Trong lúc giảng giáo viên mất thời gian treo đồ dùng trực quan, phần hướng dẫn cách vẽ minh họa bảng gv cũng mất khá nhiều thời gian nên ảnh hưởng đến phần thực hành của các em , bài vẽ
Trang 1Hiện nay ứng dụng CNTT là một yêu cầu quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học Trường tôi cũng như các trường khác cần quan tâm đến việc UDCNTT vào dạy tất
cả các môn học trong đó có môn Mĩ thuật Vì trong nội dung dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học
có phần hình thành kiến thức mới (phần lý thuyết) rất cần hình ảnh minh họa để các học sinh quan sát và nhận xét, nhất là phân môn Vẽ tranh
Là một giáo viên dạy Mĩ thuật ở trường Tiểu học đã lâu, tôi nhận thấy những thuận lợi cũng như những hạn chế trong việc dạy và học không áp dụng UDCNTT Để hỗ trợ việc dạy phân môn này ở trường, SGK cũng cung cấp một số hình ảnh, đồ dùng trực quan liên quan đến bài học cũng có nhưng còn hạn chế Trong lúc giảng giáo viên mất thời gian treo đồ dùng trực quan, phần hướng dẫn cách vẽ minh họa bảng gv cũng mất khá nhiều thời gian nên ảnh hưởng đến phần thực hành của các em , bài vẽ thiếu thời gian , học sinh không hứng thú với môn học Chính vì lí do trên tôi đã có giải pháp đưa chuyên
đề “Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy phân môn vẽ tranh đạt hiệu quả cao” để
nghiên cứu và đã thấy được kết quả rõ rệt, học sinh vẽ bài tốt hơn, hứng thú với môn học
Trang 2Tôi thấy đây là một đề tài có ý nghĩa rất thiết thực nhằm nâng cao chất lượng học Mĩ thuật cho học sinh
Hiện nay Internet rất thông dụng, gần như mọi thông tin đều lấy từ trên mạng về Để phục vụ cho bài dạy của mình giáo viên có thể download về từ trên mạng thông tin cần thiết rồi đưa vào bài giảng của mình cho thêm sinh động Hay chỉ cần một máy ảnh kĩ thuật số, hoặc máy điện thoại di động có thẻ nhớ chụp những bức tranh ảnh trong SGK hay sưu tầm được cho vào máy vi tính để tích hợp vào bài giảng rất nhanh chóng
CNTT với nhiều phần mềm Photoshop, Flash, Violet Gv có thể phóng to tranh ảnh hay thể hiện đặc trưng của màu sắc trong tác phẩm Hoặc Gv có thể đưa những đoạn Video vào bài giảng giới thiệu bài, tìm chọn nội dung đề tài vừa gây hứng thú cho học sinh lại vừa thể hiện nội dung của bài hay có thể tạo hình cùng Drawing chứa các lệnh đồ họa để thực hiện các bước vẽ tranh, tạo trò chơi trắc nghiệm, ô chữ để củng cố bài cho học sinh Có thể nói sự kết hợp giữa CNTT và phân môn Vẽ tranh là sự kết hợp hoàn hảo mang lại hiệu quả cao trong giờ học Mĩ thuật Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Mĩ thuật trong trường và phù hợp với học sinh tiểu học
* Thực trạng
Đứng trước tình hình thực tế của xã hội nói chung và xuất phát từ thực tế học sinh trường tiểu học nói riêng tôi thấy môn Mĩ thuật thường coi là môn học phụ Học sinh thường học qua loa không chuyên sâu nên sự rèn luyện khả năng của học sinh ngày càng mai một Quan điểm chưa đúng đắn, thiếu quan tâm của phụ huynh coi môn học là môn phụ học cũng được, không học cũng được nên việc chuẩn bị đồ dùng học cho con còn
Trang 3học sinh Mà nguyên nhân chủ yếu lại nằm ngay trong ý nghĩ, quan niệm sai lệch chủ quan của con người Mặt khác điều kiện vật chất các thiết bị dạy học còn thiếu thốn… cộng với sự hạn chế về năng lực của giáo viên chỉ biết vận dụng các phương pháp dạy học một cách máy móc, dạy theo một mô tuýp đã hướng dẫn sẵn từ trước mà không cần
có cải tiến sáng tạo dẫn đến giờ dạy Mĩ thuật không cao Đặc biệt là phân môn Vẽ tranh
đề tài, các em còn vẽ tranh chưa đẹp, bài vẽ còn cứng nhắc, không phát huy óc sáng tạo của mình
Tại các trường học trong huyện tôi hầu hết Gv mới chỉ biết sử dụng máy vi tính để soạn giáo án Số Gv biết thiết kế GAĐT, biết sử dụng phần mềm PowerPoint còn rất ít, nhất là Gv Mĩ thuật còn hạn chế vì thiết kế giáo án môn Mĩ thuật có phần khó hơn các môn khác
Qua dự giờ một số tiết Mĩ thuật của một số giáo viên khác và từ kinh nghiệm giảng dạy của tôi qua nhiều năm , tôi thấy phương pháp truyền thống gv sử dụng đồ dùng dạy học hoặc đồ dùng tranh ảnh phiên bản Sgk treo trên bảng quan sát và nhận xét (tìm, chọn nội dung đề tài), giáo viên đã cố gắng đưa ra câu hỏi gợi mở dẫn dắt Hs tìm , chọn nội dung đề tài, Hs trả lời câu hỏi của Gv, Hs chưa hiểu bài sâu, nhiều hs không chú ý, không hứng thú học Phần hướng dẫn cách vẽ, Gv minh họa bảng đôi khi còn chậm, hình chưa đẹp, mất nhiều thời gian, Hs thực hành ít Bài vẽ đạt hiệu quả chưa cao, các đối tượng học sinh khuyết tật hòa nhập kém
PHƯƠNG PHÁP
Để thay đổi hiện trạng trên tôi đã nghiên cứu đưa ƯDCNTT vào dạy phân môn Vẽ tranh giúp Gv Mĩ thuật dạy học tốt hơn
*Giải pháp thay thế: Giáo viên ƯDCNTT tự thiết kế bài giảng điện tử vào dạy
phân môn Vẽ tranh đạt hiệu quả cao
*Vấn đề nghiên cứu: Việc sử dụng ƯDCNTT vào dạy phân môn Vẽ tranh có nâng
cao kết quả học tập của học sinh tiểu học không?
*Giả thuyết nghiên cứu: Sử dụng ƯDCNTT dạy phân môn Vẽ tranh dạy học sinh tiểu
học sẽ đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật
Trang 4Về ý thức học tập, tất cả các em ở hai lớp này đều tích cực, chủ động
Về thành tích học tập của năm học trước, hai lớp tương đương nhau về điểm số của tất cả các môn học
a Thiết kế
Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 5B là nhóm thực nghiệm và 5A là nhóm đối chứng
Chúng tôi dùng bài kiểm tra học kì I môn Mĩ thuật làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy nhận xét A+ của hai nhóm có sự khác nhau, do đó chúng tôi so sánh sự chênh lệch giữa nhận xét A+ (Hoàn thành tốt) của 2 nhóm trước khi tác động
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
(được mô tả ở bảng 2):
Trang 5
Bảng 3 Thiết kế nghiên cứu
Thực nghiệm O1 Dạy học Vẽ tranh đề tài
pháp truyền thống O4
B Quy trình nghiên cứu
* Chuẩn bị bài của giáo viên:
- Tôi dạy lớp đối chứng lớp 5A: Thiết kế kế hoạch bài học dạy theo phương pháp truyền thống Bài 23: Vẽ tranh Đề tài tự chọn, quy trình chuẩn bị bài như bình thường
- Tôi nghiên cứu và thiết kế kế hoạch bài giảng điện tử lớp 5B dạy Bài 27: Vẽ tranh
Đề tài Môi trường sưu tầm, lựa chọn thông tin tại các website baigiangdientubachkim.com, và tham khảo các bài giảng của đồng nghiệp
1 Thiết kế bài giảng
a Chuẩn bị cho bài giảng điện tử hoặc đồ dùng dạy học ƯDCNTT trong phân môn
Vẽ tranh
* Giáo viên: Để chuẩn bị tốt cho một tiết dạy bằng GAĐT hay đồ dùng dạy học
ƯDCNTT đòi hỏi người Gv phải tiến hành các bước sau:
- Bản thân phải tự làm quen và soạn giáo án trên máy vi tính, trên wort và trên Powerpoint, biết cách sử dụng hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học là phải khai
thác triệt để các nội dung tư liệu, đặc biệt là các tư liệu multimedia (âm thanh, hình ảnh, phim, Flash…) đạt theo chuẩn kiến thức kĩ năng của từng tiết dạy
- Lập kế hoạch cho từng hoạt động bám sát vào mục tiêu của bài dạy Xác định mục tiêu chuẩn kiến thức kĩ năng của bài dạy
- Thiết kế nội dung cho từng hoạt động của bài dạy
- Sưu tầm tranh thiếu nhi, ảnh, tư liệu có liên quan đến bài dạy
- Tìm tư tưởng, chủ đề của bài học
- Lựa chọn những đoạn phim video, bài hát có nội dung phù hợp với bài học, ảnh chụp hình gợi ý các bước vẽ tranh vv
- Máy vi tính, máy chiếu, phòng học
- Giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài (ở cuối tiết học trước)
Trang 6- Tùy theo nội dung của từng hoạt động, giáo viên tìm tranh ảnh, hình ảnh phù hợp với các câu hỏi tìm hiểu nội dung của bài Biết tìm những tranh làm hình ảnh nền cho trò chơi củng cố bài phù hợp với nội dung của bài học đó
* Học sinh: Chuẩn bị kĩ nội dung theo yêu cầu bài học của Gv dặn, Vở Tập vẽ, màu,
bút chì,
2 Dạy thực nghiệm cụ thể
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan Cụ thể:
Bảng 4: Thời gian thực nghiệm
- Bài 23: Vẽ tranh - Đề tài tự chọn, dạy theo phương pháp truyền thống dạy ở lớp 5A
(Thiết kế bài giảng ở phần phụ lục)
Lớp 5A: Bài 23: Vẽ tranh - Đề tài tự chọn (Hs vẽ tự do theo ý thích vào giấy A4) Lớp 5B: Bài 27: Vẽ tranh - Đề tài Môi trường (Hs vẽ tranh về môi trường theo ý thích vào khổ giấy A4)
* Tiến hành kiểm tra và chấm bài
Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên,Hs thực hành, tôi tiến hành chấm bài
thực hành của Hs trên lớp
Trang 7
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU KẾT QUẢ
Bảng 5 So sánh nhận xét A+ của hai lớp TN và ĐC sau tác động
và lớp 5B là 15%, cho thấy: sự chênh lệch giữa ĐTB nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả % A+ nhóm thực nghiệm cao hơn % A+
nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động
Chênh lệch % A+ giữa hai lớp là 15% Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của dạy
học có sử dụng ƯDCNTT vào dạy phân môn Vẽ tranh của nhóm thực nghiệm là lớn
Giả thuyết của đề tài “Ứng dụng
công nghệ thông tin vào dạy
phân môn vẽ tranh đạt hiệu quả
cao” đã được kiểm chứng
0 10 20 30 40 50
1st Qtr
2nd Qtr
Nhóm Đối chứng
Nhóm Thực nghiệm
Hình 1 Biểu đồ so sánh % nhận xét A+ trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
BÀN LUẬN
Kết quả của bài thực hành sau tác động của nhóm thực nghiệm là A+ = 48%, kết quả bài thực hành tương ứng của nhóm đối chứng A+ = 33% Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 15%; Điều đó cho thấy điểm % A+ của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt
rõ rệt, lớp được tác động có điểm A+ % cao hơn lớp đối chứng
Trang 8Chênh lệch % điểm A+ của hai bài thực hành của hai lớp là 15% Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
So sánh % điểm A+ sau tác động của hai lớp chênh lệch là 15% Kết quả này khẳng định sự chênh lệch % A+ của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động
* Hạn chế:
Nghiên cứu này sử dụng ƯDCNTT dạy phân môn Vẽ tranh ở tiểu học là một giải pháp rất tốt nhưng để sử dụng có hiệu quả, người giáo viên cần phải có trình độ về công nghệ thông tin, có kĩ năng thiết kế giáo án điện tử, biết khai thác và sử dụng các nguồn thông tin trên mạng Internet, biết thiết kế kế hoạch bài học hợp lí
* Bài học kinh nghiệm
Trên cơ sở kết quả học tập của lớp tôi và thực tế giảng dạy bằng việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy tiết Vẽ tranh đề tài môn Mĩ thuật, bản thân tôi đã rút ra được một
số kinh nghiệm sau:
- Giáo viên phải chuẩn bị bài chu đáo, nghiên cứu kĩ nội dung bài để thiết kế các hoạt động, các hình ảnh phù hợp với bài tập
- Giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, đồ dùng đầy đủ trước khi lên lớp
- Áp dụng nhiều phương pháp trò chơi, phương pháp thích hợp, không áp đặt đòi hỏi quá cao đối với học sinh để giúp các em yêu thích môn học và học tốt hơn
- Trong tiết học luôn tạo không khí vui vẻ thoải mái nhẹ nhàng, thu hút lòng say mê của các em đối với tiết học, môn học
- Hướng dẫn học sinh làm quen dần với công nghệ thông tin vì đây là phần còn mới
mẻ đối với các em
- Phát huy tinh thần tự giác, sự ham tìm tòi học hỏi của học sinh
- Giáo viên phải linh hoạt, kết hợp các phương pháp giảng dạy với việc lồng ghép các hình ảnh để kích thích lòng ham hiểu biết của các em
- Giáo viên phải quan tâm đến từng đối tượng học sinh đề ra phương pháp phù hợp lôi cuốn tất cả các em tham gia học tập
- Giáo viên cần động viên, tuyên dương kịp thời những HS có tinh thần, thái độ học tập tốt để khơi dậy tính tự giác và tinh thần hăng say học tập ở từng em
- Để góp phần tạo sự thành công trong mỗi tiết học đòi hỏi mỗi học sinh phải : Không ngừng học tập và rèn luyện, luôn có ý thức học tập tốt, phải chuẩn bị bài, chuẩn bị
đồ dùng học Mĩ thuật trước khi đến lớp Tích cực luyện tập thực hành, hăng hái phát biểu
ý kiến xây dựng bài…
KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ
Trang 9Sau một thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài này vào công tác giảng dạy ở trường tôi, bước đầu đã có những kết quả nhất định tạo cho các em có thói quen học tập Trước hết giáo viên phải biết xây dựng được hình thức dạy học, các hình ảnh, các trò chơi phù hợp theo từng nhóm đối tượng học sinh ở từng trình độ khác nhau của mỗi học sinh có thể tiếp thu được, có như vậy các em mới thích thú học tập Vì vậy, việc giảng dạy muốn đạt hiệu quả, chất lượng làm cho mọi trẻ em trong lớp đều được học tập thì giáo viên tập trung suy nghĩ, nghiên cứu có như vậy hiệu quả mới tốt, học sinh mới ham thích học tập Việc ứng dụng CNTT vào dạy và học (bằng bài giảng điện tử) là cải tiến đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS, lúc bấy giờ giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động thông qua hình ảnh trực quan sinh động, học sinh tư duy và tự phát hiện, tìm ra kiến thức mới của bài học và thực hành đúng đề tài
Tóm lại, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy (nhất là tiết Vẽ tranh Đề tài), có những
ưu điểm so với phương pháp truyền thống như sau:
- Nội dung, hình thức tiết dạy phong phú, đưa được nhiều hình ảnh động, từ đó, tạo được sự kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo được không khí vui tươi và thi đua trong học tập qua hoạt động thi đua giữa các nhóm, Hs vẽ bài tốt, bài vẽ sáng tạo đạt hiệu quả cao
- Do tính trực quan cao, nên giúp HS yếu kém dễ tham gia và tạo cảm hứng ham mê môn học
- Gv tiết kiệm được thời gian dán, treo đồ dùng trực quan và một số thao tác khác để giành thời gian cho việc rèn luyện kĩ năng, theo dõi và quản lí lớp, chú ý nhiều đối tượng yếu, học sinh khuyết tật hòa nhập
Vì tương lai con em chúng ta mỗi một thầy cô giáo nói chung và bản thân tôi nói riêng phải đem hết tinh thần, trách nhiệm, lương tâm và có tâm huyết với công việc để giúp và trang bị cho các em những kiến thức nhằm xây dựng, đào tạo cho các em trở thành những công dân tốt cho đất nước, phát huy được năng lực tư duy sáng tạo của mình, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của giáo dục hiện nay theo tinh thần cuộc vận
động mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng về tự học, tự rèn và sáng tạo
Đổi mới nội dung chương trình phương pháp dạy Mĩ thuật hiện nay để phù hợp với
Trang 10đề tài đạt hiệu quả tôi đã nghiên cứu và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học phân môn Vẽ tranh trong chương trình Mĩ thuật Tiểu học dạy theo ƯDCNTT Đó là một yêu cầu phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh, phù hợp với mục tiêu giáo dục trong thời đại mới Đổi mới phương pháp dạy học tạo không khí nhẹ nhàng, thoải mái Học sinh đóng vai trò chủ đạo tích cực trong hoạt động học tập Kết quả học phân môn Vẽ tranh môn Mĩ thuật được nâng cao Học sinh có kĩ năng vẽ tranh có thể vận dụng vào các bài vẽ của các phân môn khác trong môn Mĩ thuật Các em có thể vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày Đây là phương pháp thiết thực để nâng cao chất lượng học tập toàn diện cho học sinh
2 Khuyến nghị
Để nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học môn Mĩ thuật:
Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm về cơ sở vật chất như trang thiết bị máy tính, máy chiếu Projector hoặc màn hình ti vi màn hình rộng có bộ kết nối cho các nhà trường
Đối với giáo viên: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết về CNTT, biết khai thác thông tin trên mạng Internet, có kĩ năng sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại
- Nhà trường cần quan tâm đáp ứng đủ nhu cầu về cơ sở vật chất như: Phòng học riêng, giá vẽ, bàn xếp mẫu, mẫu vẽ, sách tham khảo môn Mĩ thuật… đồ dùng trực quan phù hợp với đặc trưng bộ môn Mĩ thuật
- Với việc ứng dụng CNTT: Phòng, trường cần tổ chức nhiều Hội thi thiết kế dạy học bằng CNTT, nhiều buổi hội thảo, sinh hoạt chuyên môn với các chuyên đề về ứng dụng CNTT
- Mở các lớp tập huấn về quy trình ứng dụng công nghệ thông tin, soạn giáo án điện
tử nhất là những vùng chưa có điều kiện
- Các trường nên trang bị thêm thiết bị trình chiếu và bố trí phòng học có sẵn thiết bị trình chiếu, để đảm bảo thời gian lên lớp.Vì thiết bị trình chiếu mà di chuyển từ phòng này sang phòng khác thì phải mất thời gian từ 10 đến 15 phút (kể cả lắp ráp hiệu chỉnh) Hơn nữa thao tác lắp ráp nhiều lần thì thiết bị mau hỏng, các cô giáo thì hoàn toàn không thể thực hiện được yêu cầu này
- Nhà trường nên tạo điều kiện thuận lợi cho những giáo viên nòng cốt, để triển khai công nghệ trình chiếu rộng rãi trong toàn trường
- Nên có các lớp bồi dưỡng về chuyên môn Mĩ thuật trong hè cho các giáo viên dạy
Mĩ thuật để các giáo viên được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, chuyên môn nghiệp vụ
Trang 11nghiệm nhỏ để vận dụng vào giảng dạy Chắc chắn sẽ không sao tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự góp ý của quí cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để đề tài kinh nghiệm sớm được hoàn thiện và có tính khả thi hơn
Ngày 19 tháng 3 năm 2011
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu nghiên cứu KHSPƯD Dự án Việt Bỉ - Bộ GD&ĐT
- Tài liệu Đổi mới phương pháp dạy học: Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc
dạy và học ở trường Tiểu học
- Sách GK, SGV Mĩ thuật lớp 5
- Sách giáo trình Phương pháp dạy - học Mĩ thuật (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm) Nguyễn Quốc Toản chủ biên
- Một số hình ảnh tìm kiếm trên mạng Internet (có thể vào những trang Website:
http://www.google.com.vn/; http://vn.yahoo.com/; http://www.monava.vn/…) Chèn hình ảnh
(tranh ảnh, hình ảnh động của thực vật, động vật,…), chèn âm thanh (ca khúc, tiếng vỗ