Muốn phát triển ở trẻ kỹ năng nghe, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việtcũng như việc tăng vốn từ cho trẻ, trước hết người giáo viên mầm non phải biếtcách cuốn hút trẻ tham gia và
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN KHÁNH SƠN
TRƯỜNG MẦM NON HOÀNG OANH
Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:
“ TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ SỞ TẠI LỚP MẦM 1 TRƯỜNG MẦM NON HOÀNG OANH
THÔNG QUA TRÒ CHƠI”
GIÁO VIÊN : ĐÀO THỊ TƯƠI
TRƯỜNG : MN HOÀNG OANH
NĂM HỌC: 2012 – 2013
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT ĐỀ TÀI 03
II GIỚI THIỆU 04
1 Thực trạng .04
2 Vai trò, tác dụng của trò chơi trong dạy Tiếng Việt cho trẻ 05
3 Vấn đề nghiên cứu 06
4 Dữ liệu sẽ được thu thập 06
5 Giả thuyết nghiên cứu 06
III.PHƯƠNGPHÁP … 06
1.Khách thể nghiên cứu 06
2.Thiết kế nghiên cứu 06
3.Quy trình nghiên cứu 07
4 Đo lường và thu thập dữ liệu 07
IV.PHÂN TÍCH DỮ LIỆU & BÀN LUẬN KẾT QUẢ 07
1.Phân tích dữ liệu 08
2.Bàn luận kết quả 09
V KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ 10
1 Kết luận 10
2 Khuyến nghị 10
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
VII CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI 12
PHỤ LỤC I: Phiếu quan sát đánh giá mức độ hứng thú và phát triển vốn từ của trẻ ( Đối với lớp thực nghiệm trước khi tác động) 12
PHỤ LỤC II: Phiếu quan sát đánh giá mức độ hứng thú và phát triển vốn từ của trẻ ( Đối với lớp đối chứng trước khi tác động) 13
PHỤ LỤC III: Giáo án: “ Những vai chơi bé thích” 15
PHỤ LỤC IV: Giáo án: “ Bé yêu thích đồng dao” 17
PHỤ LỤC V: Giáo án: “ Dạy từ: Đèn xanh, đèn đỏ, đèn vàng” 20
PHỤ LỤC VI: Phiếu quan sát đánh giá mức độ hứng thú và phát triển vốn từ của trẻ ( Đối với lớp thực nghiệm sau khi tác động) 22
PHỤ LỤC VII: Phiếu quan sát đánh giá mức độ hứng thú và phát triển vốn từ của trẻ ( Đối với lớp đối chứng sau khi tác động) 24
PHỤ LỤC VIII: Bảng điểm trước và sau khi tác động của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 25
Trang 3Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:
“ TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ SỞ TẠI LỚP MẦM 1 TRƯỜNG MẦM NON HOÀNG OANH THÔNG QUA TRÒ CHƠI”
Giáo viên nghiên cứu: Đào Thị Tươi
Đơn vị: Trường Mầm Non Hoàng Oanh, Sơn Trung, Khánh Sơn.
I TÓM TẮT ĐỀ TÀI :
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc học tập,ngôn ngữ là phương tiện chính để truyền đạt kiến thức Và với tất cả mọi người,tiếng mẹ đẻ bao giờ cũng là ngôn ngữ đầu tiên và dễ dàng tiếp cận nhất, tạo racảm giác tự tin, thoải mái trong qua trình giao tiếp Ngôn ngữ là công cụ của tưduy, trẻ dân tộc thiểu số có thể tư duy bằng ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ của chúng,nhưng để học lên chương trình tiểu học, phổ thông… trẻ phải có vốn Tiếng Việt
để có thể hiểu biết và khám phá thế giới xung quanh (về các sự vật, hiện tượnggần gũi trong cuộc sống, hoạt động học tập…) Ngoài ra, sự phát triển ngôn ngữgắn liền với sự phát triển của tư duy từ đó trẻ có khả năng nhận thức thế giới bênngoài
Ngôn ngữ của trẻ tiến bộ nhanh hay chậm tùy thuộc vào điều kiện sống,quan hệ giao tiếp với những người xung quanh Ở trường mầm non, nhà trẻ vàmẫu giáo mà đặc biệt là mẫu giáo bé, chính thời điểm đang học nói hay bắt chướcngười lớn vì thế cô giáo cần tận dụng để dạy các cháu tiếng phổ thông càng sớmcàng tốt Nhưng việc giáo viên dạy làm sao để trẻ có thể tiếp thu và phát triển vốnTiếng Việt một cách tốt nhất thì không phải giáo viên nào cũng thực hiện được
Muốn phát triển ở trẻ kỹ năng nghe, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việtcũng như việc tăng vốn từ cho trẻ, trước hết người giáo viên mầm non phải biếtcách cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ bằng cách thử saivà thực nghiệm với nhiều biện pháp khác nhau Thông thường giáo viên dạyTiếng Việt cho trẻ chỉ dạy với hình thức cô nói trước, trẻ nói sau, ít đưa các hìnhthức khác vào dạy Tiếng Việt cho trẻ Chính những hình thức dạy chay đầy cứngnhắc như vậy đã khiến việc tiếp thu Tiếng Việt của trẻ không được bền vững vìtrẻ chỉ được nói lại câu, từ cô mới dạy trẻ sẽ mau quên Với yêu cầu hiện nayviệc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ đã được đưa chính thức vào chương trình dạycho trẻ ở các lứa tuối mẫu giáo và cũng chính điều này đã thúc đẩy giáo viênmầm non nói chung và bản thân tôi nói riêng có nhiều tìm tòi nhằm có những cảitiến mới về việc dạy Tiếng Việt cho trẻ Qua những tiết chuyên đề về việc tăngcường Tiếng Việt cho trẻ hay những đợt thanh tra chuyên môn, giáo viên được cọsát, học hỏi rất nhiều Song nếu chỉ qua những hoạt động đó thì chưa đủ mà giáoviên còn phải tìm tòi, sáng tạo phương pháp dạy học mới để phát huy được tínhtích cực chủ động của trẻ trong giờ học đồng thời làm tăng hứng thú với lĩnh vực
Trang 4phát triển ngôn ngữ này Đặc biệt với đặc thù trường Mầm Non Hoàng Oanh, đa
số các cháu là người dân tộc thiểu số Phụ huynh học sinh chưa quan tâm nhiềuđến việc dạy Tiếng Việt cho trẻ, chính vì vậy mà vốn Tiếng Việt của trẻ cònnhiều hạn chế Hơn nữa, phương pháp dạy của giáo viên còn cứng nhắc như: Dạychay, mang nặng tính lý thuyết Tôi thiết nghĩ nếu cứ sử dụng phương pháp dạyhọc như thế này sẽ không đem lại hiệu quả cao
Qua quá trình nghiên cứu, bản thân đã áp dụng nhiều phương pháp dạy họckhác nhau vào quá trình tăng cường Tiếng Việt cho trẻ nhưng tôi thấy tổ chứcdạy Tiếng Việt cho trẻ với hình thức thông qua trò chơi là hữu hiệu nhất Thôngqua trò chơi đã làm cho giờ học trở nên sôi nổi, các cháu tham gia một cách tíchcực và hiệu quả mang lại là rất lớn Như vậy để phát huy vai trò học tập, tính tíchcực chủ động sáng tạo và tăng hứng thú cho trẻ khi học Tiếng Việt, giải pháp củatôi đưa ra là vận dụng trò chơi vào dạy học, như vậy trẻ sẽ được "học mà chơi,chơi mà học" Từ đó giúp các cháu giảm bớt những căng thẳng, mệt mỏi khitham gia vào các hoạt động
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: Hai lớp Mầmtrường Mầm Non Hoàng Oanh Lớp Mầm 1 (17 trẻ) được chọn làm lớp thựcnghiệm; lớp Mầm 2 (17 trẻ) làm lớp đối chứng Lớp thực nghiệm được vận dụngtrò chơi trong các hoạt động dạy Tiếng Việt, còn lớp đối chứng không sử dụngtrò chơi Kết quả cho thấy tác động có ảnh hưởng rất lớn đến hứng thú và vốn từcủa trẻ Điểm trung bình sau tác động của lớp thực nghiệm là 7.5 còn lớp đốichứng là 6.3 và kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p = 1.2 chứng tỏ ảnh hưởngrất lớn Điều này chứng minh rằng việc vận dụng trò chơi trong các hoạt độngdạy Tiếng Việt đã làm tăng hứng thú và kết quả học tập cho trẻ
II GIỚI THIỆU :
1 Thực trạng :
Năm học 2012-2013 số trẻ ra lớp 3- 4 tuổi của trường Mầm Non HoàngOanh chiếm 98% là con em người dân tộc Raglai, đa số các cháu lần đầu ra lớp,khả năng Tiếng Việt của trẻ còn nhiều hạn chế, phụ huynh chưa quan tâm nhiềuđến việc dạy Tiếng Việt cho trẻ, trẻ chưa mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp Bêncạnh đó đa số giáo viên chưa có kinh nghiệm trong tổ chức các hoạt động tăngcường Tiếng Việt cho trẻ, vốn Tiếng Việt hạn chế sẽ khiến trẻ trẻ khó tiếp thuđược những kiến thức mà giáo viên truyền đạt, trẻ thiếu tự tin khi giao tiếp với
cô và các bạn Bên cạnh đó, giáo viên thường sử dụng các phương pháp khi tăngcường Tiếng Việt cho trẻ với các hình thức dạy như: Cô nói trước, trẻ nói sau sẽkhiến trẻ thụ động, đồng thời trẻ sẽ mau quên
Trang 5Với thực trạng trên, là một giáo viên mầm non tôi luôn trăn trở mình phảilàm thế nào và lựa chọn phương pháp, hình thức nào để việc dạy Tiếng Việt chotrẻ đạt hiệu quả cao nhất đồng thời làm tăng hứng thú của trẻ khi học.
Chính vì điều băn khoăn, trăn trở ấy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và tìm rabiện pháp hữu hiệu nhất đó là việc “Vận dụng trò chơi trong dạy Tiếng Việt chotrẻ”, cũng chính phương pháp này đã làm tăng hứng thú của trẻ khi học, đồngthời trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó Từ đó trẻ có thể tham giacác hoạt động một cách hứng thú và kết quả mang lại rất cao
2 Vai trò, tác dụng của trò chơi trong dạy Tiếng Việt cho trẻ :
Trò chơi trong dạy Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo là cách thức giáo viên tổ chức cho trẻ thực hiện những hành động đã và đang học thông qua một trò chơi nào đó Với phương pháp này, trẻ ở các lứa tuổi đều rất thích Nó tạo cho lớp họcmột không khí sôi nổi và không bị gò bó, nhàm chán "học mà chơi, chơi mà học".Những trò chơi mà giáo viên mầm non thường dùng trong việc dạy Tiếng Việt cho trẻ như : Trò chơi đóng vai, trò chơi dân gian, trò chơi học tập ( Ai nhanh hơn, nhanh mắt, nhanh miệng , hãy nói lại những lời tôi nói, bạn vừa nói gì? )
Thông qua hoạt động góc, nhất là góc đóng vai, trẻ thể hiện được vai chơithông qua hành động cũng như mối quan hệ giao tiếp giữa các vai chơi từ đó vốn
từ của trẻ sẽ được mở rộng Ở góc này các cháu người kinh và sở tại được chơicùng nhau, giao tiếp với nhau qua đó trẻ học được nhiều ngôn ngữ từ bạn Trẻđược giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện vai chơi thông qua lời nói Để giúp trẻhọc tập đạt hiệu quả cao qua vui chơi thì chúng ta cần phải xác định hoạt động
vui chơi là hoạt động chủ đạo: “Học mà chơi - Chơi mà học ” Hoạt động vui
chơi sáng tạo hàng ngày ở lớp, trẻ được chọn bạn chơi, chọn góc chơi, chọn đồchơi mà trẻ thích Ở các góc chơi này giúp phát triển trí tưởng tượng ngôn ngữkhi giao tiếp với bạn chơi, mở rộng vốn từ, vốn hiểu biết của trẻ Trong khi chơitrẻ tiếp thu tri thức một cách nhẹ nhàng, thoải mái bên cạnh đó giáo viên luônkhuyến khích các cháu người kinh và người sở tại đổi vai chơi cho nhau, tăngcường cho các cháu người sở tại nói theo bạn vì trẻ ở lứa tuổi mầm non đa số trẻhọc thông qua bắt chước
Thông qua trò chơi trẻ sẽ được mở rộng vốn từ, mở rộng mối quan hệ giaotiếp với bạn, đồng thời trẻ sẽ mạnh dạn, tự tin hơn Đặc biệt khi tiến hành chơi,trong các trò chơi cũng có sự kết hợp linh hoạt với một số phương pháp như :thảo luận nhóm, đóng vai, từ đó giúp trẻ hình thành những kỹ năng giao tiếpđơn giản và cũng qua đó sẽ phát triển vốn từ cho trẻ
Thông qua trò chơi dân gian trẻ sẽ được kết hợp lời của bài đồng dao vớinhững hành động phù hợp, như vậy trẻ sẽ rất thích và
Trang 6Thông qua trò chơi, việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ được tiến hành mộtcách nhẹ nhàng, sinh động, sẽ lôi cuốn được trẻ vào quá trình học tập một cách tựnhiên, đồng thời tăng sự hứng thú của trẻ khi tham gia hoạt động Ngoài ra, nócòn tác động trực tiếp đến tình cảm, thái độ đem lại niềm vui, làm cho các cháucảm thấy hứng thú học Tiếng Việt và thích được đi học hơn
3 Vấn đề nghiên cứu:
Việc sử dụng trò chơi vào dạy Tiếng Việt có làm tăng hứng thú và pháttriển vốn từ cho trẻ sở tại lớp Mầm 1 trường Mầm Non Hoàng Oanh không ?
4 Dữ liệu sẽ được thu thập :
Kết quả qua các phiếu đánh gía về mức độ hứng thú và phát triển vốn từcủa trẻ
5 Giả thiết nghiên cứu:
Có, việc sử dụng trò chơi vào dạy Tiếng Việt cho trẻ có làm tăng hứng thúvà phát triển vốn từ cho trẻ lớp Mầm 1 trường MN Hoàng Oanh
III PHƯƠNG PHÁP :
1 Khách thể nghiên cứu :
Tôi lựa chọn hai lớp Mầm 1 và Mầm 2 để thực hiện nghiên cứu vì đó là hailớp có sự tương đồng về dân tộc, giới tính, khả năng giao tiếp Tiếng Việt và sĩ sốlớp Những yếu tố đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học sưphạm ứng dụng của tôi
Tôi chọn lớp Mầm 2 làm lớp đối chứng, lớp Mầm 1 làm lớp thực nghiệm.Các cháu hai lớp này có vốn Tiếng Việt là tương đương nhau
2 Thiết kế nghiên cứu :
Chọn tất cả trẻ sở tại của 2 lớp Mầm 1 và Mầm 2 để thực hiện nghiên cứu.Lớp Mầm 2 là lớp được chọn làm nhóm đối chứng, lớp Mầm 1 là lớp được chọnlàm nhóm thực nghiệm Tôi sử dụng phiếu đánh giá về mức độ hứng thú và vốnTiếng Việt của trẻ hai lớp Mầm 1 và Mầm 2 trước tác động để so sánh Sau khilấy kết quả và so sánh thì thấy có sự chênh lệch Do đó tôi dùng phép kiểm chứngT-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm trướckhi tác động
Trang 7Kết quả: p = 0,38 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hainhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là không có ý nghĩa Do đó, hai nhómđược xem như là tương đương
Sử dụng thiết kế: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tươngđương
Thiết kế nghiên cứu :
Thực nghiệm
Vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy Tiếng Việt O3Đối chứng
Không vận dụng phươngpháp trò chơi vào dạyTiếng Việt
O4
Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập
3 Quy trình nghiên cứu :
- Chuẩn bị bài của giáo viên : Để có sự so sánh một cách khách quan tôi
đã liên kết với cô Nguyễn Thị Phượng là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp đốichứng Khi tổ chức các hoạt động tăng cường Tiếng Việt cho trẻ cô Phượngkhông áp dụng trò chơi khi dạy trẻ mà hình thức tổ chức của cô vẫn theo phươngpháp cũ: Giáo viên nói mẫu và khuyến khích trẻ nói theo
- Đối với lớp thực nghiệm : Tôi tổ chức các hoạt động tăng cường TiếngViệt cho trẻ với hình thức trò chơi
- Tiến hành thực hiện : Thời gian tôi tiến hành dạy thực nghiệm bắt đầu từchủ điểm ” Thế giới động vật”
Chủ điểm Hoạt động/lớp Tên bài dạy
Bé yêu thích đồng dao
Phương tiện Tăng cường Tiếng Việt qua Dạy từ: ” Đèn xanh, đèn đỏ,
Trang 84 Đo lường và thu thập dữ liệu :
Tôi sử dụng phiếu quan sát đánh giá mức độ hứng thú và phát triển vốn từcủa trẻ sau khi trẻ học xong chủ điểm: ” Nghề nghiệp” làm bài kiểm tra trước tácđộng và bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi trẻ học xong chủ điểm: ”Phương Tiện giao thông”
Tiến hành khảo sát và chấm điểm
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU & BÀN LUẬN KẾT QUẢ :
1 Phân tích dữ liệu :
Bảng so sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động:
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) = 7.5- 6.3 = 1.2
1.0
Trang 9Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) = 1.2cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc dạy học Tiếng Việt sử dụng trò chơi là cóảnh hưởng và kết quả mà nó mang lại là rất lớn Như vậy giả thiết của đề tài làviệc vận dụng trò chơi vào dạy Tiếng Việt có làm tăng hứng thú và phát triển vốn
từ cho trẻ sở tại lớp Mầm 1 trường Mầm Non Hoàng Oanh hay không? Giờ đây
đã được kiểm chứng trong thực tế và cho thấy rằng việc vận dụng trò chơi trongdạy Tiếng Việt cho trẻ có làm phát triển vốn từ cho trẻ sở tại lớp Mầm 1 trườngMầm Non Hoàng Oanh đồng thời cũng làm tăng sự hứng thú của trẻ khi thamgia vào hoạt động mà mức độ ảnh hưởng của nó là rất lớn
V KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ :
1 Kết luận :
Với đề tài: “ Tăng cường tiếng việt nhằm phát triển vốn từ cho trẻ sở tại lớp Mầm 1 trường Mầm Non Hoàng Oanh thông qua trò chơi” tôi đã tập trung
nghiên cứu những vấn đề sau :
+ Tìm hiểu điểm khái quát nhất về lí luận dạy trẻ tập nói Tiếng Việt chocác cháu sở tại lớp Mầm trường Mầm Non Hoàng Oanh, những điểm chủ yếunhất về lí luận của việc vận dụng trò chơi vào các hoạt động tăng cường TiếngViệt sao cho phù hợp nhằm đạt tới mục tiêu, yêu cầu ( Trẻ hứng thú, phát triểnvốn từ) và phát huy được tính tích cực của trẻ
+ Tôi tiến hành khảo sát, thiết kế các hoạt động tăng cường Tiếng Việt chotrẻ có sử dụng trò chơi và đã tiến hành giảng dạy ở lớp thực nghiệm Sau đó tiếnhành lập phiếu quan sát và thu thập dữ liệu, dùng phép kiểm chứng T-test đểkiểm chứng sự chênh lệch và kiểm tra mức độ ảnh hưởng bằng bảng tiêu chíCohen thì cho thấy rằng việc vận dụng trò chơi vào dạy Tiếng Việt cho trẻ đã tạo
ra giá trị trung bình chuẩn của hai nhóm với mức độ ảnh hưởng của nó là rất lớn
Trang 10Như vậy, việc vận dụng trò chơi vào dạy Tiếng Việt cho các cháu sở tạilớp Mầm 1 trường Mầm Non Hoàng Oanh đã làm tăng hứng thú và phát triểnvốn từ cho trẻ.
2 Khuyến nghị :
- Các cấp, các ngành cần quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện thuận lợi về cơ
sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học của cô và trẻ
- Lãnh đạo nhà trường cần chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết
bị, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho công tác giảng dạy của giáo viên Ngoài ra nhàtrường cũng cần tổ chức nhiều chuyên đề tăng cường Tiếng Việt cho trẻ để giáoviên có thể học hỏi, rút kinh nghiệm khi tổ chức hoạt động
- Đối với giáo viên cần chú trọng nhiều đến việc tăng cường Tiếng Việtcho trẻ, chịu khó tìm tòi, tham khảo qua sách, báo, mạng Internet tìm ra nhữngtrò chơi hay, mang tính chất mới lạ để thu hút trẻ vào hoạt động Ngoài ra cũngcần thường xuyên dự giờ đồng nghiệp, không ngừng học hỏi, nâng cao trình độchuyên môn
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sách hướng dẫn chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộcthiểu số ( Mẫu giáo bé 3-4 tuổi)
2 Sách tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non
3 Quyển tuyển tập trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuối mầm non
4 Mạng Internet
Trang 11VII CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI:
PHỤ LỤC I
PHIẾU QUAN SÁT
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CỦA TRẺ
( Đối với lớp thực nghiệm trước khi tác động )
Thang xếp hạng để đo hành vi trẻ sở tại học Tiếng Việt:
STT
Câu hỏi
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Đôi khi Hiếm
khi
Không bao giờ
1 Tần suất nói Tiếng Việt của trẻ ?
Bảng kiểm quan sát để đo hành vi trẻ sở tại học Tiếng Việt:
STT
2 Trẻ có trả lời được các câu hỏi thông thường hay không?
Thang đo thái độ đối tượng trẻ sở tại học Tiếng Việt:
STT
Mệnh đề
Rất đồng ý
Đồng ý Bình
thường
Không đồng ý
Rất không đồng ý
3 Trẻ hứng thú khi học Tiếng Việt
4 Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
5 Trẻ chú ý khi học Tiếng Việt
* Ghi chú: 1/ Mỗi câu hỏi tương ứng với điểm số (từ 0 đến 02đ), thang điểm là
10; 5 câu hỏi mỗi câu tối đa đạt 2 điểm
Không bao giờ ( 0đ)
3/ Bảng kiểm quan sát:
Trang 12“ Có” ( 2đ) “ Không” (1đ)
4/ Thang đo thái độ :
Rất đồng ý ( 2đ) Đồng ý (1.5đ) Bình thường ( 1đ) Không đồng ý ( 0.5đ) Rất không đồng ý ( 0đ)
Trang 13PHỤ LỤC II
PHIẾU QUAN SÁT
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CỦA TRẺ
( Đối với lớp đối chứng trước khi tác động )
Thang xếp hạng để đo hành vi trẻ sở tại học Tiếng Việt:
STT
Câu hỏi
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Đôi khi Hiếm
khi
Không bao giờ
1 Tần suất nói Tiếng Việt của trẻ ?
Bảng kiểm quan sát để đo hành vi trẻ sở tại học Tiếng Việt:
STT
2 Trẻ có trả lời được các câu hỏi thông thường hay không?
Thang đo thái độ đối tượng trẻ sở tại học Tiếng Việt:
STT
Mệnh đề
Rất đồng ý
Đồng ý Bình
thường
Không đồng ý
Rất không đồng ý
3 Trẻ hứng thú khi học Tiếng Việt
4 Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
5 Trẻ chú ý khi học Tiếng Việt
* Ghi chú: 1/ Mỗi câu hỏi tương ứng với điểm số (từ 0 đến 02đ), thang điểm là
10; 5 câu hỏi mỗi câu tối đa đạt 2 điểm
Không bao giờ ( 0đ)
3/ Bảng kiểm quan sát:
“ Có” ( 2đ)