1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp tăng cường hợp tác kinh tế việt nam thái lan

64 882 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Thái Lan là các nước công nghiệp pháttriển: Mỹ, Canada, EU, Nhật Bản giống như đa phần các nước ASEAN khác.Mậu dịch trong khối ASEAN cũng gia tăng đáng k

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG 3

DANH MỤC HÌNH 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN 3

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM THÁI LAN 20

2.1 CÁC HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN 20

2.2 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN TRƯỚC NĂM 1995 20

2.3 QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – THÁI LAN TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY 22

2.3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan 23

2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan 25

Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan 25

2.3.3 Đánh giá về quan hệ thương mại Việt Nam – Thái Lan từ 1995 đến nay 30

2.4 QUAN HỆ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – THÁI LAN 35

2.4.1 Thái Lan đầu tư vào Việt Nam 35

2.4.2 Việt Nam đầu tư vào Thái Lan 41

2.4.3 Đánh giá chung về quan hệ đầu tư Việt Nam – Thái Lan 41

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN 43

3.1 CÁC GIẢI PHÁP CHUNG ĐỂ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ 43

3.1.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý và cải cách thủ tục hành chính 43

3.1.2 Nâng cấp cơ sở hạ tầng 44

3.2 CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG THÁI LAN 44

Trang 2

3.2.1 Phát triển các ngành hàng xuất khẩu chủ lực 44

3.2.2 Gắn nhập khẩu công nghệ với xuất khẩu 48

3.2.3 Đẩy mạnh công tác xúc tiến xuất khẩu 49

3.2.4 Phát triển nguồn nhân lực 50

3.2.5 Đẩy mạnh áp dụng thương mại điện tử trong kinh doanh 51

3.2.6 Nghiên cứu thị trường Thái Lan 52

3.3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TỪ THÁI LAN .53

KẾT LUẬN 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 2

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan qua các năm

Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ 1972– 1979

Bảng 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Thái Lan thời kỳ 1986 –1990

Bảng 2.3 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Thái Lan thời kỳ 1995 –2011

Bảng 2.4 Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan

Bảng 2.5 Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan

Bảng 2.6 Đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 1995 – 1999Bảng 2.7 Đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 2004 – 2010

DANH MỤC HÌNH

Biểu đồ 1.1 Tốc độ tăng trưởng của Thái Lan qua các năm

Biểu đồ 1.2 Cơ cấu kinh tế theo ngành của Thái Lan

Biểu đồ 1.3 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Thái Lan 2008 - 2010

Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan giai đoạn

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã vàđang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Phù hợp với xu thế đó, từnăm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hộinhập kinh tế quốc tế với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đốingoại Trên cơ sở đó, quan hệ láng giềng với các nước trong khu vực, trong đó

có Thái Lan, luôn được coi là mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam

Thực tế Việt Nam và Thái Lan đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ rất sớmnhưng phải đến khi Việt Nam gia nhập vào ASEAN thì quan hệ ngoại giao, đặcbiệt là quan hệ kinh tế giữa hai nước mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ Mặc dùvậy, mối quan hệ này được đánh giá là còn khá khiêm tốn so với tiềm năng sẵn

có của nó Nếu được khai thác một cách có hiếu quả thì mối quan hệ này hứahẹn sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho cả hai bên

Xuất phát từ thực tế trên, em chọn đề tài “ Giải pháp tăng cường hợp táckinh tế Việt Nam – Thái Lan” để làm chuyên đề tốt nghiệp của mình nhằm đisâu tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn nữa về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ

đó đề xuất những giải pháp tăng cường hơn nữa mối quan hệ này

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là quan hệ thương mại và đầu tư củaViệt Nam và Thái Lan

Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: về mặt không gian, chuyên đề tậptrung vào mối quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai quốc gia là Việt Nam vàThái Lan; về mặt thời gian là giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập ASEANnăm 1995 cho đến nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử làm phương pháp luận Đồng thời, phương pháp thống kê, phương pháp phântích tổng hợp cũng được sử dụng để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn

4 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài lời mở đầu, lời kết, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo thìchuyên đề gồm có ba phần như sau:

Trang 6

Chương 1 Tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác kinh tế

Việt Nam – Thái Lan

Chương 2 Thực trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Thái Lan Chương 3 Các giải pháp tăng cường hợp tác kinh tế Việt Nam – Thái Lan

Trang 7

CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG

HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN

1.1 TỔNG QUAN VỀ THÁI LAN

1.1.1 Vị trí địa lý

Thái Lan là một quốc gia nằm ở vùng Đông Nam Á, phía Bắc giáp Lào vàMyanma, phía Đông giáp Lào và Campuchia, phía Nam giáp vịnh Thái Lan vàMalaysia, phía Tây giáp Myanma và biển Andaman Lãnh hải Thái Lan phíaĐông Nam giáp với lãnh hải Việt Nam ở vịnh Thái Lan, phía Tây Nam giáp vớilãnh hải Indonesia và Ấn Độ ở biển Andaman

Thái Lan có diện tích 513.000 km2 (tương đương diện tích Việt Nam cộngvới Lào) lớn thứ 51 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á sau

Indonesia và Myanma (Nguồn: world-factbook/geos/th.html)

https://www.cia.gov/library/publications/the-Thái Lan là mái nhà chung của một số vùng địa lý khác nhau, tương ứngvới các vùng kinh tế Phía Bắc có địa hình đồi núi, với điểm cao nhất (2.576 m)

là Doi Inthanon Phía Đông Bắc là Cao nguyên Khorat có biên giới tự nhiên, vềphía đông là sông Mekong - đây là vùng trồng nhiều sắn nhất của Thái Lan dokhí hậu và đất đai phù hợp với cây sắn Trung tâm của đất nước chủ yếu là vùng

Trang 8

đồng bằng sông Chao Phraya đổ ra vịnh Thái Lan Miền Nam là eo đất Kra mởrộng dần về phía bán đảo Mã Lai.

Tiếng Thái là ngôn ngữ chính ở Thái Lan, ngoài ra Tiếng Anh là ngônngữ thứ hai được giảng dạy rất rộng rãi Ở Thái Lan, tỷ lệ nam giới biết chữ là94,9%; tỷ lệ này ở nữ giới là 90,5% Tuổi thọ trung bình là 71,24 ở nam và76,08 ở nữ (ước tính năm 2011 theo WB)

và phía Đông Nam giáp với Campuchia Chính vì vậy Thái Lan là nước có điềukiện tiếp xúc với nhiều nền văn hoá khác nhau trong cùng khu vực Đông Nam

Á, hơn nữa với bản tính thân thiện của người dân, Thái Lan được mệnh danh là

“Đất nước của những nụ cười”

1.1.5 Hành chính

Thái Lan được chia làm 76 tỉnh, trong đó có 2 thành phố trực thuộc trungương: Bangkok và Pattaya Do có phân cấp hành chính tương đương cấp tỉnh,Bangkok thường được xem là tỉnh thứ 76 của Thái Lan Các tỉnh được chiathành các huyện hoặc quận Các huyện được chia thành các xã, trong khi cácquận được chia thành các phường Các xã được chia thành các thôn Các đô thị

Trang 9

của Thái Lan gồm ba cấp: thành phố, thị xã và thị trấn Nhiều thành phố và thị

xã đồng thời là tỉnh lỵ Tuy nhiên một tỉnh có thể có tới hai thành phố và vài thịxã

1.1.6 Chính trị

Thái Lan là nước có thể chế quân chủ lập hiến Nguyên thủ quốc gia lànhà Vua – người được coi là thiêng liêng và bất khả xâm phạm Về danh nghĩanhà Vua là người đứng đầu nhà nước, Tổng Tư lệnh quân đội và là người bảotrợ Phật giáo Theo Hiến pháp ngày 24 tháng 8 năm 2007, Quốc hội Thái Lan làQuốc hội lưỡng viện Hạ viện (cơ quan lập pháp) gồm 480 ghế và Thượng viện

gồm 150 ghế Chính phủ bao gồm 36 thành viên gồm 3 Phó Thủ tướng, 21 Bộtrưởng và 11 Thứ trưởng Ngoài ra còn có một số Ủy ban của Chính phủ đượclập ra để phối hợp thực hiện các chính sách chung Từ khi lật đổ chế độ quânchủ chuyên chế năm 1932, Thái Lan đã có 17 hiến pháp và sửa đổi Trong suốtquá trình đó, chính phủ liên tiếp chuyển đổi qua lại từ chế độ độc tài quân sựsang chế độ dân chủ, nhưng tất cả các chính phủ đều thừa nhận triều đại chatruyền con nối như lãnh đạo tối cao của dân tộc Hiện nay thủ tướng Thái Lan là

Thái Lan đã kí hiệp ước hữu nghị và thương mại với Anh năm 1826 vàvới Mỹ năm 1833, Hiệp ước trao đổi biên giới các tỉnh phía Bắc Malaysia hiệntại năm 1909, nhờ đó thoát khỏi ách thuộc địa của các nước đế quốc lúc bấy giờđang tranh giành nhau vùng Đông Nam Á Thái Lan cũng đã kí hiệp định phânđịnh biên giới sông Mekong với Pháp và tránh né xung đột với thực dân Phápvào cuối thế kỷ 19

Trong Thế chiến thứ hai, Thái Lan là đồng minh lỏng lẻo của Nhật Bản,cho Nhật đi qua đất Thái tiến đánh Malaysia, Myanmar Lợi dụng thế suy yếucủa nước Pháp (bị Đức quốc xã xâm chiếm) và sức mạnh hải quân khá hiện đạiThái Lan đã gây chiến với Pháp để tranh giành lãnh thổ Đông Dương Sau khi bịhải quân Pháp bất ngờ tiến công đánh bại cùng với sự suy yếu của quân đội phátxít Nhật vào cuối thế chiến, Thái Lan làm đảo chính vào ngày ngày 1 tháng 8năm 1944 và ngay lập tức chuyển nước Thái từ một đồng minh lỏng lẻo củaNhật trong một đêm trở thành đồng minh của Mỹ và tiếp tục giữ được độc lập vàhòa bình

Trang 10

Sau thế chiến, Thái Lan bị đối xử như một quốc gia đối địch bởi Anh vàPháp, mặc dù Mỹ đã can thiệp để giảm nhẹ các điều khoản trừng phạt Thái Lan.Thái Lan không bị lực lượng Đồng Minh chiếm đóng, nhưng phải trả lại cáclãnh thổ mà họ đã chiếm đóng trong thời gian chiến tranh cho Anh và Pháp.Thời kỳ hậu chiến cũng là thời kỳ Thái Lan thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ, như

để bảo trợ Thái Lan khỏi nguy cơ chủ nghĩa cộng sản lan truyền từ các quốc gialân bang

Lực lượng du kích cộng sản ở Thái Lan hoạt động tích cực trong khoảngthập niên 1960 cho tới năm 1987 nhưng chưa bao giờ là một mối de dọa nghiêmtrọng cho chính quyền, tại thời kỳ đỉnh điểm họ đã có đến 12 ngàn du kích quântrong hàng ngũ

Gần đây, Thái Lan trở thành một thành viên tích cực trong Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là sau khi chế độ dân chủ được tái lậpsau năm 1992

Chính sách ngoại giao khôn khéo mềm dẻo của Thái được gọi là "ngoạigiao cây sậy”

1.1.8 Các tổ chức quốc tế mà Thái Lan tham gia

Thái Lan hiện là thành viên của các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng pháttriển Châu Á - ADB, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương -APEC, Diễn đàn khu vực ASEAN - ARF, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á -ASEAN, Sáng kiến vùng Vịnh Bengal về hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật đa khuvực - BIMSTEC, Ngân hàng thanh toán quốc tế - BIS, Hội nghị cấp cao về Hợptác và Xây dựng niềm tin tại châu Á - CICA, Hội nghị cấp cao Đông Á - EAS,

Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc - FAO, G-77, Cơ quan nănglượng nguyên tử quốc tế - IAEA, Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển -IBRD, Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế - ICAO, Phòng thương mại quốc

tế - ICC, Hội phát triển quốc tế - IDA, Tổ chức lao động quốc tế - ILO, Quỹ tiền

tệ quốc tế - IMF, Tổ chức hàng hải quốc tế - IMO, Tổ chức cảnh sát chống tộiphạm quốc tế - Interpol, Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương - MIGA, PCA,Liên hiệp quốc – UN, Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển -UNCTAD, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc - UNESCO,

Tổ chức y tế thế giới - WHO, Tổ chức thương mại thế giới - WTO…

1.1.9 Kinh tế

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống Bắt đầu từ năm

1960 Thái Lan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ nhất Trong

thập niên 1970 Thái Lan thực hiện chính sách "hướng về xuất khẩu", ASEAN,

Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan Ngànhcông nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế vàvai trò của nông nghiệp giảm dần

Trang 11

Hiện nay, Thái Lan là một nước công nghiệp mới Sau khi đạt tốc độ tăngtrưởng thuộc loại cao nhất thế giới từ 1985 đến 1995, với tốc độ tăng trưởngtrung bình 9% mỗi năm, sức ép lên việc duy trì đồng baht tại Thái Lan tăng lên,dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, lan rộng ra toàn khu vực Đông

Á, bắt buộc chính phủ phải thả nổi tiền tệ

Năm 1999, Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi với tốc độ tăng trưởngkinh tế là 4,4%; năm 2000 là 4,8%, phần lớn từ những mặt hàng xuất khẩuchính Sự tăng trưởng bị rơi vào tình trạng trì trệ (tăng trưởng 2,2%) do ảnhhưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2001, nhưng phục hồi lại vào nămsau, nhờ sự phát triển mạnh của Trung Quốc và những chương trình khác nhaunhằm khuyến khích phát triển kinh tế trong nước của thủ tướng ThaksinShinawatra, thường được gọi bằng tên "Thaksinomics" Tốc độ tăng trưởng kinh

tế năm 2002 đạt 5,3% , đến năm 2003 và 2004 đã cao hơn mức 6% Dự trữngoại tệ ở mức cao hơn nhiều so với giai đoạn khủng hoảng năm 1997

Năm 2008 nền kinh tế Thái Lan lại rơi vào khủng hoảng với tỉ lệ tăngtrưởng sụt giảm xuống còn 2,5% và đến 2009 là -2,2% Nguyên nhân chủ yếu

do nhu cầu tiêu thụ của các thị trường bên ngoài suy giảm và tình hình chính trịbất ổn ở trong nước

Mặc dù khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhưng với những gói kích cầukinh tế kịp thời của chính phủ, kinh tế Thái Lan lại từng bước phục hồi và tăngtrưởng Đặc biệt trong năm 2010, kinh tế Thái Lan tăng trưởng cao nhất đạt7,8% khi chính phủ bắt đầu điều hành đất nước Năm 2010, số người thất nghiệpgiảm đáng kể Xuất khẩu 2010 đạt 191,3 tỷ USD, tăng 39,4 tỷ USD so với mức151,9 tỷ USD của năm 2008

Du lịch Thái Lan cũng đạt được thành tích ngoài mong đợi Mặc dùkhủng hoảng chính trị ngày càng sâu sắc, có những lúc lượng khách du lịchnước ngoài vào Thái Lan giảm một cách đáng “lo ngại”, chính phủ phải điềuchỉnh chỉ tiêu thu hút khách du lịch nước ngoài, nhưng trong năm 2010, du lịch

đã tăng so với năm 2009 Thị trường chứng khoán cũng có bước tiến ngoạn mụctheo đà tăng của kinh tế

Các chính sách kinh tế của chính phủ tác động tích cực đến người nôngdân, chiếm số đông Mặt hàng nông sản chủ yếu như gạo, ngô, sắn, cao su vàdầu cọ đều tăng giá, tăng thu nhập cho người nông dân, nâng cao đời sống của

họ Ngoài ra, chính phủ Thái Lan còn ban hành các chính sách phúc lợi xã hộinhư học không mất tiền, trợ giúp người cao tuổi, bảo hiểm y tế…

Tuy nhiên, trận lụt lịch sử năm 2011 cùng với bức tranh ảm đạm của kinh

tế toàn thế giới đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế Thái Lan, khiếncho tốc độ tăng trưởng GDP của nước này bị sụt giảm nghiêm trọng chỉ còn hơn1% cho cả năm 2011

(Nguồn: WB data - http://search.worldbank.org/data?

qterm=thailand&language=&format)

Trang 12

Bảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan qua các năm

Năm Chỉ số tăng trưởng GDP (%)

Trang 13

(Nguồn: WB data - http://search.worldbank.org/data?

qterm=thailand&language=&format)

Biểu đồ 1.1 Tốc độ tăng trưởng của Thái Lan qua các năm (%)

(nguồn: http://www.indexmundi.com/g/g.aspx?c=th&v=66)

Các ngành kinh tế trọng điểm của Thái Lan:

(Nguồn: Hồ sơ thị trường Thái Lan – Cục xúc tiến thương mại, Phòng

nghiên cứu và phát triển thị trường)

• Công nghiệp:

Các ngành công nghiệp chính của Thái Lan là dệt và may mặc, chế biếnnông nghiệp, đồ uống, thuốc lá, xi măng, công nghiệp nhẹ như sản xuất đồ trangsức và những thiết bị điện tử, máy tính và linh kiện, đồ gia dụng, nhựa, ô tô vàlinh kiện Thái Lan là nước đứng thứ hai thế giới về sản xuất tungsten (một kimloại cứng màu xám dùng để chế tạo thép hợp kim và các sợi tóc trong bóng đènđiện và là nước đứng thứ ba thế giới trong lĩnh vực sản xuất thiếc)

• Nông nghiệp:

Các nhà hoạch định chính sách Thái Lan lấy nông nghiệp là bệ phóng chonền kinh tế quốc dân, và không chỉ có thế, mục tiêu cốt lõi là tạo ưu đãi “tamnông” để ổn định chính trị xã hội Nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống củangười nông dân cũng như phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng bềnvững, bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nông dân nâng

Trang 14

cao tính cạnh tranh của nông sản trên thị trường thế giới thì vấn đề liên quan đến

“tính mềm” như đào tạo kĩ thuật, nâng cao nhận thức người nông dân được coitrọng hướng đến Nhờ những hướng đi đúng đắn trong đào tạo nguồn nhân lựcnên những vùng đất hoang, địa hình đồi núi dốc và cả những vùng khô cằnkhông chỉ dành cho cây ngô, lúa nương mà nhiều loại cao sản đã được triển khai

và cho năng suất cao Thái Lan được coi là “nồi cơm” của thế giới do luôn duytrì được “ngôi vị số 1” toàn cầu về xuất khẩu gạo Ngoài lúa gạo, Thái Lan cònphát triển sản xuất nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao như ngô, cao su và cảnhững loại hoa, quả Năm 2011, ngành nông nghiệp Thái Lan đã đóng góp13,3% vào GDP và tạo việc làm cho 40,7% số người trong độ tuổi lao động

• Du lịch:

(Nguồn: http:\\vi.wikipedia.org/wiki/kinh_te_thai_lan)

Nhắc đến Thái Lan không thể không nhắc tới ngành du lịch Đây là mộtngành mũi nhọn của nền kinh tế Thái Lan Ngành du lịch Thái Lan cất cánh khinhững người lính Mỹ bắt đầu đến đầy thập niên 1960 trong thời kỳ chiến tranhViệt Nam Thời kỳ này cũng trùng với việc gia tăng mạnh mẽ ngành du lịchquốc tế nhờ việc tăng mức sống, nhiều người có thời gian rảnh rỗi hơn và cũngnhờ tiến bộ công nghệ khiến người ta có thể du hành xa hơn, nhanh hơn và rẻhơn với máy bay Boeing 747 bay thương mại lần đầu vào năm 1970 Thái Lan làmột trong các quốc gia ở châu Á đã tận dụng được cơ hội này Số lượng dukhách đã tăng từ 336.000 lượt khách quốc tế và 54.000 lính năm 1967 lên con số

14 triệu khách quốc tế đến Thái Lan năm 2007 Thời gian ở lại trung bình củakhách trong năm 2007 là 9,19 ngày, tạo ra khoảng 547.782 triệu baht Thái,khoảng 11 tỷ Euro Năm 2006, Thái Lan là quốc gia xếp thứ 18 về số lượng dukhách trong bảng xếp hạng World Tourism rankings với 13,9 triệu lượt khách

Du lịch nội địa cũng tăng trưởng nhanh chóng trong thập kỷ qua Doanh số từ dulịch nội địa đã tăng từ 187.898 triệu baht năm 1998 lên 380.417 triệu baht(khoảng 7,8 tỷ Euro) năm 2007 Du khách châu Á khi đến Thái Lan chủ yếuthăm Bangkok và các địa danh văn hóa, lịch sử ở khu vực phụ cận Du kháchphương Tây không chỉ tham quan Bangkok và các khu vực xung quanh mà cònđến các bãi tắm và các đảo phía nam Miền bắc là địa điểm chính cho hoạt độngtrekking và du lịch mạo hiểm với các nhóm dân tộc thiểu số đa dạng, các vùngnúi rừng Vùng nhận ít du khách hơn là Isan ở đông bắc Để tạo điều kiện thuậnlợi cho du khách nước ngoài, chính phủ Thái Lan đã thiết lập bộ phận cảnh sát

du lịch riêng ở các khu vực du lịch lớn kèm theo số điện thoại khẩn cấp TháiLan đã chịu cạnh tranh kể từ khi Lào, Campuchia và Việt Nam mở cửa cho dulịch quốc tế vào thập niên 1980 và 1990 Các điểm đến như Angkor Wat, LuangPrabang và Vịnh Hạ Long hiện đang cạnh tranh với vị trí độc quyền trước đâycủa Thái Lan Để đối phó với việc cạnh tranh này, Thái Lan đang tích cựchướng tới thị trường du khách chơi gôn, du lịch kết hợp chữa bệnh Khoảng 2

Trang 15

triệu du khách nước ngoài đã thăm Thái Lan với mục đích chữa bệnh năm 2009,tăng hơn 3 lần so với con số tương tự năm 2002 Năm 2010, do ảnh hưởng củakhủng hoảng kinh tế toàn cầu và cuộc biểu tình của phe Áo đỏ, lượng du kháchđến Thái Lan giảm 10%, chỉ đạt 12,7 – 14,1 triệu lượt

• Cơ cấu GDP theo ngành:

Biểu đồ 1.2 dưới đây sẽ cho thấy: về cơ cấu kinh tế theo ngành, dịch vụluôn chiếm tỷ lệ đóng góp lớn nhất trong GDP Thái Lan, tiếp theo là đến côngnghiệp rồi cuối cùng mới đến nông nghiệp

Biểu đồ 1.2 Cơ cấu kinh tế theo ngành của Thái Lan

(Đơn vị: %)

(Nguồn: Báo cáo tổng quan về kinh tế Thái Lan 2010 của ngân hàng

Thái Lan - The Siam Commercial Bank)

Trang 16

Thương mại:

Biểu đồ 1.3 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Thái Lan 2008 - 2010

(Đơn vị: tỷ euro)

(Nguồn: Báo cáo tổng quan về kinh tế Thái Lan 2010 của ngân hàng

Thái Lan- The Siam Commercial Bank)

Qua biểu đồ 1.3 ta có thể thấy nền kinh tế Thái Lan phụ thuộc tương đốinhiều vào ngoại thương Cán cân thương mại nhìn chung ở trạng thái xuất siêu

Các sản phẩm xuất khẩu chính bao gồm gạo, nông sản, hàng dệt may,giầy dép, hải sản, cao su, nữ trang, ô tô, máy tính và thiết bị điện Thái Lan đứngđầu thế giới về xuất khẩu gạo, mỗi năm xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo tinh chế Lúa

là loại cây lương thực chính được trồng tại Thái Lan, với 55% đất đai trồng trọtđược được sử dụng để trồng lúa Đất có thể canh tác được của Thái Lan cũngchiếm tỷ lệ lớn, 27,25% của toàn bộ khu vực sông Mekong

Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Thái Lan là các nước công nghiệp pháttriển: Mỹ, Canada, EU, Nhật Bản (giống như đa phần các nước ASEAN khác).Mậu dịch trong khối ASEAN cũng gia tăng đáng kể trong những năm gần đâychủ yếu nhờ vào chính sách miễn thuế trong khu vực mậu dịch tự do Sở Xúctiến Xuất khẩu Thái Lan đặt mục tiêu đưa thị phần trong khu vực này lên tỉ trọng40% trong tổng lượng xuất khẩu cúa Thái Lan Những thị trường mới đang đượcnhắm đến là các nước Đông Dương, các nước Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ

La tinh, Đông Âu, Nam Á và Trung Quốc Trung Quốc là thị trường tăng trưởnglớn nhất cho xuất khẩu của Thái Lan những năm gần đây Sở Xúc tiến xuất khẩuThái Lan chi ra khoảng 1 tỉ bạt mỗi năm để giới thiệu những sản phẩm của Tháitrên thị trường thế giới, cụ thể là các thị trường phi truyền thống Để mở rộng thị

Trang 17

trường xuất khẩu, nhà nừớc đã theo đuổi những thỏa thuận mậu dịch tự do songphương với mục đích đẩy mạnh các hoạt động mua bán Những nước nằm trongmục tiêu bao gồm Bahrain, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Úc và Mỹ.

Tỷ trọng xuất khẩu của Thái Lan nhìn chung biến động theo hướng giảmdần tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng thô ít qua chế biến và tăng nhanh tỷ trọnghàng công nghiệp chế biến trong tổng kim ngạch xuất khẩu Trong ngành hàngcông nghiệp chế biến thì: thực hiện giảm dần tỷ trọng kim ngạch xuất khẩunhững sản phẩm có hàm lượng lao động cao, mà nâng dần tỷ trọng xuất khẩuhàng hóa cao cấp có hàm lượng tư bản và công nghệ cao như sản phẩm củangành hóa chất, chế tạo máy móc thiết bị

Mặt hàng nhập khẩu chính của Thái Lan là nguyên liệu thô, hàng tiêudùng, khí đốt, các nhà cung cấp chính là Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Mỹ,Singapore, Hàn Quốc

Đầu tư:

(Nguồn: Hồ sơ thị trường Thái Lan – Cục xúc tiến thương mại, Phòng

nghiên cứu và phát triển thị trường)

• Môi trường đầu tư:

Trong cuộc chạy đua quyết liệt nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàitrong khu vực Đông Á, ngay sau khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á, TháiLan đã thay đổi những chính sách của mình để tạo môi trường đầu tư hấp dẫnhơn so với các nước trong khu vực Cụ thể: nâng mức sở hữu nước ngoài lên49% đối với các dự án thông thường, 100% đối với các dự án có trên 80% sảnphẩm xuất khẩu Ngoài ra, đối tác nước ngoài còn được phép điều chỉnh tỷ lệ sởhữu lên trên 51% trong trường hợp đối tác Thái Lan gặp khó khăn về tài chính.Bên cạnh đó, Bộ Tài chính Thái Lan hủy bỏ quy định phải có 30% sản phẩmxuất khẩu trở lên mới được hưởng miễn giảm thuế trong các ngành công nghiệpchế tạo

Đầu năm 2007, Thái Lan thực hiện gia tăng kiểm soát tiền tệ và hạn chếđầu tư nước ngoài Chính quyền Thái Lan đã chủ trương sửa đổi Luật Doanhnghiệp nước ngoài (01/2007), áp đặt những hạn chế mới về đầu tư Theo đó,buộc các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư có cổ phần lớn tại Thái Lan phảinhanh chóng tìm kiếm đối tác mới để chia sẻ cố phần đang nắm giữ tại các công

ty Thái xuống thấp hơn 50% Hạn chế này đã gây hoảng loạng cho các nhà đầu

tư trong và ngoài nước Ngay sau khi Thái Lan công bố hạn chế mới này, chỉ sốchứng khoán SET index của Thái đã giảm tới 2,4% Riêng đồng bath giảm0,8% Đây là đòn giáng mạnh vào lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài tạiThái Lan kể từ sau khi Chính phủ mới do quân đội ủng hộ lên nắm quyền Ngoài

ra, sau khi Ngân hàng Trung ương Thái lan ban bố quyết định phong tỏa 30%giá trị các tài khoản bằng ngoại tệ vào cuối năm 2006 thì giá cổ phiểu trên thịtrường chứng khoán nước này giảm 15% - mức giảm kỉ lục của một phiên giao

Trang 18

dịch trong vòng 31 năm lịch sử chứng khoán Thái Lan, thiệt hại của thị trườngchứng khoán lên đến 23 tỷ USD chỉ trong 1 ngày.

• Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Thái Lan:

Thái Lan là nước thành công nhất trong khối ASEAN về thu hút đầu tưFDI, bình quân hàng năm thu hút được trên 6,5 tỷ USD vốn FDI (cao hơn mức

kỷ lục của Malaysia và Singapore)

Một số ngành hàng được xem là có cơ hội đầu tư tốt tại Thái Lan baogồm:

+ Dịch vụ phục vụ giáo dục và đào tạo

+ Hàng tiêu dùng như quần áo, thời trang, mỹ phẩm

Thái Lan cũng đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu là đầu tư vào cácnước ASEAN, trong đó có Việt Nam Các lĩnh vực đầu tư chính là sản xuất vimạch điện tử, sản phẩm hóa chất, hàng tiêu dùng Tổng số vốn Thái Lan đangđầu tư ra nước ngoài (tính đến 12/2011) đạt 29,79 tỷ USD

Các chỉ số kinh tế cơ bản:

(Số liệu ước tính 2011 Nguồn:

https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/th.html)

- GDP ngang giá sức mua: 601,4 tỷ USD

- GDP theo tỷ giá thực: 345,6 tỷ USD

- Tăng trưởng GDP: 0,1%

- GDP bình quân đầu người: 9.700 USD

- GDP phân bổ theo ngành: Nông nghiệp – 13,3%; Công nghiệp – 34%;Dịch vụ - 52,7%

- Lực lượng lao động: 39,62 triệu người

- Lực lượng lao động phân bổ theo ngành: Nông nghiệp – 40,7%; Côngnghiệp – 13,2%; Dịch vụ - 46,1%

Trang 19

- Tỷ lệ thất nghiệp: 0,7%

- Thu chi ngân sách: Thu 62,21 tỷ USD, chi 74,99 tỷ USD

- Tỷ lệ lạm phát: 3,8%

- Tăng trưởng sản xuất công nghiệp: 4,3%

- Kim ngạch xuất khẩu: 244,4 tỷ USD

- Kim ngạch nhập khẩu: 214,6 tỷ USD

1.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC

TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC KINH TẾ VỚI THÁI LAN

1.2.1 Thuận lợi của Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác kinh tế

với Thái Lan Thứ nhất, về điều kiện tự nhiên, cả Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong

khu vực Đông Nam Á và có những vị trí địa lý hết sức thuận lợi đồng thời lại ởgần nhau (về đường bộ chỉ bị ngăn cách bởi nước Lào và Campuchia, đườngbiển có một phần lãnh hải tiếp giáp nhau) Đây là một điều kiện rất thuận lợi chogiao thông qua lại, thông thương giữa hai nước cả bằng đường biển, đường bộ

và đường hàng không Đặc biệt là trong xu thế hội nhập của nền kinh tế khu vực

và thế giới như hiện nay thì vị trí địa lý sẽ trở thành một nguồn lực, định rahướng phát triển có lợi trong phân công lao động toàn thế giới và xác định cácmối quan hệ song phương và đa phương của một quốc gia Do vậy đây là yếu tốthuận lợi xét trong mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan

Thứ hai, ngoài vị trí địa lý, Thái Lan và Việt Nam còn có những nét hết

sức tương đồng về khí hậu, đất đai, tài nguyên Cả hai nước đều có khí hậu nóng

ấm, đất đai phì nhiêu màu mỡ phù hợp với việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt

là các cây nhiệt đới Khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều cũng rất thuận lợi cho trồngtrọt Đất đai chứa nhiều khoáng sản với trữ lượng lớn như: dầu mỏ, thiếc,than là những nguồn tài nguyên hết sức quý báu Chính vì thế mà Thái Lan vàViệt Nam đều có xuất phát điểm là những nền nông nghiệp lúa nước Ngày naysản phẩm nông nghiệp của hai nước khá tương đồng, đặc biệt Thái Lan và ViệtNam lần lượt giữ các vị trí thứ nhất và thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo Xéttrên khía cạnh tích cực thì những yếu tố kể trên có thể coi là thuận lợi cho mốiquan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước vì Việt Nam có thể học hỏinhững kinh nghiệm phát triển nông nghiệp thành công của Thái Lan Mặt khác,hai nước có rât nhiều tiềm năng trong việc hợp tác trên những lĩnh vực, mặthàng mà hai nước đều có thế mạnh

Trang 20

Thứ ba, về văn hóa xã hội và con người, Việt Nam và Thái Lan có rất

nhiều nét tương đồng về văn hóa tín ngưỡng và phong tục tập quán Điển hình làPhật giáo và tục thờ cúng tổ tiên đều rất phổ biến ở hai quốc gia này Một nềnvăn hoá khá giống nhau thì việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác giữa cácthương nhân, các nhà đầu tư hai nước cũng trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn

Thứ tư, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển, có nhiều tiềm năng

và lợi thế để khai thác Thêm vào đó, chúng ta còn có một chế độ chính trị và xãhội ổn định đã tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc, tạo ra môi trường vĩ mô

ổn định và thuận lợi thu hút được các nhà đầu tư Thái Lan

Thứ năm, một trong những lợi thế khác của Việt Nam là dân số đông, cơ

cấu dân số trẻ, truyền thống lao động cần cù Điều này một mặt khiến cho ViệtNam trở thành một thị trường có sức tiêu thụ lớn, mặt khác là nguồn cung cấplao động dồi dào, giá rẻ Tất cả đã tạo nên sức hấp dẫn của Việt Nam với cácnhà đầu tư và thương nhân Thái Lan

Thứ sáu, quốc tế hóa đời sống kinh tế là xu thế khách quan mang tính

quy luật đối với mọi quốc gia Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế do sự pháttriển của lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế quy định Phân công laođộng quốc tế tất yếu dẫn đến sự chuyên môn hoá, hợp tác hoá quốc tế Giữa cácnước hình thành sự phụ thuộc lẫn nhau, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác để cùngphát triển Sự phụ thuộc này không đồng nghĩa với sự lệ thuộc một chiều, tráilại, nó gắn với độc lập chủ quyền trong một chỉnh thể thống nhất, đồng thời làđiều kiện để phát triển và ổn định kinh tế - chính trị của mỗi nước Bản thânphân công lao động quốc tế là sự phủ định quan điểm tự cấp tự túc và chính sáchkhép kín nền kinh tế Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trường thế giới, chủ độngtham gia phân công lao động quốc tế, tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực

để có khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển Quá trình quốc tế hoá tiếp tục diễn

ra với quy mô ngày càng lớn và tốc độ ngày càng cao trong tất cả lĩnh vực củađời sống kinh tế thế giới như: trao đổi thương mại, tổ chức sản xuất, nghiên cứukhoa học công nghệ, giáo dục đào tạo Điều đó làm cho nền kinh tế thế giới trởthành một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là một chủ thể, giữachúng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Cũng như Thái Lan, Việt Nam nhậnthức được xu hướng này nên đã tích cực tham gia các tổ chức khu vực cũng nhưthế giới, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tếquốc tế Quan hệ Việt Nam và Thái Lan cũng không nằm ngoài xu hướng này.Hiện nay cả hai nước cùng theo đuổi chính sách tự do hóa thương mại, tích cựchội nhập kinh tế khu vực và thế giới Việt Nam và Thái Lan hiện cùng là thànhviên của nhiều tổ chức khu vực và thế giới như ASEAN, APEC, WTO Điềunày tạo ra nhiều thuận lợi cho quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước pháttriển

Trang 21

1.2.2 Khó khăn của Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác kinh tế

với Thái Lan Thứ nhất, Việt Nam và Thái Lan có rất nhiều điểm tương đồng về tiềm

năng, điều kiện phát triển kinh tế như vị trí, đất đai, khí hậu Đây vừa là thuậnlợi (như đã trình bày ở phần thuận lợi) những cũng vừa là khó khăn cho mốiquan hệ kinh tế thương mại hai nước Lý do là vì từ những nét tương đồng vềđiều kiện, tiềm năng phát triển đã khiến cho cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của hainước trở nên tương đối giống nhau Các mặt hàng mà Thái Lan có ưu thế xuấtkhẩu mạnh ra bên ngoài như nông sản chế biến, điện tử, da giày cũng là nhữngmặt hàng Việt Nam đang có ưu thế Do đó cạnh tranh giành giật thị trường giữahai nước là rất quyết liệt Việt Nam đang tận dụng cao độ giá lao động rẻ trongkhi Thái Lan với trình độ công nghệ cao hơn, chất lượng mẫu mã, kiểu dáng tốthơn đang gián tiếp loại trừ, triệt tiêu lẫn nhau trên các thị trường và theo đó,Trung Quốc sẽ giành được những ngách thị trường khu vực và quốc tế mà cả hainước cùng đánh mất

Thứ hai, mặc dù có thể nói Việt Nam đi sau Thái Lan nhiều năm phát

triển kinh tế nhưng trình độ kỹ thuật của hai nước chưa có sự khác biệt rõ rệt.Trong mối quan hệ với Thái Lan, chúng ta không tiếp thu được các công nghệnguồn, các kỹ thuật hiện đại tiên tiến như với các nước công nghiệp phát triển.Các dự án đầu tư của Thái Lan có qui mô nhỏ, trình độ công nghệ trung bình.Đây là vấn đề khách quan của các nền kinh tế đang phát triển và về nguyên tắc,các công ty xuyên quốc gia của họ thường chỉ chuyển giao những công nghệ íttiên tiến hơn và không trọn gói Vì vậy, Việt Nam chưa tận dụng được mấy côngnghệ từ Thái Lan khi tiếp nhận các dự án đầu tư để phát huy lợi thế so sánh củamình

Thứ ba, bên cạnh những tiềm lực phát triển khách quan được thiên nhiên

ưu đãi như vị trí, đất đai, khí hậu, tài nguyên và nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻthì những tiềm lực chủ quan chúng ta lại còn nhiều yếu kém Đó là chất lượngnguồn nhân lực chưa cao, thiếu đội ngũ công nhân lành nghề, trình độ của cán

bộ quản lý còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, là một nền kinh tế đang trong giaiđoạn đầu của quá trình đổi mới, phát triển, chúng ta chưa xây dựng được mộthành lang pháp lý, một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định để tạo nên môi trườnghấp dẫn các nhà đầu tư Cơ sở hạ tầng dịch vụ hiện có vẫn ở dưới mức trungbình của các nước đang phát triển, không đáp ứng được cho nhu cầu phát triểnhiện tại Trong các doanh nghiệp, trình độ thiết bị máy móc và công nghệ vẫncòn ở tình trạng lạc hậu, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp, số lượngrất ít ỏi, lạc hậu, lại thuộc nhiều thế hệ và pha trộn của nhiều nước, chắp vákhông đồng bộ

Các nguồn lực sẵn có chưa được Việt Nam khai thác một cách có hiệuquả đã gây ra tình trạng lãng phí, thậm chí là đang có nguy cơ cạn kiệt dần khiếnchúng ta mất đi các lợi thế cạnh tranh Nguồn lực đất đai, tài nguyên sau nhiều

Trang 22

năm chú trọng tăng trưởng phát triển theo chiều rộng, thu hút đầu tư tràn lan và

ồ ạt đã bị suy giảm rất nhanh Cho đến nay kim ngạch xuất khẩu vẫn chủ yếu làxuất khẩu sản phẩm thô, dự án đầu tư tuy nhiều nhưng hiệu quả chưa cao.Nguồn lực con người tuy dồi dào nhưng trình độ tiếp thu khoa học công nghệ,trình độ quản lý và tác phong làm việc công nghiệp vẫn còn rất hạn chế Vấn đềthiếu hụt lao động chất lượng cao đang là một thách thức đối với phát triển kinh

tế của Việt Nam

Chính những yếu kém tồn tại của nền kinh tế Việt Nam đã và đang trởthành những khó khăn cho việc tăng cường hội nhập kinh tế nói chung, trongviệc phát triển quan hệ với Thái Lan nói riêng

Thứ tư, bức tranh ảm đạm chung của nền kinh tế thế giới cùng với hậu

quả nặng nề của trận lụt mà đất nước Thái Lan đã phải hứng chịu trong năm vừaqua có thể nói là đã tạo thêm khó khăn cho việc phát triển mạnh mẽ mối quan hệkinh tế thương mại của hai nước trong giai đoạn hiện nay

Tóm lại, Việt Nam và Thái Lan đều là hai nước có nền kinh tế năng động,

có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế nhưng nội tại mỗi nước vẫncòn tồn tại những hạn chế riêng Điều đó tạo nên những thuận lợi và khó khăncho hai nước trong việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế thương mại Bên cạnh

đó, những nét tương đồng giữa hai quốc gia này cũng một mặt vừa tạo nên sựcạnh tranh đối trọng trong phát triển kinh tế, một mặt vừa tạo ra những cơ hộihợp tác hết sức to lớn giữa hai nước

1.3 VAI TRÒ CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC KINH TẾ VỚI THÁI LAN

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

Thứ nhất, việc Việt Nam tăng cường hợp tác với Thái Lan đem lại cho

Việt Nam những nguồn lợi về kinh tế: tăng kim ngạch xuất khẩu, đầu tư, từ đótạo ra thu nhập quốc dân, tạo ra việc làm cho người lao động, thúc đẩy sản xuấttrong nước phát triển Nhất là khi những thị trường lớn, thị trường truyền thốngcủa Việt Nam như EU, Nhật Bản đang gặp rất nhiều khó khăn thì việc tăngcường hợp tác, quan hệ với các nước trong khu vực nói chung, với Thái Lan nóiriêng lại càng trở nên quan trọng hơn, giúp chúng ta đa dạng hóa quan hệ kinh tếđối ngoại, giảm thiểu rủi ro và sự phụ thuộc vào một số thị trường nhất định

Bên cạnh việc tăng cường trao đổi hàng hóa giữa hai nước thì mối quan

hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan còn mở ra cơ hội cho mỗi nước tiếp cận, tăngcường trao đổi hàng hóa với các thị trường thứ ba khác nữa Ví dụ thông quaThái Lan, hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang Thái Lan sẽ có cơ hội tiếp cậnvới không chỉ người tiêu dùng Thái Lan mà là người tiêu dùng trên toàn thế giới,nhất là khi Thái Lan lại là đất nước du lịch nổi tiếng

Thứ hai, Thái Lan là một trong những nhân tố quyết định cho sự hình

thành tổ chức ASEAN Thái Lan bao giờ cũng là nước đứng ra đóng vai trò

Trang 23

trung gian, hoà giải như xung đột giữa Malaysia và Philippines; giữa Malaysia

và Indonesia; giữa Malaysia và Singapore… Với vai trò là Bộ trưởng Bộ Ngoạigiao Thái Lan, tiến sĩ Thanat Khoman đã đưa ra sáng kiến và soạn thảo Tuyên

bố thành lập Hiệp hội Đông Nam Á vì sự phát triển khu vực (SEAARC) Tàiliệu này sau trở thành cơ sở của Tuyên bố Băng Băngkok – văn kiện chính thànhlập ASEAN (ngày 08/08/1967) Khi ASEAN được ra đời vào tháng 08/1967,Thái Lan tham gia vào tất cả các hoạt động của khối với tư cách thành viên,nhưng có vai trò quan trọng trên phương diện chính trị và quân sự Chính TháiLan đã đạt được thoả thuận với Philippines để giải tán khối SEATO Thái Lancũng có vai trò trong ASEAN với “vấn đề Campuchia” (1979 – 1989) Vai tròcủa Thái Lan trong ASEAN trên phương diện kinh tế cũng không kém phầnquan trọng, với vị trí trung tâm lục địa Đông Nam Á, Thái Lan như là một trạmtrung chuyển, một cửa ngỏ để tiến vào các nền kinh tế mới nổi khu vực hạnguồn sông Mê Kông rộng lớn, trong khi vị trí của nó với Liên hiệp các nướcĐông Nam Á (ASEAN) giúp dễ dàng tiếp cận với khu vực được xem như thịtrường kinh tế đang phát triển lớn nhất hiện nay Ở cấp độ khu vực và trongkhuôn khổ AFTA, Thái Lan là nước tích cực cổ vũ cho việc đảm bảo tiến trìnhAFTA được thực hiện đúng hạn Có thể nói, Thái Lan là một trong những nước

có vai trò rất lớn cho sự tồn tại và phát triển của ASEAN Thậm chí có nhữngthời kỳ Thái Lan hầu như quyết định và chi phối mọi hoạt động của ASEAN,đặc biệt là trong chính sách đối ngoại

Với vai trò là một thành viên chủ chốt, một trong những nền kinh tế lớncủa khu vực ASEAN như vậy thì Thái Lan có một vị thế nhất định, có một tiếngnói nhất định trong diễn đàn khu vực Việc tăng cường hợp tác với Thái Lan sẽgiúp chúng ta tranh thủ được sự ủng hộ của nước bạn trong các diễn đàn khuvực và trên cả các diễn đàn quốc tế

Thứ ba, qua phần trình bày tổng quan về Thái Lan ở trên, có thể dễ dàng

nhận thấy rằng Việt Nam và Thái Lan có tiềm năng và điều kiện phát triển rấtgiống nhau Ngoài ra, mô hình phát triển ngoại thương của Thái Lan cũng đượcxem là mô hình gần gũi nhất với Việt Nam (bên cạnh mô hình của Malaysia) vànước bạn lại đi trước chúng ta cả thập kỉ về phát triển kinh tế Mối quan hệ hợptác với Thái Lan vì thế sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc học hỏicác kinh nghiệm phát triển, “mở cửa” của Thái Lan cũng như rút ra được bài họckinh nghiệm từ những thất bại và khủng hoảng mà Thái Lan đã gặp phải Bêncạnh đó, việc hợp tác mở ra nhiều triển vọng để Việt Nam và Thái Lan phát triểnmạnh những sản phẩm, lĩnh vực mà cả hai cùng có thế mạnh

Như vậy có thể nói việc phát triển tăng cường quan hệ hợp tác với TháiLan nói chung, hợp tác về kinh tế nói riêng có một vai trò không nhỏ trong quátrình phát triển kinh tế của Việt Nam

Trang 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT

NAM THÁI LAN2.1 CÁC HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN

Tính đến nay Việt Nam và Thái Lan đã ký một số hiệp định đặt nền móngpháp lý cho sự hợp tác cùng có lợi Có những hiệp định đã được ký rất sớm,ngay sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, đó là Hiệp định thương mại,hợp tác kinh tế và kỹ thuật, Hiệp định vận chuyển hàng không (01-1978) Mặc

dù thời kỳ đó quan hệ buôn bán chưa nhiều, song từ khi đường hàng không hainước được mở, việc giao lưu giữa hai nước cũng như giữa Việt Nam và thế giớităng nhanh

Bước vào những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, hai nước lần lượt kýhoặc sửa đổi bổ sung nhiều hiệp định quan trọng khác như Hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư (10 - 1989), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và Hiệpđịnh tín dụng (12 - 1992), Hiệp định hợp tác du lịch (03 - 1994) và Nghị địnhthư sửa đổi hiệp định thương mại, hợp tác kinh tế kỹ thuật ký trước đây (01 -1992)

Bên cạnh đó cơ chế hợp tác và phối hợp cũng từng bước được hình thành:

Uỷ ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế kỹ thuật (theo hiệp định cùng tên ký 09 –1991); Uỷ ban về nghề cá và trật tự trên biển (12 - 1994) Bên dưới uỷ ban hỗnhợp về hợp tác kinh tế kỹ thuật còn có các tiểu ban chuyên ngành đi sâu từnglĩnh vực hợp tác như kỹ thuật dầu khí (JTC), khoa học kỹ thuật (1993), thươngmại tài chính (1995), giao thông vận tải (1996)

Bước sang thế kỷ 21, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lancàng được khẳng định thêm trong các văn bản như: Tuyên bố chung về khuônkhổ hợp tác Việt Nam – Thái Lan trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI(20/02/2004); Hiệp định khung về hợp tác kinh tế (21/02/2004); Tuyên bố chung

về Chiến lược chung về đối tác kinh tế (20/12/2006); Chiến lược Kinh tế chungViệt Nam – Thái Lan (JSEP) (05/2009)

2.2 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN TRƯỚC NĂM 1995

Trong thời kỳ Việt Nam thực hiện cơ chế kế hoạch hóa nền kinh tế tậptrung, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan đã đạt được những thànhtựu nhất định Trong thời kì đó Thái Lan đã là một trong những bạn hàng thuộcthị trường khu vực II - khu vực ngoài hệ thống XHCN của Việt Nam Tuy nhiêntrong giai đoạn này khối lượng trao đổi mậu dịch giữa hai nước không lớn vàkhông ổn định

Trang 25

Theo bài viết “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan: 20 năm phát triển”của tác giả Hà Huy Thành đăng trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 224 tháng01/1997 thì nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan sang Việt Nam trungbình chiếm dưới 2% tổng giá trị xuất khẩu hàng năm của Thái Lan và kim ngạchhàng hóa mà Thái Lan nhập khẩu từ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,07% tổngkim ngạch xuất khẩu của Thái Lan Như vậy, bình quân trong giai đoạn này xuấtkhẩu của Thái Lan sang Việt Nam đã vượt xa số Thái Lan nhập khẩu từ ViệtNam Từ 1977 hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan phát triểnmạnh mẽ Năm 1978 hai nước đã kí Hiệp định hợp tác thương mại, kinh tế và kỹthuật 11/01; Hiệp định vận chuyển hàng không 11/01 Bình quân trong 3 năm

1977 – 1979, kim ngạch xuất nhập khẩu của Thái Lan – Việt Nam tăng hơn 3lần Đó là kết quả của sự kiện thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hainước năm 1976

Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan

(Nguồn: “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan: 20 năm phát triển” - Hà Huy

Thành - Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 224 tháng 1/1997)

Tuy nhiên trong thời kỳ 1980 – 1985, do tác động của nhiều yếu tố chínhtrị, xã hội phức tạp (tình hình bất ổn định trong khu vực châu Á, Mỹ áp đặtchính sách cấm vận chống Việt Nam) quan hệ thương mại giữa Việt Nam vàThái Lan hầu như gián đoạn hoàn toàn

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (tháng 12 – 1986) đãquyết định chính sách đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới kinh tế.Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Việt Nam chủ trương đa phương hóa, đa dạng

hóa hoạt động đối ngoại, mở cửa rộng rãi với bên ngoài Khẩu hiệu “Việt Nam

muốn làm bạn với tất cả các nước, các dân tộc” trở thành phương châm hành

động của Đảng và chính phủ Việt Nam trong mọi hoạt động của quan hệ đốingoại, trong đó có kinh tế đối ngoại

Đối với Thái Lan, thời kỳ những năm 1987 - 1988 là thời kỳ kinh tế pháttriển nhanh chóng, tăng trưởng GDP hàng năm đạt con số 10% Kim ngạch xuấtkhẩu tăng vọt Xuất hiện một tình hình là Thái Lan cần kinh tế nguyên liệu để bổsung cho nguồn nguyên liệu trong nước đã bắt đầu thiếu hụt Như vậy cả chínhsách đổi mới kinh tế của Việt Nam, cả thực trạng phát triển kinh tế của Thái Lan

Trang 26

đã thúc đẩy sự xuất hiện một động thái mới trong quan hệ ngoại thương giữaThái Lan và Việt Nam Khối lượng trao đổi hàng hóa giữa hai nước tăng nhanhtheo nhịp độ mở của nền kinh tế Việt Nam Bắt đầu từ 1989, khi nền kinh tếViệt Nam thực sự chuyển sang cơ chế thị trường, quan hệ buôn bán giữa hainước có bước nhảy vọt: mức tăng trưởng mậu dịch năm 1989 tăng 389,2% sovới năm 1988 và sang giữa năm 1990, lần đầu tiên giá trị trao đổi giữa hai nướcvượt mức 100 triệu USD.

Bảng 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan

(Nguồn: Theo “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan: 20 năm phát triển” - Hà

Huy Thành - Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 224 tháng 1/1997)

Sang năm 1992, sau chuyến thăm Việt Nam của thủ tướng Thái Lan quan

hệ thương mại giữa hai nước có sự phát triển mạnh mẽ hơn Hai nước đã ký một

số Hiệp định Kinh tế - Thương mại như Hiệp định về thành lập Uỷ ban hỗn hợphợp tác kinh tế, kỹ thuật 18/9/1991; Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư30/10/1991 Ngoài ra còn có Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 23/12/1992; Hiệpđịnh hợp tác du lịch 16/3/1994

2.3 QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – THÁI LAN TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY

Đến những năm đầu thập kỷ 90, mối quan hệ hợp tác Việt Nam - TháiLan đã thực sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều mặt trong đó lĩnh vực kinh tếthương mại phát triển một cách rõ rệt nhất

Bước vào thập kỷ 90, xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành

xu thế chủ đạo trên phạm vi toàn thế giới Trong khu vực Đông Nam Á, xuhướng đối thoại đã từng bước thay thế cho đối đầu Các nước ASEAN đã dầnkhắc phục những khuyết tật của mình để đảm bảo tăng trưởng cao, giải quyết cóhiệu quả mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội

Chính trong bối cảnh thế giới và khu vực như vậy, Việt Nam đã tích cực

mở cửa nền kinh tế, cải cách chính sách và thể chế, từng bước tham gia vào khuvực và giải quyết tốt các mối quan hệ với các nước trong khu vực trong đó cóThái Lan Tháng 07/1995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức củaASEAN Nền kinh tế Việt nam tiếp tục hội nhập tích cực vào nền kinh tế khuvực và thế giới, điển hình là năm 1995, Việt Nam đã là quan sát viên của tổ chứcThương mại Thế giới, gia nhập ASEM năm 1996 và APEC năm 1998 Việt Nam

Trang 27

cũng là thành viên của các Tổ chức tài chính tiền tệ khu vực và thế giới như

WB, IMF, ADB Đây chính là bối cảnh hết sức thuận lợi cho quan hệ ViệtNam - Thái Lan phát triển lên một tầm cao mới Đặc biệt là tháng 02/1994 Mỹtuyên bố bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam lại càng tạo thuận lợi cho quan hệViệt - Thái phát triển, đặc biệt trên hai lĩnh vực thương mại và đầu tư

Từ năm 1995 đến nay đánh dấu một bước chuyển mới trong quan hệ củagiới kinh doanh hai nước, ngoài những ngành nghề truyền thống, đã có nhiềulĩnh vực mới hợp tác hơn Những tập đoàn trong kinh doanh xây dựng và vậtliệu xây dựng, tập đoàn Siam Cement, CP Group vẫn đứng đầu trong thiện chílàm ăn với Việt Nam Phía Thái Lan cũng có chính sách đẩy mạnh quan hệ vớicác nước láng giềng trong đó có Việt Nam Hai nước đã cử nhiều đoàn cấp caosang mở rộng quan hệ kinh tế thương mại cho cả hai phía Đi theo các đoàn cấpcao còn có nhiều doanh nghiệp hai nước đã sang thăm lẫn nhau và tổ chức nhiềuhội thảo về thương mại và đầu tư nhằm đẩy mạnh công tác tìm hiểu về thực tếtình hình kinh tế Việt Nam cũng như Thái Lan, tăng cường hiểu biết lẫn nhaugóp phần thúc đẩy quan hệ hai nước ngày càng phát triển

2.3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan

Bảng 2.3 Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan

thời kỳ 1995 – 2011

(Đơn vị: triệu USD)

xuất khẩu

sang Thái Lan

Việt Namnhập khẩu từThái Lan

Tổng kim ngạchXNK Việt Nam -Thái Lan

Xuất khẩu ròng từViệt Nam sang Thái

Trang 28

Cụ thể, trong những năm cuối thập kỷ 90, quan hệ buôn bán Việt Nam –Thái Lan bắt đầu có chiều hướng thay đổi so với giai đoạn trước đó Mặc dùchịu những ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tiền tệ, làm cho giá cả hànghóa trong trao đổi thương mại giữa hai nước thay đổi nhưng kim ngạch thươngmại hai chiều năm 1999 so với năm 1998 chỉ bị sụt giảm nhẹ và triển vọng củamối quan hệ thương mại vẫn rất lạc quan Xu hướng chung của cả giai đoạn

1995 - 2000 vẫn là tăng trưởng Trong giai đoạn này, cả hai nước đều đang tíchcực tự do hóa thương mại, cải cách thuế tạo thị trường mở cửa hơn với hàng hóanước ngoài, đặc biệt đối với hàng hóa trong nội bộ ASEAN Tuy Việt Nam vàThái Lan đều có chung một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, song hai nền kinh tế

Trang 29

vẫn có khả năng bổ sung cho nhau do chênh lệch trình độ phát triển Lợi thế sosánh của một số mặt hàng xuất khẩu của Thái Lan mất dần do giá lao động tăng

và khan hiếm nguồn tài nguyên, trong khi đó Việt Nam lại có những lợi thế này

Bước sang những năm đầu của thế kỉ XX, kim ngạch thương mại haichiều giữa hai nước tăng trưởng đáng kể (có thể thấy trên biểu đồ 2.1) Cùng vớiviệc trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao, tại cuộc họp nội các chung của hainước lần thứ nhất tổ chức tại Đà Nẵng vào tháng 12/2004, Chính phủ hai nước

đã kí tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉXXI Quan hệ thương mại Việt Nam – Thái Lan tăng mạnh trong năm 2004 đạt2,3 tỷ USD và năm 2005 đạt 3,2 tỷ USD Tháng 12 năm 2006, thủ tướng hainước đã đặt mục tiêu đến năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 5 tỷUSD, tuy nhiên mới đến năm 2007, đã đạt 4,7 tỷ USD, tăng 20,4 % so với mứcgần 4 tỷ USD năm 2006 Năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế kimngạch buôn bán giữa hai nước giảm đạt gần 5,8 tỷ USD, thấp hơn mức 6,2 tỷcủa năm 2008

Trong hai năm 2010 và 2011 vừa qua, bối cảnh kinh tế thế giới nói chunggặp rất nhiều khó khăn, kinh tế suy thoái và ảm đạm Kinh tế Thái Lan nói riênglại chịu thêm những tác động tiêu cực từ bất ổn chính trị và thiên tai lũ lụt.Trong khi đó kinh tế Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn Tuy vậy, kim ngạchthương mại hai chiều giữa Việt Nam và Thái Lan không những không giảm đi

mà vẫn giữ được xu hướng tăng lên Điều này cho thấy tiềm năng và triển vọngphát triển rất lớn trong quan hệ thương mại hai nước

Nhìn chung, trong khu vực ASEAN, Thái Lan luôn là một trong nhữngbạn hàng lớn nhất của Việt Nam Về kim ngạch nhập khẩu, Thái Lan luôn là nhàcung cấp lớn thứ 2 của Việt Nam trong khu vực, chỉ sau Singapore Còn ViệtNam hiện cũng nằm trong nhóm những quốc gia ASEAN có kim ngạch xuấtkhẩu nhiều nhất vào Thái Lan

Mặc dù cả kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều có xu hướng tăngnhưng có thể thấy rất rõ đóng góp vào tăng trưởng xuất nhập khẩu chung phầnnhiều là nhờ nhập khẩu chứ không phải xuất khẩu Trong vòng 16 năm quan hệthương mại Việt Nam - Thái Lan đang xem xét (từ 1995 đến nay) thì Việt Namliên tục ở trong tình trạng nhập siêu và nhập siêu ngày càng tăng, khối lượng vàgiá trị nhập khẩu hàng hóa từ Thái Lan ngày càng bỏ xa khối lượng và giá trịhàng hóa xuất khẩu sang Thái Lan Chỉ duy nhất năm 2009 nhập siêu có giảmnhẹ so với năm 2008, nhưng ngay sau đó lại tiếp tục tăng vào năm 2010 và

2011

2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan

Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan

Nếu như trong những năm 1990 - 1994, Việt Nam xuất sang Thái Lan chủyếu là nguyên nhiên liệu, khoáng sản, trong đó gỗ và gỗ sơ chế, song mây chiếm

Trang 30

trên 70% kim ngạch; da sống và thuộc da chiếm 5,4%; phế liệu chiếm 5,7%; hảisản đông lạnh 4%, còn lại các sản phẩm khác như sản phẩm nhựa, hoá chất, giầydép, tơ sợi và dệt may (chủ yếu là nguyên liệu) (theo “Quan hệ kinh tế Việt Nam– Thái Lan: 20 năm phát triển” - Hà Huy Thành - Tạp chí nghiên cứu kinh tế số

224 tháng 1/1997), thì từ năm 1995 đến nay hàng xuất khẩu của Việt Nam sangThái Lan đã có sự thay đổi về cơ cấu và tốc độ tăng trưởng Ngoài nhóm nguyênliệu sơ chế, Việt Nam đã bắt đầu xuất sang Thái Lan thiết bị điện, linh kiện điện

tử, quần áo, tơ sợi, giầy thể thao, hoá chất

Bảng 2.4 Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan

Trị giá xuất khẩu năm

2011 (USD)

Tỷ trọng trong tổng kim ngạch (%)

Trang 31

Phương tiện vận tải và phụ tùng 81.359.458 4,53

(Nguồn : Tổng cục Hải quan)

Theo bảng 2.4, những mặt hàng chính Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lanhiện nay gồm: linh kiện vi tính, hải sản, dầu thô, than đá, và nhiều mặt hàngkhác như lạc nhân, hàng điện tử, sản phẩm nhựa, máy móc thiết bị điện, mỹphẩm, sắt thép, da thuộc

Như vậy, cơ cấu xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Thái Lan đã cónhững thay đổi hết sức tích cực so với giai đoạn trước Chúng ta đã chuyển dần

từ xuất khẩu các sản phẩm thô là chính sang đa dạng hóa các sản phẩm xuấtkhẩu, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu nguyên nhiên liệu thô

Đặc biệt, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep)cho biết, Thái Lan đang là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực củathủy sản Việt Nam Trong 5 năm gần đây, giá trị xuất khẩu mực, bạch tuộc củaViệt Nam sang Thái Lan liên tục tăng, chỉ riêng 3 tháng đầu năm 2012, tổng giátrị xuất khẩu nhuyễn thể chân đầu sang thị trường này tăng gần 15% so với cùng

kỳ năm ngoái Dự đoán tốc độ tăng trưởng này sẽ duy trì ổn định cho tới cuốinăm 2012 Tính đến hết tháng 3, kim ngạch xuất khẩu mực khô, nướng, mực sấy

ăn liền và bạch tuộc chế biến sang thị trường Thái Lan đạt giá trị khoảng 5 triệuUSD Với kết quả này, Thái Lan hiện là nước nhập khẩu lớn thứ 3 tại châu Á(sau Nhật Bản và Hàn Quốc) về các sản phẩm nhuyễn thể chân đầu khô, nướng,chế biến của Việt Nam Cũng theo Hải quan Thái Lan, nước này rất ít xuất khẩumực, bạch tuộc khô, nướng Như vậy, Thái Lan nhập khẩu mặt hàng mực, bạchtuộc từ Việt Nam để tiêu thụ nội địa và phục vụ cho hoạt động du lịch trongnước Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu mực, bạch tuộc Việt Nam cho biết họkhông có đủ nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu, lại phải giành giật thu mua vớithương lái Trung Quốc tại khắp các vùng biển miền Trung và Nam Trung Bộ

Để có thêm nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp phải tìm đến giải pháp nhập khẩu

dù phải chịu thuế suất tới 10% Tuy nhiên, họ vẫn bị “vướng” bởi nhiều thủ tụchành chính trong việc nhập khẩu Trên trường quốc tế, họ lại gặp phải sự cạnhtranh gay gắt từ Thái Lan do các doanh nghiệp nước này có nguồn cung nguyênliệu khá ổn định Để chiếm lĩnh thị trường vốn tiềm năng song cũng không ítkhó khăn này, các chuyên gia ngành thủy sản cũng khuyến cáo các doanhnghiệp cần tìm hiểu, nắm bắt rõ nhu cầu của thị trường Thái Lan; đặc biệt, cầnnâng cao chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh Vasep sẽ cùng hợp tác

Trang 32

với Hiệp hội Thương mại thủy sản Thái Lan thỏa thuận trao đổi thông tin để mởrộng thị trường, tìm hiểu nhu cầu sản phẩm mới tại thị trường này.

Trong năm 2011 vừa qua, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lantăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng Số lượng các mặt hàng Việt Nam xuấtkhẩu sang Thái Lan khá phong phú, từ sắt cuốn nguội, cà phê, gia vị, nông sản,thủy sản, văn phòng phẩm, bánh kẹo, thực phẩm chế biến Dù vẫn đang nhậpsiêu nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này trongnăm 2011 đạt tỉ lệ khá ấn tượng, với 51%, so với tốc độ tăng trưởng nhập khẩuchỉ có 30% Tuy nhiên, nếu biết tận dụng tốt các lợi thế, các doanh nghiệp ViệtNam có thể khai thác tốt hơn nữa về thị trường này Nhiều mặt hàng Việt Nam

đã vào Thái Lan như thực phẩm chế biến, bánh kẹo, hoa quả chế biến, lươngthực, cá tươi, cá sấy khô, các mặt hàng vật liệu xây dựng như gạch ốp lát, sứmen hay gỗ chế biến Hầu như các tỉnh phía bắc nước này, ngay cả những vùngquê hẻo lánh, đều có hàng Việt Nam Một số mặt hàng Việt Nam như Vinamit,

đồ sứ xây dựng, văn phòng phẩm của Thiên Long rất được bà con Việt kiều tạikhu vực này ưa chuộng Do hoạt động sản xuất bị ảnh hưởng nặng bởi đợt lũ lụtlịch sử vừa qua, nhiều công ty của Thái Lan đã chuyển sang nhập khẩu hàngnước ngoài, trong đó có hàng Việt Nam, để đáp ứng nhu cầu trong nước cũngnhư tái xuất sang các nước khác Hiện Thái Lan quan tâm các mặt hàng nôngsản, rau củ quả Việt Nam, đặc biệt su hào, nhãn, vải thiều Nếu làm tốt công tácxúc tiến thương mại, hàng Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội vào Thái Lan, nhờ lợithế nhất định là thu hoạch không trùng với vụ thu hoạch của Thái Lan Ngay cảcác mặt hàng như linh kiện ôtô, xe máy, điện tử cũng hoàn toàn có cơ hội xuấtkhẩu sang Thái Lan Có thể nói người tiêu dùng Thái Lan đánh giá hàng ViệtNam rất tốt nhờ chất lượng đảm bảo và ổn định hơn hàng Trung Quốc Vì vậy,hàng Việt Nam có nhiều khả năng cạnh tranh hơn so với hàng Trung Quốc Tuynhiên, mẫu mã và chủng loại cần quan tâm cải tiến để bắt mắt hơn với ngườitiêu dùng

Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan

Bảng 2.5 Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan

Trị giá nhập khẩu năm 2011

(USD)

Tỷ trọng trong tổng kim ngạch (%)

Ngày đăng: 18/12/2014, 13:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Central Intelligence Agency, The World Factbook, “EAST & SOUTHEST ASIA: THAILAND”,https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/th.html,26/04/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Factbook
Tác giả: Central Intelligence Agency
Năm: 2012
2. Cục xúc tiến thương mại, Phòng nghiên cứu và phát triển thị trường, (2010), “Hồ sơ thị trường Thái Lan” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ thị trường Thái Lan
Tác giả: Cục xúc tiến thương mại, Phòng nghiên cứu và phát triển thị trường
Năm: 2010
4. Hà Huy Thành, (1997), “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan: 20 năm phát triển”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 224 tháng 1/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan: 20 năm phát triển
Tác giả: Hà Huy Thành
Năm: 1997
5. Index Mundi, http://www.indexmundi.com/g/g.aspx?c=th&v=66, 2012 6. Nguyễn Tương Lai, NXB Khoa học Tự nhiên, (2001), “Quan hệ ViệtNam Thái Lan trong những năm 1990” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ ViệtNam Thái Lan trong những năm 1990
Tác giả: Nguyễn Tương Lai
Nhà XB: NXB Khoa học Tự nhiên
Năm: 2001
7. GS.TS. Võ Thanh Thu, NXB Lao Động Xã Hội, 2010, “Quan hệ Kinh Tế Quốc Tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Kinh Tế Quốc Tế
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
8. “THAI FIRMS TO INVEST IN VIETNAM”, http://www.business-in- asia.com/asia/thais_invest_in_vietnam.html, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: THAI FIRMS TO INVEST IN VIETNAM
Năm: 2012
9. “Thái Lan”, http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_Lan#.C4.90.E1.BB.8Ba_l.C3.AD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Lan
10.The Siam Commercial Bank, (2010), “Báo cáo tổng quan về kinh tế Thái Lan 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về kinh tế Thái Lan 2010
Tác giả: The Siam Commercial Bank
Năm: 2010
11.The World Bank, Data, Thailand, http://data.worldbank.org/country/thailand, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Data
Tác giả: The World Bank
Năm: 2012
13.Tuần báo Quốc tế, (1996), Đặc san chuyên đề “Việt Nam – Thái Lan 1976 – 1996” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san chuyên đề “Việt Nam – Thái Lan 1976 – 1996”
Nhà XB: Tuần báo Quốc tế
Năm: 1996
3. Đối Tác Việt Group, Viet Nam Economy Highlights - Foreign Investment, http://www.vietpartners.com/Statistic-fdi.htm, 2011 Link
12.Tổng cục Thống kê, (2010), Niên giám Thống kế các năm 2008, 2009, 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan qua các năm - giải pháp tăng cường hợp tác kinh tế việt nam thái lan
Bảng 1.1. Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan qua các năm (Trang 12)
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan thời kì 1972 - 1979 - giải pháp tăng cường hợp tác kinh tế việt nam thái lan
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan thời kì 1972 - 1979 (Trang 25)
Bảng 2.4. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan - giải pháp tăng cường hợp tác kinh tế việt nam thái lan
Bảng 2.4. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan (Trang 30)
Bảng 2.5. Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan - giải pháp tăng cường hợp tác kinh tế việt nam thái lan
Bảng 2.5. Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan (Trang 32)
Bảng 2.6. Đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 1995 – 1999 - giải pháp tăng cường hợp tác kinh tế việt nam thái lan
Bảng 2.6. Đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 1995 – 1999 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w