Mua phần vốn góp : Nhà đầu tư nước ngoài sẽ thông qua các kênh giao dịch gián tiếp hoặc trực tiếp để mua phần vốn góp của một doanh nghiệp, từ đó cóquyền kiểm soát hoạt đ
Trang 1MỤC LỤC CÁC BẢNG
Số tran g
1 2.1 Số dự án và tổng số vốn đầu tư FDI vào tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006-2011 25
2 2.2 Số dự án FDI của tỉnh Thái Bình chia theo lĩnh vực đầu tưnăm 2011 30
3 2.3 Dòng vốn FDI vào tỉnh Thái Bình chia theo đối tác đầu tưnăm 2011 31
4 2.4 Dòng vốn FDI vào tỉnh Thái Bình chia theo khu vực năm 2011 32
5 2.5 Phân chia số dự án đầu tư FDI theo quy mô vốn đầu tư năm 2011 33
Tình hình kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp
7 2.7 Tình hình thu hút lao động tại ở doanh nghiệp FDI tại Thái Bình 36
Trang 2MỤC LỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số tran g
1 2.1 Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình năm 2001 18
2 2.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình năm 2005 18
3 2.3 Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình năm 2011 19
4 2.4 Số dự án và tổng số vốn đầu tư FDI vào tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006-2011 26
5 2.5 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư FDI tại tỉnh Thái Bình năm 2011 30
Phân chia số dự án đầu tư FDI theo quy mô vốn đầu tư
Trang 31 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment
-4 NIC Nước công nghiệp mới Newly industrialized country
-7 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức Official DevelopmentAssistance
8 GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product
Trang 4-MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 3
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, HÌNH THỨC 3
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1.1.3 Các hình thức FDI đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam 5
1.2 VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 7
1.2.1 Đối với nước chủ đầu tư 7
1.2.2 Đối với nước nhận đầu tư 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH THÁI BÌNH 15
2.1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ THÁI BÌNH 15
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
2.1.2 Dân số 16
2.1.3 Kinh tế – xã hội 17
2.1.4 Môi trường pháp lý 20
2.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI TỈNH THÁI BÌNH 23
2.2.1 Hoạt động thu hút nguồn vốn FDI tại tỉnh Thái Bình giai đoạn 2000-2005 23
2.2.2 Hoạt động thu hút nguồn vốn FDI tại tỉnh Thái Bình giai đoạn năm 2006-2011 25
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH THÁI BÌNH (GIAI ĐOẠN 2006-NAY) 34
2.3.1 Những thành công đạt được 34
2.3.2 Những mặt còn tồn tại, hạn chế 37
Trang 5CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI TỈNH THÁI BÌNH 40
3.1 ĐỊNH HƯỚNG, CHỦ TRƯỞNG VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH 40
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN FDI TẠI TỈNH THÁI BÌNH 40
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư 40
3.2.2 Cải cách hành chính 42
3.2.3 Tăng cường, đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư 44
3.2.4 Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực 46
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu khách quan của đề tài
Những tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với nềnkinh tế Việt Nam trong hơn 10 năm qua là điều không thể phủ nhận FDI đã đónggóp lượng vốn đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, góp phần thúc đẩy, nângcao sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu,tạo ra những cơ hội và ưu thế mới để tham gia có hiệu quả vào quá trình tự do hoáthương mại toàn cầu và khu vực
Riêng Thái Bình, một tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng, có vị trí quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Nhưng nhìn chung, TháiBình là một tỉnh có nền kinh tế mang đặc trưng của một tỉnh nông nghiệp, điểmxuất phát thấp, nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ chưa thể đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế Vì vậy nguồn vốn FDI đóng một vai trò hết sức quan trọng đảm bảo chotỉnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Nhận thức được tầm quan trọng đó của FDI, Thái Bình cũng như các tỉnh kháctrong cả nước đã tích cực đẩy mạnh công tác kinh tế đối ngoại và thực hiện nhiềubiện pháp nhằm thu hút các dự án FDI và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.Song những năm gần đây, do bối cảnh trong nước và quốc tế gặp nhiều khó khăn,nguồn vốn FDI vào tỉnh có xu hướng chững lại và có biểu hiện giảm sút Điều đóảnh hưởng tiêu cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướngcông nghiệp hoá - hiện đại hoá và sự phát triển kinh tế của Thái Bình trong nhữngnăm tới
Xuất phát từ thực tế trên, sau khi được trang bị những vấn đề lý luận, phươngpháp luận có hệ thống và chiều sâu về kiến thức chuyên ngành kinh tế quốc tế, em
đã chọn đề tài " Hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Bình"làm nội dung nghiên cứu của chuyên đề thực tập.
Trang 72 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Bình
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất,lý lụân chung và sự cần thiết phải “Thu hút vốn FDI tại tỉnh TháiBình”
Thứ hai,phân tích thực trạng hoạt động thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài tại tỉnh Thái Bình
Thứ ba, định hướng và một số giải pháp cho hoạt động thu hút nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Bình
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Phạm vị nghiên cứu:
+ Về không gian: Vốn FDI tại tỉnh Thái Bình
+ Về thời gian: từ năm 2006 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích và đánh giá, tổnghợp số liệu thực tế
5 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, bảng chữ viết tắt, danh mục tài liệu thamkhảo,chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2:Thực trạng hoạt động thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại tỉnh Thái Bình
Chương 3:Định hướng và một số giải pháp cho hoạt động thu hút nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Bình
Trang 8CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, HÌNH THỨC
Đối với các thể chế chính trị - xã hội hiện nay, pháp luật chính là nền tảng cơbản cho mọi hoạt động diễn ra trong thể chế đó Pháp luật là công cụ của nhà cầmquyền nhằm thực hiện đường lối, chính sách của mình Thể chế của từng quốc giatrên thế giới là khác nhau nên pháp luật của mỗi nước cũng có sự khác biệt Chínhvì vậy, nghiên cứu về cơ sở pháp lý của “đầu tư trực tiếp nước ngoài” trên thế giớinói chung và ở Việt nam nói riêng sẽ đem lại cách hiểu cơ bản và chính xác nhất vềFDI
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư :
Cho đến nay, các nhà làm luật trên thế giới vẫn chưa tìm ra một định nghĩachính xác, thống nhất về thuật ngữ “đầu tư” nên hiện nay vẫn chưa thể tìm đượcmột định nghĩa chung cụ thể về thuật ngữ này trong pháp luật của các nước Tuynhiên có thể hiểu đầu tư là việc một tổ chức, cá nhân bỏ vốn của mình ra kinhdoanh nhằm một mục đích cụ thể Mục đích đó có thể là lợi nhuận hoặc có thể làphi lợi nhuận Dựa vào nguồn gốc của chủ đầu tư, có thể chia thành đầu tư trongnước và đầu tư nước ngoài Dựa vào mục đích và cách thức tham gia vốn góp mà
có thể chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
1.1.1.2 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) :
Pháp luật Việt nam qui định :
“Đầu tư trong nước” là việc sử dụng vốn (bằng tiền Việt nam, tiền nướcngoài ; Vàng, chứng khoán chuyển nhượng được ; Nhà xưởng, công trình xâydựng, thiết bị máy móc, các phương tiện sản xuất, kinh doanh khác ; Giá trị quyền
sử dụng đất theo qui định của pháp luật về đất đai ; Giá trị quyền sở hữu trí tuệ, bíquyết kỹ thuật, quy trình công nghệ ; các tài sản hợp pháp khác) để sản xuất, kinhdoanh tại Việt Nam của Nhà đầu tư là : tổ chức, cá nhân Việt nam ; người Việt namđịnh cư ở nước ngoài ; người nước ngoài thường trú ở Việt nam.” Vậy nên chủ thểtrực tiếp kinh doanh là các tổ chức, cá nhân trong nước
Trang 9“Đầu tư trực tiếp nước ngoài - Foreign Direct Investment” là việc nhà đầu tưnước ngoài đưa vào Việt nam vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản nào (bao gồm : tiềnnước ngoài, tiền Việt nam có nguồn gốc từ đầu tư tại Việt nam ; Thiết bị, máy móc,nhà xưởng, công trình xây dựng khác ; Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyếtkỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật) để tiến hành các hoạt động đầu tưtheo qui định của Luật này.”
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Là hình thức đầu tư từ nước ngoài :
Theo định nghĩa đã nêu ở trên thì nguồn vốn được đưa vào sản xuất kinhdoanh bằng việc chuyển dịch qua biên giới lãnh thổ một quốc gia Sự chuyển dịchnày có thể là hữu hình (vận chuyển máy móc, thiết bị hoặc những vật chất cụ thểqua biên giới quốc gia) hoặc vô hình (mang những bí quyết kỹ thuật, quy trìnhcông nghê, tiền vào lãnh thổ một quốc gia khác) nhưng bắt buộc phải được thựchiện
1.1.2.2 Là hình thức đầu tư tư nhân :
Cũng theo định nghĩa đã nêu thì để trở thành đối tượng của các chính sách thuhút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư buộc phải thoả mãn hai điều kiện cơ bản
đó là có quốc tịch nước ngoài và thực hiện hoạt động đầu tư vào một quốc giakhông cùng quốc tịch với mình nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp từ hành viđầu tư đó Vì tồn tại mục đích thu lợi nhuận nên hoạt động đầu tư thường đượcthực hiện bởi những con người cụ thể nhằm thu lợi nhuận cho một cá nhân cụ thể
1.1.2.3 Bên nước ngoài trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất - kinh doanh:
Bên nước ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, nên
họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đưa ra các quyết định có lợi nhất cho việcđầu tư Chính vì vậy mức độ khả thi của công cuộc đầu tư khá cao, đặc biệt trongviệc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng thị trường
Các chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn vàchịu trách nhiệm về kết quả hoạt động vốn của mình tuỳ theo mức độ góp vốn Cácchủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định của dự ánđầu tư trực tiếp nước ngoài tuỳ theo luật của từng nước (chẳng hạn, Mỹ qui định là
Trang 1010%, một số nước khác là 20% hoặc 25%, các nước kinh tế thị trường phương Tâyqui định lượng vốn này phải chiếm trên 10%)
1.1.2.4 Thường đi kèm với chuyển giao công nghệ :
Quyền sở hữu và sự khác nhau về các yếu tố sản xuất, vị trí địa lý, tài nguyênthiên nhiên và trình độ phát triển không đồng đều về lực lượng sản xuất… đã thúcđẩy sự trao đổi và phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh giữa cácquốc gia, đồng thời cùng với sự khác nhau giữa nhu cầu và khả năng tích luỹ vềvốn ở các nước đã làm gia tăng nhu cầu đầu tư ra nước ngoài để xâm nhập, chiếmlĩnh thị trường, tìm kiếm lợi nhuận… Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trườngquốc gia khác nhằm thu lợi nhuận nhưng cũng đồng thời chính hoạt động đầu tư đómang lại những lợi ích về kinh tế cho nước tiếp nhận đầu tư.Vì thế, có thể nói đâylà sự hợp tác mà cả hai bên tham gia đều cùng có lợi, vấn đề là đi tìm sự “cânbằng” về lợi ích
1.1.3 Các hình thức FDI đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1 Phân loại theo phương thức thực hiện :
Cho tới nay, FDI được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu là đầu tư mới(greenfield investment – GI) và mua lại hoặc sáp nhập (mergers and acquisitions –M&A) Đầu tư mới là việc các nhà đầu tư thành lập một doanh nghiệp mới ở nướcnhận đầu tư sau đó trực tiếp cung cấp vốn cho doanh nghiệp đó hoạt động Đây làphương thức truyền thống và cũng là hình thức chủ yếu để các nhà đầu tư ở cácnước kinh tế phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển Ngược lại, khônggiống như GI, M&A là việc các nhà đầu tư chuyển vốn vào nước nhận đầu tư thôngqua hình thức mua lại một phần hoặc toàn bộ hoặc sáp nhập các doanh nghiệp đanghoạt động ở nước nhận đầu tư Ở Việt nam, trong giai đoạn đầu của công cuộc mởcửa thì FDI chủ yếu được khuyến khích thực hiện theo phương pháp GI Bằng cáchnày, chính phủ Việt nam có thể kiểm soát được vấn đề phát triển nền kinh tế quốcdân (tập trung thu hút đầu tư vào những lĩnh vực cụ thể) mà không làm mất đi đặctính vốn có của nó là lấy doanh nghiệp nhà nước làm nòng cốt
1.1.3.2 Phân loại theo hình thức thực hiện :
Cùng với sự đa dạng của nên kinh tế thị trường, các nhà đầu tư cũng đã xâydựng được nhiều phương thức khác nhau nhằm thực hiện hành vi đầu tư của mình
Trang 11Các phương thức này chủ yếu để phân định rõ trách nhiêm, nghĩa vụ cũng nhưquyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài Các hình thức đầu tư thường thấy là :
Thành lập công ty 100% vốn nước ngoài : Theo hình thức này, nhà đầu tư
nước ngoài phải tự bỏ vốn ra, vận hành kinh doanh trên lãnh thổ nước tiếp nhậnđầu tư, theo pháp luật của nước sở tại Phương thức này đòi hỏi nhà đầu tư nướcngoài phải phải có những hiểu biết cụ thể về các yếu tố cơ bản như chính trị, pháp
lý, văn hoá, xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư Trong xã hội hiện đại thì vấn
đề này không hoàn toàn là một trở ngại cho các nhà đầu tư
Thành lập công ty liên doanh : Nhà đầu tư nước ngoài sẽ cùng với nhà đầu tư
trong nước góp vốn thành lập nên một công ty mới Công ty này sẽ hoạt động trênlãnh thổ nước tiếp nhận đầu tư, theo pháp luật của nước sở tại Liên doanh có thểbao gồm nhiều nhà đầu tư nước ngoài với nhiều nhà đầu tư trong nước Đây làphương thức phổ biến nhất ở Việt nam trong thời gian qua Tuy nhiên, thực tế chothấy sự hợp tác này không phải lúc nào cũng suôn sẻ và thường thì phía đối tác Việtnam do quản lý kém nên dần mất quyền kiểm soát vào tay đối tác nước ngoài
Mua phần vốn góp : Nhà đầu tư nước ngoài sẽ thông qua các kênh giao dịch
gián tiếp hoặc trực tiếp để mua phần vốn góp của một doanh nghiệp, từ đó cóquyền kiểm soát hoạt động cũng như hưởng lợi nhuận do hoạt động của doanhnghiệp đó mang lại Đây là một hình thức phổ biến trên thế giới nhưng hiện naychưa được áp dụng ở Việt nam
Ký hợp đồng hợp tác liên doanh (Business Co-operation Contract) : Nhà đầu
tư nước ngoài sẽ cùng với Chính phủ quốc gia tiếp nhận đầu tư ký hợp đồng về
thực hiện một hoặc nhiều dự án đầu tư vào lãnh thổ quốc gia đó Ngoài ra còn có
một số hình thức đặc biệt :
- BTO (Build Transfer Operate) : Theo hình thức này, nhà đầu tư nước ngoài
sẽ xây dựng sau đó chuyển giao quyền sỡ hữu công trình đó cho Chính phủ nước sởtại Chính phủ nước sở tại sẽ dành cho nhà đầu tư quyền tổ chức kinh doanh từcông trình đó trong một khoảng thời gian xác định trước để nhà đầu tư nước ngoài
có thể thu hồi lại vốn đầu tư cùng một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý
- BOT (Build Operate Transfer) : Theo đó nhà đầu tư nước ngoài xây dựng,tổ chức vận hành trong một khoảng thời gian nhất định sau đó chuyển giao lại choChính phủ nước sở tại quản lý tiếp Thường thì thời gian vận hành của nhà đầu tư
Trang 12được tính sao cho họ vừa đủ thu hồi vốn đầu tư cùng một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý từ
vụ đầu tư đó Vì thế, khi chuyển giao lại cho Chính quyền địa phương thì doanhnghiệp đó đã hết khấu hao rồi
- BT (Build Transfer) : Theo đó nhà đầu nước ngoài xây dựng sau đó chuyểngiao quyền sở hữu công trình đó cho Chính phủ nước sở tại Chính phủ nước sở tại
sẽ tạo điều kiền cho nhà đầu tư đó được thực hiện những dự án đầu tư khác nhằmthu hồi lại vốn đầu tư và một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý
Phương thức này thường được áp dụng đối với việc đầu tư chuyển giao côngnghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng như cầu, đường, mạng lưới điện, nước, viễn thông hay các công trình xã hội như trường học, bệnh viện Hiện nay, phương thức nàycòn được áp dụng cho cả đầu tư gián tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước
1.2 VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thế giớihiện đại, là một yếu tố quan trọng thúc đẩy toàn quá trình toàn cầu hoá Trênphương diện lý thuyết cũng như thực tiễn, khó có một lợi ích nào không đòi hỏimột chi phí nhất định FDI mang lại lợi ích nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro cho cảnước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Tác động của FDI được thể hiện:
1.2.1 Đối với nước chủ đầu tư
FDI giúp nước chủ đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cườngbành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế Phầnlớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các nước về thực chất hoạt độngnhư là những chi nhánh của các công ty mẹ ở chính quốc Thông qua việc xây dựngcác nhà máy sản xuất, chế tạo hoặc lắp ráp và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài (nhấtlà các địa bàn có giá trị “đầu cầu” để thâm nhập, mở rộng các thị trường có triểnvọng), các chủ đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, phụ tùng củacông ty mẹ ở nước ngoài Đồng thời đây còn là biện pháp thâm nhập thị trường hữuhiệu tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước, cũng như có thể thông quaảnh hưởng về kinh tế để tác động chi phối đời sống chính trị của nước tiếp nhậnđầu tư Nói cách khác, FDI tạo khả năng cho các nước chủ đầu tư kiểm soát vàthâm nhập vững chắc thị trường của bên nước nhận đầu tư hoặc từ đó mở rộng triểnvọng thị trường cho họ Thông qua FDI các nước chủ đầu tư khai thác những lợithế so sánh của nơi tiếp nhận đầu tư, giúp giảm giá thành sản phẩm (nhờ giảm giá
Trang 13nhân công, vận chuyển, các chi phí sản xuất khác và thuế), nâng cao sức cạnh tranhquốc tế, rút ngắn thời gian thu hồi vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũngnhư lợi nhuận của vốn đầu tư đồng thời cũng giảm bớt rủi ro đầu ra so với nếu chỉtập trung vào thị trường trong nước Hiện nay, trên thế giới, các nước tư bản pháttriển và những nước công nghiệp mới đã chuyển những ngành sử dụng nhiều laođộng sang các nước đang phát triển để giảm chi phí sản xuất Việc tổ chức sản xuấtvà tiêu thụ sản phẩm ở các nước sở tại cũng giúp cho các chủ đầu tư giảm chi phívận chuyển hàng hoá, tiết kiệm chi phí quảng cáo, tiếp thị…
FDI giúp cho các chủ đầu tư nước ngoài đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụngcông nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh Theo thuyết chu kỳ sống của sảnphẩm, thông qua FDI, các chủ đầu tư đã di chuyển một bộ phận sản xuất côngnghiệp phần lớn là máy móc ở giai đoạn lão hoá hoặc có nguy cơ bị khấu hao vôhình nhanh (trong xu hướng phát triển và đổi mới công nghệ sản phẩm ngày càngrút ngắn) sang các nước kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài thêm chu
kỳ sống của sản phẩm, cũng như để tăng sản xuất tiêu thụ, giúp thu hồi vốn và tăngthêm lợi nhuận FDI giúp các nước chủ đầu tư xây dựng được thị trường cung cấpnguyên vật liệu ổn định với giá cả phải chăng Nhiều nước nhận đầu tư có tàinguyên dồi dào, nhưng do hạn chế về tiền vốn, kỹ thuật, công nghệ cho nên nhữngtài nguyên chưa được khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả Thông qua việcđầu tư khai thác tài nguyên (nhất là dầu thô), các nước chủ đầu tư ổn định đượcnguồn nguyên liệu nhập khẩu phục vụ cho ngành sản xuất ở nước mình Việc đầu
tư ra nước ngoài còn ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của nước đầu tư Do việcchuyển một phần lợi nhuận về nước nên nó có ảnh hưởng tích cực, do lưu động vốn
ra bên ngoài nên nó có ảnh hưởng tiêu cực, tạm thời Trong những năm có đầu tư ranước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên và sẽ gây ra sự thâm hụttạm thời trong cán cân thanh toán Sự thâm hụt này dần dần được giảm bớt nhờviệc xuất khẩu tư bản và thiết bị, phụ tùng, máy móc… sau đó là dòng lợi nhuận tưbản khổng lồ đổ về nước Các chuyên gia ước tính thời gian hoàn vốn cho mộtdòng tư bản trung bình từ 5 đến 10 năm
Một yếu tố ảnh hưởng khác nữa là việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thấtnghiệp ở nước đầu tư Các nhà đầu tư tư bản đầu tư ra nước ngoài nhằm sử dụnglao động không lành nghề, giá rẻ ở các nước đang phát triển, vì thế nó làm tăng thấtnghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề ở nước đầu tư Cùng với đó nước
Trang 14chủ nhà lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho việc nhập khẩu trướcđây từ nước đầu tư càng làm cho nguy cơ thất nghiệp thêm trầm trọng Mặt khác,
do sản xuất và việc làm tại nước chủ nhà tăng lên mà nhập khẩu của họ cũng tăng,tất nhiên trong đó có nhập khẩu từ nước đầu tư Điều đó lại có tác động làm tăngviệc làm cho công nhân lành nghề, các bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý Bởi vậy màFDI đã làm thay đổi cơ cấu việc làm trong các nước đầu tư Như vậy, có thể thấttác động của FDI đối với nước chủ đầu tư là rất lớn Tuy nhiên, nếu việc đầu tư ranước ngoài quá nhiều có thể sẽ làm giảm nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triểntrong nước với những hậu quả có thể dễ dàng nhận thấy của nó Mặt khác, nếukhông nắm vững và xử lý tốt các thông tin thị trường và luật pháp của nước sở tại,thì chủ đầu tư nguy cơ gặp rủi ro cao trong quá trình đầu tư
1.2.2 Đối với nước nhận đầu tư
Từ thập kỷ 80 đến nay, FDI vào các nước đang phát triển đã có những chuyểnbiến về chất, xét cả về động cơ đầu tư cũng như mong muốn của nước chủ nhà.Nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng toàn cầu hoá và các nước đều nhận thứcđược tính tất yếu của sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế FDI trở thành một yếutố quan trọng của tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia Tuynhiên ảnh hưởng của FDI đến các nước đang phát triển sẽ không theo một khuônmẫu chung ảnh hưởng này vào từng nước sẽ khác nhau, thậm chí từng ngành, từngdoanh nghiệp cũng sẽ khác nhau Nhìn chung có thể khái quát những lợi thế và hạnchế của FDI đối với nước nhận đầu tư là các nước đang phát triển như sau:
Thứ nhất : FDI là lực lượng cơ bản cho sự hội nhập nền kinh tế dân tộc vào
nền kinh tế thế giới
Hội nhập nền kinh tế thế giới có nghĩa là định hướng phát triển kinh tế từ thaythế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu Các nghiên cứu về quá trình phát triểnkinh tế của các nước đang phát triển cho thấy một trong những yếu tố đảm bảo chochiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu thành công là thu hút FDI Điềunày, về mặt lý thuyết là do FDI gắn bó chặt chẽ với thương mại, và về mặt thực tếlà do các nước đang phát triển rất thiếu kinh nghiệm và khả năng thâm nhập thịtrường nước ngoài Việc thu hút FDI cho phép nước tiếp nhận đầu tư tham gia sâurộng hơn vào phân công lao động quốc tế (nhất là khi doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài là chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia lớn trên thế giới) và trongnước (thông qua việc phát triển các doanh nghiệp vệ tinh của các doanh nghiệp có
Trang 15vốn đầu tư nước ngoài) Hơn nữa, bằng kinh nghiệm, công nghệ, vốn từ FDI, sẽcho phép các nước tiếp nhận FDI tận dụng và phát huy được các lợi thế về tàinguyên, vị trí địa lý, nguồn lao động… của mình Đặc biệt nhờ các kênh tiêu thụsẵn có của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhờ sự cải tiến chất lượngvà danh mục hàng hoá xuất khẩu sản xuất trong nước với sự giúp sức và xúc tiếncủa FDI, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện tiếp cận, mở mang thị trường quốc tế,cũng như mở rộng ngay thị trường nội địa Một ví dụ điển hình về điều này làngành công nghiệp sản xuất ô tô ở các nước Đông Nam á Các hãng sản xuất ô tônổi tiếng như Toyota, Honda, Nissan, Mazda đều thực hiện chiến lược lập mạnglưới sản xuất xuyên biên giới, theo đó các điểm sản xuất và lắp ráp đều được đặt ởcác nước khác nhau và được gắn bó với nhau thông qua buôn bán nội bộ công ty.Quá trình này được đẩy mạnh bởi sự tự do hoá thương mại trong khu vực
Có thể nói, FDI chính là một trong các phương cách hiệu quả nhất để cácnước, nhất là các nước đang phát triển tiếp cận nhanh, rẻ với các thành quả tiến bộchung của thế giới không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong nhiều lĩnh vựckhác của xã hội, và đóng vai trò như một “cú huých” ban đầu tạo đà cho sự cấtcánh của nền kinh tế
Thứ hai : FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý
kinh doanh của nước ngoài
Khi nói đến việc bắt nhịp vào làn sóng chuyển dịch cơ cấu như trên là đã hàm
ý việc chuyển giao công nghệ Đối với các nước phát triển thì FDI góp phần bổsung và hoàn thiện công nghệ vốn có của mình, còn đối với các nước đang pháttriển trình độ công nghệ lạc hậu, thấp kém thì FDI được coi là phương tiện hữuhiệu để nhập công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoài vào bằng các con đườngkhác nhau Hoặc, thông qua việc mua bằng sáng chế phát minh và cải tiến côngnghệ nhập khẩu thành công nghệ phù hợp cho mình (như Nhật Bản và Hàn Quốc
đã đi) Nó giúp các nước này tạo lập được nền tảng công nghệ riêng và giảm mứcđộ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài
Hoặc, khi triển khai dự án đầu tư vào một nước, chủ đầu tư nước ngoài khôngchỉ chuyển vào đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc,thiết bị, nguyên vật liệu (còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình như côngnghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thị trường… (còn gọi làcông nghệ mềm) cũng như đưa các chuyên gia nước ngoài vào hoặc đào tạo các
Trang 16chuyên gia bản xứ về các lĩnh vực đó Điều này cho phép các nước tiếp nhận đầu tưkhông chỉ nhập khẩu công nghệ đơn thuần mà còn nắm vững cả kỹ năng nguyên lývận hành, sửa chữa, mô phỏng và phát triển nó, nhanh chóng tiếp cận được côngnghệ hiện đại ngay cả khi nền tảng công nghệ quốc gia chưa được tạo lập đầy đủ.Một thực tế mà ai cũng phải công nhận là vốn nước ngoài đang tăng phạm vi hoạtđộng trên qui mô toàn cầu, nói cách khác là quá trình quốc tế hoá tư bản đang diễn
ra mạnh mẽ Trong bối cảnh đó, việc chuyển giao công nghệ thông qua FDI của cáccông ty xuyên quốc gia đưa vào có vai trò to lớn trong việc kích thích các doanhnghiệp trong nước tự nâng cao trình độ công nghệ và thông qua chuyển giao côngnghệ tạo nhiều sản phẩm mới kiểu dáng đẹp, chất lượng cao, nâng cao sức cạnhtranh của bản thân cả trên thị trường trong nước lẫn quốc tế Chẳng hạn, ở Thái Lanvào năm 1982, có tới 80% số hợp đồng chuyển giao công nghệ là do các chi nhánhhoặc các xí nghiệp thành viên địa phương của các hãng nước ngoài thực hiện Vớihình thức doanh nghiệp liên doanh, nước chủ nhà tham gia quản lý cùng các nhàđầu tư nước ngoài cho nên có điều kiện tiếp cận và học tập kinh nghiệm quản lýtiên tiến của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh, nâng dần kiến thức kinh doanhhiện đại của cán bộ và tay nghề đội ngũ công nhân như: kinh nghiệm xây dựng vàđánh giá dự án, kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp, quản lý tài chính,kế toán, quản lý công nghệ, nghiên cứu thị trường, nghệ thuật tiếp thị, thông tinquảng cáo, tổ chức mạng lưới dịch vụ…
Thứ ba : FDI giúp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
Khác với những thập kỷ đầu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai khi đầu tưnước ngoài vào các nước đang phát triển chủ yếu nhằm khai thác các nguồn tàinguyên thiên nhiên phục vụ cho các ngành công nghiệp ở chính quốc, ngày nayFDI đang trở thành một yếu tố tạo ra sự chuyển biến cơ cấu kinh tế tích cực ở cácnước nhận đầu tư Bằng sự chuyển giao những công nghệ và lĩnh vực sản xuất đãmất sức cạnh tranh ở chính quốc nhưng còn mới và khá hiện đại đối với nước tiếpnhận đầu tư, FDI góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế nước tiếp nhận đầu tư theohướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và quốc tế hoá Mặc dù tỷ trọng FDI trongtổng vốn đầu tư một số nước có thể không cao, nhưng nó thường chiếm tỷ trọng lớntrong đầu tư tài sản cố định trong một số ngành của nền kinh tế ở những nền kinhtế mới công nghiệp hoá, đầu tư của các công ty xuyên quốc gia tập trung vào lĩnh
Trang 17vực chế tạo Ví dụ, ở Singapore, các công ty nước ngoài chiếm từ 66-75% số tư bảnđầu tư vào công nghiệp chế tạo trong khoảng thời gian 1977-1981; ở Thái Lan năm
1988 FDI vào nông nghiệp, khai thác mỏ, thăm dò dầu khí chiếm 12,2% còn gần90% tập trung vào công nghiệp Điều này giải thích tại sao FDI đã đóng vai trò tíchcực trong việc thúc đẩy quá trình sản xuất xuất khẩu sản phẩm công nghiệp ở TháiLan
Thứ tư : FDI ảnh hưởng tích cực đối với cán cân thanh toán
Sự tác động của FDI đối với cán cân thanh toán các nước đang phát triển vẫncòn đang được các nhà kinh tế bàn luận Nếu xét FDI trong mối quan hệ với cácnguồn vốn nước ngoài khác như tín dụng quốc tế, chứng khoán quốc tế, ODA… thìFDI cho phép các nước đang phát triển tránh được gánh nặng nợ nần và do đó ảnhhưởng tích cực đến cán cân thanh toán trong thời gian trước mắt Tuy nhiên về dàihạn, để phân tích ảnh hưởng của FDI đến cán cân thanh toán như thế nào thì cầnphải xem xét trong một thời kỳ nhất định với các thông số kiểm soát được Dù xemxét dưới góc độ nào, các nhà kinh tế đều có một kết luận là nhìn chung sự gia tăngdòng FDI có ảnh hưởng tích cực đối với cán cân thanh toán của các nước đang pháttriển, và điều quan trọng hơn nữa là FDI có hiệu ứng tích cực đối với toàn bộ hệthống tài chính của nước nhận đầu tư
Thứ năm : FDI bổ sung nguồn vốn cho sự phát triển, củng cố sức mạnh đồng
bản tệ, và thúc đẩy sự phát triển thị trường tài chính trong nước
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, các nước đang phát triển đều bị thiếuvốn đầu tư do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ nên rất cần nguồn vốn từbên ngoài bổ sung cho vốn đầu tư phát triển Loại hình FDI không qui định mứcđầu tư vốn tối đa mà chỉ qui định mức tối thiểu do vậy cho phép các nước sở tạikhai thác được nguồn vốn bên ngoài, làm tăng thêm nguồn lực để tăng trưởng vàphát triển kinh tế Nguồn vốn FDI có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhaucủa đời sống kinh tế - xã hội và thường là vốn đầu tư dài hạn, do các nhà đầu tưnước ngoài “tự làm, tự chịu”, nên có hiệu quả để tăng trưởng kinh tế bền vững.Hơn nữa, nhờ ròng ngoại tệ và các nguồn lực từ ngoài đưa vào làm gia tăng sức sảnxuất trong nước, tạo cơ sở vật chất kinh tế để củng cố sức mạnh đồng bản tệ
Cùng với việc bổ sung thêm nguồn vốn từ nước ngoài, FDI còn có tác độngtích cực đến sự phát triển của thị trường tài chính nước nhận đầu tư, thể hiện qua
Trang 18nhu cầu tăng huy động và tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư từ nguồn vốn nội địa, cũngnhư thúc đẩy và trợ giúp sự hình thành các thể chế tài chính như hệ thống ngânhàng, thị trường chứng khoán Tuy vậy, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau trong việcđánh giá vai trò của FDI đối với sự phát triển của thị trường tài chính ở các nướcđang phát triển Chẳng hạn ở Trung Quốc đã có ý kiến cho rằng tỷ lệ vốn nội địacao hơn các liên doanh như vậy thì FDI là hình thức thu hút vốn nhà nước hay đểnước ngoài thu hút vốn nội địa Nếu như vấn đề rộng hơn, khi xem xét hiệu ứngcủa FDI đối với cán cân thanh toán thì chính tỷ lệ cao của vốn nội địa đã làm giảmnhững nguy cơ mất thăng bằng cán cân thanh toán trong tương lai Hơn nữa, tácđộng của FDI ở đây không chỉ thể hiện ở mức huy động vốn nội địa mà điều cơ bảnrất cần thiết đối với các nước đang phát triển là những kích thích tạo lập một thịtrường vốn năng động là yếu tố không chỉ cần thiết cho FDI mà cho chính các nhàđầu tư trong nước
Thứ sáu : FDI giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp và giúp tăng thu
nhập, tạo phong cách và tư duy lao động mới ở các nước đang phát triển
Như đã nêu ở trên, thông qua FDI, mục tiêu đầu tư của các công ty xuyên quốcgia là thu lợi nhuận cao và tìm kiếm thị trường mới, củng cố chỗ đứng và duy trì đểcạnh tranh của các công ty trên thị trường quốc tế Các công ty này đặc biệt chútrọng đến việc tận dụng các nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư Thôngqua việc tạo ra các doanh nghiệp mới hoặc làm tăng quy mô của các đơn vị hiện có,FDI đã tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động, đặc biệtđối với nhiều nước đang phát triển nơi có nguồn lao động dồi dào nhưng thiếu vốn
để khai thác và sử dụng Kinh nghiệm ở các nước cho thấy FDI vào các ngành sảnxuất hàng xuất khẩu sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Song song vớiviệc tạo việc làm FDI còn làm tăng thu nhập cho người lao động bởi tiền lương trả
từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường lớn hơn các doanh nghiệptrong nước góp phần làm mặt bằng tiền lương trong nước tăng lên Thông qua FDI,một bộ phận dân cư có thể có mức thu nhập cao và kéo theo đó là mức tiêu dùng vàtiết kiệm cao thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển cũng như mở rộng hoạtđộng tái đầu tư Như vậy rõ ràng là qua sự phân tích ở trên ta thấy việc tiếp nhậnvốn FDI mang lại những lợi ích to lớn cho nước tiếp nhận đầu tư trong quá trìnhtăng trưởng và phát triển kinh tế Với những ưu điểm nổi bật của mình, việc thu hútngày càng nhiều FDI đã trở thành chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Trang 19Tuy nhiên, nguồn vốn nước ngoài dù quan trọng đến đâu cũng không thể đóng vaitrò quyết định đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì xét về lâu dài
để xem xét nền kinh tế của một quốc gia có hùng mạnh hay không thì phải xem xétbản thân nội lực nền kinh tế của quốc gia đó
Trang 20CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH THÁI BÌNH
2.1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ THÁI BÌNH
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị tri địa lý
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam.Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội110 km về phía đôngnam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía tây nam
Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố:
Hải Dương ở phía bắc,
Hưng Yên ở phía tây bắc,
Hải Phòng ở phía đông bắc,
Hà Nam ở phía tây,
Nam Định ở phía tây và tây nam
Phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ)
Theo quy hoạch phát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình Thái Bình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến
từ 1-2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam
Thái Bình có bờ biển dài 52 km Có 4 con sông chảy qua:
Phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km
Phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km
Phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km
Sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tâysang đông dài 65 km
Các sông này tạo ra 4 cửa sông lớn: Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân Do đặcđiểm sát biển nên chúng đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mứcnước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng
Trang 21giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đấtliền từ 15-20 km.
2.1.1.3 Khí hâu, thuỷ văn
Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau
Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhậnmột lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn,
đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển
2.1.1.4 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở Thái Bình rất phong phú Mật độsông ngòi dày đặc chứa và lưu thông một lượng nước mặt khổng lồ Nguồn cungcấp hàng tỷ m3 từ các con sông lớn như sông Hồng, sông Trà Lý, sông Thái Bình,cộng vào đó là lượng nước mưa nhận được hàng năm cũng rất lớn (hàng tỉ tấn).Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân sử dụng tài nguyên nước mặt phục vụ cho sinhhoạt và sản xuất ở mọi nơi trong tỉnh Các dòng chảy mặt đã được sử dụng tưới tiêucho đồng ruộng thông qua hệ thống thủy lợi: mương, máng tưới tiêu, hệ thống cốngtự chảy
Hệ thống dòng chảy mặt, nhất là hệ thống sông ngòi nội đồng chảy quanh co,ngang dọc trên đất Thái Bình làm thành cảnh quan, tạo ra một khung cảnh sôngnước, đồng ruộng, vườn cây trái, hài hòa, yên bình, thơ mộng
Nước ngầm tầng mặt của Thái Bình, về mùa khô chỉ đào sâu xuống 1-1,5m,mùa mưa chỉ đào sâu chưa đến 1m Tuy nhiên, đây chỉ là nước ngầm trên mặt, nếuđào sâu xuống sẽ gặp nước mặn và chua, độ trong không đảm bảo, không thể dùngtrong sinh hoạt ngay được mà cần phải xử lý Càng sâu trong đất liền (QuỳnhPhụ, Hưng Hà) thì mức độ mặn, chua giảm hơn
2.1.2 Dân số
Năm 2004, Thái Bình có 1.842.800 người với mật độ dân số 1.195 người/km².Dự báo dân số năm 2010 là 1.902.400 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giaiđoạn 2006 -2010 là 0.86 %/năm
Thành phần dân số:
Trang 22Nông thôn: 90,1 %
Thành thị: 9,9 %
Phấn đấu đạt tỉ lệ đô thị hoá 22,3% năm 2015, đến năm 2020 tỉ lệ đô thị hoáđạt khoảng 40%, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng67%
2.1.3 Kinh tế – xã hội
2.1.3.1 Hành chính
Tỉnh Thái Bình có 287 đơn vị cấp xã gồm 10 phường, 9 thị trấn và 268 xã.Thái Bình được chia thành 7 huyện và 1 thành phố trực thuộc là:
Thành phố Thái Bình (tỉnh lỵ) gồm 10 phường và 9 xã
Huyện Đông Hưng gồm thị trấn Thị trấn Đông Hưng và 43 xã
Huyện Hưng Hà gồm thị trấn Hưng Hà (huyện lỵ), thị trấnHưng Nhân và 33
xã
Huyện Kiến Xương gồm thị trấn Thanh Nê và 36 xã
Huyện Quỳnh Phụ gồm thị trấn Quỳnh Côi, thị trấn An Bài và 36 xã
Huyện Thái Thụy gồm thị trấn Diêm Điền và 47 xã
Huyện Tiền Hải gồm thị trấn Tiền Hải và 34 xã
Huyện Vũ Thư thị trấn Vũ Thư và 29 xã
Từ nay tới năm 2020 sẽ thành lập 4 thị xã : Diêm Điền - Đồng Châu - HưngNhân - An Bài
2.1.3.2 Kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2010 đạt gần 12.500 tỉ đồng (chỉ số giánăm 1994),nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2006 - 2010 bình quân 11%.Tốc độtăng trưởng kinh tế đạt 12,3% so với năm 2009 là tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao ởkhu vực đồng bằng sông Hồng
Trang 23Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình phát triển theo hướng tăng dần tỷ trọng côngnghiệp:
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình năm 2001
Nguồn: Tổng hợp thống kê về FDI của sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình năm 2005
Nguồn: Tổng hợp thống kê về FDI của sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình
Trang 24Biểu đồ 2.3: Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình năm 2011
Nguồn: Tổng hợp thống kê về FDI của sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình
GDP tỉnh Thái Bình bình quân năm 2010 là 16.8 triệu đồng/người phấn đấunăm 2015 là 43 triệu đồng/người
Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn năm 2009 là 310 triệu USD , năm 2010 là430triệu USD , dự liến năm 2015 là 818 triệu USD
Tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hôi tới 2010 là 27.550 tỉ đồng
Thu ngân sách năm 2010 đạt 2043 tỷ đồng , năm 2011 thu 2500 tỷ đồng
Trung tâm Điện lực Thái Bình tại xã Mỹ Lộc - Huyện Thái Thụy với vốn đầu
tư 2.1 tỉ USD, diện tích 254ha Dự án có công suất 1800 MW, dự kiến Nhà máy 1
sẽ hoàn thành vào năm 2013 - 2014 và Nhà máy 2 hoàn thành vào năm 2015
Tập đoàn dầu khí quốc gia sẽ triển khai 15 dự án thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau trên địa bàn Thái Bình : Dự án Trung tâm Điện Lực, dự án khoan thăm dò dầukhí, dự án xây dựng kho xăng dầu tại Xã Hoà Bình - Vũ Thư quy mô chứa 6000m³,dự án xây dựng hệ thống trạm kinh doanh nhiên liệu, dự án xây dựng văn phòngđại diện Công ty dầu khí Sông Hồng, dự án Trung tâm thương mại Thành Phố TháiBình, dự án Khách sạn 4 sa, dự án dây truyền cán thép
Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Namnăm 2011, tỉnh Thái Bình xếp ở vị trí thứ 55/63 tỉnh thành
Trang 252.1.4 Môi trường pháp lý
2.1.4.1 Các văn bản liên quan đến FDI
Cơ chế quản lý đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là quản lý theoluật Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại doanh nghiệpkhông có bộ chủ quản như doanh nghiệp nhà nước nên mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các bên tham giahợp đồng hợp tác kinh doanhchỉ theo luật Ý thức được tầm quan trọng chiến lượccủa FDI đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, năm 1987 Quốc hội nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiêntại Việt Nam, một năm sau sự khởi đầu của chính sách mở cửa nền kinh tế (mở ramột thời kỳ mới của nền kinh tế Việt Nam) Từ 6/2006, lĩnh vực đầu tư trức tiếpnước ngoài được quy định trong Luật Đầu tư Việt Nam
Trên cơ sở đó, luật sửa đổi, bổ sung tập trung trước hết vào việc tháo gỡ kịp thờinhững khó khăn, cản trở đối với doanh nghiệp có vốn FDI đã được cấp phép, tạo điềukiện thu hút nhiêù dự án đầu tư mới với chất lượng cao hơn, đồng thời làm xích gầnthêm một bước giữa các qui định pháp luật về đầu tư trong nước và FDI để tiến tới xâydựng một luật đầu tư thống nhất
2.1.4.2 Các cấp quản lý
Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình (UBND) thống nhất thực hiện quản lý nhànước đối với các dự án có vốn FDI trên địa bàn tỉnh cụ thể là:
Sở Kế hoạch và đầu tư Thái Bình được UBND tỉnh uỷ quyền quản lý nhànước về FDI và hợp tác đầu tư, là cơ quan đầu mối giải quyết mọi thủ tục liên quanđến đầu tư của chủ đầu tư
Sở Kế hoạch và đầu tư là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh có chức năngtham mưu tổng hợp về qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thựchiện các chủ trương biện pháp quản lý đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại địaphương Làm đầu mối phối hợp giữa các sở, ngành ở tỉnh trong công tác kế hoạchvà đầu tư Chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND tỉnh, sự chỉ đạo về chuyên môn vànghiệp vụ của Bộ Kế hoạch và đầu tư
Sở Kế hoạch và đầu tư có các nhiệm vụ sau:
Trang 26- Phổ biếnvà hướng dẫn thực hiện pháp luật nhà nước về hoạt động FDI trênđịa bàn tỉnh, hướng dẫn các chủ đầu tư tìm hiểu môi trường đầu tư, thông tin nhữngđiều kiện đầu tư.
- Hướng dẫn, giới thiệu địa điểm đầu tư cho nhà đầu tư trên cơ sở phù hợpqui hoạch phát triển kinh tế của địa phương
- Phổ biến nội dung, trình duyệt và công bố danh mục dự án kêu gọi đầu tưtrong nước và nước ngoài vào địa bàn tỉnh
- Là đầu mối trực tiếp nhận hồ sơ dự án của các nhà đầu tư trong và ngoàinước muốn đầu tư trên địa bàn tỉnh, lập hồ sơ trình UBND tỉnh cấp phép đầu tưtheo thẩm quyền
- Chủ trì cùng các ngành liên quan, tổ chức thẩm định dự án, xác định giáthuế đất theo qui định, cùng sở Tài chính thẩm định mức đền bù để tham mưu choUBND tỉnh xem xét, quyết định
- Từng quý, 6 tháng, 9 tháng và từng năm có văn bản báo cáo gửi UBNDtỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình thực hiện kế hoạch của địa phương vàhoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI Kiến nghị việc bồi dưỡng, nâng caonghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác kế hoạch và đầu tư của tỉnh
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoàitrên địa bàn tỉnh
Các sở, ngành trong tỉnh có liên quan căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đượcgiao phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và đầu tư giải quyết kịp thời các vấn đềthuộc thẩm quyền
Ngoài ra, ban quản lý KCN là cơ quan được Bộ Kế hoạch và đầu tư uỷ quyềnquản lý hoạt động FDI trong KCN của tỉnh
Trong Sở Kế hoạch và đầu tư, Phòng Hợp tác và Kinh tế Đối ngoại có tráchnhiệm quản lý FDI trên địa bàn tỉnh
2.1.4.3 Thủ tục quản lý dự án FDI
Với quyền hạn và trách nhiệm nêu trên, ngày 23/11/2006, UBND tỉnh đã raquyết định số 68/2006/QĐ-UB, quyết định thực hiện “cơ chế một cửa” về hợp tác đầu
tư trong nước và nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thái Bình Đến ngày 11 tháng 12 năm
2009, UBND Thái Bình ra quyết định số 19/2009/QĐ-UB quy định về thực hiện “cơ
Trang 27chế một cửa liên thông” của tỉnh trong hoạt động đầu tư tại Thái Bình Quyết định nàyqui định nội dung chủ yếu để tổ chức thực hiện quy chế một cửa liên thông trong việcxúc tiến, quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thái Bình trên cơ sở tuân thủLuật Đầu tư Việt Nam, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và các vănbản pháp luật có liên quan để cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường thôngthoáng, thuận lợi nhất cho đầu tư phát triển.
"Cơ chế một cửa liên thông" trong quyết định này được thống nhất hiểu như
sau:
-Cơ chế một cửa luên thông là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá
nhân trong nước và nước ngoài thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quanhành chính Nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếpnhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộphận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước
- Cơ chế một cửa liên thông trong hoạt động đầu tư tại Thái Bình được thựchiện tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa liên thông của tỉnhtrong hoạt động đầu tư tại Sở Kế hoạch và Đầu tư
Nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong lĩnh vực đầu tư:
- Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật
- Công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ sơ và thờigian giải quyết
- Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
- Giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, cá nhân
- Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hành chính Nhà nước đểgiải quyết công việc của tổ chức, cá nhân
Thủ tục hành chính liên thông trong hoạt động đầu tư tại Thái Bình
Các thủ tục đầu tư:
- Chấp thuận đầu tư
- Cấp Giấy chứng nhận đầu tư
Các thủ tục về đất:
Trang 28- Quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
- Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Thủ tục về xây dựng và phòng cháy chữa cháy
- Cấp Giấy phép xây dựng
- Thẩm quyền thiết kế phòng cháy và chữa cháy
2.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI TỈNH THÁI BÌNH
2.2.1 Hoạt động thu hút nguồn vốn FDI tại tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005
2000-Thái Bình là tỉnh sản xuất nông nghiệp chủ yếu, tiềm năng về tài nguyên,khoáng sản không nhiều, thu nhập dân cư thấp, quy mô các doanh nghiệp nhỏ bé
Do vậy, giai đoạn 2002-2005, Thái Bình chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư, dự ánlớn Tuy nhiên, tỉnh đã đạt được một số kết quả ban đầu trong việc tăng cường thuhút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài
Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 378/2001/QĐ-UB ngày7/5/2001 và sau đó là Quyết định số 52/2002/QĐ-UB về một số chính sách khuyếnkhích đầu tư tại tỉnh Các chính sách ra đời đã bước đầu tạo môi trường đầu tư cởimở, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước Do đó, giai đoạn 2000-2005, đã có
15 dự án được cấp giấy phép đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế – xã hội, thu hút nhiêu lao động, khai thác được tiềm năng phát triển kinh tế– xã hội của tỉnh, góp phần tăng nguồn thu ngân sách địa phương
Đến cuối năm 2005, trên địa bàn tỉnh Thái Bình có 18 dự án đầu tư nước ngoàiđược cấp giấy phép đầu tư đang còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký gần 60 triệuUSD, trong đó vốn pháp định là 25,6 triệu USD (có danh mục đính kèm), thu hút12.262 lao động Trong số đó có 11 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động sản xuấtkinh doanh, 6 doanh nghiệp đang triển khai thủ tục sau cấp phép và xây dựng, 1doanh nghiệp chưa triển khai thực hiện
Các dự án trên gồm có 17 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 01 doanhnghiệp liên doanh và đầu tư vào những lĩnh vực chủ yếu sau : 07 dự án sản xuấtkinh doanh hàng dệt may, 06 dự án sản xuất cơ khí, 01 dự án sản xuất ắc quy, 01dự án sản xuất thuốc bệnh tằm, 01 dự án sản xuất kim châm cứu triệt trùng, 01 dự
Trang 29án xây dựng kinh doanh CSHT khu công nghiệp và 01 dự án xây dựng trung tâmthương mại Tình hình thực hiện của các dự án án trên như sau :
- Các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm : Công
ty May Lan Lan, Công ty TNHH Ivory Việt Nam, Công ty TNHH Đại Thái, Công
ty ắc quy Kornam, Công ty cổ phần hữu hạn khai thác khu công nghiệp Đài Tín,Công ty TNHH Poong Shin Vina, Công ty TNHH TAV, Công ty Bình Giang, Công
ty TNHH công nghiệp HUNG YI và Công ty TNHH Tân Đài Việt Nhìn chung, cácdoanh nghiệp đã và đang hoạt động ổn định và phát triển, đặc biệt một số doanhnghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tốt và có nhu cầu mở rộng dự án nhưCông ty Ivory, Công ty TAV, Công ty Poong Shin Vina Năm 2005, các doanhnghiệp này đã đóng góp trên 28 triệu USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh(chiếm 28,6%) và trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy tăng kimngạch xuất khẩu toàn tỉnh
- Các dự án đang triển khai thực hiện bao gồm : Công ty CP HH công nghiệpchính xác Âu Lực, Công ty TNHH Kaos Việt Nam, Công ty TNHH Yang Shin,Công ty Hanul Nhìn chung các doanh nghiệp này đang đẩy nhanh tiến độ triểnkhai các thủ tục sau cấp phép và xây dựng các hạng mục công trình nhằm đi vàohoạt động trong năm 2006
- Riêng dự án xây dựng Trung tâm dịch vụ và thương mại Đài Loan đã đượccấp giấy phép đầu tư gần 2 năm nhưng đến nay vẫn chưa và không có khả năngtriển khai thực hiện
Nhìn chung nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọng đốivới sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội địa phương : tăng kim ngạch xuất khẩu(chiếm trên 28% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh), thu hút trên 9.000 lao độngvà có đóng góp cho nguồn thu ngân sách địa phương
Tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế sau :
- Các dự án đầu tư vào Thái Bình ít (18 dự án), quy mô các doanh nghiệp nhỏ
bé (3,3 triệu USD/dự án) và tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanhhàng may mặc (7/18 dự án), chưa thu hút được có các dự án có quy mô đầu tư lớn,trình độ công nghệ cao hiện đại vào tỉnh