1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực

13 783 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước ta chính vì thế việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trườ

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước ta chính vì thế việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông theo tinh thần nghị quyết IX của đảng được chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Để đạt được những điều đó cùng với sự thay đổi về nội dung, hình thức tổ chức dạy học, cần hình thành cho học sinh kỹ năng phân tích, tổng hợp, tạo cho học sinh năng lực tự học, tự rèn luyện bồi bổ kiến thức cho mình là việc vô cùng quan trọng

Đối với nhà trường THCS việc tự rèn cho mình khả năng phân tích tổng hợp là rất cần thiết đối với tất cả các bộ môn trong đó có bộ môn hoá học, bởi hoá học là bộ môn khoa học có rất nhiều ứng dụng đối với các nghành khoa học khác Góp phần đẩy mạnh sự thay đổi của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đất nước đang đổi mới

Trong chương trình hoá học phổ thông để nắm bắt đầy đủ các kiến thức của bộ môn thì bài tập hoá học được đặc biệt quan tâm vì nó là phương tiện hữu hiệu trong giảng dạy bộ môn hoá học Thông qua giải bài tập hóa học, HS thu nhận được khái niệm mới, tính chất mới của chất, phương pháp giải một loại bài tập nào đó, hoặc giúp

HS vận dụng kiến thức, kĩ năng hóa học phát triển tư duy và năng lực nhận thức, giải quyết vấn đề Bài tập hoá học góp phần nâng cao khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức mà các em được học

B.NỘI DUNG

I CƠ SỞ KHOA HỌC

1.Cơ sở lí luận:

Trong quá trình hơn 9 năm làm công tác giảng dạy hoá học ở trường THCS tôi nhận thấy bài tập hoá học là phương tiện hữu hiệu trong giảng dạy hoá học

- Bài tập hoá học là nguồn để hình thành, rèn luyện, củng cố, kiểm tra các kiến thức, kĩ năng cho học sinh

- Bài tập hoá học có tác dụng mở rộng, nâng cao kiến thức cho học sinh

- Bài tập hoá học giúp việc vận dụng kiến thức vào thực tế

- Bài tập hoá học giúp giáo viên rèn luyện nhân cách cho học sinh: Tính chủ động sáng tạo, tính cẩn thận kiên trì ý chí quyết tâm trong học tập

- Đặc biệt bài tập hoá học còn giúp việc rèn luyện tính tích cực, khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh

2.Cơ sở thực tiễn:

Thực tiễn qua quá trình dạy học tôi nhận thấy:

- Nếu không chú trọng rèn luyện tính tích cực, khả năng tư duy cho học sinh thì kiến thức học sinh tiếp thu rất nông và hời hợt

- Độ bền và nhớ kiến thức không lâu

- Việc tạo hứng thú và niềm tin cho học sinh trong quá trình học sẽ gặp nhiều khó khăn

3 Đặc điểm của bài tập hoá học.

Trang 2

- Bài tập tự luận: Bài tập lí thuyết và bài tập thực nghiệm , trong đó gồm bài tập định tính và bài tập định lượng và được chia thành bài tập cơ bản và bài tập phức hợp

- Bài tập trắc nghiệm khách quan: câu điền khuyết, câu đúng-sai hoặc có không, câu có nhiều lựa chọn, câu cặp đôi

Bài tập hoá học có thể sử dụng để dạy học tích cực ở mọi cấp học, bậc học Để giải bài tập hoá học, học sinh cần phải nhớ lại, phân tích, tổng hợp, vận dụng kiến thức đã biết

để tìm ra câu trả lời

II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN:

Trên cơ sở thực tiễn và lý luận đã phân tích ở trên , tôi thấy việc "Sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực" là cần thiết Vì vậy khi thực hiện cần chú ý:

* Sử dụng bài tập như là một bài toán nhận thức giúp HS hình thành khái niệm, quy luật, tính chất hóa học của chất

- GV nêu vấn đề cần nhận thức

- GV nêu bài tập

- HS giải bài tập

- HS rút ra vấn đề cần nhận thức

Như vậy bài tập hóa học được sử dụng nhằm phát triển năng lực tích cực nhận thức cho HS

* Sử dụng bài tập nhằm củng cố, khắc sâu các khái niệm, tính chất hóa học

- GV nêu bài tập

- HS giải bài tập

- Thông qua việc giải bài tập HS được củng cố, khắc sâu, vận dụng được kiến thức

đã học

* Bài tập giúp HS vận dụng kiến thức để giải quyết 1 số vấn đề có liên quan đến thực tiễn

- GV nêu bài tập như là một vấn đề có liên quan đến thực tiễn

- HS giải bài tập bằng cách vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học

- Qua đó HS được phát triển tư duy giải quyêt vấn đề và tư duy sáng tạo

Theo tôi "Sử dụng bài tập theo hướng dạy học tích cực"GV cần tích cực chủ động

để thiết kế các hoạt động tích cực cho HS trên cơ sở một hệ thống câu hỏi và bài tập từ đơn giản đến phức tạp GV sử dụng bài tập phải phù hợp với mục tiêu, nội dung của bài học và năng lực của HS nhằm phát huy tính tích cực của HS thì bài giảng mới đạt hiệu quả Sau đây là 1 số ví dụ cụ thể

1 Bài tập hoá học giúp định hướng hoạt động của học sinh để xây dựng và phát hiện kiến thức mới.

Ví dụ 1 : Để tìm hiểu ý nghĩa của phương trình hoá học, giáo viên yêu cầu học sinh giải

bài tập sau: Dựa vào PTHH: 4Al + 3O2 -> 2Al2O3 hãy cho biết :

- Tên chất tham gia và sản phẩm

- Số nguyên tử, phân tử của mỗi chất trong phản ứng

- Tỉ lệ số nguyên tử, phân tử giữa các chất

Qua thí dụ trên, hãy rút ra ý nghĩa chung của phương trình hoá học là gì? Hệ thống câu hỏi này được in trong phiếu học tập hoặc viết lên bảng phụ để tránh câu hỏi vụn vặt

Ví dụ 2: Thông qua việc giải các bài tập , học sinh tự tìm ra được khái niệm axit.

GV nêu một số câu hỏi và bài tập như sau( phát phiếu học tập)

Trang 3

- Hãy cân bằng những phương trình phản ứng sau:

SO3 + H2O —> H2SO4 P2O5 + H2O —> H3PO4 CO2 + H2O —> H2CO3

- Cho biết chất tạo thành sau phản ứng thuộc loại chất nào?

- Cho biết thành phần phân tử của H2SO4, H3PO4, H2CO3 có gì giống nhau?

- Nhóm nguyên tố =SO4 ,  PO4 , =CO3 được gọi là gốc axit Vậy căn cứ vào số nguyên tử H liên kết với gốc axit, cho biết hoá trị của các gốc axit trên?

- Hãy cho biết thế nào là hợp chất axit?

HS thảo luận và thực hiện nội dung trong phiếu học tập, các nhóm báo cáo kết quả và rút ra khái niệm về axít

2 Sử dụng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh hoạt động nghiên cứu tính chất của chất.

Ví dụ 1: Để tìm hiểu tính chất của oxi tác dụng với kim loại, giáo viên giao bài tập cho

học sinh ( phát phiếu học tập)

Hãy quan sát thí nghiệm và cho biết:

- Trạng thái , màu sắc của sắt và khí oxi trước khi thí nghiệm

- khi đốt nóng đỏ sắt và đưa vào bình khí oxi có hiện tượng gì xẩy ra?

- Hãy lập phương trình hoá học , biết rằng sản phẩm tạo thành là Fe3O4

Ví dụ 2: Tìm hiểu tính chất của Natri hidroxit tác dụng với muối (giáo viên hướng dẫn

học sinh làm thí nghiệm )

Hoạt động của GV Hoạt động của HS

1 Hướng dẫn học sinh

chuẩn bị dụng cụ và hoá chất

thí nghiệm

- Hướng dẫn học sinh làm

thí nghiệm theo các thao tác

được giáo viên viết trên

bảng phụ

2 Hướng dẫn học sinh làm

thí nghiệm đối chứng

- Yêu cầu học sinh quan sát

ống nghiệm (1) và (2)

H: Vì sao ống nghiệm (1) có

kết tủa màu nâu đỏ?

H: Vì sao ống nghiệm (2)

không có hiện tượng gì?

1 Lấy 1-2ml dd FeCl3 cho vào ống nghiệm (1) , dùng ống nhỏ giọt, nhỏ 3-5giọt dd NaOH vào ống nghiệm (1)

2 Lấy khoảng 1-2ml dd BaCl2 cho vào ống nghiệm (2), dùng ống nhỏ giọt, nhỏ 3-5 giọt dd NaOH vào ống nghiệm (2)

- ống nghiệm (1) xuất hiện màu nâu đỏ.Vì dd NaOH phản ứng với dd FeCl3 tạo ra kết tủa Fe(OH)3 màu nâu đỏ

3NaOH(dd)+ FeCl3 (dd)-> Fe(OH)3(r) +3NaCl(dd)

- ống nghiệm (2) không có hiện tượng gì.Vì dd NaOH không phản ứng với ddBaCl2

3 Sử dụng câu hỏi bài tập giúp học sinh tích cực vận dụng kiến thức vào thực tế.

Ví dụ 1: Có hỗn hợp gồm các chất khí thải độc hại sau đây: HCl, Cl2, CO2, CO, SO2.

Hãy nêu các biện pháp để sử lí các chất thải đó bằng phương pháp hoá học

Hoạt động giải bài tập của học sinh có thể như sau:

Trang 4

Phương hướng chung Hoạt động cụ thể

- Phân tích đề bài : cho cái gì? yêu cầu

cái gì?

- Tìm mối liên hệ giữa cái chưa biết và

cái đã biết

- Phân loại chất và xác định tính chất

của chúng

- Tìm phương pháp xử lí : tác dụng với

chất khác tạo thành chất ít hoặc không

độc hại

- Xác định các chất để khử và biện

pháp cụ thể

- Cho các chất khí thải độc hại, yêu cầu

xử lí chất thải

- Các chất có tính axit : HCl, Cl2, CO2, SO2, chất có tính khử : CO

- Chọn chất khử có tính kiềm và chất khử có tính oxi hoá

+ Dùng nước vôi trong : có tính kiềm,

dễ điều chế, rẻ tiền

+ Dùng CuO làm chất oxi hoá để khử CO

- Cách làm : Bước 1: Dẫn hỗn hợp khí thải sục qua nước vôi trong dư, thì khí CO2, SO2, Cl2, HCl bị hấp thụ bởi dung dịch Ca(OH)2

và khí không bị hấp thụ là CO Bước 2: Dẫn khí CO qua CuO dư ở nhiệt độ cao sau đó dẫn khí thoát ra qua dung dịch Ca(OH)2 dư

- Kết luận : đã khử được hoàn toàn hỗn hợp khí thải trên

Ví dụ 2: Khí oxi có lẫn tạp chất là khí cacbonic và hơi nước Bằng phương pháp hoá

học nào có thể loại tạp chất ra khỏi khí oxi ? Viết các phương trình hoá học xẩy ra Giải : Với phương hướng và hoạt động tương tự như trên HS đã đề ra được một trong những hướng giải như sau:

- Chọn chất nào có phản ứng với khí CO2 và H2O nhưng không phản ứng với khí O2

- Cách làm cụ thể: Dẫn khí oxi lẫn tạp chất là CO2 và hơi nước đi qua dung dịch nước vôi trong dư , khí CO2 bị giữ lại Khí đi ra là O2 có lẫn hơi nước , được dẫn qua CaO khan hoặc H2SO4 đặc để giữ hơi nước lại khí đi ra là O2 khô

Các phương trình phản ứng xẩy ra:

CO2(r) + Ca(OH)2(dd) -> CaCO3(r) + H2O(l)

CaO(r) + H2O -> Ca(OH)2

Hoặc H2SO4 + n H2O -> H2SO4 n H2O

4 Sử dụng bài tập Hoá học (bài tập thực nghiệm) trong giờ thực hành để tích cực hoá hoạt động của Học sinh.

Ví dụ 1: Có 3 lọ đựng 3 dung dịch NaOH, HCl và nước cất, hãy nhận biết mỗi lọ đựng

chất nào ? Dụng cụ và hoá chất coi như đủ

Hoạt động tích cực của HS có thể như sau:

Phương hướng chungHoạt động cụ thể Hoạt độ Hoạt động cụ thể

Trang 5

Bước1: Xác định đặc điểm của từng

chất

Bước2: Xác định thuốc thử cần dùng

Bước3: Nhận biết bằng thực nghiệm

- Dung dịch NaOH, HCl có phản ứng với giấy quỳ tím có màu đặc trưng Nước cất không làm đổi màu giấy quỳ tím

- Do đó dùng giấy quỳ tím có thể nhận

ra mỗi chất trên

- Dùng 3 ống hút nhỏ giọt, nhỏ 2-3 giọt

ở mỗi lọ vào 3 mẫu giấy quỳ tím

Nếu quỳ tím hoá đỏ, đó là dung dịch HCl nếu hoá xanh, đó là dung dịch NaOH Nếu không đổi màu đó là nước cất

Ví dụ 2: Có NaOH và nước cất Hãy pha chế 50 gam dung dịch NaOH 4%.

Hoạt động của HS được tích cực hoá như sau:

Phương phướng chung Hoạt động cụ thể

Bước 1: Xác định lượng hoá chất cần

thiết để pha chế

Bước 2: Thực nghiệm pha chế

- Tính khối lượng NaOH:

mNaOH =50 0,04=2(g)

- Tính khối lượng nước: 50-2=48(g)

- Cân 2g NaOH rắn

- Đong 48 ml nước cất tương đương 48g

- Cho xút vào nước cất và khuấy đều

Ví dụ 3: Có 3 ống nghiệm đựng hóa chất không có nhãn: Rượu etylic, axit axetic, nước.

Hãy làm thí nghiệm nhận biết mỗi ống nghiệm đựng chất nào? Dụng cụ hóa chất coi như đủ

Hoạt động của HS có thể như sau:

Phương phướng chung Hoạt động cụ thể

Bước 1: Xác định thuốc thử dùng để

nhận biết căn cứ vào tính chất của axít,

rượu etylic, nước

Bước 2: Làm thí nghiệm

- Chuẩn bị dụng cụ hóa chất

- Thực hiện các thí nghiệm

* HS có thể nêu các cách khác nhau để phân biệt axít axetic với rượu etylic và nước:

- Dùng kim loại mạnh(Mg, Zn) , O2(kk)

- Quỳ tím, kim loại Na

- Muối cacbonat(Na2CO3), kim loại Na

- Oxit bazơ(CuO), O2(kk)

* GV yêu cầu mỗi nhóm HS thực hiện theo các cách khác nhau dựa vào hóa chất và dụng cụ đã có

Một trong các cách thực hiện như sau:

Ví dụ

Trang 6

Bước 3: Rút ra kết luận

- Dùng 3 ống hút nhỏ giọt, nhỏ 2-3 giọt

ở mỗi ống nghiệm vào 3 mẩu giấy quỳ tím

Nếu giấy quỳ tím hóa đỏ, đó là axít axetic Nếu quỳ tím không đổi màu , đó

là rượu etylic và nước

- Cho Na vào 2 ống nghiệm chứa rượu

và nước cất, ống nghiệm nào có phản ứng mãnh liệt, hạt tròn chạy trên mặt đó

là ống nghiệm chứa nước ống nghiệm nào thấy có phản ứng nhưng Na chìm xuống rồi từ từ nổi lênvà nằm dưới mặt chất lỏng, đó là rượu etylic

* Các nhóm chỉ rõ ống nghiệm đựng axít, rượu , nước và rút ra kết luận chung

Như vậy để phát huy tính tích cực của HS, trong dạy học hóa học sử dụng bài tập thực nghiệm trong bài thực hành là rất cần thiết Để làm được bài tập thực nghiệm, yêu cầu

HS phải nghiên cứu giải lý thuyết trước khi bắt tay vào làm thí nghiệm Do đó HS phải tích cực suy nghĩ vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết một vấn đề cụ thể

5 Tính tích cực hoá hoạt động của học sinh qua việc giải bài tập hoá học thể hiện ở việc giáo viên nêu nội dung bài tập như là một vấn đề cần giải quyết , hướng dẫn học sinh tìm tòi theo một quy trình nhất định để tìm ra kết quả.

Nội dung bài tập Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Tính lượng chất tham

gia và tạo thành của phản

ứng hoá học

- Cho lượng 2 chất tham

gia phản ứng.Tính lượng

sản phẩm tạo thành

- Nhận nội dung bài tập

- Phân tích đầu bài, tìm hướng giải

- Thực hiện các bước giải (Trình bày lời giải)

- Nêu nội dung bài tập

- Hướng dẫn học sinh tìm hướng giải

- Quan sát, theo dõi để giúp đỡ, điều chỉnh kịp thời

- Tính hiệu suất của phản

ứng

- Nhận biết vấn đề

- Thực hiện giải quyết vấn đề

- Nêu nội dung bài tập như là giải quyết một vấn

đề thực tế

- Khử chất thải trong

phòng thí nghiệm và trong

công nghiệp

- Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề đặt ra

- Lập kế hoạch giải quyết : chọn chất khử độc, tại sao?

- Thực hiện như thế nào?

- Nêu tầm quan trọng và

sự cần thiết

- Làm thế nào để giải quyết vấn đề? Giải thích?

Ví dụ1 :Hướng dẫn HS làm bài toán cho lượng 2 chất tham gia phản ứng, tính lượng

sản phẩm tạo thành

Trang 7

* Bài toán: Cho 4,5 gam Al vào 100ml dung dịch H 2 SO 4 0,5M

a Tính thể tích khí H 2 sinh ra ở ĐKTC.

b Tính nồng độ mol của các chất trong dung dịch sau phản ứng (cho rằng thể tích dung dịch không thay đổi)

* Dạng bài tập này có nhiều cách giải khác nhau ,tuy nhiên giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm hướng giải như sau:

- Tính số mol của các chất theo bài ra cho : nAl =? n H2SO4 =?

- Viết phương trình phản ứng

- Tìm tỉ lệ số mol các chất theo phương trình

- Lập tỉ lệ số mol của các chất :

nbài ra : n pt -> So sánh tỉ lệ số mol của 2cặp chất Nếu hiệu suất phản ứng 100% thì có

thể xẩy ra các trường hợp sau:

+ Tỉ lệ số mol của H2SO4 = tỉ lệ số mol của Al thì cả 2 chất đều phản ứng hết, tính toán lượng sản phẩm tạo thành theo lượng chất nào cũng được.(1)

+ Tỉ lệ số mol của H2SO4 > tỉ lệ số mol của Al -> Al phản ứng hết, H2SO4 dư , tính lượng sản phẩm và lượng H2SO4 tham gia phản ứng tính theo lượng chất đã phản ứng hết.(2)

+ Tỉ lệ số mol của Al > tỉ lệ số mol của H2SO4 -> H2SO4 phản ứng hết, Al dư , tính lượng sản phẩm và lượng Al tham gia phản ứng tính theo lượng chất đã phản ứng hết (3)

- Tính nồng độ mol của các chất trong dung dịch sau phản ứng-> Nếu như xẩy ra trường hợp (2), thì thực hiện tính lượng chất còn dư sau khi phản ứng kết thúc và xác định lượng chất tạo thành sau phản ứng Còn trường hợp (3) chỉ xác định lượng chất tạo thành sau phản ứng Sau đó, chuyển về số mol và áp dụng công thức tính nồng độ

* Bài giải cụ thể:

Số mol của Al là: nAl = 5,4:27=0,2(mol)

Trong 100ml dung dịch H2SO4 có: n H2SO4 =0,1x 0,5= 0,05(mol)

Phương trình phản ứng :

2Al + 3 H2SO4 —> Al2(SO4)3 + 3 H2

2mol 3mol 1mol 3mol

Tỉ lệ số mol của H2SO4 là:

nbài ra : npt = 0,05:3 =0,017

Tỉ lệ số mol của Al là:

nbài ra : npt = 0,2:2=0,1

Vì 0,1>0,017 do đó H2SO4 phản ứng hết, nhôm dư Trong dung dịch chỉ có Al2(SO4)3 Vậy : Tính lượng các chất theo lượng axit H2SO4

Theo phương trình phản ứng và tính toán:

a Số mol H2 tạo thành là: n H2 = n H2SO4 =0,05(mol)

Thể tích H2 sinh ra ở ĐKTC là: VH2 = 0,05x 22,4=1,12(l)

b n Al2(SO4)3 = n H2SO4 : 3 = 0,05:3 = 0,017(mol)

Nồng độ mol của dung dịch Al2(SO4)3 là:

CM =0,017: 0,1=0,17M

Ví dụ 2: Hướng dẫn HS làm bài toán tính hiệu suất của phản ứng

Trang 8

Khối lượng tính theo phương trình

Khối lượng thực tế thu được

* Bài toán: Người ta khử 16g CuO bằng khí H 2 Sau phản ứng người ta thu được 12g

Cu Tính hiệu suất khử CuO ?

* GV có thể hướng dẫn HS tìm hướng giải dạng bài tập này như sau:

- Tính hiệu suất phản ứng dựa vào một trong các chất tham gia

Lượng tính theo phương trình

Lượng thực tế thu được

- Tính hiệu suất phản ứng dựa vào một trong các chất sản phẩm

Lượng thực tế thu được

Lượng tính theo phương trình

* Bài giải cụ thể: ( HS có thể giải bài toán này theo 2 cách)

PTHH: H2 + CuO  t0 Cu + H2O

- Cách 1: Tính hiệu suất dựa vào chất sản phẩm

Theo bài ra ta có n CuO =

80

16

= 0,2 mol Theo PTHH nCu = nCuO = 0,2 mol

mCu = 0,2.64 = 12,8 g

Suy ra H = 1212,8 x 100% = 93,75%

- Cách 2: Tính hiệu suất dựa vào chất tham gia

Theo bài ra ta có nCu = 12

64 = 0,1875 mol Theo PTHH nCuO = nCu = 0,1875 mol

mCuO = 0,1875 x 80 = 15g

Suy ra H = 15

16 x 100% = 93,75%

Trang 9

Như vậy HS Sau khi nhận nội dung bài tập, phân tích đề bài và biết được hướng giải

quyết vấn đề Từ đó thực hiện các bước giải và dần dần các em hình thành được cách giải các dạng bài tập

6 Sử dụng bài tập hoá học mang tính liên tục, phát triển , đi từ dễ đến khó và sử dụng một cách thuận lợi trong khi lên lớp

- Để đạt được yêu cầu này, GV phải nghiên cứu và lựa chọn một hệ thống bài tập phù hợp với mức độ nhận thức, trình độ của học sinh từng khối lớp, sát với tiến độ của chương trình và tương ứng với nội dung lí thuyết của bài học Có thể phân chia theo mục đích khác nhau : dùng cho nghiên cứu một bài học cụ thể hoặc khi ôn tập , củng cố kiến thức của một chương , một phần trong chương trình

- Phải triệt để khai thác cho học sinh thường xuyên được rèn luyện những kĩ năng đã học, những kĩ năng quan trọng nhất khi giải bài tập

a Bài tập lí thuyết về điều chế một muối

Mức độ 1: (Sau khi học xong tính chất hoá học của 4 loại hợp chất )

Hỏi: Hãy nêu các phương pháp chung để điều chế một muối

HS: Có thể trả lời đầy đủ 10 phương pháp

Mức độ 2:

Hỏi: Nêu các phương pháp điều chế muối CaCl2(hoặc Ca(NO3)2).

Học sinh trên cơ sở các phương pháp chung,lựa chọn phương pháp phù hợp để điều chế Mức độ 3: Từ các chất Ca, HCl, O2, Cl2 hãy tìm các phương pháp điều chế muối CaCl2 Học sinh phải biết vận dụng từ một số chất cụ thể có thể đi đến các phương pháp tương ứng có thể được

b Bài tập về cách nhận biết các chất.

Mức độ 1: Sau khi học xong tính chất hoá học của 4 loại hợp chất

Hỏi: Có 4 dung dịch NaOH, HCl, BaCl2, K2CO3 đựng riêng biệt trong 4 lọ khác nhau

nhưng bị mất nhãn Hãy trình bày cách nhận biết các dung dịch trên , nếu các hoá chất cần thiết coi như có đủ

Mức độ cao hơn: Chỉ cần thay khả năng sử dụng thuốc thử hẹp lại , ta sẽ có bài tập mang nội dung khác hẳn , ví dụ:

Hỏi: Có 4 dung dịch NaOH, HCl, BaCl2, K2CO3 đựng riêng biệt trong 4 lọ khác nhau

nhưng bị mất nhãn Hãy trình bày cách nhận biết các dung dịch trên:

1) Nếu trong phòng thí nghiệm chỉ có quỳ tím

2) Nếu chỉ được dùng một thuốc thử duy nhất

3) Nhưng không được dùng một thuốc thử nào khác

c.Bài toán hoá học.

Ví dụ: Cho 28g KOH phản ứng hết với dung dịch HCl.

Tính số gam muối tạo thành sau phản ứng

* Có rất nhiều hướng phát triển bài toán

1) Thay câu hỏi trên bằng câu: tính số gam muối tạo thành và số gam HCl(hoặc số mol HCl) đã phản ứng

2)Thay:'' Cho 28g KOH'' bằng ''Cho 280g dung dịch KOH 10%''

3)'' Tính số gam muối tạo thành và số gam HCl đã phản ứng '' bằng '' Tính số gam muối tạo thành và thể tích dung dịch HCl 2M đã phản ứng''

Trang 10

4) Câu hỏi như trên nhưng thay đầu bài như sau: ''Cho 28g KOH tác dụng với 36,5g dung dịch HCl 90%''

5) Hoặc thay bằng đầu bài: Cho 56g dung dịch KOH 50% vào một cốc có chứa 100ml dung dịch HCl 6M''

6) Hoặc sửa cả đầu bài và câu hỏi: Cho 200ml dung dịch KOH 0,5M vào một cốc có chứa 60ml dung dịch HCl 2M Tính nồng độ của dung dịch muối thu được

7) Thay phần câu hỏi (6):''Tính nồng độ của các chất có trong dung dịch thu được sau phản ứng''

8) Bổ sung thêm phần câu hỏi (6): Nếu sau phản ứng nhỏ vài giọt nước quỳ tím vào dung dịch sẽ thấy có hiện tượng gì? Trả lời qua tính toán cụ thể

Bằng cách sử dụng đề như trên , GV có thể căn cứ vào trình độ của đối tượng học sinh

để phát hiện ở một mức độ phù hợp Còn đối với học sinh thì có hứng thú học tập cao hơn , phát triển được khả năng tư duy lô gíc, tính năng động sáng tạo được nâng cao, rèn luyện và dần hình thành các kĩ năng, kĩ xảo trong giải bài tập hoá học

III KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Sau khi thực hiện cách dạy'' Sử dụng bài tập hoá học để dạy học tích cực'' được áp

dụng cho nhiều tiết dạy và các đối tượng học sinh khác nhau, tôi nhận thấy rằng học sinh tiếp thu bài chủ động, có hiệu quả rõ nét :

- Đã hình thành được ở học sinh các kĩ năng tư duy, phân tích, tổng hợp trong việc giải bài tập hoá học và tiếp thu kiến thức mới

- Học sinh trung bình và khá đã tự giải quyết được những bài tập cơ bản , còn những bài tập khó thì sau khi giáo viên hướng dẫn các em cũng nắm bắt được vấn đề, từ đó các

em HS đã phát hiện ra được các kiến thức mới và tìm ra được các quy luật chung để giải các bài toán cụ thể

- Đa số Học sinh có xu hướng yêu thích môn hoá học hơn

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

- Trong quá trình giảng dạy thực tế, tôi thấy rằng giờ học nào học sinh được luyện tập nhiều thì giờ học đó học sinh sẽ tiếp thu kiến thức một cách vững vàng

- Trong quá trình giảng dạy bài tập hoá học, nếu chú trọng rèn tốt tư duy cho sinh thì các em sẽ hiểu, nhớ, vận dụng kiến thức tốt hơn, học sinh sẽ được củng cố hệ thống hoá,

mở rộng nâng cao kiến thức đồng thời các kĩ năng cũng được rèn tốt

- Để rèn tốt cho học sinh các kĩ năng trong việc giải bài tập và tiếp thu kiến thức mới, một phần cũng giúp cho giáo viên năng động sáng tạo, luôn trăn trở tìm ra cái mới đáp ứng được yêu cầu dạy học, nâng cao tay nghề, là một phương pháp tự học, tự bồi dưỡng rất có hiệu quả

Tóm lại: Sử dụng bài tập hóa học để dạy học tích cực đã góp phần vào việc hình thành

nhân cách cho HS gồm: Tính chủ động, sáng tạo, niềm tin và ý trí quyết tâm

Đó cũng chính là mục tiêu giáo dục con người trong thời đại mới

* Những kiến nghị đề xuất:

- Tổ chức nhiều chuyên đề có chất lượng, có giờ dạy minh hoạ hoặc bằng băng đĩa hình

- Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm hoá chất, đồ dùng dạy học cho giáo viên

và học sinh Yêu cầu đồ dùng, thiết bị, hoá chất có chất lượng

Ngày đăng: 18/12/2014, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w