1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiến sĩ phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9- 18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính

24 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 300 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng tích cực của tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non góp phần phát huy giáo dục gia đình đối với sự phát triển của trẻ Giáo dục một con người

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ có vai trò đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt trong xã hội loài người Nhờ có ngôn ngữ mà con người

có thể phản ánh thế giới một cách lý tính, gián tiếp và khái quát như A.R.Luria đã so sánh: “Động vật có một thế giới - thế giới của những vật thể và hoàn cảnh được tri giác một cách cảm tính; con người có hai thế giới, trong đó có thế giới của những vật thể được tri giác một cách trực tiếp và thế giới của những hình ảnh, vật thể, những quan hệ, những tính chất mà chúng được xác định bằng các từ.” Cũng nhờ có ngôn ngữ mà

con người có thể giao tiếp với nhau một cách thuận lợi, dễ dàng nhất, làm cơ sở để liên kết và tổ chức xã hội

loài người Vì vậy, Lê-nin cũng đã từng khẳng định “ngôn ngữ là công cụ giao tiếp trọng yếu nhất trong xã hội loài người”.

Đối với trẻ em nói chung, và trẻ 9 - 18 tháng tuổi nói riêng, trước khi có ngôn ngữ, trẻ cũng đãgiao tiếp với người lớn nhưng chủ yếu thông qua các phương tiện phi ngôn ngữ và mang tính cảm xúc.Khi lĩnh hội được ngôn ngữ, thì ngôn ngữ trở thành phương tiện giúp hoạt động giao tiếp của trẻ mangtính mục đích, tính ý hướng rõ ràng hơn, truyền tải lượng thông tin phong phú, chính xác hơn Hơn thếnữa, ngôn ngữ giúp trẻ thúc đẩy được nhanh hơn, hiệu quả hơn quá trình xã hội hóa bản thân, để hòanhập vào xã hội loài người với tư cách là một thành viên thuộc xã hội đó

1.2 Tương tác mẫu tính là một trong những nhân tố quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ

9-18 tháng tuổi

Trong quá trình phát triển của nhân loại nói chung, và phát triển ngôn ngữ của con người nóiriêng, yếu tố di truyền hay yếu tố hoàn cảnh đóng vai trò quyết định trong sự phát triển ngôn ngữ củacon người nói chung và trẻ em nói riêng? Những câu hỏi này là đề tài tranh luận diễn ra trong nhiều thế

kỉ nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy việc lĩnh hội ngôn ngữ một phần phụ thuộc vàonăng lực bẩm sinh của trẻ nhưng hoàn cảnh cũng có những tác động không nhỏ thông qua các kiểu kinhnghiệm ngôn ngữ mà trẻ có thể tiếp xúc Như đã nêu, hoàn cảnh tác động không nhỏ tới sự lĩnh hội ngônngữ của trẻ, nếu không giao tiếp bằng ngôn ngữ với những người xung quanh thì việc lĩnh hội ngôn từ cũngtrở nên khó khăn Trong số các tác nhân bên ngoài ảnh hưởng tới sự lĩnh hội ngôn ngữ, tương tác mẫu tínhđược xem là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất làm xuất hiện các mốc đánh dấu sự phát triển ngôn ngữcủa trẻ từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ chính thức

Tương tác mẫu tính có ảnh hưởng rất lớn như vậy, nhưng trên thực tế việc tìm hiểu, nghiên cứu

và đánh giá vai trò của kiểu tương tác này đối với sự phát triển nói chung và phát triển ngôn ngữ nóiriêng ở trẻ nhỏ ở nước ta vẫn còn một số hạn chế Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở nhà trường vànhấn mạnh vai trò của giáo viên mầm non (GVMN), chưa quan tâm đúng mức tới mắt xích gia đình, đặcbiệt là những người đầu tiên tiếp xúc, trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ Thực tế là chúng ta đã vô tình

quên mất rằng “lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo”, cho nên mảng đề tài nghiên cứu về vai trò, kiểu tương

tác mẫu tính đối với sự phát triển nhân cách, năng lực của trẻ vẫn còn tương đối mới mẻ ở nước ta

Trong khi đó, trẻ ở giai đoạn tiền ngôn ngữ cũng như giai đoạn chuyển giao từ tiền ngôn ngữ sang ngôn ngữ chính thức – 9-18 tháng tuổi chủ yếu được chăm sóc tại gia đình Mặt khác, vì chưa

nghiên cứu những cách thức nuôi dạy, tương tác với trẻ tương đối hiệu quả của các bà mẹ trong mỗi giađình, nên chúng ta vô tình đã bỏ qua những bài học thực tiễn quí báu, bỏ qua cơ hội vận dụng chúng

Trang 2

trong quá trình đào tạo GVMN, để mỗi cô giáo được trau dồi thêm phẩm chất và năng lực mẫu tính

trong quá trình tương tác, giao tiếp với trẻ, để “khi đến trường cô giáo như mẹ hiền”.

1.3 9-18 tháng tuổi là giai đoạn chịu ảnh hưởng sâu đậm của tương tác mẫu tính.

Đa số trẻ 9-18 tháng tuổi được chăm sóc, giáo dục tại gia đình, mẹ và những người thân chính làngười tạo ra mối quan hệ xã hội đầu tiên, chủ yếu cho trẻ, do vậy tương tác xã hội của trẻ chủ yếu làtương tác mẫu tính Điều đó cho thấy tương tác mẫu tính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển củatrẻ, đặc biệt là đối với ngôn ngữ bởi đây là giai đoạn chuyển biến về chất trong sự phát triển ngôn ngữcủa trẻ, từ việc phát ra những âm thanh vô nghĩa sang phát âm có nghĩa, từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sanggiai đoạn ngôn ngữ Vì vậy, sự tương tác ở giai đoạn này có ý nghĩa chuẩn bị quan trọng cho các bướcphát triển tâm lý-ngôn ngữ ở giai đoạn sau Nói cách khác, việc quan tâm phát triển ngôn ngữ thông quatương tác mẫu tính chính là một lựa chọn hướng đến những nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất thuộc vềmôi trường có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý - ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn 9-18 tháng Thực hiệntốt tương tác mẫu tính là cơ sở cho các hướng tác động cụ thể nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở giaiđoạn này cũng như giai đoạn kế tiếp

1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng tích cực của tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non góp phần phát huy giáo dục gia đình đối với sự phát triển của trẻ

Giáo dục một con người toàn diện cần có sự phối hợp khăng khít giữa nhà trường, gia đình và

xã hội Một trong những cách để hiện thực hóa được quan điểm trên là cần tăng cường hơn nữa các côngtrình nghiên cứu về vai trò gia đình, vai trò của bà mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái Riêng đốivới việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ, vì xuất phát từ thực tế là hầu như trẻ đã nói được hoặc đã đượcchuẩn bị để biết nói trước khi đến trường mầm non nên sự chuẩn bị đó phần lớn thuộc về gia đình, còntrường mầm non là nơi tiếp tục duy trì, phát huy các năng lực ngôn ngữ đó cho trẻ

Để quá trình đổi mới giáo dục hiệu quả hơn nữa, chúng ta cần cố gắng tham khảo và vận dụngkinh nghiệm của một số nước trên thế giới để nhìn nhận lại vấn đề tương tác mẫu tính ở góc độ lí luậnchứ không chỉ đánh giá nó ở góc độ kinh nghiệm, bản năng Bởi lẽ kiểu chăm sóc giáo dục mầm non có

một đặc thù rất riêng, đó là “cô giáo như mẹ hiền” Và làm thế nào để “cô giáo như mẹ hiền”, góp phần

phát huy tiềm năng vốn có ở trẻ, trong đó có tiềm năng ngôn ngữ, lại rất cần đến việc tìm hiểu một cách

hệ thống và khoa học về kiểu tương tác mẫu tính cũng như vai trò của nó trong việc chuẩn bị các tiền đềgiúp trẻ lĩnh hội ngôn ngữ Thực tế này đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu khoa học tìm hiểu vềkiểu tương tác mẫu tính trong mối liên hệ với sự phát triển chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng củatrẻ

1.5 Thực tiễn nghiên cứu về ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế

Hiện nay, với những thay đổi về quan điểm giáo dục mầm non, những công trình nghiên cứu vềtương tác mẫu tính đã xuất hiện Tuy nhiên, một mặt, trong số các nghiên cứu lý luận thì một số côngtrình chưa được công bố rộng rãi, một số khác còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về các thuật ngữquốc tế nên có nhiều cách quan niệm khiến nội hàm khái niệm bị thu hẹp lại Mặt khác, các công trìnhnghiên cứu thực tiễn về vấn đề này còn đang rất ít Thực trạng đó cũng đặt ra yêu cầu cần thiết phảinghiên cứu cặn kẽ hơn về mối liên hệ giữa tương tác mẫu tính với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính” để nghiên cứu trong luận án của mình.

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

Luận án nhằm tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 9 - 18 tháng tuổi dưới tác động củatương tác mẫu tính Trên cơ sở đó, bước đầu đưa ra một số nội dung và biện pháp tương tác mẫu tính cụ thểnhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ - giao tiếp cho trẻ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu: khái niệm, nguồn gốc và đặc điểm của tương tác

mẫu tính

3.2 Làm rõ thực trạng phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính.

3.3 Đề xuất nội dung và biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính.

3.4 Làm rõ tính khả thi của nội dung, biện pháp tác động được đề xuất để phát triển ngôn ngữ cho trẻ

9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9 - 18 tháng tuổi thôngqua tương tác mẫu tính

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính có thể triển khai theo nhiềucách khác nhau Trong phạm vi luận án này, chúng tôi tập trung tìm hiểu một nội dung như sau: chúngtôi hệ thống hóa lí luận về vấn đề TTMT có ảnh hưởng đến sự PTTN tuổi mầm non, tìm hiểu thực trạngPTNN ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua TTMT, đề xuất nội dung và biện pháp PTNN ở trẻ 9-18 thángtuổi thông qua TTMT Chúng tôi tập trung vào giai đoạn 9-18 tháng tuổi vì đây là giai đoạn chuyển tiếp

từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ chính thức ở trẻ mầm non

- Về địa bàn nghiên cứu: Chúng tôi mong muốn thực hiện quá trình nghiên cứu trên nhiều địabàn khác nhau trong cả nước, nhưng do đối tượng nghiên cứu có nhiều nét đặc biệt, nên chúng tôi lựachọn địa bàn Hà Nội để có thể kiểm soát được tính khách quan trong quá trình điều tra và thực nghiệm

7 Các phương pháp nghiên cứu: chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp

nghiên cứu thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

8 Đóng góp của luận án

Từ việc hệ thống hoá cơ sở lí luận về phát triển ngôn ngữ và tương tác mẫu tính trên thế giới và

ở Việt Nam, khảo sát thực trạng tương tác mẫu tính và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển ngôn ngữ củatrẻ 9-18 tháng tuổi, luận án có những đóng góp sau đây:

- Hệ thống được những vấn đề lý luận cơ bản về tương tác mẫu tính, ảnh hưởng của tương tácmẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ trẻ mầm non

- Mô tả được thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 9 - 18 tháng tuổi qua tương tác mẫu tính

- Đề xuất được một số nội dung và biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ của trẻ giai đoạn 9 - 18 thángtuổi thông qua tương tác mẫu tính

- Đề xuất bộ công cụ đánh giá một số phương diện của sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9 - 24 thángtuổi

Vì những đóng góp kể trên, luận án có thể làm tài liệu tham khảo giúp phụ huynh, GVMN trong việcchăm sóc giáo dục nói chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng ở trẻ mầm non

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần tổng quan nghiên cứu, phần nội dung gồm 3chương và cuối cùng làphần kết luận, đề xuất

Trang 4

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH

1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1 Những quan điểm cơ bản về sự phát triển ngôn ngữ

1.1.1 Thuyết bẩm sinh (Nativist Theories)

Nội dung của thuyết này cho rằng ngôn ngữ là năng lực bẩm sinh đặc thù của loài người, thể hiệnđặc biệt ở trẻ sơ sinh Trẻ sơ sinh lĩnh hội ngôn ngữ thông qua một chương trình di truyền học Do đó sựlĩnh hội ngôn ngữ khác với các quá trình nhận thức khác Noam Chomsky, đại biểu của thuyết bẩm sinh đã

chỉ ra công cụ lĩnh hội ngôn ngữ (the language acquisition device –LAD[79]) Quan điểm này nhấn mạnh

trẻ em được sinh ra với sự hiểu biết cơ bản về ngôn ngữ và với một năng lực trí tuệ sẵn có để lĩnh hội ngônngữ một cách thuận lợi và nhanh chóng

1.1.2 Thuyết học tập (Learning Theories)

Thuyết học tập lại cho rằng năng lực ngôn ngữ là do học tập mà có được Đại biểu của thuyết này làSkinner, Pavlov,….Các nhà khoa học theo thuyết này cho rằng ngôn ngữ được lĩnh hội thông qua một quátrình cơ bản như liên tưởng, củng cố và bắt chước (associations, reinforcement and imitation) Thuyết này

còn được gọi bởi một cái tên khác là Thuyết hành vi chủ nghĩa Tuy vậy giới hạn của thuyết học tập là những

quá trình mà thuyết này đề ra chưa tính toán một cách đầy đủ đến các yếu tố liên quan tới quá trình phát triểnngôn ngữ, bởi lẽ nó quá đơn giản để giải thích sự phức tạp của bản thân ngôn ngữ

1.1.3 Thuyết nhận thức( Cognitive theory )

Thuyết nhận thức cho rằng sự phát triển của ngôn ngữ được sự phát triển nhận thức chuẩn bị vàhậu thuẫn Piaget, J và những nghiên cứu về phát triển nhận thức của ông có ảnh hưởng lớn nhất đếnthuyết nhận thức Đối với Piaget, năng lực ngôn ngữ được xem là một phần năng lực biểu tượng phổthông nhất, phức hợp hơn cả so với trò chơi biểu tượng, sự mô phỏng trì hoãn (延滞模倣), vẽ v.v…Sự

xuất hiện của ngôn ngữ là vào cuối thời kì vận động trở đi, nhờ vào sự hậu thuẫn của năng lực biểu tượng hay còn gọi là tư duy tượng trưng (là năng lực dùng một sự vật khác thay thế cho một sự vật ở

trong suy nghĩ, và dùng ngôn ngữ để biểu hiện, làm tái hiện được sự vật không có ở trước mắt)

1.1.4 Thuyết nhận thức xã hội (hay còn gọi là quan điểm tương tác xã hội )(Interactionist Theory)

Thuyết nhận thức xã hội cho rằng mặc dù bẩm sinh và học tập là rất quan trọng, nhưng sự tồn tạicủa con người mang tính xã hội nên ngôn ngữ và tâm lí không đơn thuần là sản phẩm của cá nhân mà

còn là sản phẩm của quá trình giao tiếp với người khác Kiểu tư duy này được gọi là chủ nghĩa cấu thành xã hội Người mở đầu cho quan điểm này trong tâm lý học phát triển là Vygosky, L Vygosky đã

nhấn mạnh ngôn ngữ được sự hậu thuẫn bởi sự phát triển của tư duy, kí ức tùy theo sự vật hay công cụ

có tư cách là di sản văn hóa, mà được truyền lại từ sự tương tác và hỗ trợ của người lớn Bruner, nhà líluận phát triển ngôn ngữ sẽ tiếp tục hướng tư duy trên

Như vậy thông qua các thuyết về sự phát triển ngôn ngữ, ta thấy rõ ngôn ngữ rõ ràng là có liênquan đến khía cạnh di truyền học Trước hết ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong thế giới loài người với mộtphiên bản đầy đủ nhất, tức là ở dạng tín hiệu có sự tương ứng giữa một hình thức vật chất và một nộidung ý nghĩa Nhưng để có sự phát triển ngôn ngữ một cách thuận lợi nhất cần rất nhiều đến các yếu tố

có liên quan chặt chẽ với các yếu tố phát triển xã hội và nhận thức khác

Trang 5

1.2 Nghiên cứu tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ nhỏ

1.2.1 Nghiên cứu về tương tác mẫu tính

1.2.1.1 TTMT như một phẩm chất có nguồn gốc bẩm sinh, có liên quan tới thuyết Gắn bó (Attacment)

Mở đầu cho xu hướng nghiên cứu này về TTMT phải kể tới các nhà tâm lý học Ainsworth, M.D., Bell, S.M., & Stayton Tiếp tục cho xu hướng nghiên cứu này phải kể tới tên tuổi của John Bowlbyvới các công trình nghiên cứu về Attachment (Sự gắn bó) Attachment được giới nghiên cứu giáo dục

Âu Mĩ bắt đầu từ những năm 1977 với đại biểu tiêu biểu là John Bowlby Theo John Bowlby, sự gắn bó

có nghĩa là: “Là một hệ thống điều chỉnh sẵn có ở con người (do quá trình tiến hóa mang lại) để đảm

bảo sự sinh tồn và phát triển của loài người Sự gắn bó này có thể thay thế cho mọi nỗ lực khác, nó bắt đầu từ khi con người sinh ra cho đến khi chết đi Đối với trẻ, đó là trạng thái gần gũi hoặc dễ dàng trò chuyện, giao tiếp với một ai đó, và điều này giống như nền tảng có thể đảm bảo sự an toàn (đặc biệt là

về tinh thần) cho trẻ một cách tốt nhất.”

1.2.1.2 TTMT mang nhiều nét đặc thù như sự nhạy cảm, tính tự nhiên

Tương tác mẫu tính giữa người mẹ với trẻ khi được xét như là một quá trình thì đòi hỏi phảimang những đặc tính nhất định phù hợp với trẻ mầm non Những đặc tính này thể hiện ở chỗ người mẹthường xuyên kiểm soát, điều chỉnh được hướng nhìn và hành động của trẻ một cách gắn bó, thân thiết,

và sau đó phản ứng lại một cách tinh tế, nhạy bén, tự nhiên và phù hợp

1.2.2 Nghiên cứu về những ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự PTNN của trẻ mầm non

1.2.2.1 TTMT như là một cấu trúc xã hội tối ưu giữa mẹ - trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ

Hầu hết những mô tả về cấu trúc xã hội tối ưu giữa mẹ và trẻ đã đóng góp những giả thuyết quantrọng cho rằng những đoạn cảnh đáp ứng qua lại ngẫu nhiên và manh tính xã hội giữa mẹ và trẻ là mộtnhân tố thuận lợi cho quá trình phát triển của trẻ ở giai đoạn mầm non (Moore & Dunham, 1995) Theo

đó, với quan điểm thực tiễn-xã hội trong phát triển ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội ngôn ngữ như một phần toànvẹn từ những tương tác xã hội với những người xung quanh (Bruner, 1983) Bruner cũng là một trongnhững người đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi giao tiếp tiền ngôn ngữ đểhiểu về quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh trẻ em đã nỗ lực để truyền đạt thông tin nhưthế nào ở giai đoạn tiền ngôn ngữ

1.2.2.2 TTMT là một nhân tố dự báo sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Nhiều nghiên cứu của Barrett, Harris và Chasin, 1991]; D’Odorico, Salerni, Cassibba và Jacob,1999; Menyuk, Liebergotts và Schultz, 1995, Snow, 1977 đã khẳng định những khía cạnh liên quan tới

sự tương tác mang tính xã hội có thể đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình chuyển đổi từ giai đoạntiền ngôn ngữ tới giai đoạn ngôn ngữ chính thức

2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

2.1 Nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non

2.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non

Có thể thấy sự phát triển của bộ môn khoa học Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non là một bộphận của bộ môn nghiên cứu Phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt ở các Khoa Ngữ văn Có thể kể

ra đây các giáo trình, công trình nghiên cứu đầu tiên theo hướng cấu trúc của bộ môn khoa học Phương

pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em”(Cao Đức

Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng- Trung tâm nghiên cứu Đào tạo và Bồi dưỡng Giáo viên, HàNội, 1993); …Bên cạnh phương diện cấu trúc, phát triển ngôn ngữ trẻ em còn được nhìn nhận ở phươngdiện chỉnh thể, tức là việc trẻ sử dụng các phương tiện giao tiếp trong đó có ngôn ngữ trong giao tiếp xã

Trang 6

hội để xã hội hóa chính bản thân mình và phát tiển các khả năng, kĩ năng khác trong đó có khả năng, kĩnăng ngôn ngữ Việc nghiên cứu về giao tiếp của trẻ được nhìn nhận nhiều từ góc độ tâm lý học trẻ em,nhưng chưa trở thành một hướng nghiên cứu giao tiếp – ngôn ngữ trẻ em với những công trình nghiêncứu thuyết phục và có sức ảnh hưởng sâu rộng có thể làm thay đổi diện mạo của bộ môn Phát triển ngônngữ tuổi mầm non.

2.1.2 Nghiên cứu về biện pháp phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non gắn

Ngay từ khi xuất hiện ở Việt Nam, ngành này đã có tên gọi Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo hoặc phương pháp phát triển lời nói trẻ em Như vậy, từ trong tên gọi, đã thể hiện mối

gắn kết giữa khoa học phát triển ngôn ngữ với Giáo dục học mầm non theo mối quan hệ giữa cái riêng

và cái chung Theo đó, các thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học non trẻ này tập trung một lượngđáng kể vào việc tìm kiếm, đề xuất nội dung, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Có thể kể

ra đây các công trình tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu này: “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (Nguyễn Xuân Khoa, NXB ĐHQG HN, 1999), “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo” (Nguyễn Thị Oanh),)…Như vậy, nếu như ở phương Tây, PTNN được xem

là một ngành khoa học gắn bó chặt chẽ với ngành tâm lý, ngôn ngữ (vì thế được gọi là tâm lý – ngônngữ học hoặc tâm lý học phát triển) thì ở Việt Nam, PPDH Văn và Tiếng Việt nói chung và PTTN chotrẻ mầm non nói riêng lại gắn bó thực tiễn với Giáo dục học, và có mã ngành đào tạo là Giáo dục học

2.2 Nghiên cứu về PTNN cho trẻ mầm non thông qua tương tác mẫu tính ở Việt Nam

2.2.1 Nghiên cứu phát triển ngôn ngữ theo định hướng giao tiếp nói chung

2.2.1.1 Nghiên cứu về giao tiếp có ảnh hưởng tới nhân cách trẻ nói chung

Về giao tiếp nói chung vào những năm đầu của thập kỉ 80,“Giao tiếp” là đề tài được giới khoa

học xã hội quan tâm nghiên cứu Cuối năm 1981, Ban Tâm lý thuộc Viện Triết học của Ủy ban Khoa

học xã hội tổ chức một hội nghị khoa học lớn để bàn về:“ Hoạt động và giao tiếp” Sau đó, nhiều công

trình về giao tiếp cũng được nghiên cứu và công bố Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu lí luận và

thực tiễn về giao tiếp của trẻ mầm non: “ Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em” của Ngô Công Hoàn, “ Giáo dục trẻ em trong nhóm bạn bè” của Nguyễn Ánh Tuyết, “ Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo bé trong nhóm chơi không cùng độ tuổi”( Lê Xuân Hồng )…Những công trình này có đề cập

vai trò của giao tiếp với trẻ, nhưng chủ yếu là giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ mà chưa đề cập đếnkiểu giao tiếp mẫu tính đặc thù, một kiểu giao tiếp có xuất phát điểm từ giao tiếp mẫu tử

2.2.1.2 Nghiên cứu về gia đình có ảnh hưởng tới phát triển ngôn ngữ của trẻ

Đã có những công trình bắt đầu nghiên cứu đến vai trò của gia đình đối với ngôn ngữ của trẻ

nhỏ như:“ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành, phát triển vốn từ ở trẻ 1-3 tuổi” của Lưu Thị Lan (Nghiên cứu giáo dục, 1989, số 8, tr10), “ Vai trò của gia đình trong việc sửa tật ngôn ngữ cho trẻ” –

Lưu Thị Lan (Nghiên cứu giáo dục, 1986, số 3, tr8) Những nghiên cứu này tập trung vào vấn đề giaotiếp của trẻ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, vào quá trình phát sinh, phát triển giao tiếp của trẻ từ 0-6 tuổi, nghiêncứu mối quan hệ qua lại giữa giao tiếp với các chức năng tâm lý… những vấn đề phương pháp luận vàphương pháp nghiên cứu cụ thể giao tiếp của trẻ em Mặc dù vậy, các nghiên cứu trên cũng chưa đề cậptới kiểu giao tiếp mẫu tính trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ Trong khi đó, tương tác mẫu tínhlại là tương tác xã hội đầu tiên của trẻ, tạo nên nền tảng tâm lý- nhân cách- ngôn ngữ cho các giai đoạnphát triển tiếp sau của trẻ nhỏ

Trang 7

2.2.2 Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính

Tương tác là bản chất của giao tiếp do đó tương tác mẫu tính là một bộ phận của giao tiếp nóichung, mặc dù vậy vấn đề PTNN thông qua tương tác mẫu tính hầu như chưa được đặt ra ở GDMN ViệtNam

Một số giáo trình tâm lý học trẻ em như giáo trình “Tâm lý học mầm non” (Nguyễn Ánh Tuyết, NXB ĐHQGHN, 2003), giáo trình Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non (Từ lọt lòng đến 6 tuổi),In lần

thứ 11, Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên) có đề cập tới các kiểu quan hệ mẹ- con có ảnh hưởng tới sự pháttriển tâm lý, nhân cách của trẻ Những nội dung lý thuyết đã được đề cập phần lớn là được kế thừa từtâm lý học phương tây, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào ở Việt Nam để kiểm chứng hoặc để pháthuy vào các công trình mang tính ứng dụng khác Vì lẽ đó hầu như chưa có một tường thuật đầy đủ nào

về Gắn bó mẹ - con, khái quát hơn là Gắn bó mẫu tính đối với người học về ngành mầm non Do vậy

mà chưa có công trình nghiên cứu nào có tính chất kiểm chứng lại lý thuyết của Ainsworth, Bowlby,Bruner ở Việt Nam và tiến tới vận dụng các lý thuyết này trong các công trình nghiên cứu ứng dụngkhác

Tóm lại, qua việc tìm hiểu việc nghiên cứu PTTN ở trẻ mầm non nói chung và trẻ 9-18 thángtuổi nói riêng ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy ở nước ta đã có những manh nha cho xu hướng nghiêncứu này, chẳng hạn có đặt ra việc nghiên cứu ảnh hưởng của giao tiếp đối với sự phát triển nhân cách,phát triển ngôn ngữ của trẻ, có đặt ra việc nghiên cứu vai trò của gia đình đối với sự phát triển ngôn ngữcủa trẻ Tuy nhiên, một cách chính thức thì vấn đề phát triển ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi thông quatương tác mẫu tính vẫn chưa hề được đặt ra Vì thế chúng tôi mạnh dạn theo đuổi một hướng nghiên cứu

ứng dụng tương đối mới mẻ ở Việt Nam : “Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính”.

Chương 1 TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TUỔI MẦM NON

1.1 Quan niệm về sự “ phát triển” và “ phát triển ngôn ngữ”

Quan điểm của chúng tôi là, “ phát triển ngôn ngữ” được hiểu theo cả hai nghĩa danh từ và động

từ, tức là quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ Chúng tôi cho rằng, xuất

phát từ việc cố gắng hiểu thấu các cơ chế phát triển ngôn ngữ của con người nói chung, trẻ nhỏ nói riêngcác nhà tâm lý – ngôn ngữ, giáo dục học sẽ đưa ra các phương pháp, biện pháp nhằm can thiệp sớm hoặc

hỗ trợ cải thiện chất lượng lĩnh hội và phát triển ngôn ngữ ở giai đoạn tuổi mầm non; đồng thời đưa ra cáctiêu chí phổ quát đánh giá các mốc phát triển ngôn ngữ cần đạt của trẻ ở mỗi một độ tuổi nhất định của tất

cả các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau

1.2 Tương tác mẫu tính và sự phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Sự tương tác mẫu tính được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là maternal interaction, theo nghĩa hẹp

đó là hành vi phản ứng, tương tác giữa người mẹ và trẻ nhỏ Hành vi tương tác mẫu tính đặc trưng chonăng lực và kĩ năng giao tiếp của mẹ và trẻ ,bao gồm nhiều dạng tương tác như tương tác thể chất, tươngtác ngôn ngữ v.v…TTMT được xem là những điều kiện quan trọng để phát triển nhận thức – trí tuệ,phát triển tình cảm- xã hội, phát triển ngôn ngữ của trẻ Theo nghĩa rộng, hành vi tương tác mẫu tínhcũng là hành vi của người lớn trong trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non Do công việc chăm

Trang 8

sóc trẻ trước tuổi học đường có nhiều nét đặc thù nên giáo viên mầm non cũng cần có những phẩm chất

và năng lực của một người mẹ

1.21.2 Phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính

Phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính là việc thực hiện các tương tác mẫu tính nhằm

hỗ trợ trẻ đạt được các quá trình tâm lý liên quan đến giao tiếp, lĩnh hội các phương tiện giao tiếp, lĩnhhội và rèn luyện các kĩ năng giao tiếp để hoạt động giao tiếp nói chung và hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ nói riêng, vận dụng những kĩ năng giao tiếp vào hoạt động giao tiếp để đạt được hiệu quả hơn

Các khái niệm được lý thuyết Sự gắn bó xây dựng là các khái niệm maternal attachment, maternal responsive, maternal interaction, maternal sensitive…Trong số những khái niệm này chúng tôi lựa chọn khái niệm maternal interaction làm cơ sở lí luận cho đề tài của luận án bởi lẽ bản thân nội hàm

của nó có sự liên hệ trực tiếp tới các phương tiện giao tiếp nói chung và phương tiện giao tiếp ngôn ngữnói riêng Việc Việt hóa khái niệm này cần có những cân nhắc cụ thể Quan điểm của luận án là

“maternal” không chỉ có nội hàm là một kiểu quan hệ mà hơn thế nữa còn có nội hàm gắn với một phẩm chất Do đó, chúng tôi không dịch là phản ứng bà mẹ hay tương tác bà mẹ, mà dịch là phản ứng mẫu tính và tương tác mẫu tính “Mẫu tính” về mặt từ loại cũng là tính từ, tức là từ loại tương ứng với từ

“maternal”.Với cách dịch của luận án, chúng tôi có thể vận dụng và phát triển những thành tựu nghiên

cứu trên không chỉ vào việc tư vấn cho các bà mẹ mà còn vào việc tư vấn cho những người khác thamgia vào quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt hơn cả vào việc đào tạo đội ngũ GVMN, phát triển khả

năng tương tác mẫu tính không chỉ là phẩm chất cần thiết của một người mẹ mà còn là một phẩm chất,

kĩ năng quan trọng của một GVMN Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu được nhất quán và thể hiện rõ nétnhất, chúng tôi vẫn tiến hành chỉ quan sát và tiến hành thực nghiệm trong quá trình tương tác, giao tiếpgiữa mẹ và bé, tức là quá trình tương tác của một kiểu quan hệ điển hình nhất – quan hệ mẫu tử

1.2.2 Đặc trưng của tương tác mẫu tính

1.2.2.1Tương tác mẫu tính có nguồn gốc từ tự nhiên, mang tính bẩm sinh

Có thể nói, tương tác mẫu tính có nguồn gốc từ những đặc điểm sinh học độc đáo của con người.Những tiến hóa về hình thái cơ thể và sự phát triển về đại não ở trên đã cho thấy con người tiến hóa hơn hẳncác loài động vật có vú bậc cao khác Tuy nhiên, sự tiến hóa đó cũng chứa đựng một mâu thuẫn: một em béđược sinh ra thì hệ vận động chưa phát triển mà chỉ có các giác quan phát triển Chính điều đó em bé mớicần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ, và quá trình chăm sóc ấy đòi hỏi sự tương tác, giao tiếp mẫu tử.Giao tiếp trở thành tình cảm bẩm sinh sinh tồn của con người Đó chính là sự gắn bó giữa mẹ và bé Nhưvậy, mâu thuẫn của sự tiến hóa cũng cho ta thấy được nhu cầu giao tiếp của loài người ngay khi vừa mớichào đời Có thể thấy, tương tác mẫu tính trước hết ra đời từ những nhân tố tự nhiên, bẩm sinh của conngười Đến lượt mình, tương tác mẫu tính lại trở thành một trong những nhân tố tự nhiên – xã hội để nhằmhình thành ngôn ngữ mang bản chất tín hiệu ở loài người

1.2.2.2 Tương tác mẫu tính có nền tảng từ sự nhạy cảm mẫu tính (maternal sensitive)

Sự nhạy cảm (sensitive) được xem như một trong những yếu tố then chốt trong thuyết Sự gắn bó(Attachment Theory, Bowlby 1969, 1973, 1980) và cũng là nền tảng của sự tương tác mẫu tính Và Tómlại, sự nhạy cảm chính là khả năng của người mẹ trong việc cảm nhận chính xác những tín hiệu trên cơ

sở cân nhắc quan điểm của trẻ và đáp ứng lại những tín hiệu đó một cách tinh tế, tự nhiên và phù hợp

Trang 9

1.2.2.3 Tương tác mẫu tính thông qua phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (Maternal nonverbal) và ngôn ngữ mẫu tính (child-directed speech–CDS).

Gogate và những nhà nghiên cứu khác phát hiện ra rằng những bà mẹ có con ở giai đoạn tiềnngôn ngữ sẽ sử dụng từ đồng thời với cử chỉ điệu bộ hơn là những bà mẹ có con ở giai đoạn lĩnh hội từ

vựng Tương tác mẫu tính phi ngôn ngữ giúp trẻ hình thành các công cụ giao tiếp sơ khai như ánh mắt,

cử chỉ, điệu bộ và phát âm Dần dần, trong suốt quá trình tương tác hai chiều đó, trẻ trở nên chủ động vàlinh hoạt hơn trong việc chuyển đổi ánh nhìn của mình từ kích thích này sang một kích thích khác.(McConnell & Bryson ,2005 Sau đó, trong sự phát triển của mình, ở trẻ sơ sinh bắt đầu dõi theo sự chú

ý của người khác trong khi cùng chia sẻ kinh nghiệm về thế giới xung quanh với họ bằng cách xen cáinhìn của mình vào giữa đối tượng xã hội cùng tương tác và đối tượng vật thể quan tâm

Tương tác mẫu tính còn được thể thiện một cách rộng rãi bởi các dạng thức khác nhau của ngôn ngữ trực tiếp với trẻ (child-directed speech–CDS) Đây là một vấn đề có tính chất độc đáo và giữ một

vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ trẻ nhỏ Harris (1996) đã chỉ ra những phát hiện đầu

tiên về ngôn ngữ mà người lớn nói với trẻ - hay đặc biệt hơn là ngôn ngữ mẫu tính ( maternal speech)

khá là nhất quán CDS có xu hướng có cao độ cao và có kiểu ngữ điệu cường điệu và tốc độ hội thoại thìchậm hơn so với sự hội thoại giữa người lớn với người lớn Clark (2003) đã chứng tỏ rằng những điềuchỉnh đó sẽ giúp người mẹ và những bảo mẫu khác gây được và duy trì được sự chú ý của trẻ Tóm lại,

tương tự với những phương diện có liên quan tới tương tác xã hội nói chung, lời nói mẫu tính (maternal speech) có thể sẽ có ảnh hưởng tới trẻ nhiều hơn cho tới khi trẻ bắt đầu nói những từ đầu tiên so với giai

đoạn phát triển ngôn ngữ về sau này

1.2.3.4 Tương tác mẫu tính là sự điều chỉnh tích cực, năng động qua lại giữa mẹ và trẻ

TTMT không chỉ đơn thuần là sự tác động từ mẹ đến trẻ, mà ngược lại còn là quá trình điều chỉnhngược lại giữa trẻ đối với mẹ Khi chúng ta nói chuyện với trẻ, trẻ thường sẽ tham gia và đáp lại bằng mộtcách nào đó Các biểu hiện đáp lại của trẻ hướng tới giao tiếp sẽ cho chúng ta biết những phản hồi quantrọng mà trẻ dành cho người lớn Việc người lớn sử dụng ngôn ngữ mẫu tính CDS cũng không đơn thuần chỉ

là người lớn thích làm điều đó, mà chính là do sự “yêu cầu, điều chỉnh” từ phía trẻ Cha mẹ và những ngườilớn khác, kể cả trẻ em lớn đều sử dụng một loại ngôn ngữ đặc biệt khi nói chuyện với trẻ

1.2.3 Tương tác mẫu tính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ giai đoạn tiền ngôn ngữ đến giai đoạn đầu của giao tiếp ngôn ngữ

1.2.3.1 Tương tác mẫu tính giúp trẻ phát triển các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ

Tương tác mẫu tính, đặc biệt là trong giai đoạn ngôn ngữ sớm, việc sử dụng những cử chỉ điệu

bộ thích hợp kết hợp với ngôn ngữ miêu tả có thể sẽ giúp trẻ tập trung được chú ý vào vật, việc và vậtchất thay vì chỉ thuần túy khuyến khích bằng lời hướng sự chú ý trong các hành vi mẫu tính cũng có tácdụng tăng cường phát triển ngôn ngữ một cách gián tiếp (Gogate, Bahrick & Watson 2000, Karrass,Braungart-Rieker, Mullins & Lefever 2002, Schmidt & Lawson 2002, và xem Masur, 2005 Tương tácmẫu tính còn giúp trẻ phát triển được hành động trỏ tay với tư cách là khởi nguồn của ngôn ngữ Thôngqua tương tác mẫu tính ở giai đoạn 3-4 tháng tuổi trở đi, trẻ được tiếp xúc và làm quen với hành độngtrỏ tay Từ đó trẻ cũng học cách định hướng sự chú ý của người đối diện bằng hành động trỏ tay

1.2.3.2 Tương tác mẫu tính giúp trẻ phát triển tư duy tượng trưng (năng lực biểu tượng)- nền tảng của việc lĩnh hội ngôn ngữ

Lyytinen, Eklund và Lyytinen (2003) phát hiện ra rằng những lời nói mẫu tính trong quá trình

tương tác mẫu tính chính là một gợi ý giúp trẻ tiếp cận trò chơi biểu tượng (symbolic play), và khi trẻ

Trang 10

được 14 tháng tuổi- ở vào giai đoạn nghe hiểu ngôn ngữ, lời mẹ nói sẽ giúp trẻ những bài học vỡ lòng

về trò chơi biểu tượng

1.2.3.3 Tương tác mẫu tính giúp trẻ phát triển phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và thói quen giao tiếp ngôn ngữ

Trên thực tế, nhìn chung ngôn ngữ đầu vào (in put language) có đặc điểm tự nhiên và được đơn giản hóa (Snow 1995) Cả hai loại điều chỉnh này có lẽ khá quan trọng để tạo thuận lợi cho phát triển

ngôn ngữ một cách hiệu quả, ít nhất là trong một vài cách cụ thể ở những giai đoạn nhất định trong pháttriển ngôn ngữ (cf Tamis-LeMonda và cộng sự 2001) Một tỉ lệ lớn những lời nói mẫu tính là để phảnứng lại lời hay hành động của trẻ (Snow 1977, 1986)Điều này chứng tỏ rằng mẹ nói không đơn thuầnchỉ là cung cấp thông tin tới cho trẻ mà còn để khuyến khích trẻ giao tiếp ngôn ngữ Do đó, một vài đặcđiểm của ngôn ngữ mẫu tính là chỉ có thể giải thích trong một khung tương tác nhất định của mẹ (bảomẫu) và trẻ Chẳng hạn như một tỉ lệ lớn những câu hỏi trong lời nói mẫu tính được xem như là mộtcách đẩy lượt thoại tiếp theo tới trẻ Để xây dựng một cuộc thoại đảm bảo cấu trúc lượt lời luân phiênvới trẻ nhỏ, người mẹ (bảo mẫu) phải phản ứng tương tác bằng cách vừa phát ra câu hỏi (chủ yếu là câuhỏi có/không) lại vừa tự trả lời cho lượt thoại tiếp theo

Rất nhiều khía cạnh khác liên quan đến chất lượng và bản năng giao tiếp mẹ - bé đã được chứngminh là có ảnh hưởng rõ rệt đến việc lĩnh hội các kĩ năng giao tiếp và ngôn ngữ của trẻ nhỏ như Bloom

1998, Bruner 1983, Dunham & Moore 1995, Landry, Smith, Miller-Loncar & Swank 1997, Tomasello

1995, Vygotsky, 1978) Chẳng hạn như, Landry và các đồng nghiệp (1997) đã nhận ra rằng những hành

vi mẫu tính mà nhạy cảm trước mối quan tâm của trẻ và không kiểm soát hay giới hạn các hoạt độngcủa trẻ đều có tác dụng phát triển ở trẻ cả về nhận thức-ngôn ngữ lẫn tính xã hội Như một tồn tại củathực tế, trong những ghi chép mang tính kinh nghiệm, những đặc điểm khá giống nhau giữa những kiểu

giao tiếp mẫu tính là thường thể hiện sự gắn bó giữa Sự gắn bó (attachment) và ngôn ngữ.

1.2.3.4 Tương tác mẫu tính ở giai đoạn trước có chức năng dự báo sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ở các giai đoạn sau

Cho đến nay, những tổng kết từ các nghiên cứu đã chỉ ra một số khía cạnh hành vi tương tác/giao tiếp của bà mẹ có thể đóng góp vào tiến bộ của trẻ em trong kỹ năng giao tiếp và ngôn ngữ - đặcbiệt là trong giai đoạn đầu phát triển Kỹ năng giai đoạn đầu của trẻ có thể tự nó có giá trị tiên đoán vềcác kết quả ngôn ngữ ở giai đoạn sau này Bởi vì hiện tại các nghiên cứu cho thấy rằng tất cả nhữngquan hệ tiên đoán trên thường là những biểu hiện có tính cụ thể hơn là toàn cục, một cách tiếp cận hữuích để tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực này có thể là việc tìm hiểu mối liên quan giữa một số lượnghợp lý các khía cạnh của người chăm sóc tương tác - giao tiếp ứng xử và các kĩ năng tiền ngôn ngữ vàngôn ngữ giai đoạn đầu của trẻ sơ sinh cũng như khả năng tiên đoán của chúng với các kết quả ngônngữ ở giai đoạn sau

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý và ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi và tương tác mẫu tính

1.3.1 Đặc điểm sinh lý

Sự hoạt động của cơ thể trẻ cũng như cơ thể của người lớn không phải là gồm những hoạt độngriêng lẻ của từng hệ cơ quan, mà các cơ quan trong cơ thể đều hoạt động trong một hệ thống hoàn chỉnh.Não bộ, cơ quan phát âm và thính giác là những cơ quan có liên hệ trực tiếp đến hoạt động lĩnh hội ngônngữ Những cơ quan này ở trẻ đều chưa hoàn thiện cả về cấu tạo và chức năng Vì vậy giai đoạn 9-18tháng tuổi là giai đoạn hoàn thiện dần ở cả hai phương diện kể trên

Trang 11

1.3.2 Đặc điểm tâm lý

Giai đoạn từ 9-15 tháng tuổi được gọi là giai đoạn cuối của tuổi hài nhi Ở trẻ đã xuất hiện hiệntượng biết phân biệt lạ quen rõ rệt: trẻ thường tỏ ra sợ hãi và từ chối giao tiếp với người lạ Chính điềunày là một biểu hiện tích cực trong năng lực giao tiếp của trẻ Cũng ở tuổi này trẻ xuất hiện nhu cầu cầmnắm, sờ mó các đồ vật, theo đó, nhu cầu giao tiếp trực tiếp với người lớn ở giai đoạn trước được chuyểnsang giao tiếp với đồ vật, giao tiếp với người lớn để được tiếp xúc với đồ vật, từ đó mối quan hệ bachiều (trẻ - người lớn- đồ vật) cũng được hình thành

15-18 tháng tuổi là giai đoạn đầu của tuổi ấu nhi Khi bước vào tuổi ấu nhi, mối quan hệ giữa trẻvới thế giới đồ vật được thay đổi đáng kể Ở trẻ ấu nhi, hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo Trẻkhám phá thế giới đồ vật không chỉ để chơi, nghịch mà còn để tìm hiểu chức năng và cách thức sử dụngchúng Thông qua giao tiếp với người lớn, những kinh nghiệm lịch sử-xã hội vốn có ở trong các đồ vậtđược trẻ lĩnh hội Nhờ vậy mà tâm lý của trẻ phát triển mạnh, đặc biệt là trí tuệ Thế giới chủ quan đượctạo thành sẽ tạo ra động lực giao lưu, giao tiếp, cộng tác xã hội của trẻ đối với những khách thể xungquanh mình, và đây sẽ là một động lực quan trọng nhất thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ

1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ

Trẻ ở giai đoạn cuối hài nhi và giai đoạn đầu của tuổi ấu nhi (9-18 tháng tuổi) phát triển mạnh

mẽ nhu cầu giao tiếp với người lớn và nhu cầu khám phá môi trường xung quanh Chính điều này đãlàm tăng khả năng lĩnh hội ngôn ngữ ở trẻ.Tóm lại, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi diễn

ra theo các hướng: sự tích lũy các đơn vị ngôn ngữ làm nền tảng cho khả năng nghe hiểu ngôn ngữ vàduy trì và phát triển nhu cầu giao tiếp với người lớn, tạo nên động cơ để phát triển ngôn ngữ tích cựccủa trẻ tại thời điểm này cũng như ở các giai đoạn về sau

1.3.4 Tương tác mẫu tính ở độ tuổi 9-18 tháng

Qua tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi, ta thấy rõ rang trẻ ở giaiđoạn này có một sự gắn bó tự nhiên và mật thiết với người mẹ Sang tới giai đoạn 9-18 tháng tuổiTTMT giữa mẹ và trẻ có nhiều bước phát triển mới, trực tiếp đặt nền tảng cho sự phát triển nhân cách,tâm lý và ngôn ngữ cho trẻ ở các giai đoạn sau Trước hết là tương tác phi ngôn ngữ: tương tác phi ngônngữ giai đoạn này đạt tới một chất lượng mới Về tương tác ngôn ngữ, ở giai đoạn 9-18 tháng tuổi,không chỉ mẹ sử dụng ngôn ngữ mẫu tính mà trẻ cũng bắt đầu xuất hiện khả năng giao tiếp bằng ngônngữ Khoảng thời gian từ 9-18 tháng tuổi là khoảng thời gian người lớn quan sát được sự tiến bộ rõ rệt

về chất trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ: trẻ chuyển từ những âm bập bẹ vô nghĩa sang những từđúng đầu tiên, từ chỗ chỉ có một vài từ trẻ bước vào giai đoạn tăng tốc đột biến về số lượng từ, và trẻ bắtđầu xuất hiện khả năng ngữ pháp khi nói được những câu 2 từ trở lên…Có thể nói 9-18 tháng tuổi đánhdấu bước chuyển ngoạn mục của trẻ từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ chính thức, làmtăng vọt chất lượng tương tác mẫu tính giữa mẹ và trẻ Ngôn ngữ của trẻ phát triển khiến cho ngôn ngữmẫu tính của mẹ cũng tăng dần độ phức tạp về nội dung ngữ nghĩa cũng như về cấu trúc ngữ pháp

Tiểu kết chương 1

Chuẩn bị cho trẻ mầm non nói chung, trẻ từ 9 – 18 tháng tuổi nói riêng khả năng giao tiếp vàgiao tiếp ngôn ngữ là một công việc rất cần thiết và mang lại hiểu quả tốt cho trẻ trong cuộc sống hiệntại cũng như sau này Tìm hiểu tương tác mẫu tính và phát triển ngôn ngữ qua tương tác mẫu tính từ góc

độ lí luận đã góp phần nêu rõ các khái niệm công cụ như phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non và tương tácmẫu tính, phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính

Trang 12

Chương 2 THỰC TRẠNG, NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ 9-18 THÁNG TUỔI

THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH 2.1 Thực trạng về phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính

Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng tương tác mẫu tính đối với sự phát triển sự phát triển ngônngữ của trẻ thông qua tương tác mẫu tính của trẻ 9-18 tháng tuổi ở một số gia đình Nội dung điều trachủ yếu là vấn đề nhận thức, thói quen và biện pháp phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông quatương tác mẫu tính của một số các bà mẹ Kết quả điều tra được thể hiện qua 7 bảng số liệu (xem toàn

văn) Trên cơ sở các bảng số liệu chúng tôi có rút ra một số nhận xét như sau:

Về phương pháp, biện pháp tương tác của người mẹ

Những kết quả thống kê được từ việc điều tra thực trạng nhận thức, sự hiểu biết của cha mẹ đốivới việc phát triển khả năng giao tiếp, ngôn ngữ cho trẻ 9 – 18 tháng tuổi đã cho chúng ta thấy đượcphần nào nhu cầu của người làm cha mẹ luôn mong muốn con mình phát triển tốt nhất, việc phát triểnkhả năng giao tiếp, giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ sẽ làm tăng mối quan hệ tình cảmgiữa trẻ với mọi người, sự vật xung quanh, đặc biệt là sự gắn bó với người mẹ Những cách làm haynhững biện pháp mà các bà mẹ đã sử dụng trong quá trình nuôi dạy cũng như giúp con học nói rất đadạng Điều này cũng chứng mình rằng họ luôn có ý thức đối với việc dạy con nhưng bên cạnh đó vẫn cónhững hạn chế, có những biện pháp chưa thực sự đúng đắn đối với sự phát triển của trẻ

Tìm hiểu nguyên nhân thực trạng

Xuất phát từ kết quả thực trạng, ta thấy tương tác mẫu tính giữa mẹ và trẻ 9 – 18 tháng tuổi cònnhiều bất cập Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này nhưng sau quá trình điều tra, chúng tôi

đã tìm hiểu một số nguyên nhân khách quan như sau:

- Nguyên nhân khách quan:

Một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ chính là yếu tốmôi trường xã hội Sự thay đổi của mô hình gia đình truyền thống chuyển sang mô hình gia đình hạtnhân dẫn đến những thay đổi trong sinh hoạt gia đình, đến thói quen chăm sóc và giáo dục con cái nhưgiao phó con cái cho người giúp việc hoặc dùng ti vi để trông trẻ Những điều này chính là các nguy cơdẫn đến tình trạng chậm giao tiếp ngôn ngữ ở trẻ

- Nguyên nhân chủ quan:

+Về phía cha mẹ:

Trong quá trình tìm hiểu sơ bộ thực tế về nhận thức và việc chuẩn bị cũng như cách mà cha mẹ giúptrẻ 9 – 18 tháng tuổi phát triển khả năng giao tiếp và ngôn ngữ ở một số gia đình hiện nay, chúng tôi nhậnthấy rằng: việc phát triển khả năng giao tiếp và ngôn ngữ cho trẻ nhỏ cũng được các cha mẹ quan tâm nhưng

họ chưa có những biện pháp tác động đến trẻ một cách phù hợp Vì vậy, cần giúp cho cha mẹ nhận thức rõđược khả năng của trẻ trong giai đoạn này và đề ra những biện pháp giúp trẻ phát triển được khả năng giaotiếp Cũng còn một số bà mẹ cho rằng trẻ còn quá nhỏ vì vậy sẽ không ảnh hưởng gi đến sự phát triểncủa trẻ, chỉ cần chăm sóc trẻ đầy đủ về mặt vật chất- dinh dưỡng, dẫn đến sự xem nhẹ vai trò của quátrình tương tác xã hội, tương tác mẫu tính đối với trẻ nhỏ

Qua quá trình quan sát các phương pháp, biện pháp mà các bà mẹ sử dụng trong quá trình tròchuyện với con nhằm phát triển khả năng giao tiếp của trẻ, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: nhữngbiện pháp mà các bà mẹ sử dụng hầu như chỉ mang tính bản năng, họ cho rằng trò chuyện với trẻ nhất là

Ngày đăng: 18/12/2014, 13:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 11 . Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC1 và TN1 (trước và sau TN) - tóm tắt luận án tiến sĩ phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9- 18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 11 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC1 và TN1 (trước và sau TN) (Trang 18)
Bảng 12  Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC2 và TN2 (trước và sau TN) - tóm tắt luận án tiến sĩ phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9- 18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 12 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC2 và TN2 (trước và sau TN) (Trang 19)
Bảng 15b. Kiểm định nhóm tổng nhóm ĐC và TN trước và sau TN - tóm tắt luận án tiến sĩ phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9- 18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 15b. Kiểm định nhóm tổng nhóm ĐC và TN trước và sau TN (Trang 20)
Bảng 15 a. Kiểm định nhóm ĐC và TN trước và sau TN theo các mức độ - tóm tắt luận án tiến sĩ phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9- 18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 15 a. Kiểm định nhóm ĐC và TN trước và sau TN theo các mức độ (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w