
có thể do một số chim hoang (Wills et al, 2000), côn trùng.Heo mẫn cảm vớiPRRSV theo nhiều đường: miệng, mũi, nội cơ, nội phúc mạc, âm đạo
Kí chủ mẫn cảm, ngoài heo một số loài khác cũng mẫn cảm Ví dụ: vịt trờithải PRRSV qua phân Heo cũng mẫn cảm với virus có nguồn gốc từ vịt trời
Trang 15Sự lây lan bệnh từ đàn heo này sang đàn heo khác thường theo tinh dịchkhi phối giống Ngoài ra còn các đường như kim tiêm, nước uống, không khí, kíchủ không phải là heo, côn trùng, vật liệu nhiễm khuẩn Ở Pháp 56% đàn mắcbệnh do tiếp xúc với heo bệnh, 20% do tinh dịch, 21% do vật dụng và 3% từnhững nguồn chưa xác định Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh lây nhiễmtiếp xúc xảy ra sau 2 tuần, 6 tuần, 8 tuần và 14 tuần sau khi thải virus
Nhiều nhà nghiên cứu đã hướng nghiên cứu sinh bệnh học PRRS ở giaiđoạn chửa cuối của heo nái (77 - 95 ngày chửa) heo nái hậu bị với virus nuôi cấy
tế bào hoặc chất mô có chứa virus Trong hầu hết các nghiên cứu, người ta bơmvirus vào trong mũi cho heo (từ 1025 - 1055 TCID50), triệu chứng lâm sàng vẫnbiểu hiện rõ
Thời gian ủ bệnh trong điều kiện thực nghiệm khoảng 3 - 5 ngày, sau đócon vât bỏ ăn và sốt Trong thực tế thời gian ủ bệnh của bệnh gây ra do vậnchuyển heo rất khác nhau 3 - 24 ngày (trung bình 19 ngày, 9 đàn), 14 - 37 ngày(8 đàn), 28 ngày (1 đàn), 10 - 18 ngày (trung bình 14 ngày, 6 đàn) và 10 - 14ngày (1 đàn vận chuyển vào chuồng nuôi heo con)
Sự khác nhau thời gian ủ bệnh có thể phản ánh sự khác nhau về độc lựcgiữa các chủng virus, sự khác nhau mật độ heo ở đàn bị bệnh hoặc sự khác nhau
về khả năng phát hiện ra triệu chứng lâm sàng của người sản xuất và thú y
Truyền lây bệnh qua không khí đã xảy ra ở nhiều trường hợp, đặcbiệt ở châu Âu Mặc dù khó chứng minh chắc chắn, những bằng chứng gián tiếpcho thấy sự truyền lây qua không khí là quan trọng trong việc lây truyền PRRSVtrong vùng Komijin và cộng sự đã thông báo thời gian lây lan ban đầu củaPRRSV giữa Đức và Hà Lan đầu năm 1991, điều kiện khí hậu là lý tưởng cho
sự truyền lây virus qua không khí Thông thường gió ở Đức và Hà Lan thổi từtây sang đông nhưng từ 14/1 đến 12/2 và từ 26/2 đến 9/3 hàng năm gió thổi từđông sang tây Vì thế thực tế đã xảy ra virus lây lan từ đông sang tây qua nhữngvùng nuôi nhiều heo trong thời gian này
Ở Anh, vận chuyển heo làm lây lan virus làm cho chính phủ phải đề ra nhữngbiện pháp nghiêm ngặt trong việc vận chuyển heo bị bệnh Edward đưa ra thang bậcsau để biểu thị khả năng truyền qua không khí xung quanh đàn bị nhiễm:
- 57% các trại trong vòng 1 km bị nhiễm
- 31% giữa 1- 2 km bị nhiễm
- 11% giữa 2- 3 km bị nhiễm
Trang 16- Những đàn > 3 km cách đàn bị nhiễm vẫn âm tính.
Những ổ dịch PRRS ở Đan Mạch cung cấp thêm bằng chứng về truyềnlây qua không khí Những ổ dịch này xảy ra cũng giống như ổ dịch giả dại trướcđây dọc theo biên giới Đức đã xác định là do truyền qua không khí Nếu truyềnqua không khí ở Đan Mạch thì PRRSV có thể đi xa tới 20 km
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanhnăm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều heo nái phối giống và bệnh phát sinhthành dịch, với tỷ lệ cao, heo nái có hội chứng rối loạn sinh sản, trong khi heocon bị viêm đường hô hấp là phổ biến
Một nghiên cứu ở Đức đối với 150 đàn heo bị nhiễm cho thấy có 95%hoặc là đã mua giống dưới 4 tuần trước ổ dịch hoặc là trong vòng 5 km cách đàn
bị bệnh Những nghiên cứu khác, tác nhân sau đây được thông báo có ý nghĩatrong việc lây lan PRRSV :
- Mua heo
- Thiếu cách ly kiểm dịch đối với heo mới mua
- Ở gần đàn mắc bệnh
- Quy mô đàn lớn
* Một số đặc điểm dịch tễ PRRS tại Việt Nam
- PRRS lần đầu tiên xảy ra trên diện rộng ở Việt Nam vào tháng 3/2007
và gây ra 4 đợt dịch tại 29 tỉnh, thành trong phạm vi cả 3 miền Bắc, Trung, Nam
- Dịch đã xảy ra ở heo mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu tập trung ở heo náimang thai và heo con theo mẹ Bệnh có đặc trưng làm cho heo ốm, sốt cao, ở heocon theo mẹ; heo nái chửa giai đoạn cuối chết nhanh nhiều hơn so với heo thịt và heođực giống
- Dịch xảy ra chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán ở những địaphương có tỷ lệ tiêm vacxin phòng một số bệnh truyền nhiễm khác thấp như:dịch tả heo, tụ huyết trùng, phó thương hàn, đóng dấu heo…
- Trong các đợt dịch cho thấy, heo không chỉ mắc PRRS mà thường bị bộinhiễm những bệnh kế phát khác: dịch tả heo, phó thương hàn, tụ huyết trùng,Streptococcus suis, Mycoplasma spp, v.v… Các bệnh này là nguyên nhân
kế phát gây chết nhiều heo và làm dịch lây lan diện rộng
- Nguyên nhân của PRRS là do virus, tác nhân không lây bệnh cho người
Trang 17- Dịch lây lan nhanh chủ yếu do phát hiện chậm, người chăn nuôi bánchạy heo ốm, do không kiểm soát được vận chuyển heo ốm từ vùng dịch sangvùng không có dịch.
2.4.3 Triệu chứng và bệnh tích
2.4.3.1 Triệu chứng
Heo mắc hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản thường có các đặc trưnglâm sàng: heo nái có chửa thường bị sảy thai vào giai đoạn cuối hoặc thai chếtlưu ở giai đoạn 2, trở thành thai gỗ hoặc heo sơ sinh bị chết yểu Heo ốm thườngsốt cao 40 - 420C, thậm chí cao hơn Heo bị viêm phổi nặng, ỉa chảy, tai chuyển
từ màu hồng sang đỏ thẫm, xanh đến tím đen do tụ huyết rất phổ biến ở heobệnh Với heo nái đang chửa, nuôi con còn biểu hiện triệu chứng: lười uốngnước, mất sữa, viêm vú, da biến màu từ đỏ sẫm thành đỏ tím ở núm vú, mõm, davùng cổ và vùng bụng, âm hộ…, đẻ sớm hoặc hôn mê, rồi chết Heo con mắcbệnh thể trạng yếu, khó bú, mắt có dử màu nâu, da có nhiều vết phồng, bị viêmphổi nặng nhiều khi heo bị ỉa chảy và khả năng chết rất cao sau khi sinh, đặcbiệt ở heo con cai sữa Heo ở tất cả các lứa tuổi đều có thể nhiễm PRRSV, tuynhiên heo con và heo nái mang thai được xem là mẫn cảm hơn Heo rừng cũng
đã được xác định là mắc bệnh và đây cũng được coi là nguồn lây nhiễm tiềmnăng PRRS [11]
Thông thường heo bị nhiễm chủng PRRSV dạng cổ điển có tỷ lệ chết rấtthấp, 1 - 5% Nếu thấy gia súc chết nhiều, thường là do nhiễm trùng kế phát:
dịch tả heo, Pasteurella multocida suis, Salmonella spp, Streptococus suis,
E.coli, Mycoplasma spp, v.v… Tuy nhiên, năm 2006 tại Trung Quốc các nhà
nghiên cứu với quy mô lớn nhất từ trước đến nay đã khẳng định có sự biến đổi
về độc lực của virus, hậu quả heo bị nhiễm PRRSV độc lực cao có tỷ lệ chết rấtcao trên 20% trong tổng số đàn nhiễm bệnh
Tại Việt Nam, kết quả theo dõi heo mắc PRRS trong các ổ dịch ở một sốtỉnh đồng bằng Bắc bộ đầu năm 2007 cũng cho thấy: heo nái bị sảy thai, thaichết lưu ở thời kỳ chửa 2 hoặc heo con chết yểu ngay sau khi sinh Đối với heocon theo mẹ, heo sau cai sữa thường bị viêm phế quản, phổi rất nặng và chết với
tỷ lệ cao [8] Chúng ta đã phân lập được một số vi sinh vật khác gây nhiễm
khuẩn kế phát như: liên cầu khuẩn (Streptococcus suis), vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng (Pasteurella spp), vi khuẩn tụ cầu (Staphylococcus aureus), E.coli
và một số trường hợp còn phát hiện dịch tả heo như ở tỉnh Hải Dương Các
Trang 18trường hợp bị bệnh kế phát do vi khuẩn làm cho heo bị bệnh rất nặng và heothường chết nhiều…
Heo nái: - Ở giai đoạn mang thai: sốt 40 - 420C, biếng ăn, sảy thai vàogiai đoạn chửa kỳ 2 hoặc thai chết lưu chuyển thành thai gỗ; thể cấp tính taichuyển màu xanh, con vật đẻ non vào giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai hoặcthai chết lưu
- Ở giai đoạn đẻ và nuôi con: heo nái biểu hiện sốt cao, biếng ăn, lườiuống nước, mất sữa, viêm vú, phần da mỏng nổi ban đỏ biến màu (hồng sau đỏsẫm), lờ đờ, hôn mê; heo con mới sinh rất yếu, tai xanh nhạt và chết yểu
- Ở giai đoạn sau cai sữa: heo nái động dục không bình thường (kéo dài)hoặc phối giống mà không thụ thai, ho và viêm phổi nặng
Heo con: sốt cao 40 - 420C, gầy yếu, khó thở, mắt có dử màu nâu, phần damỏng như da bụng, gần mang tai thường có màu hồng, đôi khi da có vết phồngrộp, ỉa chảy nhiều, ủ rũ, run rẩy và thường bị chết
Heo choai, heo thịt: sốt cao 40 - 420C, biếng ăn, ủ rũ, ho, thở khó; nhữngphần da mỏng như phần da gần tai, phần da bụng nổi ban đỏ lúc đầu màu hồngnhạt, dần dần chuyển thành màu hồng thẫm và xanh nhạt
Heo đực giống: sốt, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mấttính dục, lượng tinh dịch ít Các trường hợp cấp tính, heo đực bị sưng dịch hoàn.Phần lớn heo đực nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng, nhưng tinh dịch cóvirus kéo dài từ 6 - 8 tháng
2.4.3.2 Bệnh tích
Mổ khám có thể thấy các bệnh tích đại thể sau:
- Ở heo nái bị sảy thai: âm môn sưng tụ huyết; niêm mạc tử cung và niêmmạc âm đạo sưng thuỷ thũng, tụ huyết, xuất huyết đỏ sẫm và chảy dịch Nếu heonái bị bệnh cấp tính, có viêm phổi thì sẽ thấy phổi sưng thuỷ thũng, tụ huyếttừng đám, trong phế quản có nhiều dịch và bọt khí Một số heo nái bệnh cònthể hiện viêm bàng quang, xuất huyết
- Ở heo con theo mẹ: thường thấy viêm đường hô hấp cấp với bệnh tíchđiển hình như phế quản và phổi sưng có màu vàng hoặc tụ huyết đỏ, có nhiềudịch và bọt khí trong phế quản Chùm hạch phổi và hạch hầu sưng có màu vàng
Nếu có nhiễm khuẩn kế phát do liên cầu (Streptococcus suis) gây viêm não sẽ
thấy xung huyết màng não
Trang 19- Ở heo con sau cai sữa: biểu hiện viêm đường hô hấp là chủ yếu,nhưng tỷ lệ viêm thấp hơn ở heo con theo mẹ Bệnh tích thường thấy là viêmphổi thuỷ thũng từng đám, có màu vàng hoặc đỏ do xuất huyết; phế quảnchứa nhiều dịch nhầy và bọt khí.
Cũng như heo con theo mẹ, heo con sau cai sữa có kế phát các bệnh viêm não,
nhiễm trùng huyết do liên cầu khuẩn (Streptococcus suis) và sẽ thấy tụ huyết và dịch
hồng ở màng não Nhiễm kế phát do vi khuẩn tụ huyết trùng sẽ thấy: các phủ tạng bịsưng, tụ huyết và xuất huyết đỏ Nhiễm kế phát do vi khuẩn thương hàn sẽ có ỉa chảy
và bệnh tích thể hiện tụ huyết, bong tróc niêm mạc ruột và có các nốt loét lan tràn ởniêm mạc vùng van hồi manh tràng
Các bệnh tích đại thể và vi thể của PRRS hầu hết xuất hiện ở heo mới sinh
Ở heo lớn hơn, bệnh tích có thể tương tự nhưng ít rõ ràng hơn Bệnh tích đại thể củaPRRS cũng khác nhau Bệnh tích ở phổi có thể từ không có dấu hiệu gì đến phổi cứnglan tràn và kết hợp với một số vi khuẩn kế phát Hạch lympho bị tấn công chủ yếu thấy
ở heo bé Bệnh tích vi thể không đặc hiệu, chủ yếu ở phổi và tổ chức lympho Bệnh tíchphổi đặc trưng bởi viêm phổi kẽ với sự thẩm nhiễm của các tế bào đơn nhân Các bệnhtích mạch máu, tim và não cũng được mô tả Các bệnh tích thai thường ít gặp như viêmmạch máu, viêm cơ tim và viêm não PRRSV chỉ là một trong số nguyên nhân gây nênviêm kẽ phổi ở heo [3]
2.4.4 Các phương pháp chẩn đoán
Chẩn đoán PRRS dựa vào các yếu tố chủ quan như lịch sử bệnh, triệuchứng lâm sàng, tổn thương đại thể và vi thể; các số liệu khách quan như phântích tình hình sinh sản, xét nghiệm huyết thanh học hoặc phát hiện virus Có thểnghi heo mắc PRRS khi có các triệu chứng lâm sàng về đường hô hấp ở bất kỳgiai đoạn sinh sản nào, hoặc khi có hiện tượng rối loạn sinh sản Rõ ràng chẩnđoán bằng phương pháp huyết thanh học (phát hiện kháng thể) và phát hiệnvirus (phát hiện kháng nguyên) là các phương pháp tin cậy nhất
2.4.4.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào 2 nhóm triệu chứng:
+ Triệu chứng đường sinh sản: trong giai đoạn đầu của PRRS, có thể thấy
có hiện tượng sảy thai ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai và đẻ non, thai yếu,thai chết lưu, đồng thời có thai gỗ, heo con yếu, chết trước khi cai sữa
+ Triệu chứng đường hô hấp: Viêm phổi ở heo con và heo vỗ béo
Trang 20Có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoánxác định bệnh trong các trường hợp sau:
Sẩy thai muộn > 20%
Chết khi sinh > 5%
Chết trước lúc cai sữa > 25%
Trong chẩn đoán lâm sàng cần chẩn đoán phân biệt PRRS với các bệnh:
giả dại, cúm heo, truyền nhiễm đường hô hấp do Coronavirus, viêm não và cơ tim, bệnh do Parvovirus, bệnh do Cytomegalovirus, các bệnh do Circovirus [9]
2.4.4.2 Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh
Đối với heo con, heo vỗ béo, heo xuất chuồng: khi mổ khám thấy phổirắn, chắc, có vùng xám và hồng Trên tiêu bản vi thể viêm phổi kẽ tăng sinh đađiểm hoặc lan tràn làm vách phế nang dày lên, viêm não giữa và giảm số lượng
tế bào lympho trong các tổ chức lympho
Đối với thai sảy và thai chết lưu không có bệnh tích đại thể hoặc vithể đặc trưng
2.4.4.3 Phương pháp huyết thanh học
Có thể phát hiện kháng thể kháng PRRSV trong huyết thanh, dịch của
cơ thể hoặc từ thai chết lưu bằng một số phương pháp huyết thanh học bao gồmphương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp, phương pháp miễn dịch enzym trênthảm tế bào một lớp, ELISA và phản ứng trung hòa huyết thanh
Trong các phương pháp trên, ELISA là phương pháp thuận tiện hơn cả
vì có thể chẩn đoán một số lượng lớn huyết thanh, kết quả thu được của cácphòng thí nghiệm (khi chẩn đoán cùng mẫu huyết thanh) là tương đối đồng nhất
Ưu điểm nữa của phương pháp này là có thể phát hiện được cả chủng PRRSV
có nguồn gốc Bắc Mỹ và các chủng có nguồn gốc châu Âu, trong khi đó phươngpháp huỳnh quang kháng thể hoặc phương pháp miễn dịch enzym trên thảm
tế bào chỉ phát hiện được các chủng virus về mặt kháng nguyên gần với chủngdùng trong phản ứng
Trong khi đánh giá kết quả của một phản ứng huyết thanh, phải cânnhắc đến trạng thái miễn dịch của đàn sau khi được tiêm phòng bởi vì hiện naychưa có phản ứng huyết thanh học nào phân biệt được kháng thể do heo mắc
tự nhiên hay kháng thể do vacxin kích thích tạo nên
Trang 21Động thái kháng thể kháng PRRSV khi đánh giá bằng các phản ứnghuyết thanh học kể trên là tương tự nhau Có thể phát hiện kháng thể từ 7 - 14ngày sau khi heo bị nhiễm virus Hàm lượng kháng thể đạt mức tối đa vào 30 -
50 ngày sau khi nhiễm, sau đó giảm dần và không phát hiện được nữa khoảng
4 - 6 tháng sau khi bị nhiễm
Phản ứng trung hòa huyết thanh có lẽ kém nhạy hơn các phản ứng huyếtthanh học khác vì kháng thể trung hòa xuất hiện chậm Tuy nhiên phản ứngtrung hòa lại là chỉ thị tốt nhất để đánh giá tình trạng bệnh trong quá khứ vìkháng thể trung hòa có thể tồn tại ít nhất 1 năm
2.4.4.4 Phát hiện virus
Để phát hiện virus, lấy bệnh phẩm là huyết thanh, huyết tương, bạch cầu,phổi, hạch amidan, tổ chức lympho, dịch báng của thai chết lưu hoặc heo chếtngay sau khi sinh Nhìn chung bệnh phẩm ở heo con thích hợp hơn heo già vìvirus tồn tại trong một thời gian dài ở heo con Có thể phân lập được virus từhuyết thanh trong vòng từ 4 - 6 tuần sau khi bị nhiễm ở heo đang bú, heo cai sữa
và heo nhỡ và trong 1 - 2 tuần sau khi nhiễm ở heo đực trưởng thành và heo nái.Cần phải bảo quản lạnh ngay lập tức bệnh phẩm dùng để phát hiện virus
Có thể áp dụng một số kỹ thuật sau để phát hiện virus:
- Phương pháp miễn dịch bệnh lý
- Phương pháp huỳnh quang gián tiếp phát hiện kháng nguyên
- Phương pháp nhân gen PCR
- Phương pháp lai phân tử tại chỗ (insitu hybrization)
Thực tế phân lập PRRSV gặp nhiều khó khăn do tế bào để phân lập virus
là đại thực bào phế nang của heo, tế bào này cần được lấy từ heo sạch bệnhkhoảng 6 - 8 tuần tuổi Không phải phòng thí nghiệm nào cũng có sẵn heo sạchbệnh và các dòng tế bào thường trực không thể thay thế hoàn toàn được tế bàođại thực bào phế nang vì chúng kém nhạy với virus Thêm vào đó các lô đại thựcbào khác nhau cũng không phải luôn có độ nhạy giống nhau đối với virus; lý donày chưa biết rõ, nhưng rõ ràng cần phải kiểm tra mỗi mẻ tế bào trước khi dùng[3] Sau khi phân lập được virus, giám định bằng phương pháp huỳnh quanggián tiếp
Một số dòng tế bào thận khỉ (MA-104) có thể thay thế được đại thực bào,nhưng dòng tế bào này không giúp sự tăng sinh của các chủng virus đặc biệt làcác chủng châu Âu
Trang 22Các phương pháp RT-PCR và nested PCR cũng là các phương pháp có độnhạy cao để phát hiện RNA của virus và được dùng nhiều đối với các tổ chứckhác nhau và huyết thanh của heo Các phương pháp này cũng rất hữu dụng khi
có vấn đề về phân lập virus, ví dụ như khi xét nghiệm tinh dịch và xét nghiệmmột số tổ chức đã bị phân huỷ do nhiệt độ trong lúc vận chuyển mẫu Người tacũng đã thiết lập một phương pháp multiplex PCR để phân biệt chủng viruschâu Âu và Bắc Mỹ
2.4.5 Điều trị
- Không có thuốc điều trị đặc hiệu vì đây là bệnh do virus gây ra
- Trong quy trình phòng trị PRRS ở các nước chăn nuôi heo quy mô côngnghiệp (ở châu Âu và Bắc Mỹ), người ta loại thải những heo bị bệnh hoặc mangvirus sau khi xét nghiệm huyết thanh dương tính để khỏi lây nhiễm bệnh trongđàn heo
- Ở các nước đang phát triển, người ta vẫn có thể điều trị một số heo nhậpngoại có phẩm chất và năng suất cao; nhưng chỉ điều trị một số bệnh nhiễmkhuẩn kế phát đường hô hấp và tiêu hoá, thực chất thì không điều trị đượcPRRSV [11]
Nhìn chung để điều trị có hiệu quả cần:
Nâng cao sức đề kháng của heo
Vì vậy, để phòng tận gốc dịch PRRS thì việc đầu tiên cần phải làm là thayđổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi lớn tập trung, nhậpcon giống phải khoẻ mạnh rõ nguồn gốc Bên cạnh đó cần phải áp dụng triệt để cácbiện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh antoàn thú y, chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng cho đàn vật nuôi…, Nói chungcần phải áp dụng đồng bộ cùng lúc nhiều biện pháp phòng chống
Trang 232.4.6.1 Biện pháp phòng khi chưa có dịch
(1) Thường xuyên theo dõi sức khoẻ của đàn heo trong các cơ sở chănnuôi heo sinh sản để sớm phát hiện heo có dấu hiệu lâm sàng của PRRS Cách
ly, xử lý kịp thời và gửi mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm khi có nghi ngờ bệnh
(2) Tiêm vacxin phòng bệnh cho đàn heo trong cơ sở chăn nuôi chưa
có lưu hành bệnh Trước khi tiêm, cần tham khảo ý kiến của Chi cục Thú y tỉnh
để biết trong khu vực trước đó có chủng virus nào gây bệnh (châu Âu hoặc BắcMỹ) để lựa chọn vacxin thích hợp Bởi vì vacxin không tạo được miễn dịch chéogiữa chủng chế tạo vacxin và chủng gây bệnh cho heo ở trong vùng
Hiện nay, nước ta đã nhập vacxin nhược độc và vacxin chết chế tạo
từ chủng có nguồn gốc châu Âu (virus Lelystad) và chủng có nguồn gốc Bắc Mỹ
(3) Để loại trừ các bệnh kế phát do vi khuẩn ở heo, tất cả đàn heophải được tiêm phòng 4 bệnh đỏ (dịch tả heo, tụ huyết trùng, đóng dấu heo
và phó thương hàn) Trong điều kiện cần thiết có thể phải tiêm vacxin phòngmột số bệnh đường hô hấp (bệnh suyễn heo, bệnh viêm phổi và màngphổi ở heo)
(4) Khi nhập heo giống, phải mua từ các cơ sở chăn nuôi và vùng không
có PRRS Heo mới mua về phải nuôi cách ly ít nhất 3 - 4 tuần lễ, không có dấuhiệu lâm sàng của PRRS cũng như các bệnh truyền nhiễm khác mới chonhập đàn
(5) Đảm bảo thức ăn đủ chất dinh dưỡng và nguồn nước sạch cho heo, giúpheo có sức đề kháng với PRRSV cũng như các bệnh khác, hạn chế mắc các bệnhtruyền nhiễm
(6) Giữ chuồng trại và khu chăn thả heo luôn khô sạch, thoáng mátmùa hè, kín ấm mùa đông và phải phun thuốc sát trùng định kỳ 2 tuần/lần
để diệt mầm bệnh
(7) Khi xuất nhập heo cần thực hiện kiểm dịch thú y nghiêm ngặt
2.4.6.2 Biện pháp phòng chống khi có dịch xảy ra
(1) Các gia trại và trang trại phải thống kê số heo ốm, heo chết báo vớichính quyền và thú y địa phương để xử lý theo đúng lệnh công bố dịch và hướngdẫn phòng chống PRRS của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và PTNT và xin hỗ trợthiệt hại của Nhà nước Tiêu huỷ số heo mắc bệnh nặng không chờ kết quả xétnghiệm (heo mắc bệnh nặng đã được chăm sóc tích cực, được hỗ trợ tăng cườngsức đề kháng trong vòng 7 ngày nhưng không có khả năng bình phục), heo mắc