1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổng quan kinh tế việt nam năm 2011và triển vọng 2012 – vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài

15 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 294,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2011VÀ TRIỂN VỌNG 2012 – VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Trần Kim Chung Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Đặt vấn đề Kinh tế Việt nam bước v

Trang 1

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2011VÀ TRIỂN VỌNG

2012 – VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Trần Kim Chung Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Đặt vấn đề

Kinh tế Việt nam bước vào năm 2011 với nhiều thách thức lớn: lạm phát tăng cao, tăng trưởng thấp, đầu tư trong nước giảm do thắt chặt tiền tệ

và giảm đầu tư công; đầu tư nước ngoài chững lại do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động Nghiên cứu này nhằm điểm lại tình hình kinh tế 8 tháng đầu năm đồng thời có một cái nhìn riêng đối với đầu tư nước ngoài

I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ NĂM 2011

Trong những tháng đầu năm 2011, nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và thách thức Tỷ lệ lạm phát ở mức cao; thâm hụt cán cân thương mại chưa có xu hướng giảm rõ rệt; lãi suất tăng cao tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đến thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản; và tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với cùng kỳ năm trước

I.1 Tăng trưởng, lạm phát

Tăng trưởng 8 tháng đầu năm 2011 đạt mức 25,01% theo giá thực tế

(Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 5,57%, thấp hơn tốc độ

tăng 6 tháng đầu năm 2010 (6,16%)); Chỉ số sản xuất công nghiệp tám tháng năm 2011 tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Công nghiệp khai thác mỏ giảm 0,7%; công nghiệp chế biến tăng 10,7%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 9,8% Nông nghiệp sản xuất tốt

Theo kết quả điều tra lao động của 4279 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chỉ số sử dụng lao động tháng 8/2011 ước tính tăng 0,5% so với tháng trước; số lao động tháng tám giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 7,9%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 2,9% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 1,5%

Trong gần 5 năm qua, chỉ trừ năm 2009 chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 so với tháng 12 năm trước tăng 6,5%, còn các năm khác đều tăng trên 10%/năm; cụ thể: năm 2007: 12,6%, năm 2008: 19,9%, năm 2010: 11,8% và tháng 8 năm 2011: 15,7% Tính bình quân cả năm, chỉ số giá tiêu dùng năm 2007 tăng 8,3%, năm 2008 tăng 23,0%, năm 2009 tăng 6,9% và năm 2010 tăng 9,2%, 8 tháng đầu năm 2011 tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước

Trang 2

Bảng 1: Một số chỉ tiêu tăng trưởng, lạm phát, tiền tệ, tín dụng Việt Nam

giai đoạn 2007-2011

Đơn vị: %

CPI tháng 12 so tháng 12 năm trước 12,6 19,9 6,5 11,8 15,7

Trong đó: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 18,9 31,9 5,8 16,2 22,8

Tốc độ tăng CPI bình quân năm 8,3 23,0 6,9 9,2 17,6

Trong đó: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 11,2 36,6 8,7 10,7 25,0

Tăng trưởng tổng phương tiện thanh

Tăng trưởng tín dụng 53,9 23,4 37,6 31,2 8,2

Tăng trưởng GDP theo giá thực tế 17,4 29,8 11,7 19,4 25,01

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Tốc độ tăng trưởng tiền tệ (M2) là 43,7%, tín dụng là 53,9% vào năm

2007, mức tăng kỷ lục trong giai đoạn 2001-2011, là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008 Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức nêu trên lại lặp lại (tuy tốc độ có thấp hơn năm 2007), cao hơn mức cần thiết và hệ quả là lạm phát năm 2010 và 2011 lại bị đẩy lên cao Trong những tháng đầu năm 2011, nhờ kiểm soát chặt chẽ, tăng trưởng M2 và tín dụng giảm mạnh đã đem lại kết quả bước đầu, tốc độ lạm phát đang có chiều hướng giảm dần

I.2 Thu chi ngân sách

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/8/2011 ước tính đạt 411,4 nghìn tỷ đồng, bằng 69,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 251,1 nghìn tỷ đồng, bằng 65,7%; thu từ dầu thô 62 nghìn tỷ đồng, bằng 89,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 94,8 nghìn tỷ đồng, bằng 68,3% Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 61,1% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 60,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 65,1%; thuế thu nhập cá nhân bằng 80,3%; thu phí xăng dầu bằng 59,3%; thu phí, lệ phí bằng 53,7%

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/8/2011 ước tính đạt 450,7 nghìn tỷ đồng, bằng 62,1% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển

Trang 3

95,9 nghìn tỷ đồng, bằng 63,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 90,9 nghìn

tỷ đồng, bằng 62,6%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 295,7 nghìn tỷ đồng, bằng 63%; chi trả nợ và viện trợ 59,1 nghìn tỷ đồng, bằng 68,7%

Tổng số vốn cắt giảm trong năm 2011 là 80.550 tỷ đồng bằng khoảng 9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011; trong đó: số vốn trái phiếu Chính phủ năm 2011 giảm 15.000 tỷ đồng so với thực hiện năm 2010; giảm khoảng 15.000 tỷ đồng do không ứng vốn đầu tư năm 2012, không kéo dài thời gian giải ngân vốn kế hoạch năm 2010;

Số vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011 cắt giảm để điều chuyển cho các dự án hoàn thành, các dự án cấp bách cần đẩy nhanh tiến độ là 8.333 tỷ đồng, trong đó, ngân sách nhà nước giảm 5.556

tỷ đồng (2.048 dự án), trái phiếu Chính phủ giảm 2.777 tỷ đồng (126 dự án);

số vốn các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cắt giảm là 39.212 tỷ đồng (907 dự án); số vốn tín dụng kế hoạch năm 2011 giảm 10% là 3.000 tỷ đồng

Nợ nước ngoài của Chính phủ và do Chính phủ bảo lãnh đến cuối 2010 đạt 32,5 tỷ USD, tương đương 42,2% GDP và tăng 4,6 tỷ USD so với năm

2009 Bộ Tài chính (8-14/8/2011) công bố số liệu chi tiết về nợ của Việt Nam trong năm 2010 Theo đó, tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ đến cuối năm ngoái đạt 27,86 tỷ USD, tương đương 85,7% tổng dư nợ So với GDP

2010, nợ nước ngoài chiếm 42,2%, tăng so với con số 39% của năm 2009 và cao nhất kể từ năm 2006 Con số 42,2% GDP cũng cao hơn nhiều so với mức 38,8% mà Chính phủ dự kiến hồi cuối năm 2010 Hiện Việt Nam vẫn chủ yếu được vay nợ với lãi suất thấp 1 - 2,99% một năm (chiếm khoản 65,5% tổng dư nợ) Hiện các chủ nợ chính của Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Pháp, ADB, WB Các chủ nợ này đã nâng lượng nắm giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010 (so với con số hơn 1 tỷ USD của năm 2009)

I.3 Xuất nhập khẩu

Tính chung tám tháng năm 2011, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 60,8 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Khu vực kinh

tế trong nước đạt 28,1 tỷ USD, tăng 32,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 32,7 tỷ USD, tăng 34,6%

Tính chung tám tháng 2011, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 67 tỷ USD, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 36,9 tỷ USD, tăng 21,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 30,1 tỷ USD, tăng 31,1%

Trang 4

Nhập siêu tám tháng năm nay ước tính đạt 6,2 tỷ USD, bằng 10,2% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Nếu loại trừ xuất, nhập khẩu vàng và các sản phẩm vàng, nhập siêu tám tháng ước tính 7,96 tỷ USD, bằng 13,6 % kim ngạch hàng hóa xuất khẩu

I.4 Du lịch

Việt Nam được lọt vào top 13 điểm đến châu Á tốt nhất và top 50 điểm đến của tour du lịch tốt nhất thế giới và Sapa được bình chọn là một trong 10 điểm đến tuyệt vời trên thế giới cho du lịch đi bộ

Khách quốc tế đến nước ta tám tháng năm 2011 ước tính đạt 3963,3 nghìn lượt người, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 2390,8 nghìn lượt người, tăng 12,9%; đến vì công việc 660,1 nghìn lượt người, giảm 2%; thăm thân nhân đạt 666,2 nghìn lượt người, tăng 70,7% Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không là 3336,6 nghìn lượt người, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2010; đến bằng đường biển 27,9 nghìn lượt người, giảm 14,1%; đến bằng đường bộ 598,8 nghìn lượt người, giảm 4,7%

Trong tám tháng năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam từ hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Trung Quốc đạt 884,1 nghìn lượt người, tăng 47,8%; Hàn Quốc 346,4 nghìn lượt người, tăng 4,5%; Hoa Kỳ 316,8 nghìn lượt người, tăng 7,1%; Nhật Bản 306,8 nghìn lượt người, tăng 10,5%; Cam-pu-chia 276,3 nghìn lượt người, tăng 67,3%; Đài Loan 253,9 nghìn lượt người, tăng 11,5%;

Ôx-trây-li-a 202,6 nghìn lượt người, tăng 9,9%; MÔx-trây-li-a-lÔx-trây-li-ai-xi-Ôx-trây-li-a 156,7 nghìn lượt người, tăng 18,4%; Pháp 141,8 nghìn lượt người, tăng 3,1%; Xin-ga-po 115,3 nghìn lượt người, tăng 9,1%

I.5 Các thị trường

I.4.1 Thị trường hàng hóa dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng năm 2011 ước tính đạt 1224,4 nghìn tỷ đồng, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm

2010, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 3,9% Trong tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng, kinh doanh thương nghiệp đạt 968,4 nghìn

tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 133,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,9% và tăng 21,5%; dịch vụ đạt 110,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,0% và tăng 22,7%; du lịch đạt 12,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% và tăng 14,8%

I.4.2 Thị trường tài chính - tiền tệ

Trang 5

Chỉ số giá vàng tháng 8/2011 tăng 8,7% so với tháng 7 năm 2011; tăng 15,33% so với tháng 12/2010và tăng 47,63% so với cùng kỳ năm 2010 Chỉ

số giá đô la Mỹ tháng 8/2011 tăng 0,26% so với tháng trước; tăng 0,32% so với tháng 12/2011 và tăng 8,64% so với cùng kỳ năm 2010

VnIndex của thị trường chứng khoán sau thời gian trồi sụt quanh mức

400 điểm (VNIndex) đã có đợt tăng điểm 10 phiên lên mức trên 457.11 ngày

16 tháng 9 năm 2011 Tình hình cũng tương tự với HNIndex (74.88 điểm)

Xu hướng trong 9 tháng đầu năm cho thấy thịt rường chứng khoán hiện có rất nhiều dự liệu nhưng không rõ ràng

I.4.3 Thị trường bất động sản

Trong 9 tháng đầu năm 2011, dưới tác động của chính sách hạn chế tín dụng, cắt giảm đầu tư công nhằm kìm chế lạm phát, thị trường bất động sản thực sự suy giảm Thị trường bất động sản hiện đang chứa đựng những mâu thuẫn gay gắt, bắt buộc phải giải quyết Thứ nhất, sự phát triển không đồng đều của thị trường bất động sản giữa các địa bàn Trong khi thị trường bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh suy giảm thì thị trường Hà Nội đang có những phân khúc nhất định vẫn biến động tăng; thị trường bất động sản Đà Nẵng Thứ hai, trên địa bàn Hà Nội, trong khi một số địa bàn bùng phát cục

bộ thì những địa bàn khác hầu như không có biểu hiện; trong khi một số sản phẩm bùng phát thì một số sản phẩm khác không có biến động gì Thứ ba, trong khi thị trường bất động sản đang rất cần vốn thì hệ thống ngân hàng thi hành các biện pháp thắt chặt tín dụng Thứ tư, hệ thống tín dụng thắt chặt tổng cầu thông qua thắt chặt nguồn tín dụng nhưng lại không có các kênh hấp thu tài chính thay thế Thứ năm, từ đầu tháng 8 trở đi, một số biện pháp tác động tăng cường cho hoạt động của thị trường bất động sản nhưng vẫn chưa

đủ mức Hạn chế tín dụng vẫn chưa được nới lỏng; việc xây nhà, căn hộ diện tích nhỏ vẫn chưa được thông qua Tuy nhiên, thị trường vẫn có những xu hướng phát triển nhưng chưa đủ mạnh

II TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ, FDI

II.1 Vốn nhà nước

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tám tháng 2011, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước đạt 111,1 nghìn tỷ đồng, bằng 58,3% kế hoạch năm và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2010 Vốn trung ương quản lý đạt 26,9 nghìn tỷ đồng, bằng 64,2% kế hoạch năm và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước Vốn địa phương quản lý đạt 84,2 nghìn tỷ đồng, bằng 56,7% kế hoạch năm và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm

2010

Trang 6

II.2 Khu vực kinh tế tư nhân

Theo số liệu tại tọa đàm, trong 6 tháng đầu năm, cả nước có 39.500 doanh nghiệp được thành lập mới, với số vốn đăng ký ước đạt 230.200 tỷ đồng, giảm 4,7% về số lượng và 12,8% về số vốn đăng ký Cùng đó, có tới 30% số doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh phải tạm ngừng hoạt động, phá sản, giải thể hoặc đóng cửa

II.3 Tình hình vốn FDI

II.3.1 Tình hình chung

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 24/8/2011 đạt 9567,6 triệu USD, bằng 73,8% cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Vốn đăng ký 7943,3 triệu USD của 582 dự án được cấp phép mới (giảm 30% về vốn và giảm 34,2% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 1624,3 triệu USD của 168 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tám tháng năm 2011 ước tính đạt 7,3 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước

Trong các ngành kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài tám tháng năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có số vốn đăng ký lớn nhất với

4614 triệu USD, bao gồm 3590,6 triệu USD vốn đăng ký mới và 1023,4 triệu USD vốn tăng thêm; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2525,3 triệu USD vốn đăng ký mới; ngành xây dựng đạt 670,9 triệu USD, bao gồm 529,3 triệu USD vốn đăng ký mới và 141,6 triệu USD vốn tăng thêm

Trong tám tháng, cả nước có 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Hải Dương dẫn đầu về vốn đăng ký với 2472,7 triệu USD, chiếm 31,1% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 1601,6 triệu USD, chiếm 20,2%; Bà Rịa-Vũng Tàu 548 triệu USD, chiếm 6,9%; Hà Nội 446 triệu USD, chiếm 5,6%; Tây Ninh 436 triệu USD, chiếm 5,5%; Hưng Yên 278,4 triệu USD, chiếm 3,5%

Trong số 39 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam tám tháng năm 2011, Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) là nhà đầu tư lớn nhất với 2797,4 triệu USD, chiếm 35,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến

là Xin-ga-po 1330,9 triệu USD, chiếm 16,8%; Nhật Bản 642,2 triệu USD, chiếm 8,1%; CHND Trung Hoa 461,4 triệu USD, chiếm 5,8%; Hàn Quốc 412,9 triệu USD, chiếm 5,2%; Ma-lai-xi-a 346,9 triệu USD, chiếm 4,4%

II.3.2 Theo lĩnh vực đầu tư

Trang 7

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều

sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 263 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 4,61 tỷ USD, chiếm 48,2% tổng vốn đầu

tư đăng ký trong 8 tháng Lĩnh vực sản xuất phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,53 tỷ USD, chiếm 26,4% tổng vốn đầu tư Đứng thứ 3 là lĩnh vực xây dựng với 70 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm khoảng 670,9 triệu USD, chiếm 7% Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 446,6 triệu USD, chiếm 4,7%

II.3.3 Theo đối tác đầu tư

Tính từ đầu năm 2011 đến nay, đã có 42 quốc gia và vùng lãnh thổ có

dự án đầu tư tại Việt Nam Hồng Kông dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,89 tỷ USD, chiếm 30,3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,45 tỷ USD, chiếm 15,2 % tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 851,5 triệu USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Nhật Bản đứng ở vị trí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 844,4 triệu USD, chiếm 8,8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam Trung Quốc đứng thứ 5 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 512 triệu USD, chiếm 5,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam

II.3.4 Theo địa bàn đầu tư

Tính đến thời điểm hiện tại, Hải Dương là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 2,49 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 26,1% tổng vốn đầu tư TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,65 tỷ USD, chiếm 17,3% Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm gần 580 triệu USD Tiếp theo là Hà Nội, Tây Ninh, Hải Phòng với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 517,3 triệu USD; 445 triệu USD và 447,2 triệu USD

Xét theo vùng thì Đồng Bằng Sông Hồng là vùng thu hút được nhiều vốn ĐTNN nhất với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt trên 4 tỷ, chiếm 42,6% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước Đứng thứ 2 là vùng Đông Nam Bộ với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 3,77 tỷ USD, chiếm 39,4% tổng vốn đầu tư đăng ký Tây Nguyên là vùng thu hút được ít FDI nhất, chỉ chiếm 0,1% tổng vốn đăng ký

Một số dự án lớn được cấp phép trong 8 tháng đầu năm 2011 là: Công

ty TNHH Điện lực Jaks Hải Dương (nhà máy nhiệt điện BOT HDương) với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,26 tỷ USD; dự án Công ty TNHH sản xuất First

Trang 8

Solar Việt nam, thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo do Singapore đầu tư tại TP Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD; dự án Công ty TNHH lốp xe Việt Luân với tổng vốn đầu tư 400 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực sản xuất lốp xe do Trung Quốc đầu tư, dự án Công ty TNHH Kính chuyên biệt NSG do Pilkington Group Ltd (PGL) – Vương Quốc Anh liên doanh với Việt Nam, tổng vốn đầu tư 323,01 triệu USD với mục tiêu sản xuất

và tiêu thụ thuỷ tinh tại Bà Rịa – Vũng Tàu

Bảng 2: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2011 theo ngành

Tính từ 01/01/2011 đến 20/7/2011

TT Ngành

Số

dự

án cấp mới

Vốn đăng ký cấp mới (triệu USD)

Số lượt

dự án tăng vốn

Vốn đăng ký tăng thêm (triệu USD)

Vốn đăng ký cấp mới

và tăng thêm (triệu USD)

1 CN chế biến,chế tạo 235 3,438.51 121 814.63 4,253.13

2 SX,pp điện,khí,nước,đ.hòa 2 2,524.51 2,524.51

4 Dvụ lưu trú và ăn uống 8 174.57 1 208.01 382.58

5 Cấp nước;xử lý chất thải 2 322.71 322.71

7 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 67 171.67 2 3.50 175.17

8 Nghệ thuật và giải trí 3 14.58 1 138.18 152.76

9 HĐ chuyên môn, KHCN 61 75.30 3 11.16 86.46

10 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 12 21.63 5 62.73 84.36

14 Thông tin và truyền thông 22 12.77 4 3.65 16.42

17 Hành chính và dvụ hỗ trợ 3 0.53 0.53

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

II.3.5 Tình hình xuất, nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) trong 8 tháng đầu năm

2011 dự kiến đạt 32,64 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm 53,7% kim ngạch xuất khẩu Nhập khẩu của khu vực ĐTNN tính đến tháng 8 năm 2011 đạt 30,1 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm

Trang 9

44,92% kim ngạch nhập khẩu Tính chung 8 tháng, khu vực ĐTNN xuất siêu 2,54 tỷ USD, trong khi cả nước nhập siêu 6,2 tỷ USD (nhập siêu giảm so với

7 tháng là 6,639 tỷ USD)

II.3.6 Một số vấn đề trong việc thu hút FDI

Tính gộp trong toàn giai đoạn 2001-2010 (tính đến ngày 21/12/2010), Việt Nam đã thu hút được 12.213 dự án, với tổng vốn đăng ký đạt khoản 192,9 tỷ USD và vốn thực hiện là khoảng 63 tỷ USD, bình quân 16,2 triệu USD/dự án và 5,5 triệu USD/dự án nếu xét lần lượt theo vốn đăng ký cam kết

và thực hiện hàng năm Nếu nhìn bình diện chung so với các nước đang phát triển trong thời kỳ này, Việt Nam là một trong số 15 nước được tiếp nhận luồng FDI lớn nhất trên thế giới

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nêu trên, hoạt động thu hút FDI trong thời gian qua vẫn tồn tại một số vấn đề quan trọng Xem xét các yếu tố của chất lượng đầu tư, có thể thấy đầu tư nước ngoài vào nước ta trong thời gian gần đây chứa đựng một số rủi ro rất đáng lưu tâm Đó là: (i) nguy cơ

“thổi phồng” về vốn và lợi nhuận; (ii) nguy cơ yêu cầu quá lớn về nguồn cung cấp năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, đất đai; (iii) nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; (iv) nguy cơ không phù hợp với quy hoạch phát triển gây mất cân đối về cơ cấu trong quá trình phát triển lâu dài của đất nước; (v) nguy cơ sử dụng công nghệ lạc lậu; (vi) nguy cơ “rút vốn” của khu vực kinh

tế tư nhân trong nước; và (vii) nguy cơ gây thiếu hụt ngoại tệ và rủi ro tỷ giá trong tương lai

Hình: Dòng FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

0

10000

20000

30000

40000

50000

60000

70000

80000

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Năm

Vốn đăng ký Vốn thực hiện

Nguồn: TCTK và Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Thứ nhất, đến nay vẫn có một số địa phương còn ham số lượng dự án,

số lượng vốn cam kết, tuy tình hình này đang có chuyển biến: Một số địa phương còn ham chấp nhận các dự án FDI có cam kết lớn, dù chưa chuẩn bị

Trang 10

kỹ, cũng chưa làm rõ đầy đủ tính khả thi, khi vốn đầu tư cam kết (hứa) lớn gấp mấy lần vốn điều lệ (có khả năng huy động) và vốn đã thực hiện, nhất là vốn tự có chuyển vào từ nước ngoài của chính chủ đầu tư Trong điều kiện phân cấp quản lý đến chia cắt thì ngộ nhận này là khá phổ biến, ham số vốn đăng ký (hứa) mà chưa quan tâm đúng mức đến tổ chức thực hiện, tạo sự lan tỏa trong nền kinh tế

Thứ hai, xét trên tổng thể nền kinh tế đóng góp trực tiếp của FDI và xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế được xác thực Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam chưa nội sinh hóa được hai nhân tố quan trọng này Nói cách khác sức hút của nền kinh tế Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài dường như vẫn dựa vào những lợi thế tĩnh cách đây hơn 20 năm: lao động và tài nguyên

rẻ Nền kinh tế chưa tạo ra được lợi thế động như năng suất lao động, trình độ công nghệ Đây là những lợi thế mà nền kinh tế càng tăng trưởng thì lợi thế càng lớn, sức thu hút FDI càng cao Nói cách khác Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp FIEs ở Việt Nam nói riêng vẫn đang tiếp tục phát triển theo chiều rộng mà chưa có chiều sâu

Thứ ba, mối quan hệ tương hỗ giữa FDI với xuất khẩu là không có bằng chứng Thêm vào đó trừ dầu thô thì các doanh nghiệp FIEs cũng là những doanh nghiệp nhập siêu Cho đến nay FDI vẫn đóng góp vào cải thiện cán cân thanh toán nhưng chủ yếu thông qua tài khoản vốn Sự kỳ vọng vào FDI sẽ cải thiện cán cân thương mại cho đến nay vẫn chưa thành hiện thực

mà ngược lại

Thứ tư, xét trên góc độ doanh nghiệp thì các doanh nghiệp FIEs có năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh thấp Trên 50% doanh nghiệp FIEs làm ăn thua lỗ liên tục nhưng xét chung thì hệ số sử dụng vốn của khu vực FIEs lại khá cao Điều này cho thấy thua lỗ phần lớn xảy ra tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, và lãi khá ở các ngành dầu khí và ô tô Cần lưu ý rằng các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường là các doanh nghiệp “lỏng chân” họ

dễ dàng dịch chuyển đầu tư sang nước khác khi các ưu đãi không còn Những doanh nghiệp này cũng có nhiều khả năng thực hiện các thủ thuật chuyển giá

để tránh thuế thu nhập

Thứ năm, các doanh nghiệp FIEs ở Việt Nam chủ yếu do các công ty con thế hệ thứ hai hoặc thứ ba của các công ty đa quốc gia Cho đến nay chỉ

có 4 công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Điều này hạn chế cơ hội tiếp cận công nghệ cho các công ty Việt Nam Mặt khác nó cũng tăng nguy cơ các hoạt động chuyển giá giữa công ty con tại Việt Nam và công ty

mẹ đặt tại nước ngoài

Ngày đăng: 18/12/2014, 14:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Một số chỉ tiêu tăng trưởng, lạm phát, tiền tệ, tín dụng Việt Nam - tổng quan kinh tế việt nam năm 2011và triển vọng 2012 – vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bảng 1 Một số chỉ tiêu tăng trưởng, lạm phát, tiền tệ, tín dụng Việt Nam (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w