Mỗi khu công nghiệp ra đời sẽ là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, tạo động lực lớn cho quá trình tiếp thu công nghệ,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Trong hơn thập kỷ qua, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên rất nhiều phương diện, quan hệ giữa các quốc gia ngày càng
đa dạng trên mọi lĩnh vực, hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế đã trở thành phổ biến trên phạm vi toàn thế giới với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt Với thành công của sự kiện Việt Nam gia nhập WTO tháng 11/2006, vấn đề tham gia hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải tìm ra những bước đi quyết liệt hơn trong quá trình cải cách nền kinh tế theo hướng phù hợp và gắn kết với thông lệ quốc tế nhằm đẩy mạnh cạnh tranh thu hút các nguồn vốn, chất xám, công nghệ vào Việt Nam, vừa tạo điều kiện thuận lợi để phát huy nội lực trên cơ sở kết hợp “nội lực bên trong” với “ngoại lực bên ngoài” nhằm tạo ra sự phát triển có tính bức phá cho sự phát triển kinh tế Mặt khác, khủng hoảng tài chính khu vực đã chấm dứt, nền kinh tế một số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore… đã nhanh chóng phục hồi và phát triển, hoặc đã đẩy mạnh thu hút đầu
tư quốc tế, chẳng hạn nền kinh tế Trung Quốc đã bắt đầu phục hồi và vươn lên trở thành một trong những quốc gia đang phát triển mạnh Trong thời gian đến đòi hỏi phải nhanh chóng cải tiến cơ chế chính sách mạnh hơn nữa, gia tăng các giải pháp có tính khả thi cao để đẩy mạnh khuyến khích đầu tư trong nước và cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài, nhanh chóng đón tiếp thời cơ, đón nhận các luồng vốn đầu
tư mới, đáp ứng nhu cầu về vốn nhằm tạo đà tăng tốc phát triển kinh tế
Theo thống kê sơ bộ, chỉ riêng trong tháng 6/2007, cả nước có 203 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 556 triệu USD, đưa tổng số dự
án cấp mới trong 6 tháng đầu năm 2007 là 575 dự án, với tổng vốn đầu tư đạt 4,3 tỷ USD, tăng 69,6% về số dự án và 6,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước Cũng trong tháng 6, nếu tính cả số vốn đầu tư bổ sung 293 triệu USD với 58 lượt dự
án đã nâng tổng số vốn tăng thêm của cả 6 tháng là 870 triệu USD với 199 lượt dự
án, tăng 9,3% về số dự án tăng thêm và 16,8% về vốn bổ sung so với kỳ năm trước Trong 6 tháng qua, về cơ bản tình hình hoạt động sản xuất – kinh doanh của khu vực đầu tư nước ngoài vẫn giữ mức tăng so với cùng kỳ năm trước, một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã triển khai tích cực ngay sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư Doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong 6
Trang 2tháng đầu năm 2007 ước đạt 3,2 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch doanh thu trong 6 tháng là 14,3 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng giá trị xuất khẩu đạt 8,8 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư thì trong 6 tháng qua, số dự án có quy mô tương đối lớn được cấp phép đã tăng gần 50% so với cùng kỳ Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án trong 6 tháng đầu năm 2007 đạt 7,5 triệu USD/dự án, cao hơn so với bình quân cùng kỳ năm trước (6,7 triệu USD/dự án) Theo số liệu thống kê thì lĩnh vực công nghiệp vẫn dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư đăng ký, với tỷ lệ 56,5%, nhưng cơ cấu này đã có sự chuyển dịch tích cực sang lĩnh vực dịch vụ So sánh tỷ lệ 56,5% đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp của 6 tháng 2005 với cùng kỳ năm 2006 là 72,7% và tương tự trong lĩnh vực dịch vụ có tỷ lệ 43,2% và 22,6% Hiện tại, một số ngành nghề dịch vụ đang thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài như xây dựng các khu vui chơi, nghỉ dưỡng, sản xuất phần mềm, dịch vụ tư vấn-tài chính
Nhanh chóng nắm bắt tình hình trên, Uỷ ban nhân dân thành phố Tam Kỳ đã đưa
ra nhận định Khu công nghiệp Tam Kỳ là một trong những hướng phát triển nhằm từng bước đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá và hiện đại hoá sự phát triển kinh tế của thành phố Với mục tiêu đó, có thể thấy rằng sự thành công của các Khu công nghiệp Tam Kỳ sẽ có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế tại thành phố nói riêng và của tỉnh Quảng Nam nói chung trong việc tạo thế liên kết với khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghiệp Đông Quế Sơn, khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc trong định hướng phát triển của toàn tỉnh trong xu thế mới
Trong điều kiện mà quá trình quốc tế hóa, với 2 xu thế là toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, thì bất kỳ quốc gia nào nằm ngoài cuộc chơi này, có nghĩa sẽ đi ngược lại với xu thế phát triển của thời đại Bên cạnh
đó, sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, đã đưa loài người bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, kỷ nguyên thông tin Hai xu thế này đã tạo điều kiện để rút ngắn khoảng cách giữa con người với con người, giữa nền kinh tế các nước và giữa các doanh nghiệp Chính vì lẽ đó, mà hàng hóa, dịch
vụ, nguồn lực… giữa các quốc gia, doanh nghiệp dễ dàng di chuyển qua lại Đây là một cơ hội lớn cho sự phát triển của các quốc gia và doanh nghiệp và là một cơ hội lớn cho sự phát triển của các Khu công nghiệp nói chung và Khu công nghiệp Tam Kỳ nói riêng Hiển nhiên rằng sự phát triển này sẽ tuỳ thuộc rất nhiều vào kết quả
Trang 3của việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Chính vì vậy, những hoạt động cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng và từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách cũng như các giải pháp khả thi, khắc phục những tồn tại hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển, từ đó đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước chính là một trong những hướng cơ bản đối với các Khu công nghiệp Tam Kỳ trong thời gian đến
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về Khu công nghiệp, thu hút vốn đầu tư vào các Khu công nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý và thu hút vốn đầu tư tại các Khu công nghiệp Tam Kỳ, đồng thời tiến hành khảo sát hành vi các nhà đầu tư tại các Khu công nghiệp Tam Kỳ trong thời gian qua, từ đó nhận định các mặt tích cực và các mặt tồn tại nhằm tìm giải pháp khắc phục
- Phân tích môi trường đầu tư, vận dụng chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về thu hút vốn đầu tư đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của các khu vực trong và ngoài nước, từ đó đề xuất hệ thống những giải pháp nhằm nâng cao và đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư vào các Khu công nghiệp Tam Kỳ trong thời gian đến
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phân tích mối quan hệ và tầm quan trọng của thu hút vốn đầu tư và một số đề xuất phát triển hoạt động thu hút vốn đầu tư trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Hơn nữa theo tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 15/7/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam về chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Quảng Nam thì đây là lĩnh vực có phạm vi rộng nên việc xác định phạm vi nghiên cứu là rất cần thiết
- Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu như trên thì luận văn chỉ giới hạn trong việc thu hút các dự án đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước và các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư tại Khu công nghiệp Tam Kỳ, trong đó ưu tiên vẫn là hệ thống các giải pháp thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước
4 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn kết hợp các phương pháp thống kê – khảo
sát, phân tích – tổng hợp – so sánh, kinh tế lượng (lượng hoá các vấn đề về thu hút
Trang 4đầu tư) và coi trọng những bài học kinh nghiệm về thu hút đầu tư của các khu vực trong nước và ngoài nước.
- Phương pháp thống kê : thu nhập và xử lý các số liệu liên quan đến nội dung của đề tài
- Phương pháp khảo sát : tiến hành khảo sát thực tế đối tượng nghiên cứu, kết hợp với phương pháp thống kê để phân tích, đánh giá thực trạng các khu cụm công nghiệp Tam Kỳ từ đó rút ra những điểm mạn và điểm yếu của các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ
- Các phương pháp phân tích, mô tả, so sánh được sử dụng làm phương pháp luận cho nghiên cứu cả lý luận lẫn thực tiễn
- Phân tích SWOT : phân tích cơ hội và nguy cơ bên ngoài các Khu công nghiệp Tam Kỳ đối với quá trình thu hút vốn đầu tư vào các Khu công nghiệp Tam Kỳ
5 Nội dung của luận văn: kết cấu nội dung của luận văn gồm các phần mở đầu, ba
chương và phần kết luận
Chương I : Tổng quan về khu công nghiệp và thu hút vốn đầu tư vào các khu
công nghiệp
Chương II : Thực trạng công tác quản lý đầu tư và tình hình thu hút vốn đầu tư
tại các Khu công nghiệp Tam Kỳ
Chương III : Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào các Khu
công nghiệp Tam Kỳ trong thời gian đến
Trang 5Chương I : TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Tổng quan về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao :
1.1.1 Khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao :
1.1.1.1 Khu công nghiệp: là khu chuyên sản xuất hàng hoá công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ
1.1.1.2 Khu chế xuất: là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ
1.1.1.3 Khu công nghệ cao: là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng
công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ
1.1.2 Phân loại khu công nghiệp: KCN là cấu trúc kinh tế khá phức tạp, để tìm
hiểu mô hình định hướng phát triển các KCN, trước hết cần phải phân loại các KCN
để có sự nhận diện về những loại KCN cụ thể Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu KCN, người ta có các tiếp cận phân loại khác nhau như sau :
1.1.2.1 Dựa vào tính chất ngành nghề: chia thành KCN chuyên ngành, KCN
đa ngành, KCN sinh thái
- KCN chuyên ngành : hình thành do phân công chuyên môn hóa, bao gồm các xí nghiệp trong cùng một ngành sản xuất ra một hoặc một số loại sản phẩm KCN chuyên ngành hoạt động trong một số ngành như : Cơ khí, hoá chất, vật liệu xây dựng
- KCN đa ngành : gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau có mối liên hệ với nhau Loại hình này cho phép khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ
- KCN sinh thái : là loại hình cộng sinh công nghiệp, tạo sự hài hoà giữa sản xuất – cuộc sống và sự thân thiện với môi trường Trong đó có sự lựa chọn xí
Trang 6nghiệp của nhiều ngành công nghiệp có mối liên hệ hỗ trợ tương tác với nhau, tạo
ra sự cân bằng môi trường và phát triển bền vững
1.1.2.2 Căn cứ vào qui mô : KCN chia thành KCN qui mô lớn, KCN qui mô
vừa và KCN qui mô nhỏ
- Khu công nghiệp quy mô lớn là các khu công nghiệp có tổng diện tích quy hoạch từ 200 ha đến 500 ha
- Khu công nghiệp quy mô vừa là các khu công nghiệp có tổng diện tích quy hoạch lớn hơn 50 ha và nhỏ hơn 200 ha
- Khu công nghiệp quy mô nhỏ là các khu công nghiệp có tổng diện tích quy hoạch nhỏ hơn 50 ha
1.1.2.3 Dựa vào đặc thù của từng đối tượng quản lý KCN: được phân thành:
KCN tập trung, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao
1.1.2.4 Phân theo cấp quản lý tương ứng với 3 cấp quản lý nhà nước: có các
loại KCN :
- KCN do Chính phủ thành lập
- KCN do tỉnh, thành phố thành lập
- Cụm CN do huyện, thị thành lập
1.1.2.5 Các loại khu công nghiệp ở Việt Nam: dù phân loại KCN dựa trên các
tiêu thức khác nhau, song ở nước ta hiện nay có các loại KCN sau :
Thứ nhất là : các KCN được thành lập dựa trên cơ sở các xí nghiệp công
nghiệp hiện có dựa trên cơ sở cải tạo hoàn thiện kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường
Thứ hai là : các KCN hình thành do giải tỏa các xí nghiệp công nghiệp đơn lẻ,
kỹ thuật lạc hậu để chỉnh trang lại đô thị và chống ô nhiễm môi trường
Thứ ba là : các KCN (cụm CN) hình thành để thu hút vốn các doanh nghiệp
quy mô vừa và nhỏ thuộc các ngành công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng hoặc phát triển làng nghề truyền thống
Thứ tư là: các KCN có quy mô lớn, tập trung, hiện đại do Chính phủ thành lập.
Trang 71.1.3 Đặc điểm KCN:
Nhìn chung các KCN ở nước ta hiện nay khá đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, đa dạng về thành phần kinh tế và đa dạng cả về quy mô và trình độ Tính chất đa dạng hóa phát triển các KCN ở nước ta hiện nay, một mặt cho phép phát triển ngành nghề, khai thác tiềm năng, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, mặt khác tạo khả năng thu hút các nguồn vốn, khoa học kỹ thuật tiên tiến và công nghệ quản lý hiện đại, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư lớn với công nghệ nguồn
1.1.4 Vai trò của khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước:
Hiện nay, các khu công nghiệp đang là mục tiêu hướng tới của nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước Mỗi khu công nghiệp ra đời sẽ là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo động lực lớn cho quá trình tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và phân công lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh doanh quốc tế, tạo nhân
tố chủ yếu trong việc tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch tổng thể, tăng khả năng thu hút đầu tư từ các nguồn lực trong và ngoài nước, đẩy mạnh nguồn hàng xuất khẩu, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước, tạo việc làm
và hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra Ngoài ra, phát triển các khu công nghiệp cũng thúc đẩy việc hình thành và phát triển các đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích quốc gia, trong đó đáng kể là tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế Việc phát huy thế mạnh của mỗi vùng kinh tế sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy kinh tế khu vực này phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai Đặc biệt, những nỗ lực cho phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở khu vực này sẽ nhanh chóng tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển công nghiệp trong vùng và góp phần tăng trường
Trang 8kinh tế của cả nước Vai trò của các khu công nghiệp, khu chế xuất của Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá thể hiện ở các góc độ sau :
1.1.4.1 Tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế:
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong 6 tháng đầu năm 2007, tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm, cả nước đã thu hút được hơn 5,2 tỷ USD vốn FDI, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước Trong các dự án mới được cấp phép, dự án trong lĩnh vực công nghiệp chiếm 56,5%; dịch vụ chiếm 43,2%; số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Chỉ riêng trong tháng 6/2007, cả nước có
203 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 556 triệu USD, đưa tổng số dự án cấp mới trong 6 tháng đầu năm 2007 là 575 dự án, với tổng vốn đầu tư đạt 4,3 tỷ USD, tăng 69,6% về số dự án và 6,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước Cũng trong tháng 6, nếu tính cả số vốn đầu tư bổ sung 293 triệu USD với 58 lượt dự án đã nâng tổng số vốn tăng thêm của cả 6 tháng là 870 triệu USD với 199 lượt dự án, tăng 9,3% về số dự án tăng thêm và 16,8% về vốn bổ sung
so với kỳ năm trước Trong đó doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2007 ước đạt 3,2 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch doanh thu trong 6 tháng là 14,3 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng giá trị xuất khẩu đạt 8,8 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ Theo thống kê của Bộ KH&ĐT thì trong 6 tháng qua, số dự án có quy mô tương đối lớn được cấp phép đã tăng gần 50% so với cùng kỳ Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án trong 6 tháng đầu năm 2007 đạt 7,5 triệu USD/dự án, cao hơn so với bình quân cùng kỳ năm trước (6,7 triệu USD/dự án)
Mặc dù nước ta hiện đang là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của thế giới, song với điều kiện cơ sở hạ tầng của nước ta chưa được cải thiện, các thể chế và chính sách còn chưa hoàn thiện và phù hợp với yêu cầu của khu vực và thế giới thì rõ ràng thành công từ việc thu hút được một lượng vốn đầu
tư như thống kê ở trên là một trong những hoạt động tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn khá quan trọng hiện nay
Trang 91.1.4.2 Góp phần đổi mới công nghệ và tăng năng suất lao động:
Sự gia tăng nguồn vốn đầu tư liên quan đến việc mở rộng phạm vi sản xuất và xu hướng toàn cầu hoá Với những ưu thế của mình, các khu công nghiệp, khu chế xuất đang phát huy tối đa những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế giới, hơn nữa sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin đã tạo điều kiện tốt nhất cho sự giao lưu và hợp tác gữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Và tất yếu khách quan là một khi công nghệ và kỹ thuật được cải tiến, thêm vào đó là sự đổi mới cơ chế quản lý thì năng suất lao động cũng được cải thiện Ở nước ta, theo thống kê thì lĩnh vực công nghiệp vẫn dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư đăng ký, với tỷ lệ 56,5%, nhưng cơ cấu này đã có sự chuyển dịch tích cực sang lĩnh vực dịch
vụ So sánh tỷ lệ 56,5% đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp của 6 tháng 2005 với cùng kỳ năm 2006 là 72,7% và tương tự trong lĩnh vực dịch vụ có tỷ lệ 43,2% và 22,6% Hiện tại, một số ngành nghề dịch vụ đang thu hút sự chú ý của các nhà đầu
tư nước ngoài như xây dựng các khu vui chơi, nghỉ dưỡng, sản xuất phần mềm, dịch
vụ tư vấn - tài chính Những ngành này đã và đã từng bước nâng cao được năng lực sản xuất, năng suất lao động
1.1.4.3 Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động:
Các khu công nghiệp đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 14 tỷ USD, bằng 28% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và xuất khẩu đạt 6 tỷ USD chiếm 19% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nộp ngân sách 650 triệu USD, sử dụng gần
Trang 10việc làm cho người lao động nhưng cũng đồng thời thay đổi tác phong và kỹ năng cho người lao động.
1.1.4.4 Góp phần gia tăng xuất khẩu, cân bằng cán cân ngoại thương và tăng thu ngân sách cho Nhà Nước :
Cho đến năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập khoảng 148 KCN, khu chế xuất (chưa kể hàng trăm các khu công nghiệp,cụm công nghiệp với quy mô thích hợp do UBND các tỉnh quyết định thành lập) Các khu công nghiệp đã thu hút 4.516 dự án đầu tư, trong đó có 2.202 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt khoảng 18 tỷ USD và 2.314 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư trên 100000 tỷ đồng Các khu công nghiệp đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 14 tỷ USD, bằng 28% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và xuất khẩu đạt 6 tỷ USD chiếm 19% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nộp ngân sách
650 triệu USD, sử dụng gần 1 triệu lao động và tạo việc làm cho hàng triệu người phục vụ cho việc phát triển các khu công nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất đóng góp đang kể vào ngân sách nhà nước, riêng năm 2004, các khu công nghiệp, khu chế xuất nộp ngân sách nhà nước với số tiền
473 triệu USD Những số liệu trên cho thấy các khu công nghiệp, khu chế xuất là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm gia tăng sản xuất, cán cân ngoại thương và tăng ngân sách Nhà nước
1.1.4.5 Góp phần đổi mới cơ chế quản lý và cải thiện môi trường đầu tư:
Các khu công nghiệp đã và đang tạo nhân tố chủ yếu trong việc tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch, tăng khả năng thu hút đầu tư, đẩy mạnh nguồn hàng xuất khẩu, tạo việc làm và hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây
ra Chính sự phát triển các khu công nghiệp cũng đã thúc đẩy việc phát triển các đô thị mới, phát triển các cơ sở phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội nói chung Vai trò tích cực của các khu công nghiệp có thể xác định
rõ trên một số khía cạnh chủ yếu như :
Trang 11- Tạo điều kiện để thực hiện các liên kết, hỗ trợ kinh tế mới : hỗ trợ về công nghệ, hỗ trợ về quản lý, đặc biệt với sự phát triển của công nghệ thông tin, hiện nay
sự gắn kết hỗ trợ các ngành cơ khí, điện, điện tử với nguyên lý điều khiển số, xử lý tri thức
- Với cơ chế quản lý “một cửa”, quản lý “tại chỗ” các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp đã từng bước tạo nên những thay đổi lớn trong môi trường đầu tư và nâng cao tính cạnh tranh trong thu hút đầu tư
- Những tác động tích cực từ các dòng vốn đầu tư đã buộc Chính phủ cũng có những thay đổi từ cơ chế, chính sách cho đến quan hệ đối ngoại theo hướng tích cực cải thiện môi trường nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư
1.1.4.6 Góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương, cải thiện môi trường:
Sự phát triển nhanh, có chất lượng của các KCN, KCX và khu công nghệ cao
có tác động rất tích cực đối với sự chuyển dịch cơ cấu của một tỉnh, một vùng, và của cả nước Nước ta từ một nước nông nghiệp đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nhu cầu việc làm rất lớn Phát triển công nghiệp nói chung
và các khu công nghiệp nói riêng nhằm tạo ra nhiều việc làm, thu hút ngày càng nhiều lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp, góp phần nâng cao được năng suất
ở khu vực này Theo số liệu điều tra, hiện nay 1 ha đất khu công nghiệp, khu chế xuất tạo ra khoảng 150 chỗ làm việc kể cả gián tiếp và trực tiếp (trong đó lao động trực tiếp bình quân khoảng 81 người/ha)
Các khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần thúc đẩy mạnh quá trình chuyển biến cơ cấu sản xuất công nghiệp theo hướng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu một cách có hiệu quả, nâng dần tỷ trọng các mặt hàng đã qua chế biến, hạn chế đến mức thấp nhất việc xuất khẩu nguyên liệu thô Do tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường, do vậy khu công nghiệp là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Đây là một trong số các mục tiêu đặt
Trang 12ra đối với việc thành lập khu công nghiệp Cho đến nay, hầu hết các khu công nghiệp tập trung được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong thiết kế cũng như trong quá trình triển khai xây dựng có chú ý đến việc xử lý nước thải công nghiệp, và đã có các cơ sở hạ tầng xử lý.
1.1.5 Mô hình quản lý môi trường của khu công nghiệp:
Có 3 mô hình quản lý môi trường KCN chính : mô hình quản lý KCN theo hướng xử lý chất thải, mô hình quản lý KCN mô phỏng theo hệ sinh thái tự nhiên
và mô hình quản lý KCN theo chuỗi sản xuất
1.1.5.1 Mô hình quản lý KCN theo hướng xử lý chất thải:
Theo mô hình này, tại mỗi KCN có ít nhất một hệ thống xử lý chất thải tập trung Các nhà máy nằm trong KCN phải xử lý chất thải sơ bộ trước khi đổ vào hệ thống xử lý tập trung nếu chất thải có chứa chất độc hại có ảnh hưởng đến quá trình
xử lý chung Cũng theo mô hình này, có sự áp dụng kết hợp hai công cụ mệnh lệnh
và kiểm soát và công cụ kinh tế trong việc quản lý môi trường KCN Chất thải của từng nhà máy phải đạt tiêu chuẩn nhất định trước khi đổ vào hệ thống xử lý chung, tiêu chuẩn này được định bởi cơ quan quản lý hệ thống xử lý chung, thông thường
là cơ quan quản lý môi trường KCN Chất thải sau khi xử lý ở hệ thống xử lý chung phải đạt tiêu chuẩn thải qui định bởi cơ quan chuyên trách môi trường, thông thường là Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường hay Bộ Khoa học - Công nghệ
và Môi trường (KHCN&MT)
Nhà máy phải trả chi phí sử dụng tỉ lệ với thể tích chất thải hay nồng độ chất thải cần xử lý Về phương diện không khí, giữa các nhà máy trong KCN có thể tiến hành buôn bán giấy phép ô nhiễm không khí Qua đó nhà máy nào có khả năng giảm thiểu ô nhiễm dưới mức chấp nhận sẽ có quyền bán phần tiêu chuẩn còn lại cho các nhà máy gặp khó khăn trong việc giảm thiểu ô nhiễm Như vậy đôi bên đều
có lợi và nhà quản lý môi trường KCN cũng có lợi trong việc bảo đảm chất lượng môi trường không khí chung của KCN ở mức cho phép
Trang 13Đa số các KCN ở các nước Đông Nam Á đều được quản lý theo mô hình này (UNEP, 1997a) Có thể lấy KCN ở Thái Lan làm ví dụ điển hình Các KCN ở Thái Lan được đặt dưới sự quản lý của ban quản lý KCN Thái Lan Ban quản lý chịu trách nhiệm chung về quản lý và phát triển KCN, kiểm soát ô nhiễm, quản lý môi trường kể cả quan trắc chất lượng môi trường KCN Tất cả các KCN ở Thái Lan đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung, các nhà máy đổ nước thải vào các hệ thống xử lý chung phải đạt tiêu chuẩn quy định bởi Ban quản lý, nếu không các nhà máy phải xử lý sơ bộ Các nhà máy sử dụng hệ thống xử lý chung phải trả phí sử dụng tỷ lệ với thể tích và nồng độ chất thải Nước thải sau xử lý phải đạt tiêu chuẩn của Bộ KHCN&MT Việc theo dõi kiểm tra chất lượng nước thải, khí thải và tiếng
ồn trong KCN được thực hiện bởi các công ty ký hợp đồng với Ban quản lý KCN Ban quản lý KCN Thái Lan ký hợp đồng với công ty B.J.T Water Co Ltd để phân tích chất lượng nước thải của từng nhà máy trước khi đổ vào hệ thống xử lý chung, công ty này làm việc với sự theo dõi và đôn đốc của nhân viên Ban quản lý Để thực hiện kiểm chứng, các nhà máy có phòng thí nghiệm riêng có thể phân tích nước thải của chính nhà máy mình Các nhà máy không có phòng thí nghiệm riêng có thể gửi mẫu đến các trung tâm dịch vụ môi trường để kiểm chứng Việc kiểm tra chất lượng không khí và tiếng ồn KCN do công ty S.G.S Thailand Ltd đảm nhiệm Ban quản
lý KCN Thái Lan có phòng thí nghiệm di động có thể lấy mẫu và phân tích tại chỗ chất lượng không khí trong trường hợp khẩn cấp hay có khiếu nại Ban Quản lý KCN Thái Lan dự định thiết lập hệ thống quan trắc tự động để theo dõi chất lượng không khí và chất lượng nước thải từ hệ thống xử lý chung
1.1.5.2 Mô hình quản lý KCN mô phỏng theo hệ sinh thái tự nhiên:
Mô hình quản lý KCN theo hướng xử lý chất thải giúp các doanh nghiệp nhỏ
và vừa không có đủ vốn và nhân lực để đầu tư vào hệ thống xử lý cục bộ có thể đạt được tiêu chuẩn thải quy định bởi cơ quan chuyên trách môi trường, mặt khác giúp cải thiện chất lượng môi trường chung của KCN Tuy nhiên đây chỉ là mô hình sơ khởi có tính cách đối phó với qui định và luật lệ môi trường Khi giá nguyên liệu,
Trang 14năng lượng gia tăng; khi tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe nghiêm ngặt,
mô hình quản lý KCN theo hướng xử lý chất thải không còn thích hợp Giải pháp cho vấn đề sẽ là mô hình quản lý KCN mô phỏng theo hệ sinh thái tự nhiên
Theo mô hình này thì KCN sẽ được tổ chức sao cho nhu cầu nguyên liệu tiêu thụ sẽ giảm tối đa đồng thời lượng chất thải cần được xử lý sẽ giảm đến mức tối thiểu Để thực hiện được việc giảm thiểu chất thải trong KCN, bản thân mỗi nhà máy phải áp dụng quy trình ngăn ngừa chất thải của từng công đoạn sản xuất, tiết kiệm và tiêu thụ nước, nguyên liệu một cách hợp lý và hiệu quả hơn Công cụ kinh
tế như phí ô nhiễm sẽ giúp nhà máy thay đổi thái độ hành vi ứng xử, mục tiêu của nhà máy không còn là vấn đề xử lý chất thải mà phải thay đổi quy trình công nghệ hay cách quản lý để có thể giảm thiểu chất thải càng nhiều càng tốt, để phí ô nhiễm phải trả ở mức thấp nhất
Nhà quản lý KCN có thể hỗ trợ cho các nhà máy bằng cách thu nhập và truyền
bá thông tin về công nghệ sạch Ví dụ : Ban quản lý KCN Thái Lan dự định sẽ thành lập một trung tâm môi trường cho KCN cung cấp các thông tin cần thiết về biện pháp kiểm soát ô nhiễm cho từng loại công nghệ, công nghệ sạch, hệ thống quản lý môi trường theo ISO, các biện pháp an toàn lao động Ban quản lý KCN Jebal Ali ở Dubai đã tổ chức cung cấp thông tin về công nghệ sạch, các phương pháp tái sử dụng chất thải cho các nhà máy trong KCN Mô hình này mô phỏng theo sự hoạt động của hệ sinh thái tự nhiên và dựa vào khái niệm hệ sinh thái công nghiệp, hệ trao đổi chất công nghiệp và sinh thái công nghiệp
Hiện nay một số KCN ở Pháp, Thuỵ Điển, Canada, cũng được xem là những ví
dụ quản lý theo mô hình này (UNEP 1997b) Ở tại Mỹ đang có những nghiên cứu thành lập các KCN mô phỏng theo hệ sinh thái tự nhiên Hà Lan đang có chương trình nghiên cứu trao đổi chất thải giữa các nhà máy trong KCN cảng Rotterdam.Công cụ truyền thông hai hay đa chiều với hình thức thoả hiệp tự nguyện sẽ tạo điều kiện để các nhà máy trong KCN thảo luận phương pháp trao đổi chất thải,
và nhà quản lý môi trường KCN sẽ đóng vai trò khởi xướng và là chiếc cầu nối
Trang 15trong các cuộc thảo luận Nhà quản lý môi trường KCN phải lập chương trình kiểm toán chất thải, hỗ trợ các nghiên cứu ứng dụng tiềm năng trao đổi chất thải giữa các nhà máy, liên lạc và thông tin cho các nhà máy để thực hiện chương trình kiểm toán
và tổ chức ứng dụng trao đổi chất thải
1.1.5.3 Mô hình quản lý KCN theo chuỗi sản xuất :
Mô hình quản lý KCN theo chuỗi sản xuất chỉ thực sự cần thiết khi có yêu cầu
về tiêu chuẩn sinh thái của thị trường thế giới hay nội địa, nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm sạch với nhãn hiệu sinh thái Một sản phẩm sạch là sản phẩm được sản xuất theo một qui trình không gây tác hại môi trường từ giai đoạn đầu cho đến khi thải bỏ, từ quá trình khai thác nguyên liệu, chuyên chở nguyên liệu để tạo sản phẩm, quá trình sản xuất sản phẩm, quá trình bảo quản, sử dụng và cho đến khi
bị thải bỏ và toàn bộ các quá trình này phải hạn chế đến mức tối thiểu những tác hại cho môi trường Để thực hiện được điều này cần có sự hợp tác chặt chẽ và tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên trong chuỗi sản xuất Nhà quản lý môi trường KCN sẽ đóng vai trò cung cấp thông tin về yêu cầu tiêu chuẩn sinh thái, tổ chức phối hợp với nguồn cung cấp nguyên liệu, tìm thị trường hay đăng ký thị trường sản phẩm sạch Nếu các nhà máy có liên hệ với nhau trong chuỗi sản xuất cùng nằm trong một KCN thì đó là cơ hội tốt để tổ chức KCN theo mô hình này Công cụ truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc thông tin và thảo luận các phương pháp cải tiến công nghệ; thay đổi công nghệ cho phù hợp với dây chuyền sản xuất sạch; mối liên hệ giữa công ty cung cấp nguyên liệu, nhà máy sản xuất sản phẩm và người tiêu dùng Tuy nhiên, thực hiện tổ chức mô hình này không phải dễ dàng và cho đến nay
có rất ít ví dụ minh hoạ triển khai mô hình này trên thực tế
1.1.6 Hình thức quản lý Nhà nước của khu công nghiệp :
Căn cứ Nghị định của Chính phủ về ban hành Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành ngày 24/04/1997 thì trách nhiệm quản lý Nhà
nước đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao phải có sự phối hợp của các Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học
Trang 16Công nghệ, Bộ Tài Nguyên – Môi trường, Bộ Thương mại, Ban tổ chức Chính phủ, Ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam và các cơ quan chuyên ngành Thương mại, Tài chính, Hải quan, Công an và các chuyên ngành cần thiết khác đặt cơ quan đại diện đủ thẩm quyền giải quyết trực tiếp công việc tại từng KCN hoặc từng cụm KCN Tuy nhiên, việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trực tiếp tại các khu công nghiệp thì do Ban quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung Ương nơi có khu công nghiệp thực hiện và nếu có các vấn đề vượt quá thẩm quyền thì phối hợp với các Bộ và cơ quan ngang Bộ giải quyết (trừ các khu kinh tế do Thủ tướng Chính Phủ ký quyết định thành lập thì có Ban quản lý riêng) Và hiện nay, về mô hình quản lý các khu công nghiệp thì có thể khái quát như sau :
- Đối với các khu công nghiệp tập trung : phần lớn công tác quản lý được thực hiện thông qua Công ty đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng và các Công ty này hoạt động theo quy định tại Quy chế quản lý KCN ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1994 của Chính phủ Các công ty hạ tầng thu phí quản lý hạ tầng hàng năm của các doanh nghiệp nên có kinh phí cho công tác duy tu, bảo dưỡng, hạ tầng
kỹ thuật thường xuyên Một đặc trưng khác nữa là các cơ quan dịch vụ khác như : Hải quan, Bưu điện, PCCC thường có trụ sở chi nhánh của mình trong KCN Tại các KCN đều có Văn phòng đại diện của ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất của tỉnh hoặc thành phố trực thuộc TW nên bước đầu kịp thời xử lý tại chỗ các vướng mắc của doanh nghiệp Vì vậy, các dịsch vụ cung cấp cho doanh nghiệp trong KCN tập trung cơ bản được xử lý tại chỗ và khép kín, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN tập trung
- Đối với các khu công nghiệp vừa và nhỏ : việc quản lý các khu, cụm công nghiệp này theo các mô hình rất khác nhau (hiện đang tồn tại song song 02 mô hình quản lý khu, cụm công nghiệp) Phần lớn các khu công nghiệp vừa và nhỏ đều tổ chức quản lý theo dạng riêng từng khu, cụm công nghiệp
Trang 17+ Ở những khu công nghiệp đã hoạt động và đã có các dự án đang hoạt động thì thành lập Ban quản lý các khu công nghiệp để làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trong đầu tư và điều hành chung các hoạt động sau đầu tư.
+ Ở các khu, cụm công nghiệp đang được triển khai đầu tư thì chỉ thành lập Ban quản lý dự án khu, cụm CN để làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trong đầu tư và điều hành chung các hoạt động sau đầu tư
Sự khác biệt cơ bản của hai hình thức này so với KCN tập trung ở chỗ : các khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ không theo mô hình Công ty đầu tư kinh doanh
cơ sở hạ tầng mà hầu hết tổ chức theo dạng riêng từng cụm công nghiệp
1.1.7 Mối quan hệ giữa khu công nghiệp với bên ngoài :
Mối quan hệ giữa các khu công nghiệp với bên ngoài thể hiện ở những tác động tích cực của khu công nghiệp đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có khu công nghiệp Điều này được thể hiện trên các mặt : tạo
sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hướng về xuất khẩu; tác động tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực có khu công nghiệp; tác động tích cực
và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển khu công nghiệp
Những tác động này được đánh giá thông qua hệ thống các tiêu chí như sau :
Thứ nhất : Tiêu chí về kinh tế - kỹ thuật
Các chỉ tiêu đo lường chính là : Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương, so với mức chung của cả nước; cơ cấu kinh tế của địa phương có KCN, thể hiện ở tỷ trọng về doanh thu, giá trị gia tăng, vốn sản xuất, lao động tính theo ba lĩnh vực : ngành kinh tế, theo thành phần kinh tế, theo khu vực thể chế; đóng góp của khu công nghiệp cho ngân sách địa phương, thể hiện bằng : mức và tỷ lệ thu ngân sách của địa phương từ khu công nghiệp đem lại, tốc độ tăng thu thuế từ các khu công nghiệp; số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ
Trang 18thuật - xã hội của địa phương có khu công nghiệp, cụ thể là hệ thống đường xá, cầu cống, hệ thống nhà ở, các công trình điện, nước, hệ thống bưu điện, thông tin liên lạc; tỷ lệ đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của địa phương
Thứ hai : Tiêu chí phản ánh về xã hội.
Tiêu chí phản ánh ảnh hưởng xã hội của khu công nghiệp được tập trung vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng giải quyết việc làm của khu công nghiệp cho địa phương như sau :
- Sử dụng lao động địa phương : thể hiện ở quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với tổng số lao động làm việc trong khu công nghiệp
- Tỷ lệ hộ gia đình (hoặc là số lao động) tham gia cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho khu công nghiệp so với tổng số hộ của địa phương (hoặc so với tổng lao động địa phương); trong đó nhấn mạnh đến số lượng và tỷ lệ hộ gia đình (lao động) mất đất tham gia cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho khu công nghiệp so với tổng số hộ (hoặc lao động) bị mất đất
- Cơ cấu lao động địa phương phản ánh ảnh hưởng của khu công nghiệp đến
sự chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn có khu công nghiệp
Thứ ba : Tiêu chí phản ánh môi trường
Gồm ba nội dung chính : khả năng duy trì vấn đề đa dạng hóa sinh học, tiết kiệm tài nguyên; chống ô nhiễm môi trường
1.1.8 Các định hướng cơ bản để giải quyết các vấn đề của khu công nghiệp :
Từ nghiên cứu tiêu chí đánh giá mối quan hệ giữa các khu công nghiệp với bên ngoài, có thể đưa ra một số định hướng cơ bản để giải quyết các vấn đề của việc phát triển bền vững các khu công nghiệp ở Việt Nam như sau :
Thứ nhất, nâng cao chất lượng, hiệu quả và bảo đảm tính hệ thống trong quy
hoạch khu công nghiệp trên toàn quốc Quy hoạch các khu công nghiệp phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai, quy hoạch điểm dân cư, thành phố, khu đô thị Quy hoạch KCN không chỉ nói chung về bố trí địa điểm, vị trí đóng của khu mà còn phải tính tới cả hướng bố trí ngành công nghiệp,
Trang 19sản phẩm sẽ sản xuất, phù hợp với đặc điểm dân cư, khả năng đất đai, tài nguyên, giá cả lao động và yêu cầu về môi trường của từng khu vực.
Thứ hai, nghiên cứu và vận dụng cho Việt Nam các mô hình KCN theo hướng
hiện đại và phù hợp với điều kiện thị trường mở Cần thay đổi lại quan niệm về KCN, kể cả khái niệm và mục tiêu thành lập KCN trong các văn bản pháp quy của nhà nước Theo xu thế chung, không nên coi KCN là chỉ có sản xuất công nghiệp và cần phải có hàng rào riêng Đặc biệt là, xây dựng KCN hiện nay, không phải chỉ với mục tiêu thu hút bằng mọi cách vốn đầu tư, mà còn phải đặt ra những yêu cầu khác như: tính hiệu quả, tính bền vững và khả năng lan tỏa cho các khu vực khác.v.v
- Thực hiện chuyển đổi mô hình tổ chức KCN theo hướng hiện đại, cụ thể :(1) Chuyển từ KCN thành lập mang tính tận dụng lao động, điều kiện tự nhiên
để thu hút các nhà đầu tư thuộc nhiều ngành nghề sản xuất công nghiệp khác nhau với mục tiêu lấp đầy khu công nghiệp thành những KCN mang tính sản xuất và chế biến chuyên môn hoá ngày càng cao và với mục tiêu hiệu quả kinh tế đặt ra là chủ yếu
(2) Chuyển từ KCN chỉ bao gồm chuyên môn hoá sản xuất công nghiệp, chuyên môn hoá sản xuất cho xuất khẩu, sang mô hình khu công nghiệp tổng hợp, trong đó bao gồm cả sản xuất công nghiệp, thương mại (xuất khẩu và tiêu thụ nội địa), dịch vụ như ngân hàng, bưu điện, dịch vụ cung ứng thường xuyên và các hoạt động dịch vụ; hoạt động khoa học công nghệ cao
(3) Chuyển từ KCN không có dân cư sang KCN có dân cư thường gọi là khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế v.v
- Thực hiện sự liên kết toàn diện theo xu hướng thị trường mở, cụ thể là sự liên kết trong nội bộ KCN, liên kết giữa các KCN trên cùng một khu vực, và hình thành nhiều kiểu, loại khu công nghiệp đa dạng
Thứ ba, thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ KCN theo hướng hiệu quả
và phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ Để bảo đảm sự phát triển bền vững, có hiệu quả KCN, cần chuyển dịch cơ cấu nội bộ KCN theo những xu thế :
Trang 20(1) Chuyển từ KCN sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều lao động, tài nguyên sang KCN sử dụng nhiều vốn và công nghệ kỹ thuật cao.
(2) Chuyển từ KCN bao gồm ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang sản phẩm công nghiệp sạch
(3) Chuyển từ KCN sản xuất, kinh doanh đơn thuần sang KCN kết hợp sản xuất kinh doanh với nghiên cứu hoạt động khoa học công nghệ và triển khai kỹ thuật công nghệ cao
Thứ tư, bảo đảm tính đồng bộ của các yếu tố cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội
và môi trường Mục đích chung của hướng này là nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững không những nội tại KCN mà cả những từng địa phương có KCN đóng cũng như thực hiện phát triển bền vững toàn quốc gia để thực hiện được mục tiêu trên, sự phát triển các KCN phải được kết hợp chặt chẽ với các yếu tố cần phát triển khác như : hệ thống bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường; hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội: đường xá, điện, nước, nhà cửa, mạng lưới thông tin viễn thông, y tế, giáo dục; phát triển KCN đi đôi với quy hoạch đồng bộ mạng lưới thị tứ, thành phố, khu vực thành thị với các điều kiện sinh hoạt hiện đại
Thứ năm là, Chính phủ luôn có các chính sách phù hợp cho việc phát triển các
khu công nghiệp Các chính sách nhằm phát triển bền vững KCN cần hướng tới việc : thực hiện mục tiêu quy hoạch phát triển các KCN; đẩy mạnh hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh và tăng hiệu quả hoạt động cho các DN; thu hút được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào KCN Yêu cầu đặt ra đối với các chính sách, cần phải :
(1) Linh hoạt và có sự khác biệt đối với từng vùng, miền, từng khu vực khác nhau trong quá trình thực hiện xây dựng KCN
(2) Có sự phân biệt đối với từng loại KCN và các khu vực khác nhau trong đó lưu ý đến yếu tố lịch sử của quá trình hình thành KCN, để có những tác động phù hợp
Trang 21(3) Có sự thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của KCN và tưng xứng với hoạt động phát triển kinh tế khác Để bảo đảm tính bền vững và hiệu quả trong hoạt động, cần phải lưu ý đến những điều kiện cụ thể cho việc thành lập, nhất là sự ra đời của những khu công nghệ cao Mặt khác, phải có những quy định cụ thể về trình tự xây dựng các khu công nghiệp theo hướng giải quyết được vấn đề môi trường trước.
1.2 Một số nội dung cơ bản về khu kinh tế và khu kinh tế mở :
1.2.1 Khu kinh tế: là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường
đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính Phủ
1.2.2 Khu kinh tế mở:
Đề án xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai nêu rõ : “Khu kinh tế mở là một bộ phận lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam, có ranh giới xác định, được vận hành bằng khung pháp lý riêng với những cơ chế chính sách đặc biệt về kinh tế, có sự giao lưu thông thường với nước ngoài và có sức hút mạnh mẽ các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, có cơ chế quản lý hành chính tinh gọn, một cửa, mở rộng quyền tự do kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”
Khu kinh tế mở Chu Lai được thành lập nhằm mục tiêu : áp dụng các thể chế,
cơ chế chính sách mới, môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, phù hợp với thông
lệ quốc tế cho các loại hình kinh doanh của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, qua đó có thêm kinh nghiệm cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; Áp dụng các mô hình, động lực mới cho phát triển kinh tế, khắc phục những vướng mắc trong chính sách và cơ chế quản lý kinh tế hiện hành trong khi chưa có điều kiện thực hiện trên phạm vi cả nước; Phát triển sản xuất, tạo ra những sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường
ra thế giới; Tạo việc làm, thúc đẩy công tác đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong giao thương, dịch vụ quốc tế và trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam, góp phần tạo động lực kinh tế - xã hội cho toàn khu vực miền
Trang 22Trung, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực này với các vùng khác trong cả nước Chính phủ Việt Nam khuyến khích và bảo hộ các tổ chức, cá nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các nhà đầu
tư nước ngoài tham gia đầu tư và hoạt động tại khu kinh tế mở Chu Lai trong các lĩnh vực : đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng và đô thị, phát triển công nghiệp, phát triển đô thị, kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch, giải trí, tài chính - ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, giáo dục đào tạo, y tế, nhà ở, xuất nhập khẩu hàng hoá và mọi hoạt động sản xuất khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập Ngoài những quyền được hưởng theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, các doanh nghiệp hoạt động trong khu kinh tế mở Chu Lai còn được hưởng các quyền sau : Sử dụng các công trình kết cấu tầng, tiện ích công cộng, và các dịch vụ phục vụ chung cho khu kinh tế mở Chu Lai như đường giao thông, bến cảng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, điện chiếu sáng, cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc theo giá thoả thuận với các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng; Được hưởng các
ưu đãi đầu tư quy định tại quy chế hoạt động của Khu kinh tế mở Chu Lai (ban hành kèm theo QĐ số 108/2003/TTg ngày 05/06/2003 của Thủ tướng Chính phủ); Được chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất theo quy định của pháp luật, phù hợp với mục đích sử dụng đất của dự án đã được đầu tư; Được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam và tại các tổ chức tín dụng nước ngoài theo các quy định của pháp luật Khu kinh tế mở Chu Lai được phát triển bằng các nguồn vốn chủ yếu sau : Vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng cấp thiết nhất cho sự vận hành của khu kinh tế mở Chu Lai, vốn của doanh nghiệp
và dân cư trong nước, vốn nước ngoài…
Tổ chức hoạt động của khu kinh tế mở Chu Lai bao gồm hai khu : Khu phi thuế quan và khu thuế quan Khu phi thuế quan gắn với một phần cảng Kỳ Hà (Khu
Trang 23cảng tự do), có hàng rào cứng ngăn cách với các khu vực xung quanh Trong khu phi thuế quan không có khu dân cư; Khu thuế quan là khu vực còn lại của khu kinh tế mở Chu Lai Trong khu thuế quan có các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí đặc biệt, khu du lịch, khu dân cư và hành chính.
1.2.3 Đặc khu kinh tế: là mô hình đặc thù của chính sách mở cửa nền kinh tế
Trung Quốc Đặc khu kinh tế được hiểu là khu vực mà quốc gia dành ra một phạm
vi nhất định trong hoạt động kinh tế đối ngoại thực hành chính sách kinh tế đặc thù Chính sách kinh tế đặc thù này bao gồm đặc khu thực hành nhiều hình thức kinh tế cùng tồn tại, cùng lấy trong ngoài hợp doanh kinh tế làm chính Việc xây dựng đặc khu kinh tế lấy việc thu hút và lợi dụng đầu tư nước ngoài làm chính, sản phẩm xuất khẩu làm chính, hoạt động kinh tế của đặc khu kinh tế lấy việc điều tiết thị trường làm chính, đặc khu kinh tế được hưởng sự đãi ngộ tối huệ về miễn giảm thuế quan trong mậu dịch đối ngoại
1.3 Vốn đầu tư và sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư :
1.3.1 Khái niệm vốn đầu tư và hoạt động đầu tư :
Theo quan điểm kinh tế thị trường thì vốn đầu tư là giá trị của những tài khoản
mà cá nhân, công ty hoặc nhà nước bỏ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu được lợi nhuận trong tương lai Như vậy vốn đầu tư là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra những tài sản nhằm mục tiêu lợi nhuận trong tuơng lai
Hơn nữa trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc sử dụng tài sản trong thời gian dài thì dễ bị hao mòn và do nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết phải có sự gia tăng về tài sản nên cần phải tiến hành thường xuyên việc bù đắp hao mòn tài sản và gia tăng tài sản mới Quá trình này được tiến hành bằng vốn đầu tư thông qua hoạt động đầu tư
Như vậy, hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất đã bị hao mòn và tạo ra năng lực sản xuất mới, đây chính là quá trình chuyển hoá vốn thành các tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất
Trang 241.3.2 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư :
Thu hút vốn đầu tư là những hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Thu hút vốn đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế địa phương, quốc gia, thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau :
- Thu hút đầu tư góp phần tạo tăng trưởng kinh tế Đầu tư là yếu tố cấu thành chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng cầu, chủ yếu là cầu về tư liệu sản xuất Hoạt động đầu tư diễn ra sẽ làm gia tăng tổng cầu, từ đó góp phần gia tăng tiêu thụ các hàng hoá dịch vụ được sản xuất ra từ nền kinh tế, cũng như kích thích năng lực sản xuất của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu từ hoạt động đầu tư Đầu tư có tác động trực tiếp đến tổng cung và về dài hạn nó quyết dịnh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Mô hình kinh tế Harrod - Dorma nghiên cứu hệ số ICOR đã chỉ ra rằng : Đầu
ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, ngành hay toàn bộ nền kinh tế quốc gia sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư đơn vị đó Như vậy, kết quả của quá trình thu hút vốn đầu tư sẽ làm gia tăng vốn sản xuất, tức tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế dưới dạng tài sản cố định và hàng tồn kho Sự thay đổi này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng tác động đến tổng cung của nền kinh tế
- Thu hút vốn đầu tư có vai trò quyết định đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu sở hữu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện thông qua các hoạt động đầu tư nhiều ít khác nhau tuỳ theo nhu cầu phát triển và chính sách đầu tư của nhà nước đối với từng ngành, vùng, thành phần kinh tế
- Đầu tư tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và quốc gia đổi mới công nghệ, hiện đại hoá quá trình sản xuất, thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu” trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.3 Phân loại các nguồn vốn đầu tư :
1.3.3.1 Các nguồn vốn đầu tư trong nước :
Trang 25- Đầu tư từ ngân sách nhà nước : đây là nguồn chi của ngân sách cho đầu tư theo nguyên tắc cấp phát không hoàn lại, hướng ưu tiên chủ yếu của nguồn này là dành cho các dự án đầu tư công cộng, kết cấu hạ tầng, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển nguồn nhân lực hoặc đầu tư cho các ngành, vùng hay khu vực khó khăn
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước : về bản chất cũng giống như đầu tư từ ngân sách nhà nước nhưng theo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Hướng ưu tiên chủ yếu của nguồn này là dành cho các dự án thuộc các chương trình phát triển
ưu tiên của quốc gia và trong nhiều trường hợp được huy động từ vay nước ngoài
- Đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước : được hình thành từ nguồn lợi nhuận sau thuế, các quỹ không chia, hoặc đi vay của các định chế tài chính Quy mô nguồn đầu tư này phụ thuộc nhiều vào chiến lược phát triển doanh nghiệp nhà nước của từng quốc gia
- Đầu tư từ khu vực liên doanh : nguồn này hoàn toàn do thành phần kinh tế liên doanh tự quyết định Cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, nguồn đầu tư liên doanh có vai trò to lớn và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng vốn đầu tư
xã hội
1.3.3.2 Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài :
- Viện trợ phát triển chính thức (ODA) : nguồn vốn ODA là các khoản viện trợ
không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức Đây
là nguồn vốn phát triển do Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế cung cấp cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy, hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này
- Viện trợ các tổ chức phi chính phủ (NGO) : là các viện trợ không hoàn lại,
chủ yếu là viện trợ vật chất với mục tiêu nhân đạo, quy mô nguồn vốn này khá nhỏ
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) : đây là hình thức nước chủ nhà cho
phép tư nhân, các công ty nước ngoài dùng vốn của họ thực hiện hoạt động đầu tư tại lãnh thổ nước chủ nhà, đây là nguồn vốn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với
Trang 26phát triển kinh tế Thu hút FDI phụ thuộc vào xu hướng vận động của FDI trên thế giới và môi trường đầu tư của nước nhà Do đó Nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư hợp lý, nỗ lực xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn nhằm đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI
- Vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài (FII) : đây là nguồn vốn do tư nhân
nước ngoài cung cấp thông qua việc mua các loại chứng khoán của nước nhà nhưng không trực tiếp tham gia quản lý Hoặc cấp tín dụng thông qua các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, hoặc thông qua các khoản tín dụng thương mại
mà các nhà xuất khẩu nước ngoài dành cho các nhà nhập khẩu của nhà chủ nhà Thị trường vốn và trình độ của nền kinh tế là cơ sở quan trọng để huy động vốn này
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế :
1.4.1 Xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới :
Đó là xu thế hội nhập kinh tế thế giới, hợp tác song phương, đa phương, hợp tác quốc tế, liên kết khu vực, đấu tranh cho hòa bình và phát triển, cho một trật tự thế giới công bằng, tốt đẹp, cho mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế lớn nhất, bao gồm hơn 190 quốc gia thành
viên, có chức trách cao cả là bảo đảm hòa bình, an ninh và thúc đẩy sự phát triển của thế giới Đây là diễn đàn mang tính toàn cầu, tiêu biểu cho xu thế toàn cầu hóa, hợp tác và đấu tranh trên phạm vi toàn thế giới Đại Hội đồng Liên hợp quốc khóa
61 tiếp tục thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến hòa bình, ổn định và
sự phát triển của thế giới Trong vấn đề này, xu thế hợp tác và đấu tranh diễn ra sôi nổi, diễn biến phức tạp Đa số các thành viên đòi cải tổ Liên hợp quốc nói chung, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nói riêng theo hướng dân chủ hóa, tăng cường tính đại diện cho các châu lục, mở rộng các thành viên thường trực và không thường trực của Hội đồng Bảo an, tăng cường vai trò, sức mạnh, quyền uy và hiệu quả của Liên hợp quốc để tổ chức quốc tế lớn nhất này thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của mình, góp phần quyết định vào việc bảo đảm hòa bình, ổn định và phát triển của thế
Trang 27giới Việt Nam đã được Châu Á nhất trí đề cử là ứng cử viên duy nhất của châu lục vào ghế thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm
kỳ 2008 - 2009 Năm 2006, Việt Nam cũng đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), một tổ chức kinh tế mang tính toàn cầu, tiêu biểu cho xu thế hội nhập, toàn cầu hóa kinh tế và tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao các nhà lãnh đạo các nền kinh tế APEC lần thứ 14 Với các sự kiện đó, Việt Nam chứng tỏ được
vị thế của mình trên trường quốc tế và tích cực hội nhập vào trào lưu lớn của thời đại
Cùng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế, hợp tác và đấu tranh thông qua các tổ chức toàn cầu như Liên hợp quốc, WTO thì xu thế nhất thể hóa, liên kết khu vực cũng tiếp tục phát triển Năm 2006, hầu hết các tổ chức khu vực, tiểu khu vực, vùng, tiểu vùng đều hoạt động sôi nổi, hoặc mở rộng quy mô, hoặc củng cố tăng cường tổ chức hiện có, tăng cường hiệu quả hợp tác, liên kết toàn diện hay từng mặt
về kinh tế, chính trị, quân sự, quốc phòng an ninh, văn hóa, khoa học công nghệ
1.4.2 Xu hướng vận động và cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước Châu Á :
1.4.2.1 Các xu hướng torng đầu tư nước ngoài:
- Dòng đầu tư nước ngoài vào khu vực Châu Á (bao gồm các nước NIEs, nhưng không tính Nhật Bản) bắt đầu phục hồi trong nửa sau của thập kỷ 80, duy trì một mức tăng ổn định trước khi đạt được đỉnh điểm vào năm 1997 Dòng đầu tư vào các nước đang phát triển Châu Á đạt 52 tỷ USD vào năm 2001, 3 năm tiếp theo liên tục giảm, chủ yếu là do dòng đầu tư vào Trung Quốc quá lớn FDI vào Trung Quốc đã vượt 30 tỷ USD năm 1993 và thường ở mức từ 35 đến 45 tỷ USD trước khi đạt đỉnh điểm 47 tỷ USD vào năm 2001
- Dòng đầu tư vào các nền kinh tế công nghiệp mới châu Á (Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan) thì ngược lại, vẫn được duy trì đạt khoảng 20 tỷ USD trong năm 2001 và 2002
Trang 28- Trung Quốc là nước nhận FDI lớn thứ tư trên thế giới NIEs (Newly industrialized economies) và ASEAN 4 (Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippine) chỉ được xếp trong số 40 nước đứng đầu thế giới tiếp nhận FDI trong những năm 90 Việt Nam đứng hàng thứ 44.
1.4.2.2 Mức độ phụ thuộc vào FDI: mức độ quan trọng của FDI trong các nền
kinh tế Châu Á được nhìn nhận khác nhau tuỳ thuộc vào những tiêu chuẩn được sử dụng để so sánh :
- Thứ nhất, nếu chia dòng vốn FDI theo quy mô dân số thì FDI trên đầu người ở Trung Quốc (khoảng 33 USD/người giai đoạn 1996 – 2000) cao gấp 11 lần so với Ấn Độ (chỉ có 3 USD) Đó
là áp dụng cho các nước có số dân trên 1 tỷ người Còn đối với các nước có số dân khoảng 75 triệu người, FDI trên đầu người ở Việt Nam (khoảng 24 USD/người giai đoạn 1996-2000) thực tế cho thấy cao hơn ở Philippine (18 USD/người), đó là một hành trình dài về mở cửa cho đầu tư nước ngoài
- Thứ hai, nếu đặt dòng vốn đầu tư FDI so sánh với quy mô thị trường, mặc dù gần đây FDI tràn vào Trung Quốc, nhưng tỷ trọng giữa dòng vốn FDI trong GDP vẫn dưới 6,2% Hơn nữa, nếu so sánh dòng vốn FDI với sự đánh giá tỷ suất sức mua (PPP) của GDP nước đó, thì FDI vào Trung Quốc chưa bao giờ vượt qua được 1,2% của GDP tính theo tỷ suất sức mua Mặt khác, trong các nước NIEs Châu
Á, Singapore có sự phụ thuộc vào FDI cao nhất với tỷ trọng dòng vốn FDI trong GDP khoảng 5% đến 15% Ngược lại, Đài Bắc và Hàn Quốc lại tỷ trọng này chỉ có 3% Malaysia có được một tỷ trọng khá cao ở mức 9% Mức độ này một phần quyết định bởi chính sách cởi mở của nước chủ nhà đối với FDI như thế nào.
- Thứ ba, về tỷ trọng FDI trong cấu thành tổng vốn cố định, FDI chiếm khoảng 18% tổng vốn đầu tư cố định ở Trung Quốc giai đoạn 1994-2001, chỉ cao hơn của Malaysia một chút hiện là 12% Trong khi đó, FDI thường chiếm khoảng 30% trong cấu thành tổng vốn cố định ở Singapore năm 1998-
10-2000 Còn đối với Đài Loan, thì đây là một nguồn vốn đầu tư quan trọng của nước này.
Trang 29
1.4.2.3 Dòng vốn FDI theo quốc gia đầu tư :
Theo số liệu của các nước chủ nhà, dòng vốn FDI từ Mỹ bằng15-20% tổng vốn đầu tư vào các nước ASEAN 4 Ngược lại, dòng vốn FDI từ Nhật Bản cho thấy
có sự thay đổi giữa các nước ASEAN 4, trong khoảng hơn 10% ở Philippine đến 20% ở Indonesia và Malaysia và 30% tổng vốn đầu tư vào Thái Lan Về địa điểm đầu tư, Châu Á là mảnh đất gần gũi đối với các nhà đầu tư Châu Á Đầu tư tại Châu
Á bằng 1/6 tổng vốn đầu tư của Nhật Bản và 1/10 của Mỹ ra nước ngoài Đầu tư của các nước Châu Âu vào Châu Á chỉ bằng 3% tổng vốn FDI của các nước Châu
Âu ra nước ngoài
1.4.2.4 Dòng vốn FDI theo lĩnh vực :
Đối với đầu tư của Mỹ vào vào Châu Á, lĩnh vực phi sản xuất (bao gồm cả ngành dầu lửa) nhìn chung chiếm phần lớn hơn so với lĩnh vực sản xuất Ngược lại, đầu tư của Nhật Bản vào Châu Á lại tập trung vào lĩnh vực sản xuất (trừ trường hợp của Hồng Kông chủ yếu là tài chính, bảo hiểm và thương mại, Singapore và Indonesia – khai thác mỏ) Tại Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Malaysia và Philippine, đầu tư của Nhật Bản tập trung nhiều vào ngành điện, điện tử
1.4.3 Môi trường đầu tư của các khu công nghiệp tại Việt Nam :
Theo nghĩa chung nhất, môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế, gồm : hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông (đường
sá, cầu cảng hàng không, cảng biển ), hệ thống thông tin liên lạc, năng lượng Môi trường mềm bao gồm: hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư (đặc biệt các vấn đề liên quan đến chế độ đối xử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng, kế toán
và kiểm toán Mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng là để thu lợi nhuận, vì thế môi trường đầu tư hấp dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư cao, mức độ rủi ro
Trang 30thấp Điều này lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như : chính sách, cơ chế ưu đãi đầu tư của nước chủ nhà, điều kiện phát triển về cơ sở hạ tầng kinh tế, mức độ hoàn thiện về thể chế hành chính - pháp lý, khả năng ổn định về mặt chính trị - xã hội, độ
mở của nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống thị trường Các nhân tố trên có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau, vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tư, nhất thiết phải quan tâm xử lý đồng bộ các nhân tố ảnh hưởng trên Về môi trường đầu tư tại Việt Nam hiện nay có thể nói rằng :
1.4.3.1 Môi trường đầu tư Việt Nam hiện tại được coi là tương đối hấp dẫn, an toàn và có lợi thế lâu dài trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương :
- Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, đáp ứng được nhu cầu làm
ăn lâu dài của các nhà đầu tư, Việt Nam cũng có lợi thế về vị trí địa lý vì nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động, đã tham gia Hiệp định CEPT/AFTA với quy mô thị trường 500 triệu người; đã tham gia chương trình thu hoạch sớm (EHP) của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, có đường biên giới chung với các tỉnh phía nam Trung Quốc
- Sau gần 20 năm đổi mới, Việt Nam cũng từng bước hình thành thể chế kinh tế thị trường, duy trì được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong cả thập kỷ 90 là 7,2%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân cùng kỳ của các nước trong khu vực là 3,7% Ba năm gần đây (2003-2006) tốc độ tăng trưởng GDP là 7,2%; 7,0%, 7,2% Nhờ vậy tổng GDP trong 10 năm đã tăng gấp hơn 2 lần Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, có trí thức và tương đối trẻ, với số dân
80 triệu, đứng thứ 13 trên thế giới, đời sống người dân ngày càng được nâng cao Hiện tại Việt Nam đứng thứ 5 trong số các nước ASEAN về chỉ số phát triển con người, sau Singapore, Malaysia, Thailand, Philippines Chi phí sử dụng lao động của kỹ sư và công nhân Việt Nam cũng được đánh giá là có lợi hơn so với các nước
Trang 31lân cận (lương trả chỉ bằng 60-70% của Trung Quốc, Thái Lan; 18% của Singapore; 3-5% của Nhật Bản).
1.4.3.2 Công cuộc đổi mới, cải cách nền kinh tế theo hướng hội nhập, mở cửa
cả bên trong và bên ngoài đã tạo môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp :
- Thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, phát triển và được thúc đẩy theo hướng tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hợp tác và cạnh tranh bình đẳng, huy động được nhiều nguồn lực hơn vào phát triển kinh tế xã hội
- Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hợp tác và cạnh tranh bình đẳng hơn; huy động được thêm nhiều nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Việc phát huy mạnh mẽ nguồn nội lực trong thời gian qua cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài
- Việc Nhà nước đầu tư đáng kể cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như
hệ thống đường sá, cầu cảng, hệ thống thông tin liên lạc, điện nước , đẩy mạnh cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong những năm qua đã cải thiện rõ rệt điều kiện và môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, góp phần tiết kiệm các chi phí trung gian, hạ giá thành sản phẩm cho các doanh nghiệp
- Việc tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá cũng tạo điều kiện mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam, Đến nay Việt Nam đã có quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với trên 150 nước và cùng lãnh thổ, tham gia tích cực vào cơ cấu hợp tác khu vực và thế giới như ASEAN, ASEM, APEC và đã gia nhập WTO vào năm 2006
1.4.3.3 Chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam có nhiều
ưu đãi, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài kinh doanh
có hiệu quả :
Trang 32So với Luật đầu tư nước ngoài của nhiều nước, Luật đầu tư của Việt Nam được đánh giá là khá thông thoáng Đặc biệt là sau khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000, Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu
tư, tháo gỡ các khó khăn nhằm giúp các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài kinh doanh có hiệu quả
1.4.3.4 Một số hạn chế của môi trường đầu tư Việt Nam :
- Mặc dù đã có những bước phát triển mạnh mẽ song về cơ bản Việt Nam vẫn
là một nước nông nghiệp, quy mô của nền kinh tế còn nhỏ bé, các cơ sở công nghiệp và trình độ kỹ thuật - công nghệ còn thấp, cơ cấu kinh tế còn chuyển biến chậm, hiệu quả đầu tư chưa cao, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển
- Hệ thống luật pháp về kinh tế của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đảm bảo tính bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; tính ổn định và minh bạch chưa cao, mức độ rủi ro pháp luật còn lớn và khó
dự báo; hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều bất cập
- Quá trình cải cách hành chính còn chuyển biến chậm, các thủ tục liên quan đến hoạt động đầu tư còn phức tạp; nạn tham nhũng còn phổ biến và chưa có biện pháp ngăn chặn, loại bỏ hữu hiệu; các chi phí dịch vụ về cơ sở hạ tầng hỗ trợ kinh doanh, chi phí trung gian, chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp còn lớn
so với các nước trong khu vực Sự phối hợp trong các hoạt động cải cách cơ cấu kinh tế, cải cách thế chế với chiến lược hội nhập kinh tế quổc tế còn chưa nhịp nhàng, động bộ
- Hệ thống thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường đất đai, thị trường khoa học - công nghệ còn chưa đồng bộ và kém phát triển Hệ thống dịch vụ tài chính - ngân hàng cũng chưa phát triển (hiện tại, tỷ trọng của khu vực tài chính chỉ chiếm khoảng 2% GDP, so với 6 - 10% ở các nước khác trong khu vực) Quá trình cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng tiến hành chậm; hệ thống ngân hàng dễ bị tổn thương do tỷ lệ nợ xấu còn cao, rủi ro lãi
Trang 33suất và tỷ giá lớn và khả năng giám sát, quản trị rủi ro yếu; hệ số tín nhiệm đối với với hoạt động của hệ thống tài chính - ngân hàng còn thấp Theo đánh giá của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng mức độ cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam vẫn chậm hơn so với các nước khác trong khu vực.
Mặc dù vậy, môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay đã và đang được đánh giá là hấp dẫn trở lại đối với các nhà đầu tư nước ngoài nhờ vào quá trình đổi mới nhanh chóng của Việt Nam, thể hiện qua các chính sách và hệ thống pháp luật trong
đó quan trọng nhất là Luật đầu tư đã được chính thức có hiệu lực năm 2007, được
cụ thể hóa bằng nhiều văn bản, chỉ thị hướng dẫn; Luật Doanh nghiệp tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp tư nhân, mở thêm cơ hội kinh doanh cho lực lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 34Chương II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
VÀ TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ TẠI CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP TAM KỲ2.1 Khái quát về thành phố Tam Kỳ và các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ : 2.1.1 Khái quát về thành phố Tam Kỳ :
Thành phố Tam Kỳ là một thành phố non trẻ, được thành lập theo Nghị định số 113/NĐ-CP, ngày 29 tháng 09 năm 2006 của Chính phủ Thành phố có khu vực
có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia và chiếm một vị trí tương đối thuận lợi, có thế mạnh để phát triển một môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi theo các quy định hiện hành, bao gồm hạ tầng kỹ thuật xã hội và chính sách, cơ chế quản lý thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, phù hợp với cơ chế thị trường và xu thế hội nhập
Trang 352.1.1.1 Vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp huyện Thăng Bình, nằm cách khu công nghiệp Đông Quế Sơn khoảng 25 km
- Phía Nam giáp huyện Núi Thành, cách khu kinh tế mở Chu Lai khoảng 25
km và khu công nghiệp Dung Quất khoảng 40 km
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp huyện Phú Ninh
Thành phố Tam Kỳ cách thủ đô Hà Nội 821 km về phía Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 898 km về phía Nam và quốc lộ 1A chạy dài xuyên qua toàn thành phố Với vị trí địa lý như vậy thành phố gần như nằm ở vị trung độ của cả nước và giữa 02 con đường huyết mạch của nước ta hiện nay là quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh Đây là vị trí hết sức thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố nói riêng và của toàn tỉnh Quảng Nam nói chung
2.1.1.2 Diện tích tự nhiên: 92,63 km2, trong đó diện tích nội thành là 41,16 km2
và diện tích ngoại thành là 81,47 km2 trong đó :
- Diện tích đất trồng trọt : gần 4.075 ha trong đó diện tích đất trồng cỏ chăn nuôi là 77,5 ha
- Diện tích đất vườn, trang trại : 413,61 ha, trong đó: Tam Phú 218,93 ha; Tam Thăng 194,68 ha, xây dựng cánh đồng đạt 50 triệu/ha
2.1.1.3 Dân số : tính đến ngày 31/12/2005 tổng số dân số trên toàn thành phố là
122.612 người Trong đó :
- Nội thành : 94.839 người, mật độ : 2304 người/km2
- Ngoại thành : 27.273 người, mật độ : 334 người/km2
Thực tế diễn ra điều này cũng là điều dễ hiểu bởi vì trên thực tế toàn bộ đất đai khu vực ngoại thành phần lớn là đất canh tác, trồng trọt …nên mặc dù diện tích khu vực nội thành nhỏ hơn song mật độ dân số của khu vực nội thành lại cao hơn khu vực ngoại thành
Trang 362.1.2 Sơ lược các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ :
Ngay từ khi tái lập tỉnh (01/01/1997), chủ trương quy hoạch xây dựng KCN được tỉnh Quảng Nam xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá tỉnh nhà
Năm 2000 thực hiện chủ trương của tỉnh, thành phố đã quyết định thực hiện thí điểm 01 cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Trường Xuân với diện tích quy hoạch ban đầu là 49 ha
Vừa làm, vừa rút kinh nghiệm từ 01 cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ban đầu, tạo điều kiện tiền đề và động lực cho thành phố quy hoạch và đề xuất thành lập thêm 02 khu công nghiệp Thuận Yên (khởi công 12/2001) và tiếp theo là khu công nghiệp Tam Thăng (khởi công tháng 6/2005)
Đến nay qua 10 năm kể từ khi tách tỉnh và 06 năm xây dựng KCN (tính mốc
từ năm 2000) thành phố Tam Kỳ đã hoàn chỉnh công tác quy hoạch các khu công nghiệp đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015 và hoàn chỉnh phát triển khu, cụm công nghiệp, làng nghề theo đó :
- Hệ thống khu công nghiệp tập trung gồm 02 khu công nghiệp, trong đó xây dựng mới 01 khu, mở rộng 01 khu đã có, nâng tổng diện tích các KCN lên hơn 600 ha
- Hệ thống các cụm công nghiệp, làng nghề gồm 04 cụm, bao gồm : cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Trường Xuân, cụm công nghiệp – dịch vụ An Sơn, làng nghề bún Phương Hoà, làng chiếu cói Tam Thăng, trong đó cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Trường Xuân đã cơ bản hoàn thành và phấn đấu lấp đầy diện tích vào năm 2010 Tổng diện tích các cụm công nghiệp, làng nghề vào khoảng
100 ha
Các khu công nghiệp tập trung và cụm công nghiệp, làng nghề được phân bổ
và sắp xếp hợp lý, nằm trong quy hoạch định hướng phát triển không gian đô thị các trục đường giao thông Quốc lộ, tỉnh lộ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng trên địa bàn thành phố
Trang 37Do vậy, phát triển và xây dựng các khu, cụm công nghiệp, làng nghề Tam Kỳ được đặt trong mối quan hệ hữu cơ, tác động, hỗ trợ và gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời tạo lập mối liên kết không tách rời với sự phát triển đô thị và quá trình đô thị hoá nông thôn, từng bước tạo thế liên hoàn với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Giải quyết tốt tất cả các mối quan hệ đó là bước đi và hướng phát triển bền vững các khu, cụm công nghiệp, làng nghề Tam Kỳ trong quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá thành phố.
2.1.3 Vai trò của các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ đối với sự phát triển của thành phố :
Mỗi khu công nghiệp ra đời sẽ là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo động lực lớn cho quá trình tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh doanh quốc tế, tạo nhân tố chủ yếu trong việc tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch tổng thể, tăng khả năng thu hút đầu tư từ các nguồn lực trong và ngoài nước, đẩy mạnh nguồn hàng xuất khẩu, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước, tạo việc làm và hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra Ngoài ra, phát triển các khu công nghiệp cũng thúc đẩy việc hình thành và phát triển các đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích quốc gia, trong đó đáng kể là tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho sự phát triển đất nước
Việc phát huy những thế mạnh của các khu, cụm công nghiệp sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy kinh tế thành phố và toàn tỉnh Quảng Nam phát triển mạnh
mẽ hơn trong tương lai, đồng thời những nỗ lực cho phát triển các khu, cụm công nghiệp ở thành phố sẽ nhanh chóng tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển công nghiệp trong tỉnh và góp phần tăng trường kinh tế của cả khu vực
Trang 38Trong thời gian qua hoà chung vào xu thế phát triển của thành phố và của tỉnh Quảng Nam, các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ cũng đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ Chỉ tính riêng trong năm 2006, các khu, cụm công nghiệp thành phố đã đóng góp ngân sách hơn 139,55 tỷ đồng tăng hơn 30% so với năm 2005 Số lao động được thu hút vào các khu, cụm công nghiệp tăng đáng kể Năm 2004 mới
có 1.150 lao động thu hút vào 12 doanh nghiệp ở cụm công nghiệp Trường Xuân, đến hết tháng 11 năm 2006, sự mở rộng của cụm công nghiệp Trường Xuân cộng với sự hình thành và phát triển của khu công nghiệp Thuận Yên đã làm tăng thêm hơn 3.000 lao động, nâng tổng số lao động đến năm 2006 là 4.564 lao động, được thu hút vào 23 doanh nghiệp của 3 khu, cụm công nghiệp
Được sự khuyến khích và tạo điều kiện của Uỷ ban nhân dân tỉnh trong các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư cho các doanh nghiệp, Ban quản lý các KCN Quảng Nam cũng đã trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện các nội dung về an toàn, vệ sinh lao động – phòng chống cháy nổ, các quy định của pháp luật lao động về Hợp đồng lao động, Bảo hiểm xã hội… cho người lao động, phối hợp thanh tra về môi trường, về tiêu chuẩn đo lường chất lượng tại các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp, chủ trì và phối hợp với các ngành giải quyết và tham mưu UBND tỉnh tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư Nhờ vậy đến nay chưa có một sự cố hay tình trạng bất trắc nào xảy
ra tại các khu, cụm công nghiệp thành phố Đây cũng là một trong những thành công của thành phố trong thời gian qua Với sự đóng góp của các khu, cụm công nghiệp mà cụ thể là các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trong thời gian qua, tin tưởng rằng Tam Kỳ sẽ sớm khẳng định mình và trở thành một thành phố công nghiệp – dịch vụ trong tương lai không xa
2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý Nhà Nước đối với công tác đầu tư tại các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ :
Khu, cụm CN Tam Kỳ là khu vực hành chính xã hội nằm trên lãnh thổ thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân thành phố về nội
Trang 39dung phát triển và cơ chế quản lý, có cơ quan quản lý Nhà nước là Ban quản lý Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ
Ban quản lý Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ là cơ quan quản lý nhà nước có tư cách pháp nhân, có con dấu mang hình quốc huy có biên chế, có kinh phí hoạt động
do ngân sách nhà nước cấp, Trưởng ban quản lý Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ do Chủ tịch UBND thành phố bổ nhiệm
Hiện tại nhân lực tại Ban quản lý chỉ có 04 người), quá mỏng về số lượng và hơn nữa trình độ chuyên môn và ngoại ngữ lại rất hạn chế Mặc dù phần lớn các nhân viên đã tốt nghiệp Đại học nhưng do số lượng ít lại chưa được đào tạo chuyên sâu ở lĩnh vực dự án đầu tư nên Ban quản lý cũng gặp nhiều khó khăn trong công việc Trong khi đó một nhân viên lại kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau chẳng hạn như Trưởng ban cũng là Trưởng phòng công nghiệp – thương mại thành phố Đây là một trong những bất cập của thành phố hiện nay
Hiện nay thực hiện chủ trương chung của toàn tỉnh trong hoạt động thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, thành phố đang từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý “một cửa”, hạn chế các hoạt động thanh tra, kiểm soát đối với các hoạt động của các nhà đầu tư Điều này phần nào đã làm các nhà đầu tư trong thành phố có tính tự chủ cao hơn
Trên thực tế, hiện có 04 khu, cụm công nghiệp đã và đang hình thành và hoạt động trên địa bàn thành phố song đối với khu công nghiệp Thuận Yên thì xuất phát từ chủ trương của tỉnh Quảng Nam nên để phục vụ cho mục tiêu phát triển các khu, cụm công nghiệp phía Nam, cơ chế hoạt động của Khu công nghiệp Thuận Yên lại chịu sự quản lý song song từ Ban quản lý khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ và Ban quản lý các khu công nghiệp Quảng Nam Còn đối với khu công nghiệp Tam Thăng thì chỉ mới được hình thành và đang kêu gọi đầu tư nên hệ thống chính sách ưu đãi và thu hút đầu tư tại Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ mà cụ thể là cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Trường Xuân, cụm công nghiệp dịch vụ An Sơn mới do sự quyết định trực tiếp của Ban quản lý khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ Đây là những
Trang 40tồn tại về mô hình quản lý nhà nước tại khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ nên trong tương lai nhất thiết phải xem xét lại để phục vụ cho công tác xây dựng và phát triển Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ
Cơ chế quản lý nhà nước Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ được thực hiện theo
mô hình quản lý “một cửa, tại chỗ”, nhằm đảm bảo nguyên tắc thống nhất, tập trung trong hoạt động quản lý Nhà nước Các bộ phận có liên quan phối hợp với Ban quản lý một cửa tại chổ, có hiệu quả Phạm vi uỷ quyền thuộc các lĩnh vực đầu tư, xây dựng quy hoạch, quản lý tài nguyên và môi trường, quản lý và phát triển đô thị, quản lý đất đai, lao động, xuất nhập khẩu và một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật và quy định số 40/2003/QĐ-UB ngày 14/05/2003 của UBND tỉnh Quảng Nam về cơ chế đầu tư
Mặc dù vậy song như trình bày ở trên nên cơ chế quản lý nhà nước tại Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ chưa thống nhất, hay khác hơn là thực chất Ban quản lý chỉ quản lý cụm CN – TTCN Trường Xuân, cụm công nghiệp – dịch vụ An Sơn và chưa có sự tách bạch rõ về chức năng quản lý nhà nước giữa Ban quản lý Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ với các cơ quan quản lý cấp trên Ban quản lý Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ không có quyền để điều hành, quản lý, chỉ đạo chính quyền địa phương cấp cơ sở, mà hiện nay chủ yếu vẫn là phối hợp hoạt động, trong khi đó chất lượng công tác điều hành phụ thuộc rất nhiều vào ý thức tự giác của chính quyền cấp dưới, trong khi vẫn chưa có sự quản lý chặt chẽ, cần thiết phải nhanh chóng khắc phục sự không rõ ràng trong cơ chế quản lý nếu không sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động thu hút và mở rộng đầu tư của Khu cụm công nghiệp Tam Kỳ
2.3 Thực trạng hoạt động của các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ trong thời gian qua :
2.3.1 Thực trạng công tác định hướng quy hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp Tam Kỳ :