Song, trong thực tiễn đời sống văn học thời kỳ này,theo quan sát của chúng tôi, giữa các khuynh hướng văn học không có ranh giới tuyệt đối và luôn có sự giao thoa, ảnh hưởng qua lại,đan
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1- PGS TS Lê Thị Dục Tú
2- PGS TS Lê Quang Hưng
Phản biện 1: PGS TS Lã Nhâm Thìn
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Đăng Điệp
Khoa Văn học – Học viện Khoa học Xã hội
Phản biện 3: PGS TS Lý Hoài Thu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi: … giờ … , ngày … tháng … năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Thư viện Học Viện Khoa học Xã hội
Trang 3bộ phận văn học công khai, nổi bật là hai khuynh hướng lãng mạn
và hiện thực Sự phân chia như trên rất cần thiết trong nghiên cứu lýluận văn học Song, trong thực tiễn đời sống văn học thời kỳ này,theo quan sát của chúng tôi, giữa các khuynh hướng văn học không
có ranh giới tuyệt đối và luôn có sự giao thoa, ảnh hưởng qua lại,đan xen lẫn nhau ở nhiều cấp độ, từ cái nhìn hiện thực tới phươngthức phản ánh Sự giao thoa này đã ảnh hưởng rất lớn tới chất lượngnội dung và hình thức thể hiện của các khuynh hướng văn học
1.2 Nhìn nhận, phân tích, đánh giá sự giao thoa này là cần thiết, đặcbiệt là đối với văn xuôi thời kì này Một mặt, chúng ta có thể thấy rõhơn thực tế sinh động của văn xuôi nói riêng cũng như văn học nóichung Tác phẩm văn học không chỉ bó hẹp trong các khuynhhướng, trào lưu mà luôn vận động trong sự gặp gỡ, tác động qua lạilẫn nhau, có sự kế thừa, phát triển trong nội dung tư tưởng và hìnhthức thể hiện Mặt khác, tránh được cái nhìn cơ giới hóa vẫn còn tồntại rải rác trong một số giáo trình bằng việc cắt nghĩa, lý giải sựphong phú, đa dạng, phức tạp, từ đó đưa ra các đánh giá, nhận địnhmột cách khách quan, khoa học về tác giả cũng như tác phẩm vănhọc
1.3 Đây là thời kì văn học phát triển triển rực rỡ với những thànhtựu phong phú, những vấn đề mang ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống
xã hội, đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình vận động, pháttriển của lịch sử văn học Tìm hiểu sự giao thoa về tư tưởng và nghệthuật giữa hai khuynh hướng này cũng chính là tìm hiểu sự gặp gỡ,
kế thừa giữa các tác giả của hai khuynh hướng, giữa truyền thống vàhiện đại, giữa Đông và Tây, thấy rõ hơn được những giá trị bất biến,những giá trị mới trong quá trình vận động hòa nhập với văn họchiện đại thế giới
1.4 Trong thực tế, quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học thời
Trang 4kỳ này trước 1986, các nhà nghiên cứu với nhiều lý do thường chỉtập trung chú ý tới khuynh hướng văn học hiện thực Sau 1986, vấn
đề về văn học lãng mạn (đặc biệt là văn xuôi khuynh hướng lãngmạn) mới được chú ý nghiên cứu nhiều, trên tinh thần khách quan,khoa học và đã chỉ ra những đóng góp nổi bật của khuynh hướngnày trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc nóichung và văn xuôi nói riêng Đồng thời, thấy rõ hơn tính phức tạpnhiều mặt, sự ảnh hưởng qua lại của khuynh hướng lãng mạn vớikhuynh hướng hiện thực về tư tưởng và nghệ thuật Song chưa cócông trình chuyên biệt nào nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống
mà chỉ là những ý kiến, nhận định riêng trong các bài viết, các giáotrình
1.5 Xuất phát từ thực tế giảng dạy trong nhà trường, văn xuôi thời
kỳ 1932-1945 chiếm một dung lượng lớn, là một trong những nộidung cơ bản tạo nên giá trị đặc sắc, góp phần hiện đại hóa văn xuôiViệt Nam Tiếp đó là sự xuất hiện của nhiều tác giả lớn với nhữngkiệt tác và hình tượng nghệ thuật bất hủ, độc đáo Do đó, tìm hiểu sựgiao thoa về tư tưởng và nghệ thuật gữa hai khuynh hướng văn xuôitrên là rất cần thiết, có giá trị thực tiễn cao trong quá trình giảng dạy.Công việc này giúp cho người giáo viên hiểu thấu đáo hơn về diệnmạo, tính chất của giai đoạn văn học Từ đó, hiểu sâu sắc hơn về tácgiả, tác phẩm tiêu biểu của họ
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu đềtài: Giao thoa nghệ thuật gữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn
và văn xuôi hiện thực thời kì 1932-1945
2 Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
Luận án hướng tới tìm hiểu và phân tích những yếu tố giao thoa,những biểu hiện gần gũi, tương đồng giữa khuynh hướng lãng mạn vàkhuynh hướng hiện thực trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1932-1945
ở trong các cấp độ:
+ Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật
+ Giao thoa về hình thức nghệ thuật
Đề tài tập trung tìm hiểu sự giao thoa giữa hai khuynh hướng lãngmạn và hiện thực trong văn xuôi Việt nam giai đoạn 1930-1945, khảosát qua một số cây bút tiêu biểu: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo,
Trang 5Thạch Lam, Trần Tiêu, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân, NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng.
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ đặt ra của đề tài, trong qua trình triểnkhai các nội dung của luận án, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp: phương pháp lịch sử; tiếp cận hệ thống; phân tích, tổng hợp;
so sánh
4 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu tìm hiểu sự giaothoa nghệ thuật giữa hai khuynh hướng văn học lãng mạn và hiện thựctrong văn xuôi thời kì 1932 – 1945 Qua đó, góp phần khẳng định thêm
về lí thuyết về sự cộng hưởng, tác động lẫn nhau giữa các khuynhhướng, các hiện tượng văn học
Từ việc tìm hiểu này, luận án chỉ ra những đặc trưng lịch sử của vănhọc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, những đặc trưng này có ý nghĩa chiphối tiến trình phát triển của một giai đoạn văn học dân tộc nhất định
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinhviên về văn văn xuôi thời kỳ 1932 – 1945 nói riêng và văn học thời kìnày nói chung
5 Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận; Thư mục tham khảo;Nội dung luận án gồm có bốn chương: Chương 1: Tổng quan tìnhhình nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở xã hội, văn hóa của sự giao thoavăn học; Chương 3: Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật; Chương 4:Giao thoa về hình thức nghệ thuật
Trang 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn trước 1975
Ngay từ 1939, trong Dưới mắt tôi, nhà phê bình Trương Chính đã đề
cao giá trị hiện thực khi phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của NhấtLinh và Khái Hưng
Trong Dưới mắt tôi, khi phân tích các Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, và tập truyện ngắn Tối tăm (Nhất Linh) và Nửa chừng xuân, Gia đình
(Khái Hưng) nhà phê bình Trương Chính chú ý nhiều và đề cao giátrị xã hội, giá trị hiện thực và “giá trị tâm lý” trong mỗi tác phẩm
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan khi nghiên cứu về các cây bút tiêu biểu
của Tự lực văn đoàn cũng đã gặp gỡ với nhà phê bình Trương Chính khi chú ý tới một mảng hiện thực trong trong tiểu thuyết của Tự lưc văn đoàn Bàn về truyện ngắn Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan chú ý tới biệt tài
miêu tả cảm giác vừa tỉ mỉ, vừa tinh tế của ông Đặc biệt, ông phát hiệnnhững yếu tố lãng mạn (thiết tha, nhẹ nhàng, có duyên) đan xen với hiệnthực (chua chát, thê thảm, bi thương và chán ngán…) trong thế giới cảm
giác của Gió đầu mùa
Trong cái nhìn của hai nhà phê bình có tiếng đương thời, hiện thực
về cuộc sống của con người gắn với lễ giáo, hủ tục phong kiến cũngđược đề cập và ghi nhận và tạo dấu ấn trong tác phẩm của các cây
bút Tự lực văn đoàn
Vào thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình nghiên cứu văn học thời
kì 1932-1945 vẫn tiếp tục diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt (đấtnước bị chia cắt) và đã thu được kết quả nhất định
Năm 1960, ở miền Nam, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đã trình
bày công trình nghiên cứu công phu, đầy đặn về Tự lực văn đoàn cũng như các cây bút nổi bật của tổ chức văn học này trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Văn học hiện đại 1862-
1945 Trong mục Tổng luận về Tự lực văn đoàn, ông rất chú ý tới
giá trị hiện thực trong nội dung phản ánh của các cây bút tiêu biểu
Trang 7cho khuynh hướng lãng mạn đặc biệt là các tiểu thuyết hướng tới tốcáo, đả kích lễ giáo phong kiến: Nhân vật (Mai và Lộc, Lan vàNgọc, Minh và Liên, Loan và Dũng) cũng có những yếu tố chânthực chứ không hoàn toàn xa lạ; Thái độ mạnh mẽ, quyết liệt đến dữdội khi phê phán lễ giáo phong kiến; Kết án tội ác của lễ giáo phongkiến Viết về Thạch Lam, Phạm Thế Ngũ gặp gỡ Vũ Ngọc Phan khicho rằng: Thạch Lam là nhà văn có khuynh hướng xã hội Ông đưa
ra kết luận rất tinh tế và chính xác về nét riêng khi hướng tới phảnánh hiện thực của Thạch Lam: tác giả không có ý bi thảm hóa bứctranh xã hội mà muốn giữ một ngòi bút chừng mực và trung thực,làm một thứ nghệ thuật “hiện thực nhân bản”
Năm 1961, ở miền Bắc, văn học lãng mạn và văn học hiện thựcđược nghiên cứu có hệ thống hơn và được đưa vào giáo trình bậc đại
học: Văn học Việt Nam 1930-1945 (Nxb Giáo dục) Nhà nghiên cứu
Bạch Năng Thi đã chú ý tới sự đan xen giữa những yếu tố lãng mạn và
hiện thực trong văn xuôi của Tự lực văn đoàn Theo ông, sức hấp dẫn của các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có được vì đó là
những nhân vật “tiêu biểu cho một vài tầng lớp “tồn tại thực sự” trong
xã hội Việt Nam khi ấy” Ông nhấn mạnh: “Những cái hiện thực mà tácphẩm phản ánh còn mạnh hơn ý muốn của tác giả” do “ý nghĩa của một
số chi tiết hiện thực” Qua tập truyện Gió đầu mùa, ông nhấn mạnh:
phản ánh hiện thực trở thành nhiệm vụ của văn học trong quan niệm và
ý thức của Thạch Lam
Có thể thấy rằng, trong những công trình nghiên cứu trước 1975 vềvăn xuôi lãng mạn, các nhà phê bình không chỉ nhấn mạnh tớinhững nội dung lãng mạn, “lí tưởng” mà còn khẳng định được nộidung hiện thực là nội dung làm nên giá trị của tác phẩm
1.2 Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn sau 1975
Năm 1978, trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập V,
1930-1945, phần I), tác giả Nguyễn Trác đã chú ý tới sự tác động qua lại giữadòng văn học lãng mạn và dòng văn học hiện thực phê phán: “Ở nước ta,văn học hiện thực phê phán phát triển song song với văn học lãng mạn
và có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học”
Trang 8 Năm 1981, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã chú ý tới nhữngyếu tố khó phân định rạch ròi khi xếp một số nhà văn vào các khuynhhướng sáng tác: “Trong thực tế, có những cây bút không thuộc hẳn một
“dòng” nào một cách rõ ràng và nhất quán Thạch Lam, Thanh Tịnh,Nguyễn Tuân, Trần Tiêu, và cả Xuân Diệu… tuy có nhiều nét khácnhau, đều có thể xem như thuộc vào số những cây bút “trung gian” nhưthế.”
Năm 1988, nhóm tác giả Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức, Nguyễn Hoành
Khung trong Lịch sử Văn học Việt Nam cho rằng: “Không nhất thiết, các
nhà văn chỉ sử dụng một phương pháp sáng tác Hơn thế nữa, cáckhuynh hướng văn học lại không thuần nhất và xuất hiện gần như đồngthời nên có những ảnh hưởng qua lại rất phức tạp”
Nhận định về văn học hiện thực phê phán, các tác giả đã chỉ ra sựpha trộn, không thuần nhất trong tư tưởng: “Nhìn chung, văn họchiện thực phê phán Việt Nam là một hiện tượng không thuần nhất.Trong quá trình phát triển, đôi khi nó bị pha trộn bởi những khuynh
hướng lãng mạn và tự nhiên chủ nghĩa”
Nhận định về công thức “ba dòng” trong các sách văn học sử và cácsách giáo khoa Việt Nam trước 1989, nhà nghiên cứu Nguyễn HoànhKhung nhấn mạnh: “Văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phántuy có chỗ khác nhau về chất, có khi chống đối nhau gay gắt, song vẫn
có những cơ sở thống nhất chung, nên thường có mối liên hệ qua lại,chịu ảnh hưởng của nhau, thâm nhập lẫn nhau tới mức khó phân ranh
giới giữa chúng.” Theo ông, điều đó không xảy ra một cách ngẫu nhiên,
cá biệt bởi: “Nhân tố hiện thực, nhân đạo vẫn có cơ sở trong chiều sâu tưtưởng nghệ thuật của nhiều nhà văn, nhà thơ lãng mạn”
Khi nhận định, đánh giá về sự giao thoa, tương đồng giữa haikhuynh hướng này, đã có sự thống nhất của các nhà nghiên cứu HàMinh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh Từ sự khẳng định ranhgiới khó phân định giữa hai khuynh hướng, họ cho rằng: không có sựđối lập tuyệt đối và không nên đối lập một cách cực đoan giữa haikhuynh hướng văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện thực (Hà Minh Đức
viết về Thừa tự ; Phan Cự Đệ: Văn học Việt Nam 1900 -1945; Nguyễn Đăng Mạnh: Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945.
Trần Đình Hượu trong bài viết: Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử, qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học
Trang 9phương Đông cũng đã đề cập tới những yếu tố hiện thực trong cách đặt vấn đề và ý thức nhất quán trong sáng tác của Tự lực văn đoàn
Nghiên cứu về các tác giả cụ thể, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ranhững yếu tố giao thoa về tư tưởng và nghệ thuật Nhà nghiên cứuNguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh gặp gỡ nhau trong những ýkiến bàn về vị trí khó xác định của Thạch Lam giữa hai khuynh hướng
Về tiểu thuyết của Khái Hưng, nhà nghiên cứu Nguyễn HoànhKhung khẳng định giá trị tố cáo mạnh mẽ lễ giáo phong kiến Ở mảngtiểu thuyết đi vào sinh hoạt phong tục gia đình phong kiến, một số nhânvật phản diện tiêu biểu, đều rất thật, rất sống Đó là những “hình tượngcủa chủ nghĩa hiện thực.”
Chú ý tới những sáng tác “lạc dòng” của Nguyễn Công Hoan, ông
cũng chỉ ra sự giao thoa giữa hai yếu tố lãng mạn và hiện thực: Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan “là một truyện tình lãng mạn lâm
ly đầm nước mắt, song Tắt lửa lòng còn có khuynh hướng phê phán
thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du qua Truyện Kiều, của các nhà văn
lãng mạn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam… Mặt khác, hiểnnhiên là ông cũng tiếp thu được những thành tựu nghệ thuật miêu tả tâm
lý của các nhà văn lớn trên thế giới.” Nam Cao, ở một mức độ nào đó là
đã “kết tinh được những thành tựu và thế mạnh của cả chủ nghĩa lãngmạn và chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX”
Nhà nghiên cứu Lê Thị Dục Tú chú ý tới sự chuyển biến trong cảmquan hiện thực trong những năm 1939-1940 trong truyện ngắn KháiHưng: “Bên cạnh tình yêu, đề tài về người bình dân cũng là một mảng
đề tài chính trong truyện ngắn Khái Hưng Khái Hưng viết một loạt
truyện mang đậm chất hiện thực: Cái Ve, Anh phải sống, Người vợ mù, Dưới ánh trăng, Đào mơ, Hòn Gay, Biến đổi, Cô hàng nước ”
Gần đây, một số nhà nghiên cứu hải ngoại chú ý tới sự giao thoagiữa các khuynh hướng văn học Chú ý tới hai yếu tố: giao thoa giữacác khuynh hướng nghệ thuật như một hiện tượng “xâm lấn”, “tràn
Trang 10bờ” và giao thoa như một ý thức nghệ thuật tự giác.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA SỰ GIAO THOA VĂN HỌC 2.1 Khái niệm giao thoa, giao thoa văn học
2.1.1 Khái niệm giao thoa
Giao thoa là một khái niệm được sử dụng trong vật lí chỉ sự chồng
chập của hai hay nhiều sóng mà tạo ra một hình ảnh sóng mới Theo
định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, Giao thoa là “Hiện tượng xảy ra
khi hai chấn động có tần số bằng nhau chồng lên nhau, có thể làmcho ánh sáng hay âm mạnh lên, hoặc yếu đi đến triệt tiêu.” (tr 432,
Nxb KHXH, HN, 1977) Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ Giao thoa cũng được sử dụng rộng rãi hơn khi nói tới sự gặp gỡ, tương
đồng trong hình thức, tính chất khi so sánh các sự vật, hiện tượng 2.1.2 Khái niệm giao thoa văn học
Giao thoa trong văn học là một hiện tượng xuất hiện trong quá trình
tiếp nhận, hấp thụ và kết tinh giữa các nền văn học Nó diễn ra ở cáccấp độ khác nhau Có thể xuất hiện giữa văn học của các châu lục,các khu vực, các nước, các vùng, miền… hoặc trong một nước giữacác thời kì văn học khác nhau Nó có cả trong văn học dân gian vàvăn học viết Theo cách hiểu của mình, trên cơ sở của các nhà
nghiên cứu đi trước, chúng tôi quan niệm về Giao thoa văn học như
sau:
Giao thoa văn học là một hiện tượng phức tạp diễn ra trong đời sống
văn học Ở đó có sự gặp gỡ, sự trùng hợp về cái nhìn và cách thể
hiện đời sống, con người của những nghệ sĩ Giao thoa văn học
thường được biểu hiện trên các phương diện xuyên suốt quá trìnhsáng tạo sau: Sự gặp gỡ, trùng hợp về cảm hứng sáng tạo, nội dungphản ánh, kiểu nhân vật và phương thức, biện pháp nghệ thuật phảnánh
Giao thoa văn học không đơn giản, một mặt xuất phát từ ý thức của
những người nghệ sĩ, mặt khác đó còn là sự gặp gỡ ngẫu nhiên - gặp
gỡ trong vô thức, tự nhiên Giao thoa văn học không phải là quá
Trang 11trình đánh mất hay phá vỡ những nguyên tắc phản ánh cuộc sốngcủa mỗi khuynh hướng mà là sự thâm nhập lẫn nhau một cách tựnhiên Cũng có khi là sự xâm lấn “tràn bờ” giữa các khuynh hướng,các tác giả do tác động của bối cảnh lịch sử, xã hội cụ thể hay do sựvận động, trải nghiệm trong quá trình chiếm lĩnh cuộc sống của cácnhà văn Không phải thời điểm nào cũng xuất hiện hiện tượng giaothoa giữa các khuynh hướng trong văn học, điều này chỉ diễn ra khigặp những điều kiện thích hợp Cũng không phải hiện tượng giaothoa văn học nào sẽ tạo ra những hiệu ứng tốt đẹp, tích cực mà chỉkhi các yếu tố giao thoa cùng hướng tới những giá trị nhân bản
2.2 Kết cấu xã hội và sự nảy nở những tư tưởng, tình cảm mới
2.2.1 Kết cấu xã hội mới
Những năm 30 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, giai cấp phong kiến đãmất vai trò lãnh đạo đất nước và trở thành tay sai đắc lực của thực dân
Để phục vụ cho chính sách kinh tế, thực dân chủ trương mở rộng mạnglưới giao thông giữa các vùng miền và việc mở mang giao thông đã tạo
đà cho sự phát triển nhiều mặt của xã hội Sự trao đổi trong quá trìnhthông thương, buôn bán hàng hóa đã hình thành nhiều đô thị mới, khácvới đô thị cũ của nhà nước phong kiến Đô thị giờ đây là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hóa, quân sự… của nhà nước thực dân với tính chất vànhịp sống mới
Về chính trị, văn hóa, cuộc sống người dân đô thị chịu ảnh hưởngtrực tiếp chính sách bảo hộ của thực dân Làm quen và tiếp thu vớilối sống ngày càng hiện đại, cuộc sống đô thị có sự đổi mới rõ rệttheo chiều hướng vận động của xã hội tư sản Ảnh hưởng của triềuđình phong kiến đối với cuộc sống người dân đô thị đã trở nên mờnhạt Ở nông thôn, vai trò và ảnh hưởng của triều đình phong kiếnvẫn chi phối nặng nề đời sống xã hội Về văn hóa, mặc dù cũng chịuảnh hưởng của văn hóa đô thị, song về cơ bản, nông thôn Việt Namvẫn là thành lũy vững chắc của lễ giáo cổ hủ
Như quy luật tất yếu, chính sách khai thác thuộc địa và sự ra đời củanhững đô thị mới kéo theo những biến động lớn trong kết cấu xã hội.Kết cấu xã hội phong kiến vẫn tồn tại và được duy trì chủ yếu ở nôngthôn Kết cấu xã hội theo hướng tư sản xuất hiện và được duy trì chủ yếu
ở các đô thị kiểu mới Xã hội xuất hiện nhiều giai tầng mới, có quan hệ
Trang 12phụ thuộc vào thực dân và quan hệ khác trước với triều đình phong kiến.Nhiều giai tầng mới ra đời: giai cấp tư sản; giai cấp công nhân; tầng lớptiểu tư sản; binh lính
Hiện diện ở nông thôn là cuộc sống của giai cấp phong kiến và nôngdân Về cơ bản, quan hệ sản xuất phong kiến, gia trưởng vẫn tồn tạivới sự đối lập chủ yếu giữa quyền lợi của giai cấp nông dân vàquyền lợi của giai cấp phong kiến Xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ
XX đang chuyển mình một cách đau đớn sang hướng tư sản Cùngvới đó, sự ra đời của nhiều giai tầng mới làm biến đổi kết cấu xã hội,tạo điều kiện cho xã hội dần thoát khỏi cái lạc hậu, bảo thủ, mở ra
cơ hội cho cái mới phát triển theo hướng đổi mới, hiện đại
2.2.2 Sự nảy nở những tư tưởng, tình cảm mới
Ở các đô thị lớn mới, người dân đã tiếp xúc với lối sống văn minh tưsản và lối sống này đã tạo ra những biến đổi lớn trong sinh hoạt Nhịpsống trong xã hội thay đổi theo sự vận động của cơ chế mới - cơ chế của
xã hội đồng tiền và quyền lực, phù hợp với chính sách vơ vét kinh tế củathực dân Những đổi thay đó diễn ra từ đô thị tới đời sống nông thôn ởcác mức độ khác nhau, với các tốc độ khác nhau song không phải không
có sự kháng cự (dù là nhỏ) của người dân vốn mang nặng ý thức hệ tưtưởng phong kiến Song văn hóa, văn minh phương Tây với sức hấp dẫncủa nó, thâm nhập, phát triển ngày càng mạnh mẽ đã tạo ra cuộc cáchmạng trong đời sống tinh thần của người dân
Trước 1930, những nhà nho tiến bộ có tinh thần dân tộc, yêu nướcnhư Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền… đãđoạn tuyệt hoặc xa rời tư tưởng trung quân ái quốc để đến với tư
tưởng yêu nước mới: Duy tân để tự cường Tư tưởng yêu nước giờ
đây là hành động chống thực dân, là ý thức duy tân với các hànhđộng cách mạng, cải cách xã hội trên tinh thần dân chủ
Từ 1930, tư tưởng dân chủ ngày càng ngấm sâu và thể hiện trênnhiều phương diện trong xã hội, đặc biệt là ở xã hội tư sản thị thành,nơi tập trung các giai tầng mới Các tầng lớp quay cuồng chạy theolối sống hưởng thụ văn minh vật chất Giai cấp tư sản và tiểu tư sản
đề cao, ca ngợi văn minh Âu - Mỹ, chống lại tư tưởng phong kiếnbảo thủ lạc hậu đang kìm hãm sự phát triển của đời sống cá nhâncon người Quan niệm nhân sinh trong họ thay đổi, cùng với đó là sự
Trang 13mở rộng trong quan niệm đạo đức
2.3 Sự tiếp nhận văn hóa, văn học phương Tây
Từ 1930 trở đi, tiếp nhận văn hóa, văn học phương Tây trở thành ýthức tự giác, thường trực trong đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam
Sự bừng tỉnh ý thức cá nhân, thay đổi quan niệm thẩm mĩ, ý thứchọc hỏi tinh thần dân chủ, tư tưởng khoa học là những biểu hiện nổibật trong quá trình tiếp nhận
2.3.1 Sự bừng tỉnh ý thức cá nhân
Thực tế cuộc sống thành thị với lối sống cạnh tranh kiếm lời của xãhội tư sản, với quyền lực ngày càng mạnh mẽ của đồng tiền đã buộc conngười phải thay đổi cách nghĩ, quan niệm để tồn tại, thích nghi với cuộcsống hiện đại tư sản Sự thay đổi về ý thức cá nhân là vấn đề mang tínhquy luật được ý thức trong xã hội và văn học
Con người trở thành những cá nhân đang bứt phá những ràng buộccủa tôn ti, trật tự phong kiến và là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế
tư bản Sống trong xã hội phát triển theo hướng tư sản, con ngườiđược tiếp cận cuộc sống ngày càng văn minh, hiện đại với nhiềuluồng tư tưởng mới nên xuất hiện những nhu cầu, ham muốn, ước
mơ và khát vọng khác trước Họ muốn được tự mình định đoạt hạnhphúc, tự do hôn nhân luyến ái, được phô diễn khả năng, ý thích, tìnhcảm cá nhân một cách mạnh mẽ
Sự đổi thay ý thức cá nhân thể hiện trong ý thức bứt phá mạnh mẽnhững ràng buộc của lễ giáo phong kiến, đòi quyền sống, tự do củacon người, khát vọng đòi quyền được sống có ý nghĩa
2.3.2 Sự thay đổi quan điểm thẩm mĩ
Quan điểm xã hội, đạo đức, nhân sinh thay đổi kéo theo sự thay đổi
về quan điểm thẩm mĩ Đây là sự thay đổi mang tính quy luật, thểhiện rõ bước ngoặt trong cuộc sống xã hội, phù hợp và đáp ứng vớithị hiếu trong những năm đầu thế kỉ XX Cái đẹp trong quan niệm
xã hội phong kiến dần phải lùi bước trước quan niệm mới Quanniệm về cái đẹp giờ đây được mở rộng hơn, cụ thể hơn bởi cái đẹpđược được nhận thức qua cảm quan cá nhân Nói như vậy không cónghĩa quan niệm về cái đẹp thời kỳ này đối lập với cái đẹp trong
Trang 14quan niệm truyền thống mà là sự kế thừa, phát triển và mở rộngcùng với tính chất phức tạp của nó
Giờ đây, cái đẹp hiện diện ở mọi nơi Cái đẹp có trong cuộc sốngnhàn hạ lẫn trong cuộc sống hẩm hiu, cơ cực Cái đẹp có trong ýthức, khát vọng sống lương thiện của những người dân nghèo,những nông dân bị xã hội thối nát trước cách mạng đày đọa tới tậncùng Cái đẹp phải được biểu hiện trên nhiều phương diện của đờisống, trở thành đối tượng theo đuổi khám phá của nghệ thuật, trởthành thiên chức của người nghệ sĩ chân chính Cái đẹp đi đôi, songhành với cái mới, hiện đại Cái đẹp còn là ý thức sống mạnh mẽ, làkhát vọng sống có ý nghĩa của mỗi cá nhân Gắn với sự bừng tỉnhcủa ý thức cá nhân, cái đẹp trong quan niệm hiện đại phải là sự hàihòa giữa vẻ đẹp bên trong (nội dung) và vẻ đẹp bên ngoài (hìnhthức)
Có thể khẳng định, sự thay đổi trong trong quan điểm thẩm mĩ thểhiện cảm quan hiện đại và sự tiến bộ của xã hội khi hướng về conngười Con người trong xã hội hiện đại luôn ý thức về vẻ đẹp củatạo hóa ban cho mình và từ đó biết tôn thêm vẻ đẹp bằng nhiều cáchkhác nhau
2.3.3 Tiếp nhận tinh thần dân chủ, tư tưởng khoa học
Tư tưởng khoa học và tinh thần dân chủ của văn hóa phương Tây tácđộng sâu sắc và chi phối nhiều mặt trong đời sống tinh thần xã hộiViệt Nam thời kì này Đây là yếu tố cốt lõi, có vai trò quyết định vàtạo nên luồng sinh khí mới trong đời sống văn học, mở ra quan niệm
về xã hội nhân sinh mới
Biểu hiện đầu tiên của tư tưởng khoa học và tinh thần dân chủ trongvăn học thời kì này là thái độ tôn trọng hiện thực khách quan khihướng tới khám phá, miêu tả xã hội Trước hết là thái độ khách quankhi khám phá, miêu tả con người trong xã hội Giờ đây, trong quanniệm của các nhà văn, con người cá nhân trở thành trung tâm, đượcchú ý tìm hiểu, khám phá trong sự vận động và phát triển theo quyluật nội tại của nó Thái độ tôn trọng hiện thực khách quan còn thểhiện qua quan điểm khi miêu tả hiện thực cuộc sống, qua ý thứcsáng tạo trong quá trình tiếp thu văn học phương Tây
Trước sự đổi thay nhiều mặt trong đời sống xã hội, vấn đề tiếp nhận