1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số kinh nghiệm về giảng dạy phân môn luyện từ và câu lớp 2-3

10 846 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dẫu biết rằng sách giáo viên là “cẩm nang”trong hành trang dạy học.Sách giáo viên đã góp phần đáng kể giúp giáo viên định hướng kiến thức và kĩ năngcần đạt được trong từng

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC Q TRẠCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TIỂU HỌC QTHUẬN ĐỘC LẬP -TỰ DO – HẠNH PHÚC

- -MỘT SỐ KINH NGHIỆM

VỀ GIẢNG DẠY PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2-3

A- Lí do chọn đề tài

I - Cơ sở lý luận

Ở tiểu học ,môn Tiếng Việt có vai trò nền tảng cho học sinh Vì vậy mà các em đọc viết tương đối thành thạo ngay từ lớp 2-3 việc hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ, sử dụng vốn từ vào việc viết câu, giao tiếp , trao đổi …ở giai đoạn này và giai đoạn tiếp theo

là rất quan trọng

Phân môn luyện từ và câu là tên gọi một hợp phần trong môn tiếng Việt.phân môn này là một hệ thống các bài tập vừa luyện từ vừa luyện câu nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức về:

1- Luyện từ

bên cạnh vốn từ dược cung cấp qua bài tập đọc phân môn luyện từ và câu còn giúp học sinh mở rộng vốn từ theo chủ điểm thông qua bài tập thực hành.bước đầu cho học sinh rèn luyện cách dùng các từ chỉ sự vật, chỉ hoạt động, chỉ trạng thái, chỉ đặc điểm 2- Luyện câu : học sinh lần lượt làm quen với các kiểu câu trần thuật như cơ bản như:

ai làm gì? ai là gì? ai thế nào? hiểu được bộ phận của câu trả lời cho câu hỏi; ai? là gì? làm gì? khi nào? ở đâu? như thế nào? vì sao? để làm gì?

nắm được cách dùng các dấu câu: dấu chấm,dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy

- làm quen với biện pháp tu từ: nhân hóa, so sánh

tri thức về câu được tiếp nhận tích hợp tri thức về từ loại qua các bài tập học sinh biết hoàn thành câu bằng cách tìm từ để điền vào chỗ trống, đặt câu với từ vừa tìm được, đặt câu theo tranh, dùng một từ để viết nhiều câuo khác nhau, dùng từ rời xếp thành câu kiến thức về dấu câu được tiếp nhận tích hợp với kiến thức về kiểu câu qua các bài tập sử dụng dấu c©u

Hiện nay việc cung cấp vốn từ cho học sinh không còn theo dạng bài học từ ngữ như

chương trình cũ mà mỗi bài học là một bài tập thực hành không những giúp học sinh tiếp

nhận vốn từ mới mà còn hướng dẫn cho học sinh thông qua các bài tập thực hành đó để mở rộng bổ sung vốn từ mới theo từng chủ đề mà các em đang học.Đây chính là cơ hội để học sinh sáng tạo trong việc tìm tòi, học hỏi, tích lũy vốn từ ngữ cho mình.Muốn viết câu đúng, dùng từ chính xác và viết được đoạn văn đúng yêu cầu đâu tiên là học sinh phải có vốn từ ngữ từ cuộc sống giao tiếp,tiếp đến là vốn từ mới , từ ngữ khoa học trong sách vở thông qua hoạt động học tập, từ đó giúp các em có được vốn từ ngữ ngôn ngữ khoa học cơ bản mới là nền tảng trong quả trình học tập

II- Cơ sở thực tiễn.

Học sinh Tiểu học vốn ngôn ngữ còn hạn chế, song nói năng, giao tiếp với thầy cô, bạn bè lại tương đối tốt Nhưng khi cần phải đặt câu hoặc viết một đoạn văn phải có những từ ngữ, hình ảnh mới về một chủ đề đang tìm hiểu các em sẽ lúng túng ngay

Tiếng Việt của chúng ta do bị ảnh hưởng lớn rất nhiều từ ngôn ngữ Hán bởi yếu tố lịch sử cho nên trong cuộc sống giao tiếp việc dùng từ Hán Việt không phải là nhỏ Tuy nhiên với khả năng ngôn ngữ của các em và vốn từ Hán Việt được cung cấp theo chương

Trang 2

trình còn ít, bên cạnh đó để hiểu và sử dụng đúng từ Hán Việt cũng không dễ vì vậy mà khi tìm hiểu từ mới gặp các từ ngữ này học sinh sẽ gặp khó khăn ngay

Nói đến việc viết câu, làm văn, viết một văn bản thì việc dùng các dấu câu là rất quan trọng nhiều em thực hiện việc này khá tốt, đồng thời cũng không ít học sinh dùng dấu câu còn lúng túng, đôi khi đặt sai vị trí trong câu, dùng dấu câu tùy tiện…cho nên khi đọc lên sẽ khó hiểu, hiểu một cách khác đi thì câu văn trở nên thiếu nghĩa hoặc tối nghĩa Từ những vấn đề trong dạy học, tôi thấy cần có những giải pháp, định hướng giúp học sinh thực hiện tốt những vấn đề nêu trên

PHẦN II : PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Việt lớp 2-3

3- Căn cứ vào các tạp chi giáo dục tiểu học , tạp chí Thế giới trong ta và các tài

liệu có liên quan

để đúc rút kinh nghiệm

5- Qua tìm hiểu lắng nghe ý kiến của một số giáo viên trực tiêp giảng dạy lớp 2-3

PHẦN III : THƯC TRẠNG VÀGIẢI PHÁP

I-Thực trạng tình hình

Trong thực tế giảng dạy, rất nhiều giáo viên còn quá lệ thuộc vào sách giáo viên Dẫu biết rằng sách giáo viên là “cẩm nang”trong hành trang dạy học.Sách giáo viên đã góp phần đáng kể giúp giáo viên định hướng kiến thức và kĩ năngcần đạt được trong từng bài học cụ thể.Cách soạn bài đã góp phần giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan về toàn bộ chương trình của môn học, hệ thống phương pháp dạy học thường được vận dụngtrong từng phân môn cụ thể Nhưng trong một số trường hợp SGV lại đưa ra thêm một số nội dung không có trong sách với định hướng “Sách giáo viên đồng thời là tài liệu

nguồn”.Trong sách có nhiều bài đã cung cấp cho giáo viên những kiến thức khoa học cần được bổ túc để dạy học”(Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên tập 1 trang 26) Qua 3 năm trực tiếp dạy lớp 2,3 bản thân tôi nhận thấy sách giáo viên còn có những bất cập gây lúng túng cho giáo viên trong quá trình giảng dạy nhất là những bài học giúp học sinh lớp 3 bước đấu làm quen với biện pháp tu từ: So sánh Tôi đã dự giờ giáo viên và điều đáng tiếc xảy ra là : Không những học sinh mà ngay cả giáo viên cũng còn lẫn lộn giữa hình ảnh so sánh và sự vật so sánh.Học sinh chưa phân biệt rành mạch được các loại câu kể ai

là gì? Ai làm gi? Ai thế nào? Một nội dung tương đói khó dạy đối với lớp 2-3 là: “điền đấu câu vào chỗ thích hợp trong đọan văn” Trong phạm vi bài viết nay tôi xin đề cập đến một số kinh nghiệm để phân biệt hình ảnh so sánh với sự vật so sánh, phân biệt câu kể ai

là gì? Ai làm gì? Ai Thế nào? Kinh nghiệm vè giảng dạy dạng bài tập : “Điền dấu câu thích hợp vào đoạn văn”

Trang 3

Do địa bàn trường tôi là khu vực nông thôn, trình dộ dân trí còn thấp, ngoài việc học tập ở nhà, các em còn phải làm nón ít có thời gian học bài và tiếp xúc với xã hội nên các

em còn rụt rè, thẹn thùng khi ứng xử các tình huống giao tiếp trong sách giáo khoa

Một số phụ huynh còn giao khoán việc học tập của con em họ cho nhà trường

Sau đây là một số kết quả điều tra thực tế của tôi tại lớp 3A:

Tổng số học sinh: 33 em Trong đó : 3 em hiểu được nghĩa của một số từ và đặt câu với từ đã cho tương đối chính xác 12 em có thể đặt câu với từ đã cho nhưng khi yêu cầu giải nghĩa của từ thì các em còn lúng túng số học sinh còn lại không thể đặt câu hoặc đặt câu không chính xác.Chính vì thế mà khi yêu cầu viết đoạn văn có khoảng 5 em biết dùng từ đặt câu, biết dùng dấu câu chính xác, diễn đạt gọn 15 em dùng từ thiếu chính xác hoặc còn dùng từ địa phương khi viết văn, biết sử dụng tương đối chính xác các dấu câu Số học sinh còn lại chưa biết dùng từ đặt câu , chưa biết chấm câu khi viết văn, diễn đạt thiếu trôi chảy hoặc người đọc không thể hiểu được điều các em muón nói

Đa số học sinh còn lẫn lộn giữa hình ảnh so sánh và sự vật được so sánh khi tìm sự vật được so sánh hoăc tìm hình ảnh so sánh trong một đoạn văn Việc đặt câu có hình ảnh so sánh thì đa số học sinh còn yếu

II – Một số giải pháp cụ thể

Theo tôi, muốn tiết dạy có hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình, nắm thật chắc kiến thức cần truyền thụ có như thế giáo viên mới linh hoạt, sáng tạo trong quá trình lên lớp.Bởi vậy, ngay từ đầu năm học tôi đã có kế hoạch nghiên cứu,phân công các đồng chí trong tổ phụ trách chuyên đề luyện từ và câu theo 3 bước: Bước 1: Tổ chức cho các giáo viên được tiếp thu lý thuyết

Bước 2: Dạy thể hiện chuyên đề

Bước 3: Đúc rút kinh nghiệm và triển khai áp dụng chuyên đề trong giảng dạy

Với chuyên đề luyện từ và câu chúng tôi đã triển khai được các nội dung sau:

1- Cách mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh:

Để học sinh có một vốn từ tiếng Việt , hiểu nghĩa của từ, vận dụng từ ngữ đã học để đặt câu viết đoan văn,việc đầu tiên là giúp các em nghe, nói, hiểu tương đối tốt về nghĩa của từ Muốn vậy giáo viên cần mở rộng vốn từ cho học sinh thông qua việc dạy tập đọc.Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2-3 được xây dựng theo 2 trục là chủ điểm và kĩ năng, trong đó chủ điểm được lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kĩ năng được lấy làm khung cho từng tuần, từng đơn vị học.Thông qua việc tìm hiểu nội dung bài tập đọc mà giáo viên mở rộng và cung cấp vốn từ cho học sinh Muốn vậy, giáo viên cần xác định những từ cần tìm hiểu nghĩa trong bài tập đọc đó là:

- Từ ngữ khó đối với học sinh được chú giải ở sau bài tập đọc

- Từ ngữ phổ thông mà học sinh địa phương chưa quen

- Từ ngữ đóng vai trò quan trọng để hiểu nội dung bài tập đọc

Đối với các từ ngữ còn lại nếu học sinh nào chưa hiểu, giáo viên giải thích riêng cho học sinh đó hoặc tạo điều kiện để học sinh khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa ra giải thích chung cho cả lớp

Giáo viên cần giải nghĩa từ khó cho HS dựa vào vốn từ các em đã có để giải nghĩa, giải nghĩa bằng đồ dùng dạy học vật thật hoặc cho học sinh làm những bài tập nhỏ để nắm nghĩa của từ như: tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả sự vật phối hợp với động tác, cử chỉ Đặt câu với từ cần giải nghĩa Trên cơ sở đó giúp các em tiếp thu kiến thức về vốn từ, nghĩa của từ.Trong phần tìm hiều nghĩa của từ: từ đồng nghĩa, trái nghĩa, nghĩa

Trang 4

hợp nhiều cách tổ chức cho học sinh thảo luận, sưu tầm, luyện tập vào văn cảnh cụ thể để nắm được nghĩa của nhóm từ đó

2- Một số căn cứ để phân biệt từ chỉ sự vật, hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc

điểm

Ở lớp 2,3 chúng ta chưa nêu định nghĩa về danh từ, động từ, tính từ mà chỉ nêu ở dạng từ chỉ sự vật, trạng thái, từ chỉ tính chất đặc điểm

Ý nghĩa khái quát : Từ chỉ sự vật ( Danh từ )

Từ chỉ hoạt động, trạng thái ( Động từ)

Từ chỉ tính chất, đặc điểm ( Tính từ )

a) Để phân biệt các từ loại trên ta dựa vào khả năng kết hợp của từ

Từ chỉ sinh vật có khả năng kết hợp với : tất cả , những, các, mỗi, mọi, này, kia, đó

Ví dụ: Tất cả những quyển sách đó

Từ chỉ hoạt động trạng thái: có khả năng kết hợp với háy đừng, chỉ, đã, sẽ, đang, sắp Từ chỉ tính chất có khả năng kết hợp với hơi, rất, lắm, quá

b) Khả năng làm thành phần câu:

* Từ chỉ sự vật thường trả lới cho câu hỏi: ai, cái gì, con gì, vật gì ? Khi trả lời cho bộ phận là gì? Danh từ thường đi với từ “là” Ví dụ: Em là học sinh

* Từ chỉ hoạt động trạng thái thường trả lời ch bộ phận làm gì? Từ chỉ hoạt động cũngcó thể làm bộ phận “ai” nhưng khi làm bộ phận “ai” từ chỉ hoạt động mất khả năng kết hợp với đã, sẽ, đang, hãy.Ví dụ: chơi cờ rất thú vị

* Từ chỉ tính chất thường trả lời câu hỏi thế nào?( thường đi liền với các hư từ : đã, đang,

sẽ, rất, lắm, quá)

Từ chỉ tính chất đặc điểm cúngc có thể làm chủ ngữ nhưng khi là chủ ngữ sẽ làm mất khả năng liên kết với các từ nói trên

Trong một số trường hợp từ chỉ hoạt động cũng có thể kết hợp với rất, lắm, quá

Ví dụ: thích quá, ghét lắm, giận quá

2) Cách phân biệt câu kể Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào?

Ba kiểu câu trên chỉ khác nhau ở chức năng của bộ phận vị ngữ

Học sinh thường cho rằng: câu nào có từ là chính là câu ai là gì?

Một số cách phân biệt câu:

a)Dựa vào khái niệm

Câu có bộ phận trả lời cho câu hỏi là gì: Câu ai là gì ?

Câu có bộ phận trả lời cho câu hỏi làm gì: Câu ai làm gì?

Câu có bộ phận trả lời cho câu hỏi thế nào: Câu ai thế nào?

b) Dựa vào chức năng giao tiếp

Câu kể ai là gì? : Dùng để định nghĩa, nhận xét, giới thiệu sự vật

Câu kể ai làm gì? : Dùng để kể về hành động của người hoặc động vật, tĩnh vật được nhân hóa

Câu kể ai thế nào? : Dùng để miêu tả đặc điểm, tính chất hay trạng thái của người và vật c) Dựa vào thành phần cấu tạo nên vị ngữ ( là gì?, làm gì?, vị ngữ trong câu kể

ai là gì : là tổ hợp từ: là + danh từ hoặc cụm danh từ

Tất nhiên giáo viên cần phân tích để học sinh thấy có những câu có cụm là + danh từ nhưng không phải là câu ai là gì?

Ví dụ: tàu nào có cần trục bốc lên là cần trục vươn tới

Trang 5

Câu trên có bộ phận vị ngữ không gắn với từ “là” mà từ “là” dùng để nối 2 vế câu ghép có thể thay bằng chữ “thể” diễn tả sự việc có quy luật

Vị ngữ trong câu ai làm gì? thường là động từ hay cụm động từ

Ví dụ: sóng vỗ loong boong trên mạn thuyền Vỗ loong boong là một cụm động từ miêu tả hoạt động những con sóng

Vị ngữ trong câu ai thế nào thường là từ chỉ tính chất đặc điểm, là từ chỉ trạng thái hoặc cụm chủ vị

Ví dụ: Tiếng sóng vỗ loong boong trên mạn thuyền

Chủ ngữ: Tiếng sóng vỗ “loong boong” là tính từ miêu tả đặc điểm của tiếng sóng vỗ d) Dựa vào sự phân biệt động từ chỉ trạng thái hay động từ chỉ hoạt động

Động từ, cụm động từ trong câu kể ai làm gì? là động từ miêu tả hoạt động trực tiếp của chủ thể đó Ví dụ: ăn, đi, chạy, nhảy…

Động từ, cụm động từ trong câu kể ai thế nào là động từ, cụm động từ chỉ trạng thái trong mối quan hệ của một thực tế, trong một hoàn cảnh không gian thời gian Cần, nên, phải, ước mong (chỉ trạng thái) Nghĩ, tưởng, xem, cho rằng ( thể hiện ý nghĩ hay nhận xét)

3) Phân biệt hình ảnh so sánh và sự vật so sánh trong luyện từ và câu lớp 3.

So sánh là biện pháp tu từ trong đó người ta so sánh đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật sự việc khác có nét tương đồng để người đọc, người nghe dễ hiểu hơn, hiểu rõ hơn về đối tượng được nói tới

Sách giáo khoa không đưa ra khái niệm về so sánh mà chỉ thông qua hệ thống bài tập để hình thành khái niệm về so sánh

Có 4 dạng bài tập cơ bản sau:

a) Bài tập tìm các sự vật được so sánh b) Bài tập tìm hình ảnh so sánh

c) Bài tập tìm từ chỉ sự so sánh d) Bài tập điền thêm từ vào chỗ chấm để nhận được hình ảnh so sánh Mỗi dạng bài tập sách giáo khoa đã nêu lên yêu cầu rất rõ tuy nhiên sách giáo khoa hướng dẫn quá chi tiết, còn lẫn lộn giữa tìm hình ảnh so sánh và sự vật so sánh

Ví dụ tiết Luyện từ và câu tuần 5- SGK trang 42 ghi rõ:

Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu thơ sau:

Bế cháu ông thủ thỉ

Cháu khỏe hơn ông nhiều Ông là buổi trời chiều Cháu là ngày rạng sáng

Ông trăng tròn sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em Trăng khuya sáng hơn đèn

Ơi ông trăng sáng tỏ

Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Hôm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời

Trang 6

Sách giáo viên còn ghi chú ý: Với khổ thơ b học sinh gạch dưới từ “trăng” hay cum từ

“trăng khuya” đều xem là đúng Tương tự ở khổ thơ c học sinh gạch “ngôi sao thức”hay “ những ngôi sao thức ngoài kia”, “mẹ” hay “ mẹ đã thức vì chúng con”đều được Điều quan trọng trong mỗi cụm từ có các từ nòng cốt: trăng, những ngôi sao, mẹ

Rõ ràng SGK yêu cầu tìm hình ảnh so sánhchứ không yêu cầu gạch dưới từ chỉ sự so sánh thế mà SGV đã đưa ra lời giải như trên rồi còn ghi rõ chú ý làm cho nhiều giáo viên lúng túng khi dạy

Việc gạch dưới hình ảnh so sánh như thế làm cho nhiều giáo viên còn nhầm lẫn giữa hình ảnh so sánh và sự vật được so sánh với nhau nên đã cho học sinh nêu hình ảnh so sánh trong câu trên là:

Cháu so sánh với ông – cháu so sánh với ngày rạng sáng

Ông được so sánh với buổi trời chiều

Từ thực tế đó tôi đã nghiên cứu và tổ chức chuyên đề luyện từ và câu lớp 2-3 với mong muốn là giúp giáo viên thấy được những bất cập của SGV và khắc phục sự nhầm lẫn đáng tiếc trong quá trình giảng dạy

Để tìm hình ảnh so sánh và sự vật được so sánh trong câu văn cău thơ giáo viên cần cho HS đọc kỹ toàn bộ bài tập để xác định rõ bài tập yêu cầu tìm hình ảnh so sánh hay sự vật so sánh Giáo viên cần giúp HS hiểu : Tìm hình ảnh so sánh là phải nêu rõ, đầy đủ hiện tượng so sánh trong câu thơ, câu văn đã cho theo cấu trúc: Sự vật được so sánh + phương diện so sánh + từ so sánh + sự vật để so sánh

Tùy theo từng bài tập mà có thể có hay không có phương diện so sánh hay từ chỉ sự so sánh Nhưng hình ảnh so sánh bao giờ cũng chứa sự vât so sánh ( bao gồm sự vật so sánh

và sự vât làm chuẩn để so sánh)

Những câu văn, câu thơ không có từ chỉ sự so sánh ta có thể thêm được từ chỉ sự so sánh Ví dụ: tàu dừa – chiếc lược chải vào mậy xanh Ta có thể thêm được: tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh

Với câu văn, câu thơ mà hình ảnh so sánh xuất hiện không liền mạch ta nên cho học sinh tìm sự vât được so sánh rồi mới tìm hình ảnh so sánh

Ví dụ: Hoa sấu thơm nhẹ Vị hoa chua thấm vào đầu lưỡi tưởng như vị nắng non của mùa hè mới đến vừa đọng lại

Ta cho học sinh tìm 2 sự vât được so sánh với nhau: vị hoa – vị nắng non

Tìm hình ảnh so sánh: vị hoa chua chua tưởng như vị nắng non

4) Kinh nghiệm về dạy dạng bài tập điền dấu phẩy thích hợp vào đoạn văn cho

trước

Trong dạy học tôi thường hướng dẫn học sinh kiểu bài tập “Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp” cụ thể là : đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu? dấu câu cho sẵn là dấu phẩy Chỗ cần điền dấu phẩy là chỗ ngăn cách các thành phần đồng chức

Mỗi bài tập về dấu phẩy tôi đưa ra ba cách thực hiện phù hợp với từng thành phần học sinh trong lớp Ba cách đó là:

Cách 1: hệ thống câu hỏi gợi mở ( thường sử dụng hướng dẫn đối tượng học sinh yếu kém)

Cách 2: phiếu sơ đồ trợ giúp (thường sử dụng hướng dẫn đối tượng học sinh trung bình)

Cách 3: khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh (thường sử dụng hướng dẫn đối tượng học sinh khá giỏi)

Trang 7

Ba cách trên giáo viên sử dụng một cách linh hoạt Mỗi bài tập giáo viên có thể thực hiện chia nhóm cùng trình độ để sử dụng cả ba cách để hoàn thành bài tập phù hợp với đối tượng học sinh Với những bài tập khó, giáo viên có thể sử dụng cách 1, 2 để hướng dẫn các em học sinh khá giỏi khi cách em lúng túng Đối với những bài tập mức độ

không quá khó đối với các em học sinh trung bình, giáo viên có thể sử dụng khai thác khả năng ngữ cảm của học sinh.Như vậy cả ba cách trên sẽ được sử dụng mềm dẻo, linh hoạt tùy thuộc vào nội dung bài tập và đối tượng học sinh của lớp

Ví dụ: bài 2 ( Tiếng việt 2 tập 1 – trang 100)

Có thể đặt dấu phẩy vào chỗ nảo trong mỗi câu sau?

a) Chăn màn quần áo được xếp gọn gàng

b) Giường tủ bàn ghế được kê ngay ngắn

c) Giày dép mũ nón được để đúng chỗ

Cách 1: Đặt câu hỏi phù hợp để giúp học sinh phát hiện ra các bộ phận câu cùng trả lời cho câu hỏi cái gì? Với đối tượng học sinh quá yếu tôi lại đặt câu hỏi: Em hãy tìm các từ chỉ sự vật trong câu sau?

a) Chăn màn quần áo được xếp gọn gàng

? Trong câu có mấy từ chỉ sự vật? ( hai từ là chăn màn và quần áo)

? Chăn màn, quần áo trả lời câu hỏi gì? ( trả lời câu hỏi cái gì ?)

? Ta đặt dấu phẩy vào chỗ nào ? ( đặt dấu phẩy vào giữa chăn màn và quần áo )

Đối với học sinh trung bình, yếu GV yêu cầu trả lời câu hỏi đó rồi làm bài Đối với bài tập này giáo viên có thể gợi ý một câu, hai câu hay cả 3 câu tùy thuộc vào đối tượng học sinh trong lớp

Cách 2: Dùng phiếu sơ đồ trợ giúp ( hỗ trợ hoc sinh tìm kiếm các bộ phận câu giống nhau) :

Dựa vào sơ đồ học sinh sẽ tìm các từ ngữ

( bộ phận câu ) cùng trả lời cho câu hỏi cái

gì? từ đó các em lựa chọn vị trí đặt dấu phẩy

một cách chính xác

Cách 3: Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm

của học sinh

Giáo viên hướng dẫn học sinh trao đổi trong nhóm bốn hoặc cặp đôi : đọc các câu sau

đó dùng bút chì gạch sổ phân cách các từ ngữ rồi sau đó sửa chữa để đưa ra vị trí đặt dấu phẩy một cách chủ động, có ý thức

Ví dụ: bài 3 ( Tiếng Việt 3 tập 1 – trang 135)

Hãy chép đoạn văn sau và đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp:

Nhân dân ta luôn ghi sâu lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: đồng bào Kinh hay Tày Mường hay Dao Gia-rai hay Ê-đê Xơ đăng hay Ba-na và các dân tộc anh em khác đều là con cháu Việt Nam đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau sướng khổ cùng nhau no đói giúp nhau

Cách 1: Hệ thống câu hỏi gợi mở

? Tìm các cặp từ ngữ chỉ chỉ tên các dân tộc trong lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh?

? Các cặp từ ngữ đó cùng trả lời cho câu hỏi gì?

Dùng phẩy tách các bộ phận câu giống nhau cùng trả lời câu hỏi Ai?

? Bác đã khẳng định đồng bào các dân tộc trên nước ta là gì?

? Các từ ngữ đó cùng trả lời cho câu hỏi gì?

a

b

c

Trang 8

Nhân dân ta luôn ghi sâu lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: đồng bào Kinh hay Tày, Mường hay Dao, Gia-rai ha Ê-đê, Xơ Đăng hay Ba-navà các dân tộc anh em khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt

? Bác đã dạy chúng ta thế nào?

? Các từ ngữ đó cùng trả lời cho câu hỏi gì?

Dùng dấu phẩy tách các từ ngữ cùng trả lời cho câu hỏi thế nào?

Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau

Cách 2: sơ đồ hỗ trợ

Cách 3: Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh Thực hiện như bài 2 ( Tiếng Việt 2 tập 1 – trang 100)

Đối với cách thứ nhất giáo viên có thể đặt câu hỏi sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp Trong một tiết dạy, giáo viên có thể chia nhóm cùng trinh fđộ và sử dụng cả

ba cách trên

Ví dụ: bài 2 ( Tiếng Việt 3 tập 2 – trang 35)

Em đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu sau:

a) Ở nhà em thường giúp bà xâu kim

b) Trong lớp Liên luôn chăm chú nghe giảng

c) Hai bên bờ sông những bãi ngô đã bắt đầu xanh tốt

d) Trên cánh rừng mới trồng chim chóc lại bay về ríu rít

Cách 1: giáo viên đặt câu hỏi gợi mở giúp học sinh biết cách dùng dấu phẩy tách bộ

phận câu trả lời câu hỏi ở đâu ? với bộ phận câu trả lời câu hỏi Ai làm gì?, Ai thế nào.

Cách 2: Sơ đồ hỗ trợ:

a)

b)

c)

d)

Cách 3: Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh Thực hiện như bài 2 ( Tiếng Việt 2 tập 1 – trang 100)

Nội dung dạy học dấu phẩy là một trong những nội dung khó Nếu giáo viên không chú ý quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh yếu thì không những mục tiêu tiết học không đạt được mà viêc ứng dụng vào tiết văn của học sinh còn nhiều hạn chế

Muốn viết được đoạn văn, bài văn đúng chủ đề, hay, sáng tạo… không có cách nào khác là học sinh phải tự tìm tòi, tích lũy, suy nghĩ… Qua các hoạt động học tập của mình để hoàn thành các bài tập đó

III- Những kết quả đạt được.

Sau 2 năm trực tiêp chỉ đạo chuyên môn tổ 2-3 cùng với 2 năm trực tiếp giảng dạy lớp 3,với tất cả tâm huyết của mình tôi đã giúp các giáo viên trong tổ nắm chắc nội dung phân môn luyện từ và câu, tự tìm tòi học hỏi, đúc rút kinh nghiệm thông qua giảngdạy và

Đồng bào Kinh hay Tày

Trang 9

chuyên đề nên đã dần khắc phục được tồn tại chú yếu trong giảng dạy luyện từ và câu lớp 2-3 Kết quả cụ thể như sau:

1 – Về giáo viên

100% giáo viên trong tổ nắm chắc kiến thức luyện từ và câu có trong nội dung chương trình lớp 2 và 3

Giáo viên đã thâm nhập giáo án, sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học, tự tin trong truyền thụ kiến thức không có giáo viên nào có sự nhầm lẫn đang tiếc như trước đây

3- Về học sinh

Các em đã có một số vốn từ tiếng Việt chủ yếu và biết sử dụng từ để đặt câu, viết đọan văn Khi cần để giải nghĩa của từ 50% học sinh đã diễn đạt được cách hiểu của mình đối với từ cần giải nghĩa 87% học sinh biết đặt câu với từ đã cho, 13% học sinh còn lúng túng trong việc dùng từ cần có sự gợi ý của giáo viên

Học sinh đã biết phân biệt tương đối chính xác từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm ó trong câu văn hoặc đoạn văn cho trước.Khi giáo viên yêu cầu tìm từ theo yêu cầu bằng cách huy động vốn từ của HS khoảng 74% học sinh tìm được nhanh chóng Số học sinh còn lại tìm được song cần thời gian dài hơn hoặc còn lẫn lộn giữa các từ loại

90% học sinh phân biệt rành rọt giữa hình ảnh so sánh và sự vật được so sánh có trong câu văn, còn khi phải tìm hình ảnh so sánh có trong bài văn hoặc đoạn văn việc phát hiện của học sinh có chậm hơn nhưng 70% số học sinh phát hiện một cách chắc chắn

30% học sinh biết viết đoạn văn có sử dụng hình ảnh so sánh, 63 % HS biết đặt câu

có hình ảnh so sánh và nhân hóa

33% HS biết điền dấu câu thích hợp vào đoạn văn bằng kinh nghiệm ngữ cảm của mình 95% HS điền được dấu câu vào đoạn văn nhưng GVcần đặt câu hỏi gợi ý hoặc phiếu trợ giúp

75% học sinh biết vận dụng kiến thức luyện từ và câu mà các em tiếp thu được thông qua chương trình đã học để làm các bài tập làm văn theoyêu cầu dạt kết quả tốt Nhiều bài văn đã vận dụng biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh vào đoạn văn của mình

PHẦN IV : KẾT LUẬN

I-Bài học kinh nghiệm.

1- Muốn có hiệu quả giảng dạy tốt, hơn ai hết GV cần nắm chắc kiến thức trong nội dung chương trình Giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt sách giáo viên, tránh rập khuôn, máy móc.Một khi giáo viên chưa nắm vững kiến thức thì làm sao có đủ tự tin để giảng dạy và truyền thụ kiến thức chính xác được chưa nói đến việc vận dụng phương pháp giảng dạy linh hoạt

2- Tổ chuyên môn cần kịp thời phát hiện ra những vướng mắc của giáo viên trong quá trình giảng dạy để kịp thời tháo gỡ, điều chỉnh bằng cách giải đáp thắcc mắc hoăc tổ chức chuyên đề đúng quy trình

3 –Sau khi được tiếp thu lí thuyết, tất cả các giáo viên đều được dạy thể hiện chuyên đề để đúc rút kinh nghiệm và tháo gỡ vướng mắc kịp thời

4- Giáo viên cần có sự phối hợp giữa rèn luyện cho học sinh vốn ngôn ngữ qua từng bài học Tạo cho học sinh các thói quen quan sát, đánh giá nhìn nhận một sự việc, một vấn đề

Trang 10

dụng từ không đúng lúc, không đúng chỗ, nói năng cộc lốc thiếu đầu thiếu đuôi Điều chỉnh kịp thời những lỗi về việc dùng từ, viết câu, đoạn văn

5-Tổ chức và đa dạng hóa các hình thức học tập, xây dựng cho các em thói quen tự học, tự tìm tòi cái mới trong việc học Tiếng Việt Nâng cao việc hợp tác trong học tập để các

em đánh giá lẫn nhau qua quá trình làm văn, học cái hay, cái sáng tạo của nhau và điều chỉnh sữa lỗi mắc phải

6-Phối hợp việc học tập tiếng việt với các phân môn và giữa các môn học với nhau

7-Để học sinh tích lũy được một số vốn từ, hiểu được một lượng kiến thức về ngữ nghĩa tiếng Việt và vận dụng, sử dụng vào các bài tập thực hành cũng như hoạt động giao tiếp trong cuộc sống, đòi hỏi các em luôn học tập không ngừng Việc sử dụng vốn từ tiếng Việt, các kiến thức về câu, về làm văn, trong quá trình giảng dạycần phối hợp vận dụng chặt chẽ bởi các hình thức học tập phù hợp sẽ nâng cao khả năng học tiếng Việt của học sinh Việc đổi mới các phương pháp dạy sao cho phù hợp sẽ là điều rất quan trọng trong tiến trình dạy học của thầy và trò Chính vì vấn đề này mà người thầy cần phải linh hoạt trong quá trình dạy học cũng tạo ra một không gian mở trong hoạt động dạy và học giúp các em tiếp thu tôt việc hoc tiếng Việt của mình

II- Đề xuất

Cụm chuyên môn cũng như Phòng giáo dục cần thường xuyên tổ chức chuyên đề hoặc hội thảo chuyên môn cho giáo viên để chúng tôi có điều kiện trao đổi ,học hỏi, đúc rút kinh nghiệm để hiệu quả giảng dạy ngày càng cao

Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi tự đúc rút được trong quả trình giảng dạy Rất mong được cấp trên và bạn đọc góp ý kiến để bản thân tôicũng như các thành viên trong tổ giảng dạy ngày càng hiệu quả hơn

Quảng Thuận ngày 10 tháng 4 năm 2008 Người viết

Cao thị Hải Vân

Ngày đăng: 18/12/2014, 12:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w