BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o--- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG PHÁP TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG PHÁP TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
DẦU KHÍ TOÀN CẦU
Sinh viên thực hiện
Để hoàn thành bài luận văn này, trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn đến Ban
Giám Hiệu nhà trường và cùng toàn thể các Thầy Cô trường Đại học Thăng Long, đặc biệt là các Thầy Cô trong khoa Kinh tế Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá trình học tập
Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Đốc Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long cùng các anh chị phòng Thanh toán Quốc tế, những người đã giúp đỡ em trong việc thu thập, tìm tài liệu cũng như những lời khuyên quý giá để luận văn có được những số liệu cập nhật, đầy
đủ
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Thị Thúy – người đã đồng hành
giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp này
Lời cuối cùng, em xin kính chúc tập thể Thầy Cô giáo nhà trường dồi dào sức
khỏe để tiếp tục giảng dạy nhằm xây dựng trường mình thành trường Đại học chất lượng hàng đầu trong hệ thống giáo dục Việt Nam
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có
sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu
Trang 2của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có
nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Hải Tùng
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC
TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1
1.1 Tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Phân loại thư tín dụng 2
1.1.3 Các bên có liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ 7
1.1.4 Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 8
1.1.5 Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ 9
1.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Các loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ 11
1.2.3 Biểu hiện của rủi ro thanh toán thư tín dụng 17
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ 18
1.2.5 Ý nghĩa của việc hạn chế rủi ro tín dụng chứng từ 19
1.2.6 Các nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN DẦU KHÍ TOÀN CẦU CHI NHÁNH THĂNG LONG 23
2.1 Tổng quan về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu 23
2.1.1 Những nét chính về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu 23
2.1.2 Các thành tựu đạt được 25
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban 25
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 30
Trang 32.2.1 Hoạt động huy động vốn 30
2.2.2 Hoạt động sử dụng vốn 32
2.2.3 Các hoạt động khác tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long 34
2.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 34
2.3 Thực trạng rủi ro theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 35
2.3.1 Quy trình thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP Bank 35
2.3.2 Hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 42
2.3.3 Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 44
2.4 Đánh giá về rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 52
2.4.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long 52
2.4.2 Những tồn tại dẫn đến rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long 54
2.5 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 55
2.5.1 Nguyên nhân khách quan 55
2.5.2 Nguyên nhân chủ quan 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN DẦU KHÍ TOÀN CẦU TẠI CHI NHÁNH THĂNG LONG 59
3.1 Định hướng và triển vọng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 59
3.2 Định hướng chung 59
3.3 Định hướng phát triển thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 60
3.4 Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 61
Trang 43.4.1 Xây dựng đội ngũ cán bộ tại ngân hàng có trình độ chuyên môn và đạo đức
nghề nghiệp 61
3.4.2 Phòng ngừa rủi ro hối đoái 63
3.4.3 Phòng ngừa rủi ro đạo đức 63
3.4.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong thanh toán quốc tế 64
3.4.5 Phòng ngừa rủi ro về kinh tế, chính trị, pháp lý 65
3.4.6 Thành lập quỹ dư phòng rủi ro cho hoạt động thanh toán quốc tế 65
3.5 Một số kiến nghị 66
3.5.1 Kiến nghị đối với chính phủ 66
3.5.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
BCT
Bộ chứng từ
ISP98
International Standby Practice 98
Quy tắc thực hành thư tín dụng dự phòng Quốc tế
98
L/C
Thư tín dụng
NH
Ngân hàng
NK
Nhập khẩu
XK
Xuất khẩu
XNK
Xuất nhập khẩu
SWIFT
Society for Worldwide Interbank and Financial
Telcommunication
Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và các tổ chức
tài chính quốc tế
TTV
Thanh toán viên
UCP
The Uniform Customs and Practice for
Documentary Credits
Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
MỘT SỐ MẪU ĐIỆN SWIFT TRONG NGHIỆP VỤ THƯ TÍN DỤNG L/C
Trang 5Ngân hàng đã
Ngân hàng
Nội dung nghiệp vụ
trao đổi khóa
chưa trao đổi
SWIFT
khóa SWIFT
1 Mở L/C
MT 700/701
0
2 Tu chỉnh L/C, hủy L/C
MT 707
0
3 Thông báo từ chối chứng từ có sai biệt
MT 734
MT 999
4 Các nội dung khác liên quan tới L/C
MT 799
MT 999
5 Thông báo sai biệt
MT 750
MT 999
(Nguồn: Giáo trình thanh toán quốc tế của ThS Thân Tôn Trọng Tín)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 So sánh giữa thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng 7
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của GP.Bank chi nhánh Thăng Long 26
Bảng 2.1 Hoạt động huy động vốn giai đoạn 2011 – 2013 30
Bảng 2.2 Tỷ trọng vốn chủ sở hữu theo loại tiền 30
Bảng 2.3 Tình hình cho vay giai đoạn 2011 – 2013 32
Bảng 2.4 Tỷ trọng cho vay theo các chỉ tiêu 32
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Thăng Long 34
Bảng 2.6 Bảng phí dịch vụ của Ngân hàng GP.Bank đối với L/C xuất khẩu 37
Bảng 2.7 Bảng phí dịch vụ của Ngân hàng GP.Bank đối với L/C nhập khẩu 41
Bảng 2.8 Hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn 2011- 2013 42
Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế giai đoạn 2011 – 2013 43
Biểu đồ 2.2 Diễn biến tỷ giá USD/VNĐ năm 2012 48
Bảng 2.9 Bảng chỉ tiêu về mức ký quỹ 51
Bảng 2.10 Tình hình nợ quá hạn L/C tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long 52
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia đang gia sức phát triển
nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập cả bề rộng lẫn bề sâu, trong bối cảnh đó thanh toán quốc tế nổi lên như một chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước và nước ngoài, có tác dụng bôi trơn hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ, đầu tư nước ngoài Hoạt động
Trang 6thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Đặc biệt hơn trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, và là con đường tất yếu trong chiến lước phát triển kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế trên, chính điều này đã làm cho vài trò của thanh toán quốc tế được nâng cao, do đó đòi hỏi phải làm việc nhiều hơn tính chuyên nghiệp cao hơn trong việc hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh
Cho đến nay, các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước khi quan hệ mua bán
với nhau thường sử dụng các hình thức thanh toán như: Ghi sổ (Open Account),
Chuyển tiền (Remittance), Nhờ thu (Collection of payment), Tín dụng chứng từ
(Doccumentary Credit)…Trong đó, nổi bật nhất là phương thức tín dụng chứng từ, vì phương thức này đảm bảo an toàn cho các bên tham gia Chính những ưu điểm nổi bật này ma phương thức tín dụng chứng từ được ưa chuộng hơn Ước tính có khoảng 80% các hợp đồng ngoại thương thỏa thuận phương thức thanh toán bằng tín dụng thư không hủy ngang
Bản thân phương thức thanh toán tín dụng đã tỏ ra ưu việt, song nó không phải là phương thức thanh toán tránh được rủi ro cho các bên tham gia một cách tuyệt đối Thực tế cho thấy, các bên tham gia của Việt Nam bước vào thị trường thế giới đa phần
là mới lạ, kinh nghiệm còn non trẻ Trong điều kiện đú, các ngân hàng và các doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khăn khi phát sinh những rủi ro trong thanh toán bằng
phương thức tín dụng chứng từ, có trường hợp bị thiệt hại lên đến cả triệu đụla Do vậy, việc hoàn thiện và phát triển công tác thanh toán quốc tế, cụ thể là nghiên cứu và phòng chống rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những mối quan tâm thường xuyên của mỗi ngân hàng
Chỉ trong vài năm đi vào hoạt động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí
Toàn Cầu Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long đã triển khai và thực hiện tốt các nghiệp
vụ thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ tín dụng chứng từ nói riêng, song việc hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ này còn gặp không ít khó khăn Vì thế, trong thời gian thực tập tại ngân hàng, dựa trên kiến thức đã học và qua nghiên cứu tài liệu, em
đã lựa chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là đưa ra một cái nhìn về rủi ro trong thanh toán
quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu chi nhánh Thăng Long và đề xuất một số giải pháp để nhằm hạn chế và phòng ngừa những rủi ro đó xảy ra
3 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu các rủi ro trong phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ và đưa ra
một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro khi sử dụng phương thức này tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long từ giai đoạn 1/1/2011 đến 31/12/2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Đảm bảo tính khoa học và khách quan, các phương pháp được sử dụng song
hành và đan xen lẫn nhau:
Phương pháp thống kê: thu thập số liệu, làm cơ sở phân tích và xử lý số liệu
Trang 7Phương pháp quan sát để hiểu rõ hơn các bước thực hiện khi khách hàng đến
giao dịch tại chi nhánh Thăng Long
5 Kết cấu của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Chương 2: Thực trạng rủi ro thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long
Do thời gian tìm hiểu và kiến thức còn hạn chế, cũng như kinh nghiệm thực tế
chưa tích lũy được nhiều, chắc chắn luận văn của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em mong nhận được ý kiến đánh giá và những lời nhận xét, góp ý chân thành của Quý Thầy Cô, và các anh chị tại Chi nhánh Thăng Long để giúp em có thêm
cơ hội học hỏi nhằm vận dụng vào thực tế tốt hơn
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một
ngân hàng- ngân hàng mở thư tín dụng hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách hàng (người xin mở):
Thanh toán tiền theo lệnh của một người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc phải
chấp nhận và trả tiền cho các hối phiếu do người hưởng lợi ký phát
Ủy quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền
các hối phiếu đó
Ủy quyền cho một ngân hàng khác đến chiết khấu khi các chứng từ quy định
được xuất trình phù hợp với các điều khoản, điều lệ của thư tín dụng
Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng trong nội thương và ngoại thương: Trong ngoại thương, theo yêu cầu của nhà NK, ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà XK Nội dung chủ yếu của thư tín dụng
là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà XK, khi nhà XK tuân thủ theo những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để được thanh toán
Thuật ngữ “Tín dụng –Credit” ở đây được dùng theo định nghĩa rộng, nghĩa là
“Tín nhiệm” chứ không để chỉ “Một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người NK ký quỹ 100% giá trị L/C thì thực
Trang 8chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào, mà chỉ cho người NK vay
sự tín nhiệm của mình Ngay cả trong trường hợp người NK không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà XK và ghi nợ nhà NK Như vậy, thuật ngữ “Tín dụng” trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản “Tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền
1
của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà NK
Qua phân tích cho thấy trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngân
hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ mà còn:
Là người đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà NK, đảm bảo cho
nhà NK nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hóa mà họ cung ứng
Là người đảm bảo cho nhà NK nhận được số lượng và chất lượng hàng hóa phù
hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra
Rõ ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước
khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chứng từ gửi hàng Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng nếu trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo quy định trong L/C Đây chính là yếu tố khiến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi trong TTQT
1.1.2 Phân loại thư tín dụng
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C có thể huỷ ngang (Revocable letter of credit): là loại L/C có thể bị sửa đổi
hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi Nó chứa đựng những rủi ro đối với người bán vì việc sửa đổi hoặc huỷ L/C có thể xảy ra khi hàng hoá đang trên đường vận chuyển hoặc trước khi việc thanh toán được thực hiện L/c huỷ ngang tạo cho người mua tối đa sự chủ động vì nó có thể được sửa đổi hoặc huỷ ngang mà không cần thông báo cho người bán Vì vậy L/C huỷ ngang chỉ có thể sử dụng trong các trường hợp:
Việc giao hàng thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con
Giữa người mua và người bán có quan hệ rất tốt
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại L/C sau khi đã
được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu không có sự thoả thuận của các bên tham gia L/C không huỷ ngang đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia, nên nó được sử dụng rộng rãi
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Thư tín dụng xác nhận (confirming L/C): là loại thư tín dụng không thể huỷ
ngang, được một ngân hàng khác xác nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành L/C còn có thêm sự cam kết của ngân hàng xác nhận Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo hoặc là một ngân hàng thứ 3 tuỳ
theo thoả thuận giữa người mua, người bán và ngân hàng phát hành L/C Trong thực tế
việc yêu cầu xác nhận L/C không xuất phát từ mong muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu của người hưởng lợi khi họ nghi ngờ khả năng thanh toán và uy tín của
2
ngân hàng phát hành L/C hoặc họ lo lắng về tình hình an ninh chính trị của nước người nhập khẩu Khi ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy định của L/C nó có quyền truy đòi số tiền thanh toán từ ngân hàng phát hành Để đảm bảo an toàn, ngân hàng xác nhận có thể yêu cầu ngân hàng phát hành ký quỹ theo một
Trang 9tỷ lệ nhất định Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi của mình, ngân hàng phát hành sẽ thoả thuận với khách hàng để chọn ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu làm ngân hàng xác nhận, tránh những rủi ro về vốn ký quỹ tại ngân hàng xác nhận L/C này, người hưởng lợi được đảm bảo chắc chắn của ngân hàng xác nhận, cộng thêm vào sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C, người hưởng lợi sẽ được ngân hàng các nhận thanh toán miễn truy đòi nếu xuất trình chứng từ phù hợp, ngay cả trong trường hợp ngân hàng phát hành không thanh toán được, người thụ hưởng cũng tránh được cả những rủi ro về ngoại hối hay rủi ro quốc gia khác của ngân hàng phát hành
L/C
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C trả ngay (Sight Payment Credits): là loại L/C không thể huỷ ngang và phải
thanh toán ngay khi hối phiếu được xuất trình Rủi ro trong loại L/C này là thường phải thanh toán trước khi nhận hàng, vì hối phiếu và chứng từ thường đến trước hàng hoá cập cảng
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C trả chậm (L/C available by deffered Payment): là loại L/C trong đó ngân
hàng phát hành cam kết thanh toán cho người hưởng lợi số tiền của L/C một số ngày sau khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng
Loại L/C này có 2 dạng:
L/C có kỳ hạn: là loại L/C không huỷ ngang trong đó ngân hàng phát hành
sẽ chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn do người hưởng lợi ký phát khi họ xuất
trình được bộ chứng từ hoàn hảo Những hối phiếu này nhà xuất khẩu có
thể giữ cho đến thời hạn thanh toán và lúc ấy trình nộp ngân hàng để nhận
tiền hoặc bán, chuyển nhượng trên thị trường, các ngân hàng có thể mua hối
phiếu chấp nhận thanh toán cho chính mình
L/C trả dần: là loại L/C không thể huỷ ngang, trong đó quy định cho người
hưởng sẽ được thanh toán dần toàn bộ số tiền của L/C theo những thời hạn
đã quy định rõ trong L/C đó Khác với loại L/C có kỳ hạn, loại L/C này
không đòi hỏi hối phiếu do người bán ký phát Do vậy, người bán không có
quyền lợi pháp lý đối với hối phiếu và quyền truy đòi đối với hối phiếu đó
Quy trình này chỉ khác với quy trình nghiệp vụ L/C không huỷ ngang ở chỗ
việc thanh toán được thực hiện theo từng kỳ hạn nhất định
3
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C chấp nhận (L/C available by acceptance): là loại L/C trong đó ngân hàng
phát hành L/C thực hiện chấp nhận hối phiếu hoặc chỉ định bên thứ 3 chấp nhận hối phiếu, với điều kiện người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C Ngân hàng phát hành L/C trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải thanh toán hối phiếu
đã chấp nhận, khi các điều kiện của L/C đã được đáp ứng đầy đủ
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C trực tiếp (Straight L/C): là loại L/C trong đó nghĩa vụ thanh toán của ngân
hàng phát hành L/C chỉ giới hạn duy nhất đối với người thụ hưởng của L/C Dạng L/C này thường yêu cầu người thụ hưởng xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân hàng phát hành L/C hết hạn hiệu lực tại thời điểm giao dịch của ngân hàng)
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C cho phép chiết khấu (L/C available by Negotiation): là loại L/C trong đó
ngân hàng phát hành L/C uỷ quyền cho một ngân hàng nhất định (trường hợp hạn chế
- Restricted Negotiation) hoặc cho phép bất kỳ ngân hàng nào (trường hợp không hạn chế - Freely Negotiation) mua lại bộ chứng từ hoàn hảo do người thụ hưởng xuất trình L/C chiết khấu có thể được xác nhận hoặc không được xác nhận Thông thường ngân hàng được uỷ quyền sẽ chỉ mua chứng từ với điều kiện bảo lưu, nghĩa là ngân hàng
Trang 10chiết khấu giành quyền truy đòi lại từ người hưởng lợi một số tiền đã chiết khấu giành quyền truy đòi từ người hưởng lợi số tiền đã chiết khấu nếu không thu được từ ngân hàng phát hành L/C
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C có điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại L/C trong đó có một điều khoản
ghi rõ điều khoản đặc biệt ngân hàng phát hành sẽ chuyển tiền hoặc uỷ quyền cho một ngân hàng thông báo (ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng lợi một số tiền nhất định trước khi giao hàng, thông thường số tiền ứng trước tính theo tỷ lệ % so với giá trị L/C và phải xuất trình chứng từ tại ngân hàng mà họ đã nhận tiền ứng trước và phải bồi hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời hạn quy định Số tiền ứng trước được thực hiện theo yêu cầu của người mở L/C Rủi ro trong thanh toán L/C điều khoản đỏ là tiền ứng trước có thể bị sử dụng sai mục đích, chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình có thể không phù hợp hoặc người chứng khoán không hoàn thành được việc sản xuất hàng hoá mà cũng không hoàn lại được tiền ứng trước
Để tăng thêm độ an toàn cho các khoản tiền ứng trước các bên có thể thoả thuận
về việc phát hành một L/C điều khoản đỏ có bảo đảm, còn gọi là tín dụng điều khoản xanh Nghĩa là bên cạnh các chứng từ như bình thường, người hưởng lợi còn phải xuất trình thêm thư bảo lãnh của một ngân hàng hoặc giấy phép chứng minh việc hàng tập kết chuẩn bị giao cho mua Điều khoản ứng trước này phải được người yêu cầu mở L/C quy định cụ thể và chịu trách nhiệm đối với ngân hàng phát hành L/C về điều khoản cụ thể
4
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C tuần hoàn (Revolving L/C): là loại L/C mà người hưởng lợi sau khi sử
dụng hết kim nghạch hoặc hết thời hạn hiệu lực, thì nó tự động có hiệu lực trở lại một
số lần tuần hoàn nhất định cho đến khi tổng trị giá của hợp dồng được thực hiện xong Nếu sự dụng L/C tuần hoàn cần được nghi rõ rang, ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó Đồng thời cũng phải quy định rõ, số dư của hạn nghạch L/C dùng chưa hết lần trước, được hay không được cộng dồn vào hạn nghack L/C sử dụng lần kế tiếp này
Có 5 loại tuần hoàn sau đây:
Tuần hoàn tích lũy: loại L/C tuần hoàn trong đó điều khoản, nếu trong thời
gian quy định, nhà xuất khẩu không giao hàng thì trong thời hạn hiệu lực kế
tiếp, phần giá trị gián đoạn trước đó sẽ được cộng thêm vào giá trị của L/C
ở vòng tuần hoàn lần sau
Tuần hoàn không tích lũy: loại L/C không cho phép chuyển trị giá L/C
trước vào L/C sau, tức là việc cộng dồn phần giá trị L/C chưa được sử dụng
hết ở vòng tuần hoàn trước vào giá trị L/C ở vòng tiếp theo là không được
phép thực hiện
Tuần hoàn tự động: Nếu L/C trước hết thời hạn thì L/C sau tự động có giá
trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C
Tuần hoàn không tự động: Nếu L/C sau muốn có giá trị thì phải có sự thông
báo của ngân hàng mở L/C cho nhà xuất khẩu
Tuần hoàn bán tự động: Nếu sau ngày kể từ ngày mở L/C trước hết thời hạn
hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị của L/C trong một khoảng thời gian
nhất định mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C
tự động có giá trị hiệu lực
Trang 11Do đó rủi ro trong thanh toán L/C tuần hoàn là trong khoảng thời gian dài như
vậy thì tình hình tài chính của người nhập khẩu có thể xấu đi hoặc có những biến động trên thị trường tài chính của người nhập khẩu, biến động trên thị trường tiêu thụ của người nhập khẩu, hàng hoá bị ứ đọng nhưng vẫn phải nhập tiếp hàng, không huỷ được L/C Rủi ro của nhà nhập khẩu sẽ đem đến rủi ro cho ngân hàng phát hành vì vậy loại L/C này chỉ được sử dụng trong việc mua bán những hàng hoá với số lượng đều đặn
và nhiều lần trong năm Để hạn chế rủi ro, ngân hàng phát hành nên chủ động chỉ định L/C tuần hoàn hạn chế hoặc không tự động hơn là tuần hoàn tự động
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C có thể chuyển nhượng(transferable L/C): là một L/C mà người hưởng đầu
tiên có thể yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần
5
giá trị L/C gốc cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ 2 Mục đích của loại L/C này nhằm giúp cho nhà xuất khẩu (thực chất là đối tác trung gian) tiến hành dịch vụ xuất khẩu mà không cần đến vốn của mình Trong L/C chuyển nhượng, người hưởng lợi thứ nhất không tự động cung cấp được hàng hoá và người mua cuối cùng, L/C chỉ được chuyển nhượng một lần Các bên tham gia chuyển nhượng gồm:
Nhà nhập khẩu
Ngân hàng phát hành
Nhà xuất khẩu (người hưởng lợi thứ nhất)
Ngân hàng thông báo/ chuyển nhượng/ ngân hàng chấp nhận hoặc chiết
khấu
Người cung cấp/ người hưởng lợi thứ 2
L/C chuyển nhượng thường được sử dụng khi người hưởng lợi thứ nhất là đại lý cho nhà nhập khẩu, khi đó họ không cần phải giữ bí mật về người cung cấp hàng hoá, còn trong trường hợp người hưởng lợi chỉ là người trung gian cung cấp hàng hoá cho nhà nhập khẩu thì họ rất muốn giữ bí mật về người cung cấp Trong nghiệp vụ L/C chuyển nhượng thì người hưởng lợi thứ 2 chịu nhiều rủi ro hơn cả Họ chỉ nhận được tiền khi người hưởng lợi thứ nhất được người mua thanh toán Vì vậy họ gánh chịu rủi
ro không những về người mua và ngân hàng phát hành mà còn phải gánh chịu cả rủi ro
về người hưởng lợi thứ nhất và ngân hàng chuyển nhượng
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C giáp lưng (Back to back L/C): khi người hưởng nhận được một L/C (L/C
gốc) không phải chuyển nhượng song không thể tự mình cung cấp hàng hoá, khi đó họ
có thể thoả thuận với ngân hàng của mình phát hành một L/C thứ 2 (L/C giáp lưng) với nội dung tương tự cho người cung cấp hàng hoá Điều khác biệt cơ bản nhất ở đây giữa L/C gốc và L/C chuyển nhượng là L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc lập với nhau, ngân hàng phát hành L/C giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán
bộ chứng từ hợp lệ của L/C giáp lưng Hay nói cách khác nghĩa vụ và trách nhiệm của hai ngân hàng phát hành L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc lập với nhau Vì vậy người cung cấp hàng hoá (người hưởng lợi L/C giáp lưng) có thể yên tâm về mặt thanh toán Về nguyên tắc L/C gốc sẽ là vật thế chấp hoặc sự đảm bảo cho việc thanh toán L/C giáp lưng, song việc thanh toán cho nhà cung cấp sẽ được thực hiện trước khi ngân hàng phát hành L/C giáp lưng nhận được L/C gốc Đây chính là rủi ro đối với ngân hàng phát hành L/C giáp lưng Để đảm bảo an toàn cho mình, ngân hàng phát hành L/C giáp lưng phải kiểm tra chặt chẽ chứng từ của L/C giáp lưng, phối hợp với khách hàng của mình để hoàn thiện các chứng từ thanh toán L/C gốc hoặc phải thực hiện nghiêm ngặt chế độ ký quỹ và thế chấp đối với người hưởng lợi thử nhất
Trang 126
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá L/C dự phòng (standby L/C): Loại L/C được mở nhằm đảm bảo quyền lợi của
nhà NK trong trường hợp nhà XK nhận được L/C nhưng không có khả năng giao hàng Ngân hàng mở cam kết với nhà NK sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp nhà XK không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và bồi thường các khoản thiệt hại cho nhà NK như đã ứng trước tiền hàng, tốn phí mở L/C, tiền đặt cọc,… Ngoài ra L/C dự phòng cũng có thể được nhà XK áp dụng để đảm bảo khả năng trả nợ của nhà NK Nó còn được sử dụng trong đấu thầu quốc tế và đầu tư quốc tế Thực chất không phải là phương thức thanh toán mà là phương tiện bảo lãnh Standby L/C là một văn bản do ngân hàng phát hành theo chỉ thị của người yêu cầu mở thư tín dụng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng, trong thời hạn hiệu lực của tín dụng thư
Điểm khác biệt giữa tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng
- Trong thư tín dụng thương mại yêu cầu bộ chứng từ xuất trình để thanh toán
phải chứng minh việc người hưởng lợi đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng
- Trong thư tín dụng dự phòng, việc xuất trình chứng từ nhằm mục đích chứng
minh việc người yêu cầu mở thư tín dụng không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng, khi đó ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng phải thực hiện thanh toán ngay số tiền mở L/C cho người thụ hưởng
Bảng 1.1 So sánh giữa thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng
Thư tín dụng thương mại
Thư tín dụng dự phòng
Là phương thức thanh toán
Là công cụ bảo lãnh
Nghĩa vụ thanh toán luôn được các bên Nghĩa cụ thanh toán các bên không
mong muốn thực hiện
mong muốn thực hiện
1.1.3 Các bên có liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ
Người xin mở thư tín dụng (the applicant for the credit): là người mua, người
nhập khẩu hàng hoá, người mở thư tín dụng
Ngân hàng mở thư tín dụng (issuing bank) là ngân hàng đại diện cho người
nhập khẩu còn gọi là ngân hàng phát hành
Người hưởng lợi (beneficiary) là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người
nào khác mà người hưởng lợi chỉ định
7
Ngân hàng thông báo (advising bank) là ngân hàng được ngân hàng phát hành
yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu về việc mở thư tín dụng
Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào phương thức thanh toán này như:
Ngân hàng xác nhận (confirming bank) là ngân hàng nhận trách nhiệm thanh
toán cuối cùng nếu ngân hàng phát hành không thể thanh toán chứng từ phù hợp với điều khoản của L/C Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo L/C hay
Trang 13là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu
Ngân hàng được chỉ định (nominated bank) là ngân hàng được ngân hàng phát
hành chỉ định để thực hiện việc thương lượng, chiết khấu hay thanh toán L/C Lúc đó ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) hoặc ngân hàng thanh toán (paying bank)
Ngân hàng hoàn trả (reimbursing bank) là một ngân hàng được ngân hàng mở
L/C hoặc ngân hàng xác nhận chỉ định thay mình trả tiền
Ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) là ngân hàng được ngân hàng được
ngân hàng mở L/C cho phép đứng ra mua hối phiếu hay thương lượng chứng từ do người bán ký phát cho ngân hàng.Tuỳ theo quy định của L/C mà ngân hàng chiết khấu thường là ngân hàng thông báo hoặc là ngân hàng thứ ba nào đó do ngân hàng mở L/C quy định
Người được chuyển nhượng là người nhận các quyền và nghĩa vụ do người
hưởng lợi chuyển
1.1.4 Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Trang 14đã ký với nhà xuất khẩu với điều khoản thanh toán theo phương thức tín
dụng chứng từ viết Đơn yêu cầu mở L/C cho người xuất khẩu thụ hưởng, tại
ngân hàng phục vụ mình
(2) Căn cứ vào Hợp đồng ngoại thương và Đơn yêu cầu mở L/C và sau khi nhà
nhập khẩu đã ký quỹ và thanh toán phí, ngân hàng phát hành L/C cho người
xuất khẩu thụ hưởng thông qua ngân hàng đại lý của mình (ngân hàng thông
báo) ở nước người xuất khẩu để kiểm tra đối chiếu có phù hợp với yêu cầu
trong Đơn yêu cầu mở hay không
(3) Ngân hàng thông báo sẽ thông báo chuyển nguyên văn nội dung của L/C đến người xuất khẩu
(4) Người xuất khẩu kiểm tra nội dung của L/C, đối chiếu với hợp đồng nếu chập nhận thì tiến hành giao hàng đến nước người nhập khẩu thông qua người
chuyên chở Nếu không chấp nhận L/C thì đề nghị nhà nhập khẩu và ngân
hàng phát hành của họ tu chỉnh lại cho phù hợp lại với nội dung hợp đồng rồi
tiến hành giao hàng
(5) Người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của L/C để xuất trình vào ngân hàng thông báo để chuyển sang ngân hàng phát
hành yêu cầu thanh toán Người xuất khẩu cũng có thể đề nghị thương lượng
chiết khấu bộ chứng từ tại ngân hàng thông báo của mình hoặc tại một ngân
hàng khác tùy theo L/C yêu cầu
(6) Ngân hàng thông báo giúp nhà xuất khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu sai sót sẽ trả lại yêu cầu người xuất khẩu chỉnh sửa, bổ sung, còn phù hợp sẽ chuyển
đến ngân hàng phát hành yêu cầu thanh toán, đồng thời có thể chiết khấu bộ
chứng từ theo yêu cầu của nhà xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp sẽ thông báo đến
người nhập khẩu yêu cầu trả tiền để nhận bộ chứng từ
(8) Nhà nhập khẩu trả tiền để nhận chứng từ đi làm thủ tục nhận hàng
(9) Ngân hàng phát hành chuyển tiền cho người xuất khẩu (người hưởng lợi)
thông qua ngân hàng thông báo
(10) Ngân hàng thông báo thanh toán cho người thụ hưởng
1.1.5 Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ
Ngày nay, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế
được sử dụng ngày càng nhiều do những thuận lợi mà nó mạng lại cho cả người XK và người NK Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nó cũng không tránh khỏi những sai
9
sót gây ra hậu quả nghiêm trọng Sau đây là một số ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ
a Ưu điểm
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với nhà xuất khẩu
Đảm bảo việc thanh toán vì có ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán
không phụ thuộc vào những ảnh hưởng khác Được ngân hàng khống chế bộ chứng từ không sợ mất quyền sở hữu hàng hóa hay tốn chi phí vận chuyển hàng nếu làm đúng yêu cầu của thư tín dụng Nhà XK có thể nhận được sự hộ trợ của ngân hàng cả về tài chính lẫn thông tin
Nếu nhà NK không có thiện chí, họ có thể tìm ra lỗi nhỏ trên chứng từ để từ chói thanh toán mặc dù nhà XK đã giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và thời hạn quy
Trang 15định
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với nhà nhập khẩu
Khi lập L/C thì người mua được ngân hàng kiểm tra giúp bộ chứng từ, đảm bảo
được hàng hóa mình ký hợp đồng đúng số lượng và chất lượng, thời hạn giao
hàng…và họ chỉ trả tiền dựa vào chứng từ
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với ngân hàng
Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng tăng thu nhập thông qua phí dịch
vụ của khách hàng , nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ ngân hàng
Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ khách hàng xuất nhập
khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế được phát triển
Tóm lại phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo được quyền lợi của người XK,
NK trong quá trình hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và nâng cao vai trò của ngân hàng trong hoạt đông thanh toán quốc tế
b Nhược điểm
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với nhà xuất khẩu
Nhà XK phải lựa chọn loại thư tín dụng nào bảo đảm quyền lợi cho mình nhất,
đồng thời kiểm tra kỹ các điều khoản ghi trong thu bởi vì nó sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của mình sau này Tùy thuộc vào khả năng của mình có đáp ứng được yêu cầu của hợp đồng hay không để đảm bảo lập bộ chứng từ thích hợp
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với nhà nhập khẩu
Người mua phải thận trọng khi làm đơn mở L/C, phải đưa ra những điều kiện để cho người XK có thể thực hiện được vừa phải đảm bảo quyền lợi của mình Ngoài ra
10
không tránh được trường hợp người NK bị người XK gian lận lập bộ chứng từ không
để thanh toán
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với ngân hàng
Tuy nhiên trong phương thức tín dụng chứng từ L/C, ngân hàng chỉ có thể khống chế về mặt hình thức chứng từ, mà không thể kiểm soát được tính chất pháp lý hay tính chân thực của các loại chứng từ đó Hơn nữa việc thanh toán diễn ra tương đối phức tạp bởi sự tham gia của nhiều bên, quá trình thanh toán tỷ mỉ và máy móc Và nếu xảy ra rủi ro, sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng với khách hàng không chỉ trong nghiệp vụ thanh toán nói riêng mà còn trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhất là trong môi trường gay gắt hiện nay
1.2
Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ
1.2.1 Khái niệm
Theo nghĩa chung, rủi ro là khả năng một sự kiện không mong muốn,
không thuận lợi có thể xảy ra dẫn đến sự mất mát hoặc hư hỏng Trong thanh toán L/C, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một hoặc các bên tham gia bị vi phạm, rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không được thanh toán mà còn phải được hiểu theo nghĩa rộng của nó là bất kỳ một sự khúc mắc, chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán Rủi ro trong thanh toán bằng L/C có thể xảy ra đối với các bên: đối với người bán, đối với người mua và đối với các ngân hàng
(Nguồn: https://vi.wikipedia.org)
Trang 161.2.2 Các loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
1.2.2.1 Rủi ro kỹ thuật
Là những rủi ro hình thành do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình
thanh toán L/C như: các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quy trình nghiệp vụ thanh toán hay có sự khác biệt giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung L/C hoặc trái với điều khoản của UCP 600
Rủi ro đối với ngân hàng
c Rủi ro đối với NH phát hành
Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở L/C
sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau này Khi nhận được bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp
nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra tỉ mỉ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi tiền nhà NK
11
Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được yêu
cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ Nếu không có sự chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà NK
NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định
của L/C ngay cả trong trường hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản do kinh doanh thua lỗ
Nếu trong L/C NH phát hành không quy định bộ vận đơn đầy đủ thì một người
NK có thể lấy được hàng hóa chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đợn, trong khi đó người trả tiền hàng hóa lại là NH phát hành theo cam kết của L/C
NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động đúng theo UCP 600, đưa
ra quyết định từ chối bộ chứng từ quá 5 người làm việc của NH
d Rủi do đối với NH thông báo
NH thông báo có trách nhiệm về tính chân thật, hợp lệ của thư tín dụng trước
khi gửi thông báo cho nhà XK Rủi ro đối với NH thông báo xảy ra khi gặp phải một L/C giả hoặc phát hành sửa đổi một L/C mà không có ghi chú gì trong khi NH thông báo chưa xác nhận được tình trạng mã khóa hay chữ ký ủy quyền của NH phát hành L/C
e Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận
Nếu bộ chứng từ được xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền cho
nhà XK bất luận là có truy hoàn tiền từ NH phát hành hay không Như vậy, NH xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành
Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không
có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH phát hành không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận không thể đòi tiền NH phát hành
f Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định
Các NH được chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trước khi
nhận được tiền hàng từ NH phát hành Tuy nhiên trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ được xuất trình, các NH được chỉ định thường ứng trước cho nhà XK với điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát
Trang 17hành hoặc nhà XK
g Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank)
Ngân hàng chiết khấu có thể là ngân hàng xác nhận nếu là L/C xác nhận hoặc là ngân hàng thông báo nếu người hưởng không muốn xuất trình chứng từ qua ngân hàng
12
thứ 3 nhưng thông thường là ngân hàng được chỉ định cụ thể hoặc bất cứ ngân hàng nào nếu L/C cho phép chiết khấu Đối với ngân hàng chiết khấu, rủi ro xảy ra phần nhiều phụ thuộc vào thiện chí của ngân hàng mở và nhà nhập khẩu Ngân hàng chiết khấu sẽ không thu hồi được tiền hoặc thu hồi chậm là do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán, thậm chí từ chối thanh toán thông qua việc kiểm tra chứng từ của ngân hàng mở Đối với ngân hàng chiết khấu, thời gian trì hoãn thanh toán càng dài ngân hàng bị chiếm dụng vốn càng lâu
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Rủi ro khi nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa đúng như đơn đặt hàng
Tình trạng này xảy ra do người xuất khẩu lợi dụng tính độc lập giữa L/C và hợp
đồng thương mại Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào
bộ chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa Ngân hàng chỉ kiểm tra sự trùng khớp bề ngoài của bộ chứng từ với L/C, chứ không chịu trách nhiệm
về tính chất bên trong của chứng từ, cũng như chất lượng và số lượng hàng hóa
Trường hợp này, nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân hàng phát hành
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Rủi ro khi ngân hàng thanh toán cho bộ chứng từ có sai sót
Rủi ro có thể xảy ra với người nhập khẩu, nếu ngân hàng xác nhận hay một ngân hàng được chỉ định khác mắc sai lầm khi thanh toán cho một bộ chứng từ có sai sót, sau đó ghi nợ ngân hàng phát hành L/C Nếu ngân hàng mắc sai lầm lại do người nhập khẩu chỉ định thì ngân hàng mở có quyền truy hoàn số tiền đã bị ghi nợ
Rủi ro đối với người xuất khẩu
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Rủi ro do nhà xuất khẩu không xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng phát hành đứng ra
cam kết thanh toán cho người bán khi họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C Trong khi đó để bảo đảm việc giao hàng theo đúng quy định của hợp đồng thương mại, L/C thường phải bao gồm nhiều điều khoản rất chi tiết và khắt khe Do vậy, rủi ro sẽ xảy ra với nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán hoặc chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà xuất khẩu phải xử lý hàng hóa như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng quay về nước Nhà xuất khẩu phải chịu các chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho và mua bảo hiểm cho hàng húa….trong khi đó không biết rõ lập trường của nhà nhập khẩu là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ sai sót
13
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Rủi ro do ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán
Trong trường hợp nếu ngân hàng phát hành (hoặc ngân hàng xác nhận) mất khả
năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán , trừ khi L/C được xác nhận bởi một ngân hàng hạng nhất trong nước còn lại nhà xuất khẩu luôn chịu rủi ro
Trang 181.2.2.2 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên
quan nhưng không có khả năng đòi hoàn trả Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên Phương thức tín dụng chứng từ liên quan trực tiếp đến các rủi ro tín dụng nói trên Cụ thể là:
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với ngân hàng phát hành
Khi phát hành L/C, ngân hàng phát hành đã thực hiện việc cấp tín dụng cho nhà
nhập khẩu vì thông thường L/C được phát hành với mức ký quỹ dưới 100% Nhà nhập khẩu chưa phải trả tiền nhưng đã được nhà xuất khẩu giao hàng vì tin tưởng vào cam kết của ngân hàng phát hành Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành xảy ra khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản: Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho ngưòi thụ hưởng theo quy định của L/C nhưng không có khả năng đòi hoàn trả từ nhà nhập khẩu
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với ngân hàng chiết khấu
Khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi bộ chứng từ xuất khẩu, ngân hàng chiết
khấu đã thực hiện việc mua lại quyền đòi tiền của nhà xuất khẩu từ ngân hàng phát hành L/C Nếu ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản thì rủi ro tín dụng thuộc về ngân hàng chiết khấu
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với ngân hàng xác nhận
Khi thực hiện việc xác nhận L/C nhưng không yêu cầu ngân hàng phát hành ký
quỹ 100% trị giá L/C, ngân hàng xác nhận có thể phải đối mặt với rủi ro tín dụng khi ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản
1.2.2.3 Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất phát từ sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa đồng ngoại
tệ và đồng nội tệ
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với ngân hàng
Khi đồng nội tệ giảm giá, ngân hàng sẽ phải mất thêm một khoản tiền bù vào
mức giảm đó Bên cạnh đó, nếu trạng thái ngoại hối của ngân hàng không tốt, một mặt ngân hàng sẽ không đáp ứng được nhu cầu mua ngoại tệ của khác hàng, mặt khác bản thận ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn trong quá trình thanh toán cho ngân hàng Thiệt
14
hại xảy ra có thể về mặt tài chính vì ngân hàng phải đi vay ngoại tệ của ngân hàng khác, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng trong hoạt động thanh toán nói riêng, hoạt động ngân hàng nói chung
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với nhà nhập khẩu
Khi hàng hóa về, cho dù những mặt hàng có giá bán cạnh tranh hay không thì
việc tỷ giá trượt mạnh sẽ khiến nhà nhập khẩu có thể từ chối nhận hàng vì lợi nhuận giảm hoặc bị lỗ
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với nhà xuất khẩu
Rủi ro tỷ giá xảy ra ngược lại với hai trường hợp trên Giả sử đơn vị tiền tệ của
nước nhà XK là một ngoại tệ khác (bản tệ) và phải thông qua một đơn vị tiền tệ mạnh khác được kí kết trong HĐTM Trong tương lại, vì một yếu tố nhảy cảm nào đó khiến đồng bản tệ bị trượt giá, ảnh hưởng tới doanh thu dự kiến của nhà XK
1.2.2.4 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa
vụ của mình, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các bên còn lại
Trang 19Về phía nhà XK, họ có thể lợi dụng vào tính độc lập giữa bộ chứng từ thanh
toán và tình hình giao hàng thực tế để lập ra bộ chứng từ giả mạo phù hợp với L/C nhằm đòi tiền hàng
Về phía nhà NK, khi có cơ hội kinh doanh đã mất hay do có mối hàng khác
hoặc do tình hình trên thị trường hàng hóa có những biến động bất lợi thì họ có thể dựa vào những sai sót dù rất nhỏ của bộ chứng từ để không hoặc kéo dài thời gian trả tiền khi không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng thậm chí nhằm chiếm dụng vốn của ngân hàng
NH là người gánh chịu rủi ro đạo dức: NH phát hành phải thực hiện thanh toán
cho người hưởng lợi theo quy định của L/C ngay cả trong trường hợp người NK chủ tâm không hoàn trả
NH là người gây ra rủi ro đạo đức: NH mở L/C có thể vi phạm cam kết của
mình như từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng gây khó khăn trong quá trình thanh toán
Nguyên nhân chủ yếu của rủi ro đạo đức là vấn đề thông tin không đầy đủ, các
bên tham gia không nắm được những thông tin cần thiết về khả năng tài chính, về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và tính trung thực của đối tác Chính vì vậy mà đưa ra những phán quyết sai lầm gây nên rủi ro thanh toán
15
1.2.2.5 Rủi ro thanh khoản
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với ngân hàng
Rủi ro thanh khoản là những thiệt hại do ngân hàng phải gánh chịu khi không có
đủ tiền để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Tuy nhiên rủi ro này rất ít khi xảy ra, đối với những quốc gia mà đồng tiền của họ không có thể mạng trong thanh toán quốc tế thì họ phải dự trữ một lượng lớn ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu nhà nhập khẩu trong thanh toán Vì vậy, thanh toán chậm cho nhà xuất khẩu làm giảm uy tín của ngân hàng, thậm chí còn bị phạt vì trả chậm
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Đối với nhà nhập khẩu
Không có khả năng chi trả, dẫn đến giảm uy tín trong mắt các bên tham gia Ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn trong tương lai
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Rủi ro ngân hàng đại lý
Khi triển khai hoạt động thanh toán quốc tế, các ngân hàng đều coi nhiệm vụ
phát triển quan hệ đại lý ra nước ngoài là một nhiệm vụ mang tính quyết định cho việc
mở cửa hoạt động của ngân hàng Việc thiết lập và phát triển rộng rãi hệ thống ngân hàng đại lý tạo long tin lẫn nhau, giúp các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế thuận tiên, nhánh chóng, giảm chi phí trung gian
Đứng trên góc độ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu khí Toàn Cầu
(GP.Bank), những tài khoản mà ngân hàng đó mở tại một ngân hàng khác được gọi là tài khoản Nostro Ngược lại, những tài khoản mà ngân hàng khác mở tại Ngân hàng GP.Bank được gọi là tài khoản Vostro Mỗi ngân hàng khi tham gia hoạt động thanh toán quốc tế đều chọn cho mình một số ngân hàng trung gian uy tín để đảm bảo an toàn trong thanh tán Nếu ngân hàng giữ tài khoản Nostro bị phá sản, đóng cửa sẽ là một rủi ro vô cùng nghiêm trọng đối với hoạt động của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản theo Do vậy, để phân tán rủi ro, các ngân hàng không nên duy trì một tài
Trang 20khoản Nostro duy nhất đối với mỗi loại ngoại tệ giao dịch chính Hơn nữa, quan hệ đại
lý thông qua việc các ngân hàng thiết lập quan hệ SWIFT, Testkey, trao đổi chữ ký ủy quyền… là một kênh cung cấp thông tin về khách hàng, góp phần hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.2.6 Rủi ro bất khả kháng
Nguyên nhân là các sự kiện về thiên tai, nổi loạn, bạo động, chiến tranh,… trong những nguyên nhân trên chúng đều gây ra hậu quả là các điều kiện về địa điểm, thời gian giao hàng hoặc hàng đến nơi nhưng giảm chất lượng và nghiêm trọng hơn nó có thể làm cho nhà nhập khẩu bị phá sản Điều này dẫn tới khách hàng không có khả năng
16
thanh toán cho ngân hàng Đây là một rủi ro mà cả ngân hàng và khách hàng khó tránh khỏi
Bên cạnh đó, các cuộc khủng khoảng kinh tế cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn tới rủi ro bất khả kháng đối với ngân hàng, nó làm giảm cán cân thanh toán của quốc gia dẫn đến đồng nội tệ bị mất giá so với đồng ngoại tệ Từ đó dẫn tới khả năng chi trả của ngân hàng với khách hàng là giảm Hơn thế nữa trong thời kỳ này, uy tín của ngân hàng mở L/C bị giảm sút, đòi hỏi phải thông qua một ngân hàng khác xác nhận và ký quỹ 100% giá trị L/C
1.2.2.7 Rủi ro chính trị, pháp lý
Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ là
những rủi ro bắt buồn từ sự không ổn định về chính trị của các nước có liên quan trong quá trình thanh toán Thông thường đó là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý như: thay đổi đột ngột về thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch, cơ chế ngoại hối (hạn chế ngoại hối), luật xuất nhập khẩu Những thay đổi này làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến không dự tính trước làm cho các bên tham gia xuất nhập khẩu và ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình, làm cho L/C có thể bị hủy bỏ, gây thiệt hại cho các bên tham gia Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tinh, bạo động hay chiến tranh, đảo chính, đình công… hoặc những rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn ở các nước tham gia chứng từ bị mất thất lạc cũng có thể gây rủi ro trong quá trình thanh toán
1.2.3 Biểu hiện của rủi ro thanh toán thư tín dụng
Các rủi ro trong thanh toán thư tín dụng luôn luôn tiềm ẩn trong suốt quá trình
thời gian thanh toán Các biểu hiện để nhận biết rủi ro này thể hiện ở trước, trong và sau khi thực hiện thanh toán L/C Có những biểu hiện rất dễ nhận biết, tuy nhiên có những biểu hiện cần phải có những kiến thức chuyên môn mới phát hiện ra được Trong thanh toán hàng nhập khẩu, ngân hàng thương mại với chức năng là ngân
hàng mở L/C Để quyết định có mở L/C cho khách hàng ngân hàng phải xem xét kỹ tình hình tài chính của doanh nghiệp Với một doanh nghiệp mà tình hình tài chính có vấn đề thì đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết rủi ro thanh toán thư tín dụng có thể xảy ra Chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp nhập khẩu là biểu hiện để ngân hàng nhận biết rủi ro có thể xảy ra hay không Với những doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng đang có nhu cầu lớn trong nước cũng như có thị trường tiêu thụ rộng thì khả năng thanh toán cao và rủi ro đối với ngân hàng thấp Ngoài ra quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng từ trước cũng là nguyên tố nhận biết rủi ro Đặc biệt với những khách hàng giao dịch lần đầu thì rất khó thẩm định được thiện chí của khách hàng
17
Trang 21Khi nhà nhập khẩu đã nhận hàng hoá từ cảng về rồi thì biểu hiện nhận biết rủi ro
là khách hàng trì hoãn việc thanh toán, cũng như kiếm cớ bộ chứng từ có lỗi để thanh toán chậm
Trong thanh toán hàng xuất khẩu, rủi ro có thể xảy ra với những L/C được mở
bởi ngân hàng chưa có quan hệ thanh toán tín nhiệm, cũng nh tình hình tài chính kém
mà chưa có xác nhận của ngân hàng uy tín Với những L/C trả chậm kèm theo những điều khoản quy định về đòi tiền rắc rối(ngân hàng trả tiền không phải là ngân hàng mở) là dấu hiệu của rủi ro thanh toán L/C có thể xảy ra
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng
từ
Khi nhà nhập khẩu vì lý do nào đó không thanh toán cho ngân hàng khi đến hạn, thì buộc ngân hàng phải trích tiền trong tài khoản tiền gửi của khách để thanh toán Nếu trong tài khoản tiền gửi không đủ thì ngân hàng phải cho vay bắt buộc với lãi xuất quá hạn hiện hành Người ta có thể xem xét mức độ rủi ro thanh toán thư tín dụng qua chỉ tiêu:
1.2.4.1 Chỉ tiêu về định mức ký quỹ
Ký quỹ là quy định của ngân hàng đối với khách hàng khi họ xin được bảo lãnh
phát hành L/C Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin được bảo lãnh và khoản tiền đó sẽ được phong toả cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm dứt Thông thường khoản tiền này được tính theo tỷ lệ với giá trị mà khách hàng xin được bảo lãnh
Mức ký quỹ có thể là 100% hoặc dưới 100% tuỳ theo đối tượng khách hàng cụ
thể, và cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố Chẳng hạn như:
Khả năng thanh toán của khách hàng: khả năng thanh toán càng cao thì mức ký
quỹ càng thấp và ngược lại
Đối tượng khách hàng: uy tín của khách hàng với ngân hàng càng cao thì mức ký quỹ càng thấp và ngược lại
Loại hàng hoá nhập, khả năng tiêu thụ hàng và tình hình biến động giá cả hàng
hoá trên thị trường: những mặt hàng dễ tiêu thụ, thị trường ổn định giá cả ít biến động thì mức ký quỹ sẽ thấp hơn và ngược lại
Trên cơ sở kết hợp các yếu tố trên, ngân hàng sẽ quyết định mức ký quỹ cụ thể
Tỷ lệ ký quỹ càng thấp thì nguy cơ đối mặt với rủi ro của ngân hàng càng cao
18
1.2.4.2 Chỉ tiêu về nợ quá hạn
Giá trị nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng giá trị thanh toán
Khi ngân hàng đã cho vay bắt buộc, nếu sau một thời gian doanh nghiệp có khả
năng thanh toán cả gốc và lãi tức là ngân hàng đã đòi được số tiền trước đây Còn nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản không có khả năng thanh toán thì số cho vay đó
sẽ được kết chuyển nợ quá hạn
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị ngân hàng không thể thu hồi so với tổng giá trị cho vay hay tổng giá trị thanh toán chiếm tỷ lệ bao nhiêu
Các chỉ tiêu trên cho ta thấy khái quát về tình hình quản trị rủi ro trong phương
Trang 22thức tín dụng chứng từ tại một ngân hàng thương mại, từ đó có biện pháp để quản lý rủi ro trong một ngân hàng một cách có hiệu quả nhất
1.2.5 Ý nghĩa của việc hạn chế rủi ro tín dụng chứng từ
Rủi ro trong kinh doanh là điều khó thể tránh khỏi đối với doanh nghiệp hoạt
động trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là hoạt động của ngân hàng thương mại Rủi
ro trong thanh toán thư rín dụng là một trong những rủi ro nằm trong nghiệp vụ trung gian của ngân hàng Tuy thiệt hại của nó không lớn bằng rủi ro tín dụng trong nghiệp
vụ của ngân hàng nhưng nó gây phản ứng “dây truyền” đến nhiều đối tượng tham gia thanh toán Ngân hàng thương mại đóng vai trò là chất xúc tác kết nối thúc đẩy sự phát triển của hoạt động XNK Ngày nay xu hướng các nhà XNK thanh toán thư tín dụng ngày càng lớn do những ưu việt mà phương thức này mang lại Tuy nhiên đã có không
ít những rủi ro xảy ra gây tổn thất cho cả ngân hàng và nhà XNK Vì vậy việc quản lý
và hạn chế rủi ro trong thanh toán thư tín dụng có ý nghĩa rất thiết thực Ngoài việc giảm những tổn thất không đáng có trong thanh toán L/C còn tăng khả năng cạnh tranh
và uy tín của các ngân hàng để thu hút khách hàng giao dịch Quản lý rủi ro nói chung quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại
1.2.6 Các nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
1.2.6.1 Nguyên nhân khách quan
Có nhiều nguyên nhân xuất phát từ môi trường kinh doanh bên ngoài có thể đem đến nhiều rủi ro cho ngân hàng Ngân hàng phải có chọn lựa và nghiên cứu kĩ thuật tốt ngay từ đầu để giảm thiểu đến mức tối đa những rủi ro này
Khách hàng trong nước gặp khó khăn kinh doanh và tài chính nên không có khả năng thực hiện những cam kết thanh toán với ngân hàng, hoặc lợi dụng sự sơ hở,
19
buông lỏng trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng để ràng buộc ngân hàng vào những hoạt động sai mục đích, phi pháp
Đối tác nước ngoài không có khả năng thực hiện hợp đồng, không có thiện chí
hoặc cố tình lợi dụng lừa đảo khách hàng dẫn đến rủi ro cho cả khách hàng và ngân hàng
Trình độ nghiệp vụ ngoại thương của khách hàng khi tham gia thương mại quốc
tế còn thấp, nhiều khách hàng chưa có kinh nghiệm, chấp nhận ký kết những hợp đồng
có những điều kiện thanh toán bất lợi kéo theo rủi ro cho ngân hàng
Các ngân hàng đại lý cố tình không thực hiện các cam kết, nghĩa vụ của mình
hoặc vì các lý do chính trị, kinh tế… mà không thực hiện được, gây tổn thất cho khách hàng
Rủi ro do đặc điểm của bản thân phương thức thanh toán được sử dụng đem lại
Hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán
quốc tế nói riêng còn thiếu và có nhiều bất cập Hiện nay chưa có một văn bản nào điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế Ví dụ: Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, hiện tại, các bên tham gia vẫn vận dụng UCP 600 làm căn cứ quy định trách nhiệm và quyền hạn, nhưng đây chỉ là thông lệ quốc tế, trong đó không quy định rõ mức xử lý như thế nào khi có vi phạm Trong khi
đó các nước trên thế giới đều có những luật hoặc văn bản dưới luật quy định về giao dịch tín dụng chứng từ trên cơ sở thông lệ quốc tế, có tính đến đặc thù quốc gia
Các văn bản quy định về công tác xuất nhập khẩu, thuế quan, hải quan của Việt
Trang 23Nam còn chưa ổn định, thay đổi gián tiếp làm ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế
Thị trường ngoại tệ chưa phát triển, tỷ giá các ngoại tệ mạnh không ổn định, các cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng
và khách hàng, đồng thời làm tăng rủi ro về ngoại hối của ngân hàng Hơn nữa, các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường chưa phát triển, chủ yếu dừng lại ở giao dịch mua bán giao ngay (sport), các giao dịch mua bán kỳ hạn còn rất hạn chế Điều này tạo khó khăn cho việc tính toán hiệu quả kinh doanh và tránh rủi ro do biến động
tỷ giá cho doanh nghiệp khi tham gia hoạt động thanh toán quốc tế
1.2.6.2 Nguyên nhân chủ quan
Ngoài những nguyên nhân khách quan, còn có nhiều nguyên nhân chủ quan từ
chính môi trường bên trong của sở Mặc dù đây là những nguyên nhân có thể kiểm soát được, nhưng nếu không chú ý sẽ gây ra những rủi ro rất lớn
20
Trình độ cán bộ thanh toán quốc tế còn nhiều bất cập, nhiều khi còn thiếu tinh
thần trách nhiệm, yếu kém về nghiệp vụ chuyên môn, không nắm chắc và tuân thủ quy trình thanh toán quốc tế
Chưa có các cơ chế thống nhất, đồng bộ để đảm bảo khả năng thanh toán như cơ chế thành lập quỹ dự phòng rủi ro thanh toán quốc tế, cơ chế phối hợp giữa nghiệp vụ thanh toán quốc tế và quản lý tín dụng xuất nhập khẩu
Các hình thức dịch vụ còn đơn điệu, một chiều, chưa đa dạng hoá để giảm thiểu, phân tán rủi ro và thu hút nguồn ngoại tệ mạnh
Công nghệ ngân hàng còn lạc hậu, chưa đồng bộ và phát triển kịp thời so với xu thế phát triển và nhu cầu thanh toán quốc tế, làm ảnh hưởng đến tốc độ thanh toán, gây rủi ro cho ngân hàng
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn thiếu tính chủ động, mới chỉ dừng lại ở việc
mua bán phục vụ từng giao dịch cụ thể, chưa thực sự kinh doanh để thu lợi nhuận và tăng cường tính chủ động về nguồn ngoại tệ cung cấp cho các khách hàng khi phát sinh nhu cầu về ngoại tệ
21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương một, luận văn đã đề cập tới cơ sở lý luận chung về thanh toán quốc
tế, trong đó tập trung tìm hiểu các rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ, các văn bản pháp lý quốc tế điều
chỉnh và khái niệm về rủi ro… từ đó làm nền tảng cho việc đi sâu vào phân tích những rủi ro xảy ra trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long
Một mặt, rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong chương hai tiếp theo.Mặt khác, góp phần hoàn thiện hạn chế phương thức tín dụng chứng từ, từ đó đẩy mạnh dịch vụ thanh toán quốc tế là góp phần quảng bá hình ảnh thương hiệu của Ngân hàng, đồng thời góp phần đưa đất nước hội nhập nhanh với kinh tế Thế giới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia Tuy nhiên, song song với việc phát triển mạnh thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ, các ngân hàng còn phải đề phòng
Trang 24những rủi ro mà phương thức này mang lại
Tổng quan về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu
2.1.1 Những nét chính về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu
Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu (GP.Bank), tiền thân là ngân hàng thương mại nông thôn Ninh Bình, đã chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động từ một ngân hàng nông thôn sang ngân hàng đô thị từ 07/11/2005
Từ một tổ công tác Hà Nội chưa đầy 10 thành viên tháng 11/2005, đến nay,
GP.Bank đã xây dựng được một đội ngũ hơn 900 cán bộ nhân viên và hơn 65 chi nhánh/phòng giao dịch tại các tỉnh/thành phố kinh tế trọng điểm: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Ninh Bình, Gia Lai…
Với tốc độ phát triển hoạt động của Ngân hàng và sự cạnh tranh ngày càng cao
trên thị trường lao động, công tác phát triển nguồn nhân lực luôn giữ một vai trò then chốt trong những thành công đạt được của GP.Bank Không chỉ nâng cao cơ hội phát triển nghề nghiệp nguồn nhân lực đang có, GP.Bank còn hết sức chú trọng thu hút và xây dựng nguồn nhân lực mới, trong đó chú trọng tập hợp đội ngũ nhân lực trẻ được đào tạo chính quy từ các trường đại học và nguồn lao động giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng bổ sung cho đội ngũ nhân sự GP.Bank Hiện nay, trên 97% cán bộ nhân viên của GP.Bank đã có trình độ đại học, trên đại học và thành thạo nghiệp vụ chuyên môn
Về công nghệ, GP.Bank là một trong những ngân hàng đầu tiên đã triển khai
thành công phần mềm Hệ thống Ngân hàng lõi T24 (Core Banking) của hãng Temenos của Thụy Sỹ, với khả năng xử lý trên 10.000 giao dịch/giây đã đáp ứng được hầu hết các yêu cầu của khách hàng cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ Đây là công nghệ ngân hàng mới, hỗ trợ cho việc triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, đang được triển khai tại hơn 400 tổ chức tài chính-ngân hàng trên thế giới Công nghệ mới này cho phép ngân hàng quản lý dữ liệu khách hàng theo chuẩn mực quốc tế, khả năng ứng dung, triển khai nhiều sản phẩm mới và quản trị tốt nhất rủi ro trong hoạt động
Là một ngân hàng mới, GP.Bank có những thế mạnh cũng như lợi thế nhất định Với cơ cấu gọn nhẹ, tính chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao, đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, kinh nghiệm, chuyên môn đào tạo tốt, Ngân hàng TMCP
23
Dầu Khí Toàn Cầu hứa hẹn là một trong những Ngân hàng Thương mại cổ phần đầy tiềm năng
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Thăng Long là đơn vị trực
thuộc Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu, Ngày 08/7/2009, chi nhánh chính thức đi vào hoạt động GP.Bank Thăng Long là chi nhánh thứ 9 của GP.Bank được đưa vào phục vụ khách hàng sau 03 năm ngân hàng được thành lập và là Chi nhánh thứ 2 của GP.Bank chính thức được thành lập kể từ đầu năm 2009.Xuất phát từ nhu cầu thị
Trang 25trường, GP bank đã tiến hành thành lập chi nhánh GP bank Thăng Long vào
8/10/2007 Trong 3 ngày giao dịch đầu tiên đã có trên 100 lượt khách đến giao dịch và gửi tiền, số tiền huy động từ dân cư và các doanh nghiệp được trên 4 tỷ đồng, có gần
30 khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp đến mở tài khoản giao dịch Ngay từ những ngày hoạt động đầu tiên, chi nhánh GP bank Thăng Long đã có thể cung ứng cho khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trên địa bàn Hà Nội và các vùng phụ cận đầy
đủ gói sản phẩm dịch vụ tài chính – ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
và theo sự ủy quyền của Hội sở Đồng thời, chi nhánh GP bank Thăng Long đã được kết nối với các điểm giao dịch của GP bank trên toàn quốc để thực hiện các giao dịch trực tuyến.Là một ngân hàng mới, GP bank có những thế mạnh cũng như lợi thế nhất định Với cơ cấu gọn nhẹ, tính chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao, đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, kinh nghiệm, chuyên môn đào tạo tốt, GP bank hứa hẹn là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầy tiềm năng
Chi nhánh được giao và thực hiện các nhiệm vụ sau:
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của các tổ chức và cá nhân
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong và ngoài
nước
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Vay vốn ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng khác
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Thực hiện thanh toán giữa các khách hàng
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Thực hiện kinh doanh ngoại tệ
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Thanh toán quốc tế và thực hiện các dịch vụ liên quan đến thanh toán quốc tế
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Thực hiện chuyển tiền trong và ngoài nước dưới nhiều hình thức
24
2.1.2 Các thành tựu đạt được
Liên tục trong 03 năm từ 2002 đến 2004, ngân hàng nhận được Bằng khen của
Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình về việc đã có những thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua của tỉnh
Năm 2005, nhận Bằng khen của Tổng cục Thuế về những thành tích trong việc
đóng góp thuế cho Nhà nước
Bằng khen Tập thể cán bộ, nhân viên GP.Bank đã có thành tích góp phần hoàn
thành nhiệm vụ ngân hàng năm 2005 – 2006 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trao tặng
Ngân hàng đầu tiên trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam hoàn
thành dự án Core banking sau 06 tuần triển khai
Ngân hàng đầu tiên trong hệ thống các ngân hàng Việt Nam cho phép khách
hàng giao dịch bằng nickname (GP.Name) theo sở thích
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức
Chi nhánh NH GPBank Thăng Long là đơn vị trực thuộc NH GPBank nên cũng
hoạt động theo mô hình tổng công ty 90, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng, có
tư cách pháp nhân, thời hạn hoạt động là 99 năm, có quyền tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh
Từ khi được thành lập và đi vào hoạt động, chi nhánh đã sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình chi nhánh cấp I gồm có 5 phòng nghiệp vụ tại trụ sở chính của chi nhánh
Trang 26tòa nhà CT2 – VIMECO Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội và 8 phòng giao dịch trực thuộc, bao gồm:
Phòng giao dịch Mỹ Đình - 15 Phạm Hùng - Từ Liêm – HN
Phòng giao dịch Trần Duy Hưng - 59 Trần Duy Hưng - Cầu Giấy – HN
Phòng giao dịch Nguyễn Trãi - 547 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân – HN
Phòng giao dịch Hoàng Quốc Việt - 385 Hoàng Quốc Việt - Cầu Giấy – HN
Phòng giao dịch Nguyễn Cơ Thạch - Tầng 1 C3 Nguyễn Cơ Thạch - Mỹ
Đình I - Từ Liêm – HN
Phòng giao dịch Văn Quán - TT10 - A8 (86) Khu đô thị mới Văn Quán -
Hà Đông - Hà Nội
Phòng giao dịch Hà Đông – 198 Quang Trung – Hà Đông – Hà Nội
Phòng giao dịch Đông Anh- Số 9 Đường Cao Lỗ- Xã Uy Nỗ- Huyện Đông
Anh- Hà Nội
25
Các phòng nghiệp vụ và phòng giao dịch đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
được giao và hoạt động có hiệu quả
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của GP.Bank chi nhánh Thăng Long
(Nguồn: Phòng thanh toán quốc tế)
2.1.3.2 Nhiệm vụ của các phòng ban
Trang 27trưởng phòng, trưởng bộ phận với từng nhân viên, chuyên viên trong chi nhánh, đưa những chủ trương của cấp trên xuống đến từng nhân viên
b Phòng doanh nghiệp và phòng cá nhân
Có trưởng phòng quản lý và các chuyên viên quan hệ khách hàng Nhiệm vụ của chuyên viên quan hệ khách hàng là thực hiện các quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng
26
Về công tác phát triển khách hàng và huy động vốn:
Chủ động triển khai các hình thức huy động vốn của khách hàng một cách
hiệu quả
Phát triển các khách hàng mới cũng như duy trì quan hệ với những khách
hàng đã từng giao dịch với ngân hàng
Tìm hiểu những nhu cầu phát sinh của khách hàng đề phản ánh với ban
giám đốc, đề xuất các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng nhất
là các khách hàng có nhu cầu cao về lãi suất hay tính thanh khoản…
Về công tác tín dụng:
Trực tiếp đề xuất hạn mức, các khoản tín dụng, bảo lãnh… cho khách
hàng
Theo dõi tình hình công nợ của khách hàng, đôn đốc và nhắc nhở với nhứng
khách hàng đến hạn mà chưa đến trả lãi hoặc gốc
Tìm kiếm khách hàng mới và khai thác nhu cầu vay vốn của những
khách hàng cũ
Phòng cá nhân có số lượng nhân viên lớn nhất chi nhánh Lượng nhân viên này
chia làm hai mảng: chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân và bộ phận tư vấn bán hàng Nhiệm vụ của chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân đã được trình bày ở trên, còn nhiệm vụ của bộ phận tư vấn là hỗ trợ cho các chuyên viên khách hàng trong việc marketing, giới thiệu các sản phẩm, tư vấn sản phẩm cho khách hàng
Phòng doanh nghiệp có chuyên viên quan hệ khách hàng doanh nghiệp và trợ
lý được chia thành cặp chuyên viên và trợ lý Nhiệm vụ của chuyên viên quan hệ khách hàng doanh nghiệp cũng đã được trình bày như trên Thông thường các chuyên viên quan hệ khách hàng là người trực tiếp thực hiện việc tiếp xúc, quan hệ với khách hàng, tìm kiếm những khách hàng mới và duy trì những khách hàng đã có Các trợ lý chịu trách nhiệm cùng các chuyên viên hoàn chỉnh hồ sơ khách hàng và xác định nhu cầu tín dụng của khách hàng, từ đó lập tờ trình và đề nghị giải ngân cho khách hàng
c Bộ phận kinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế
Thực hiện các giao dịch với khách hàng theo đúng quy trình tài trợ thương mại
và hạch toán kế toán những nghiệp vụ liên quan trên cơ sở hạn mức khoản vay, bảo lãnh được phê duyệt
27
Chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc phát triển và nâng cao hiệu quả hợp tác
kinh doanh đối ngoại của Chi nhánh, chịu trách nhiệm về tính chính xác, đúng đắn, đảm bảo an toàn tiền vốn, tài sản của Ngân hàng, khách hàng
Tiếp thị, tiếp cận phát triển khách hàng, giới thiệu sản phẩm, tiếp thu tìm hiểu
nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng
Trang 28d Phòng hỗ trợ kinh doanh
Phòng hỗ trợ kinh doanh được chia thành các bộ phận:
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Bộ phận giao dịch viên
Thực hiện việc xử lý những giao dịch trực tiếp giữa khách hàng với ngân hàng
như những giao dich gửi tiền, rút tiền, tất toán sổ tiết kiệm, thu và chi lãi,…Giao dịch viên cũng có nhiệm vụ giải đáp thắc mắc của khách hàng và giới thiệu cho khách hàng những dịch vụ sẵn có của ngân hàng phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng Bộ phận giao dịch viên đồng thời thực hiện hạch toán các giao dịch của khách hàng với ngân hàng, đảm bảo các giao dịch của khách hàng được thực hiện nhanh chóng
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Bộ phận kiểm soát
Bộ phận kiểm soát thực hiện các công việc giám sát hoạt động của các giao dịch viên trên các cơ sở
Kiểm tra, giám sát về mặt nghiệp vụ của các giao dịch viên, đảm bảo các
giao dịch được hạch toán chính xác, đầy đủ
Kiểm tra, giám sát về thái độ phục vụ của giao dịch viên
Giải đáp thắc mắc của khách hàng mà giao dịch viên chưa giải đáp được
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Bộ phận kho quỹ
Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ vè quản lý kho và xuất nhập quỹ, vận
chuyển tiền cho các phòng giao dịch khi có nhu cầu tiếp quỹ, điều chuyển
tiền đi NHNN, các ngân hàng đối tác và ngược lại theo quy trình đảm bảo
an toàn
Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan để kiểm soát lượng tiền mặt
giao dịch trong ngày từ đó đề xuất định mức tiền tồn quỹ hợp lý để đảm
bảo tiết kiệm vốn, sử dụng vốn có hiệu quả, hạn chế tình trạng thừa vốn
đồng thời nâng cao an toàn kho quỹ
Chịu trách nhiệm tham mưu, đề xuất với giám đốc chi nhánh về các biện
pháp, điều kiện đảm bảo an toàn kho quỹ và an ninh tiền tệ
Theo dõi, tổng hợp lập báo cáo tiền tệ, an toàn kho quỹ theo quy định
28
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Bộ phận quản lý tín dụng
Kiểm tra và tham mưu cho Ban Giám Đốc thực hiện đúng quy trình nghiệp
vụ Quản lý tín dụng theo chế độ quy định
Thực hiện chặt chẽ các bước kiểm tra trước khi giải ngân cho khách
hàng vay, thông qua việc quản lý tính tuân thủ của quyết định tín dụng,
tính chính xác và nhất quán của các thông tin về khách hàng, hợp đồng
vay, tài sản đảm bảo giữa hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử
Kiểm tra, đôn đốc công tác thu hồi vốn và theo dõi chất lượng tín dụng
khách hàng vay của Phòng kinh doanh
e Phòng kế toán và hành chính
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Bộ phận kế toán
Thực hiện công tác kế toán, tài chính cho toàn bộ hoạt động của Chi nhánh,
không trực tiếp làm nhiệm vụ kế toán giao dịch với khách hàng
Thực hiện và kiểm tra công tác hạch toán kế toán chi tiết, kế toán
tổng hợp và chế độ báo cáo kế toán, theo dõi quản lý tài sản, vốn,
quỹ của Chi nhánh theo quy định
Thực hiện công tác hậu kiểm đối với toàn bộ hoạt động tài chính kế toán
Trang 29của Chi nhánh bao gồm các Phòng Giao dịch theo quy trình luân chuyển và kiểm soát chứng từ Thực hiện việc kiểm soát, lưu trữ, bảo quản, bảo mật các chứng từ, sổ sách kế toán theo quy định của Nhà nước và Sacombank Quản lý toàn bộ số liệu, dữ liệu kế toán, bảo mật, cung cấp thông tin hoạt
động của Ngân hàng, của khách hàng qua số liệu kế toán theo quy định và lập các báo cáo kế toán tài chính theo quy định của Nhà nước
Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá Bộ phận hành chính
Các vấn đề liên quan đến quản lý nhân sự, chấm công, theo dõi nhân viên
trong chi nhánh về việc chấp hành các kỷ luật đề ra
Các vấn đề liên quan đến tổ chức đào tạo và nhu cầu đào tạo nhân sự
của chi nhánh
Các văn bản trao đổi giữa chi nhánh với sở giao dịch và các phòng
giao dịch trực thuộc
Các vấn đề liên quan đến cung cấp văn phòng phẩm, đồng phục nhân
Trang 30đối
Huy động
vốn
4,374,900 5,490,923 6,643,772 1,116,023 25.51 1,152,849
14.35
1,250,562
985,126 1,126,523 (265,436) (21.23)
Trang 329
(Nguồn: Phòng Kế toán –Hành chính)
Nhìn chung, quy mô nguồn vốn huy động tăng bền vững qua các năm
Năm 2012, tổng số tiền huy động được 5,490,923 triệu đồng tăng 25.51% so với năm
2011, và tiếp tục tăng lên 6,643,772 triệu đồng vào năm 2013 Trong đó, nguồn vốn huy động từ nội tệ cao hơn rất nhiều so với nguồn ngoại tệ cụ thể như sau:
Nguồn ngoại tệ từ năm 2011 đến năm 2013 tăng đều qua các năm và chủ yếu là
qua hoạt động tiền gửi tiết kiệm Tuy nhiên, tốc độ tăng còn rất khiêm tốn, cụ thể:
30
Năm 2012 đạt 572,156 triệu đồng tăng 27.07% so với năm 2011 và năm 2013 đạt 625,825 triệu đồng tăng 9.38% so với năm 2012 Nguyên nhân chính là do có một lượng khách hàng lớn khách hàng Việt Nam làm việc tại nước ngoài gửi tiền về cho gia đình của họ Việc tăng huy động ngoại tệ từ các khách hàng dân cư và tổ chức kinh
tế là hành động nhằm đảm bảo nguồn vốn ngoại tệ hiện tại cũng như trong tương lại của ngân hàng, và nó cũng tới các hoạt động trực tiếp tới các hoạt động khác mà sử dụng nguồn ngoại tệ đó, đặc biệt là hoạt động thanh toán quốc tế Và để đảm bảo nguồn ngoại tệ, hàng năm ngân hàng vẫn luôn thực hiện một số chương trình khuyến mãi như “Lộc xuân tràn đầy, tết vui sum vầy” áp dụng cho tất cả các khách hàng có thực hiện giao dịch nhận tiền qua dịch vụ Western Union có cơ hội trúng ngay tủ lạnh Sharp và nhiều phần quà khác
Đối với đồng nội tệ, tỷ trọng nguồn vốn thông qua hoạt động tiền gửi tiết kiệm
chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 90%) và được giữ vững qua các năm, đồng thời phản ánh rõ thực trạng của nền kinh tế Việt Nam là các kênh đầu tư sinh lời trong giai đoạn
2011 – 2013 không còn hiệu quả như bất động sản bị “đóng băng”, tình hình sản xuất kinh doanh trì trệ, nhiều doanh nghiệp đã rời khỏi thị trường…dẫn đến gửi tiền tiết kiệm là kênh đầu tư tối ưu hiện nay Nắm bắt được thực trạng đó, ngân hàng đã có những chính sách thay đổi lãi suất huy động, các chương trình khuyến mãi như:
15/07/2011Gửi tiết kiệm tại GP Bank, rinh Vespa LX về nhà
1/11/2011 Gửi tiết kiệm tại GP Bank, trúng ngay ô tô Mercedes
02/07/2012 GP Bank ra mắt dịch vụ “Tiết kiệm điện tử”…
19/09/2012 Bổ sung kỳ hạn 13 tháng đối với hình thức tiết kiệm thường với
mức lãi suất cao nhất 13%
02/05/2013 Vui hè, Nhận quà 5 tỷ đồng từ GP.Bank
Bên cạnh huy động qua tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng còn huy động qua qua tiền
gửi thanh toán và tiền gửi có kì hạn Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nền kinh tế nên số tiền qua hai hoạt động này không nhiều, đặc biệt là tiền gửi thanh toán có tốc độ tăng rất chậm, cụ thể: năm 2012 đạt 88,175 triệu đồng tăng 25.51% so với năm 2011 và tiếp tục tăng 3.35% vào năm 2013 Còn tiền gửi có kì hạn, mức tăng trưởng không bền vững: Năm 2012 đạt 985,126 triệu đồng giảm 21.23% so với năm 2011, nhưng sang năm 04/01/2013, do ngân hàng áp dụng lãi suất huy động mới, trong đó, mức lãi suất huy động cao nhất lên tới 11.5%/năm áp dụng cho các kỳ hạn dài từ 12 tháng đến 36 tháng Riêng lãi suất các kỳ hạn từ 1 tháng đến 9 tháng đồng loạt được áp dụng mức 8%/năm Trong khi các ngân hàng khác như TrustBank, áp dụng mức lãi suất 11.4% đối với kì hạn 12 tháng, 13 tháng, 15 tháng, còn từ 18 tháng đến 36 tháng mức lãi suất
là 10% Do đó, nguồn vốn huy động được trong năm 2013 tăng lên 1,126,523 triệu
Trang 3331
đồng tương đương 14.35% Điều đó cho thấy, ngân hàng đã có những phản ứng và các chính sách đúng đắn phù hợp với thời cuộc
Nhờ chính sách điều hành lãi suất huy động theo hướng linh hoạt, phù hợp với
các diễn biến của thị trường, mặc dù trong những năm gần đây có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng nhưng nhìn tổng thể nguồn vốn huy động của GP.Bank liên tục
có những bước tăng trưởng khả quan Điều này chứng tỏ mức độ tín nhiệm của các cá nhân tổ chức dành cho GP.Bank ngày càng tăng
Trang 341,560,525 1,267,739 1,666,057 (292,786) (18.76) 398,319 31.42