Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bao gồm tổng hợp các biện pháp kinh tế – kỹthuật – tài chính, có ý nghĩa góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lựccủa doanh nghiệp, từ đó tác động
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là yếu tố hàng đầu vào không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp khitiến hành sản xuất kinh doanh Hiệu quả sử dụng vốn càng cao thì kết quả thu về từlượng vốn bỏ ra sẽ càng lớn
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bao gồm tổng hợp các biện pháp kinh tế – kỹthuật – tài chính, có ý nghĩa góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lựccủa doanh nghiệp, từ đó tác động mạnh mẽ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn không phải chỉ riêng một đối tượng nào mà tất
cả các nhà kinh doanh, ngay từ khi thành lập doanh nghiệp đều phải tính toán kỹlưỡng đến các phương hướng, biện pháp làm sao sử dụng vốn đầu tư một cách cóhiệu quả nhất, sinh được nhiều lợi nhuận nhất Thực tế cho thấy, để thực hiện đượcđiều đó không phải là đơn giản Bước sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước đã được hơn chục năm nhưng hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhànước vẫn là vấn đề nan giải Rất nhiều doanh nghiệp không đứng vững nổi trong cơchế thị trường, làm ăn thua lỗ gây thâm hụt nguồn vốn từ ngân sách cấp cho.Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều doanh nghiệp thuộc các nghành kinh tế khácnhau đã đạt được thành công, khẳng định vị trí của mình trên thị trường trong nước
và thế giới
Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé kiến thức của mình vàonhững giải pháp nâng cao hiêụ quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp, công ty TNHHMột thành viên xây dựng công trình giao thông 892 - thuộc tổng công ty xây dựngcông trình giao thông 8 - Bộ Giao Thông Vận tải là một DNNN thuộc Bộ GTVTđang đứng trước những thách thức như trên nên vấn đề đặt ra đối với Ban lãnh đạoCông ty là cần phải làm gì để giải quyết được những vấn đề trên nhằm đưa doanhnghiệp thắng trong cạnh tranh, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay
Trang 2Đứng trước những thách thức đó, sau một quá trình thực tập tại Công tyTNHH Một thành viên xây dựng công trình giao thông 892- thuộc tổng công tyxây dựng công trình giao thông 8 - Bộ Giao Thông Vận tải, cùng với sự hướng dẫncủa thầy giáo Nguyễn Mạnh Hùng, các cô, chú và các anh, chị trong công ty nên
Với bố cục của bài báo cáo được chia thành 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh
nghiệp hiện nay
Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Một thành
viên xây dựng công trình giao thông 892 thuộc tổng công ty công trình giao thông
8 - Bộ GTVT
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công
ty công ty TNHH Một thành viên xây dựng công trình giao thông 892 thuộc Tổngcông ty công trình giao thông 8 – Bộ GTVT
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Mạnh Hùng đã giúp đỡ vàhướng dẫn em tận tình trong thời gian thực tập và hoàn thành bài báo cáo thực tậpnày
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cùng các cô, chú và cácanh, chị công tác tại công ty TNHH Một thành viên xây dựng công trình giao thông
892, đặc biệt là các cô, chú và các anh, chị phòng tài chính - kế toán của công ty đãtạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thiện bài viếtnày
Trang 3CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 - Vốn là gì?
Theo sự phát triển của lịch sử, các quan điểm về vốn xuất hiện và ngàycàng hoàn thiện, tiêu biểu có các cách hiểu về vốn như sau của một số nhà kinh
tế học thuộc các trường phái kinh tế khác nhau
Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật Họ chorằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinhdoanh Cách hiểu này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế còn sơ khai – giaiđoạn kinh tế học mới xuất hiện và bắt đầu phát triển
Theo một số nhà tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người có cổphần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứngkhoán của công ty Như vậy, các nhà tài chính đã chú ý đến mặt tài chính củavốn, làm rõ được nguồn vốn cơ bản của doanh nghiệp đồng thời cho các nhà đầu
tư thấy được lợi ích của việc đầu tư, khuyến khích họ tăng cường đầu tư vào mởrộng và phát triển sản xuất
Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh
tế học”: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sảnxuất kinh doanh tiếp theo Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính Vốnhiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác.Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Đất đai không được coi là vốn
Một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tốkinh tế được bố trí để sản xuáat hàng hoá, dịch vụ như tài sản tài chính mà còn
Trang 4cả các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được , trình độquản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ côngnhân viên trong doanh nghiệp, uy tín, lợi thế của doanh nghiệp.
Một số quan điểm khác lại cho rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư Nhưng theo khái niệm trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp củaTrường Đại học Kinh tế quốc dân thì khái niệm về vốn được chia thành haiphần: Tư bản (Capital) là giá trị mang lại giá trị thặng dư Vốn được quan tâmđến khía cạnh giá trị nào đó của nó mà thôi Bảng cân đối kế toán phản ánh tìnhhình tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm Vốn được nhà doanhnghiệp dùng để đầu tư vào tài sản của mình Nguồn vốn là những nguồn đượchuy động từ đâu Tài sản thể hiện quyết định đầu tư của nhà doanh nghiệp; Còn
về bảng cân đối phản ánh tổng dự trữ của bản thân doanh nghiệp dẫn đến doanhnghiệp có dự trữ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ rồi sản xuất và chuyển hoá,dịch vụ đó thàng sản phẩm cuối cùng cho đến khi dự trữ hàng hoá hoặc tiền thayđổi đó sẽ có một dòng tiền hay hàng hoá đi ra đó là hiện tượng xuất quỹ, còn khixuất hàng hoá ra thì doanh nghiệp sẽ thu về dòng tiền (phản ánh nhập quỹ vàbiểu hiện cân đối của doanh nghiệp là ngân quỹ làm cân đối dòng tiền trongdoanh nghiệp)
Một số quan niệm về vốn ở trên tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứukhác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau Vì vây, để đáp ứng đầy đủyêu cầu về hạch toán và quản lý vốn trong cơ chế thị trường hiện nay, có thểkhái quát vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài sản chínhđược các cá nhân, tổ chức bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đahoá lợi nhuận
1.1.2 - Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật
tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả lương nhân viên Đó là chi phí
Trang 5mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh Nhưng vấn đề đặt ra làchi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình sảnxuất sản phẩm của doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn một cách tối đa nhằm đạt mục tiêu kinh doanh lớn nhất Để quản lý vàkiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiếtkiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp Cần phải tiến hành phânloại vốn, phân loại vốn có tác dụng kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh nhữngloại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh Có nhiềucách phân loại vốn, tuỳ thuộc vào mỗi góc độ khác nhau ta có các cách phân loạivốn khác nhau
1.1.2.1 - Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển của vốn thì vốn của doanh nghiệp bao gồm hai loại là vốn lưu động và vốn cố định.
V ố n cố đ ị nh
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có
tư liệu lao động, đó chính là đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị… chúng giữvai trò là môi giới trong quá trình lao động
Trong nền sản xuất hàng hóa, việc mua sắm hay quản lý tư liệu lao độngphải sử dụng tiền tệ Chính vì lẽ đó, doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinhdoanh phải ứng trước một số tiền vốn nhất định về tư liệu lao động Số vốn nàyđược luân chuyển theo mức hao mòn dần của tư liệu lao động Khi tham gia vàoquá trình sản xuất, tư liệu lao động vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu vàtham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, trong thời gian sử dụng chúng bịhao mòn dần Vì vậy, giá trị của tư liệu lao động phụ thuộc vào mức độ hao mònvật chất được chuyển dịch dần từng bộ phận vào sản phẩm mới Bộ phận giá trịchuyển dịch của tư liệu lao động hợp thành một yếu tố chi phí sản xuất của doanhnghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được thực hiện Vì có đặc điểm trongquá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động không thay đổi, còn
Trang 6giá trị thì luân chuyển dần, cho nên bộ phận vốn ứng trước này là vốn cố định.
Từ những nhận định đã nêu ta thấy:
Vốn cố định của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về những tư liệulao động chủ yếu mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng bộphận giá trị vào sản phẩm mới cho đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sửdụng thì vốn cố định mới hoàn thành một lần luân chuyển (hoặc hoànthành một vòng tuần hoàn)
Vốn cố định phản ánh bằng tiền bộ phận tư liệu lao động chủ yếu củadoanh nghiệp Tư liệu lao động lại là cơ sở vật chất của nền sản xuất xãhội Chính vì thế, vốn cố định có tác dụng rất lớn đối với việc phát triểnnền sản xuất xã hội
Tài sản cố định và vốn cố định của doanh nghiệp có sự khác nhau ở chổ: khibắt đầu hoạt động, doanh nghiệp có vốn cố định giá trị bằng giá trị tài sản cốđịnh Về sau, giá trị của vốn cố định thấp hơn giá trị nguyên thủy của tài sản cốđịnh do khoản khấu hao đã trích
Trong quá trình luân chuyển, hình thái hiện vật của vốn cố định vẫn giữnguyên (đối với tài sản cố định hữu hình), nhưng hình thái giá trị của nó lại thôngqua hình thức khấu hao chuyển dần từng bộ phận thành quỹ khấu hao Do đó,trong công tác quản lý vốn cố định phải đảm bảo hai yêu cầu: một là bảo đảmcho tài sản cố định của doanh nghiệp được toàn vẹn và nâng cao hiệu quả sửdụng của nó; hai là phải tính chính xác số trích lập quỹ khấu hao, đồng thời phân
bổ và sử dụng quỹ này để bù đắp giá trị hao mòn, thực hiện tái sản xuất tài sản cốđịnh
Sau khi đã ứng trước một số vốn cho tư liệu lao động, để tiến hành sản xuấtkinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đối tượng lao động và sức lao động Đâychính là vốn lưu động tại doanh nghiệp
V ố n lưu động
Trang 7Vốn lưu động là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương.Trong thực tế vận động, chúng thể hiện thông qua hình thái tồn tại như nguyênvật liệu ở khâu dự trữ sản xuất, sản phẩm đang chế tạo ở khâu trực tiếp sản xuất,thành phẩm, hàng hóa, tiền tệ ở khâu lưu thông
Đối tượng lao động ở doanh nghiệp biểu hiện thành hai bộ phận: một bộphận là vật tư dự trữ để chuẩn bị sản xuất, một bộ phận là những vật tư đangtrong quá trình chế biến (sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế) Hìnhthái hiện vật của hai bộ phận này là tài sản lưu động Tài sản lưu động phục vụTrong hoạt động kinh doanh, không phải lúc nào sản phẩm sản xuất ra đượctiêu thụ ngay Thực tế cho thấy, sau khi sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp phảichọn lọc, đóng gói, tích lũy thành lô hàng, thanh toán với khách hàng… nên hìnhthành một số khoản vật tư và tiền tệ (thành phẩm, vốn bằng tiền, khoản phảitrả…) Những khoản vật tư và tiền tệ phát sinh trong quá trình lưu thông gọi làtài sản lưu thông
Do tính chất liên tục của hoạt động kinh doanh, mọi doanh nghiệp phải cómột số vốn thỏa đáng để mua sắm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông.Trong nền kinh tế hàng hóa, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông đượcbiểu hiện dưới hình thái tiền tệ Số vốn ứng trước cho những tài sản này gọi làvốn lưu động của doanh nghiệp
Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về đối tượng laođộng và tiền lương tồn tại dưới các hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩmđang chế tạo, thành phẩm, hàng hóa và tiền tệ hoặc đó là số vốn ứng trước về tàisản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông ứng ra bằng số vốn lưu động nhằmđảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện thường xuyên liên tục Vốnluân chuyển giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng tuần hoànsau một chu kỳ sản xuất
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản
Trang 8xuất kinh doanh Do đặc điểm tuần hoàn của vốn lưu động trong cùng một lúc nóphân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khácnhau Để tổ chức hợp lý sự tuần hoàn của các tài sản ở doanh nghiệp, để quátrình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tưvào các hình thái khác nhau như đã nêu làm cho các hình thái này có mức tồn tạihợp lý và đồng bộ.
Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và kiểm tra quá trình vận động củavật tư Trong doanh nghiệp, sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật
tư Vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư hàng hóa dự trữ ở cáckhâu nhiều hay ít Mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm phảnánh số lượng vật tư sử dụng có tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sảnxuất và lưu thông có hợp lý hay không Vì thế, thông qua tình hình luân chuyểnvốn lưu động còn có thể kiểm tra một cách toàn diện việc cung cấp, sản xuất vàtiêu thụ của doanh nghiệp
Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của tài sản quốc gia Tại doanhnghiệp, tổng số vốn lưu động và tính chất sử dụng của nó có quan hệ chặt chẽ vớinhững chỉ tiêu công tác cơ bản của doanh nghiệp Doanh nghiệp đảm bảo đầy đủ,kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất, ra sức tiết kiệm vốn, phân bổ vốn hợp lý trêncác giai đoạn luân chuyển, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thì với số vốn ítnhất có thể đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất, tiêuthụ sản phẩm là điều kiện để thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách, trả nợ vay,thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.1.2.2 - Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này, vốn của doanh nghiệp bao gồm: Nợ phải trả và vốnchủ sở hữu
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài số vốn tự có và coi như tự có thìdoanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản vốn khá lớn đi vay của ngân hàng Bên
Trang 9cạnh đó còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, kháchhàng và bạn hàng Tất cả các yếu tố này hình thành nên khoản nợ phải trả củadoanh nghiệp Vậy
Nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh
nghiệp có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng, nợvay của các chủ thể kinh tế, nợ vay của cá nhân, phải trả cho người bán, phải nộpngân sách
Vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các
thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần Có banguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là:
- Vốn kinh doanh: Gồm vốn góp (Nhà nước, các bên tham gia liên doanh, cổđông, các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chưa phân phối của kết quả sản xuất kinhdoanh
- Chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là tài sản cố định): Khi nhà nướccho phép hoặc các thành viên quyết định
- Các quỹ của doanh nghiệp: Hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh như:quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi
Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư XDCB vàkinh phí sự nghiệp (khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, phát không hoàn lạisao cho doanh nghiệp chi tiêu cho mục đích kinh tế lâu dài, cơ bản, mục đích chínhtrị xã hội )
1.1.2.3 - Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguốn vốn của doanh nghiệp bao gồm:
Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài
trợ cho toàn bộ tài sản cố định của mình Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu
và nợ dài hạn của doanh nghiệp Trong đó:
Trang 10- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc phải trả sau một kỳkinh doanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay.
Nguồn vốn tạm thời: Đây là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lưu động
tạm thời của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng,người mua vừa trả tiền
Trang 11Như vậy, ta có:
TS = TSLĐ + TSCĐ
= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
= Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên
Việc phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp thấy được yếu tố thời gian
về vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản của mình mộtcách thích hợp, tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản
cố định
1.1.3 Vai trò của vốn.
Vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong mỗi doanh nghiệp Nó là cơ sở,
là tiền đề cho một doanh nghiệp bắt đầu khởi sự kinh doanh Muốn đăng ký kinhdoanh, theo quy định của nhà nước, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải có đủ sốvốn pháp định theo từng ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây không chỉgồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, mà nó còn là các tài sản thuộc sở hữu của cácchủ doanh nghiệp) Rồi để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phảithuê nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, thuê laođộng tất cả những điều kiện cần có để một doanh nghiệp có thể tiến hành vàduy trì những hoạt động cuả mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra
Không chỉ có vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất cả về chiều rộng vàchiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng caochất lượng sản phẩm, tăng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động cũngnhư tổ chức bộ máy quản lý đầy đủ các chức năng Từ đó nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, thiếu vốn để phát triển sảnxuất kinh doanh đang là vấn đề bức xúc của các doanh nghiệp Không chỉ ở cấp
Trang 12vi mô, nhà nước ta đang rất thiếu các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.Tiến tới hội nhập kinh tế, xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước trong khuvực Đông Nam Á là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong nướctrước sự vượt trội về vốn, công nghệ của các nước khác trong khu vực Điều đócàng đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tìm cách huy động và sử dụng vốnsao cho tiết kiệm và có hiệu quả nhất.
1.1.4 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được thể hiện trên bảng cân đối kế toán, ở
đó nó mô tả sức mạnh tài chính của doanh nghiệp: những thứ doanh nghiệp hiện
có và các thứ doanh nghiệp còn nợ tại một thời điểm
Dựa vào bảng cân đối kế toán, cụ thể bên phần nguồn vốn sẽ cho ta thấy được cấu trúc vốn của doanh nghiệp: doanh nghiệp đã sử dụng vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vốn vay bao nhiêu và những nguồn vốn được tài trợ từ các lĩnh vực khác bao nhiêu
1.1.4 Vấn đề bảo toàn vốn kinh doanh
Bước vào lĩnh vực kinh doanh là để kiếm lời, phần thu về trước hết phải bù đắp phần vốn đã bỏ ra Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp bảo toàn đượcvốn, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt Biểu hiện trênthực tế là quy mô của doanh nghiệp được mở rộng, đời sống nhân viên được cải thiện, mối quan hệ với khách hàng ngày càng tốt đẹp, hoàn thành tốt nghĩa vụ đốivới Nhà nước
Thông qua những biểu hiện nêu trên, cho thấy doanh nghiệp đang thịnh
vượng, đang trên đà phát triển rất tốt Một lần nữa có thể khẳng định rằng, vấn đềbảo toàn vốn là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Tóm lại, phần phân tích trên đã cho thấy khái quát các vấn đề về cơ cấu vốn
Trang 13ở doanh nghiệp Phần tiếp theo chúng ta tiến hành nghiên cứu tình hình tài chính tại doanh nghiệp.
1.2 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.2.1- Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1.1- Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình SXKD với tổng chi phí thấp nhất Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nền sản xuất nào nói chung và mối quan tâm của
DN nói riêng, đặc biệt nó đang là vấn đề cấp bách mang tính thời sự đối với các
DN nhà nước Việt nam hiện nay.Sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệpSXKD nào cũng có thể hiển thị bằng hàm số thể hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với vốn và lao động
Q = f (K, L) trong đó:
K: là vốn
L: là lao động
Vì vậy, kết quả SXKD của các DN có quan hệ hàm với các yếu tố tài
nguyên, vốn, công nghệ Xét trong tầm vi mô, với một DN trong ngắn hạn thì các nguồn lực đầu vào này bị giới hạn Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm biện pháp nhằm khai thác và sử dụng vốn, sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có của mình, trên cơ sở đó so sánh và lựa chọn phương án SXKD tốt nhất cho doanh nghiệp mình
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: Là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất
Trang 14Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu
tố của quá trình SXKD (ĐTLĐ, TLLĐ) cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả
Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh thì doanh nghiệp phải giải quyết được các vấn đề như: đảm bảo tiết kiệm, huy động thêm để mở rộng hoạt động SXKD của mình và DN phải đạt được các mục tiêu đề ra trong qúa trình sử dụng vốn của mình
1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp Việt nam hiện nay
Trong quá trình kinh doanh, một doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm và dịch
vụ có sức tiêu thụ lớn, thị trường ngày càng ổn định và mở rộng, nhu cầu của kháchhàng ngày càng lớn thì đương nhiên là cần nhiều tiền vốn để phát trtiển kinh doanh
Do đó, nếu công tác quản trị và điều hành không tốt thì hoặc là phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn hoặc là không biết xoay xở ra sao, có khi bị “kẹt” vốn nặng và
có khi đưa doanh nghiệp đến chỗ phá sản vì tưởng rằng doanh nghiệp quá thành đạt Để đánh giá chính xác hơn hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, ta có thể dựa vào các nhóm chỉ tiêu đo lường sau đây:
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Nó thể hiện mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh trong kỳ và số vốn kinh doanh bình quân Ta có thể sử dụng các chỉ tiêusau:
Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp.
Hv =
V D
Trong đó:
Hv - Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp
D - Doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ
Trang 15V - Toàn bộ vốn sử dụng bình quân trong kỳ.
Vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động, do đó ta có các chỉ tiêu cụ thể sau:
Hiệu quả sử dụng vốn cố định
HVCĐ =
cd V D
Trong đó: HVCĐ : Hiệu quả sử dụng VCĐ
VLĐTrong đó: HVLĐ: Hiệu quả sử dụng VLĐ
VLĐ : Vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cho biết: Một đồng vốn của doanh nghiệp
sử dụng bình quân trong kỳ làm ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớnchứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao, đồng thời chỉ tiêu này còn cho biết doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì phải quản lý chặt chẽ và tiết kiệm về nguồn vốn hiện có của mình
1.2.2.2 - Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, để phản ánh chính xác hơn ta cần xem xét đến cả số tuyệt đối và số tương đối thông qua việc so sánh giữa tổng số vốn bỏ ra với số lợi nhuận thu được trong kỳ
Các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ vốn kinh doanh.
Trang 16TLN Vkd - Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn kinh doanh.
LNST - Tổng lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Vkd - Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:
Trong đó: VLĐ : Tổng vốn lưu động bình quân trong kỳ
TLNVLĐ: Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định, TLNVCĐ.
Trong đó: VCĐ - Tổng vốn cố địng bình quân trong kỳ
Các chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.2.3 - Một số chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.3.1 - Tốc độ luân chuyển VLĐ
Là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng vốn của DN Nó bao gồm các chỉ tiêu sau:
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ:
Là số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ, nó đươc xác định như sau:
C =
ld
V D
Trong đó: C - Số vòng quay vốn lưu động
Trang 17D - Doanh thu thuần trong kỳ.
Vlđ - Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Vốn lưu động bình quân tháng, quý, năm được tính như sau:
Vốn LĐBQ tháng = (VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng)/2
Vốn LĐBQ quý, năm = (VLĐ1/2 + VLĐ2 + +VLĐn-1+ VLĐn/2)/(n-1)
Trong đó: VLĐ1, VLĐn - Vốn lưu động hiện có vào đầu tháng
Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ VLĐ của doanh nghiệp luân chuyển càng nhanh, hoạt động tài chính càng tốt, doanh nghiệp cần ít vốn mà tỷ suất LN lại cao
Số ngày luân chuyển:
Là số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động
Trong đó: N - Số ngày luân chuyển của một vòng quay vốn lưu động
Trong đó: M-+ - Mức tiết kiệm hay lãng phí VLĐ
VLĐ1 - Vốn lưu động bình quân kỳ này
D1 - Doanh thu thuần bình quân kỳ này
C0 - Số vòng quay vốn lưu động kỳ trước
Trang 181.2.3.2 - Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
Phân tích tình hình thanh toán: Chính là xem xét mức độ biến thiên của
các khoản phải thu, phải trả để từ đó tìm ra nguyên nhân của các khoản nợ đến hạn chưa đòi được hoặc nguyên nhân của việc tăng các khoản nợ đến hạn chưa đòi được
Phân tích khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán của DN phản ánh
mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu sau:
*Hệ số thanh toán ngắn hạn =
TSLĐ
Nợ ngắn hạn
* Hệ số thanh toán tức thời = Vốn bằng tiềnNợ đến hạn
* Hệ số thanh toán nhanh =
Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu
Trang 191.2.4 - Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp thì chúng ta cần phải xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến nó
1.2.4.1- Cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn là thuật ngữ dùng để chỉ một doanh nhiệp sử dụng các nguồn vốn khác nhau với một tỷ lệ nào đó của mỗi nguồn để tài trợ cho tổng tài sản của nó
Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có cơ cấu vốn khác nhau, do đó chi phí vốn sẽ khác nhau Cơ cấu vốn có liên quan đến việc tính chi phí vốn Để
sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động thì ban quản lý phải tìm ra một cơ cấu vốn phù hợp với tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp
1.2.4.2 - Chi phí vốn
Cũng như các yếu tố đầu vào khác, muốn có vốn để sử dụng thì chúng ta phải trả chi phí Như vậy, ta có thể hiểu một cách khái quát về chi phí vốn như sau:
Chi phí vốn tức là chi phí phải trả cho việc huy động và sử dụng vốn
Nó được đo bằng tỷ suất doanh lợi mà doanh nghiệp cần phải đạt được trên nguồn vốn huy động để giữ không làm thay đổi tỷ lệ sinh lời cần thiết dành cho cổ đông cổ phiếu thường hay vốn tự có của doanh nghiệp
Nguồn vốn huy động cho các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chi phí vốn khác nhau Đối với các doanh nghiệp, nguồn vốn được huy động bởicác nguồn sau:
- Vốn do Nhà nước cấp
- Vốn vay Ngân hàng
- Lợi nhuận giữ lại
Trang 20- Vốn vay của đơn vị khác.
- Vốn liên doanh - liên kết
1.2.4.3 - Thị trường của doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong điều kiện hiện nay cũng đều chịu tác động của thị trường Nếu hoạt động của doanh nghiệp mà không được thị trường chấp nhận thì doanh nghiệp đó coi như không tồn tại Vậy nhân tố nào đảm bảo cho doanh nghiệp được xã hội công nhận Có rất nhiều yếu tố nhưng yếu tố không thể thiếu được phải kể đến là vốn của doanh nghiệp
Doanh nghiệp mạnh hay yếu, có khả năng cạnh tranh được với cácloại hình doanh nghiệp khác hay không thì phần lớn là bắt đầu từ nguồn vốn
mà ra Vốn giúp cho doanh nghiệp bước vào hoạt động, thì song song với
nó là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp - đó là thị trường Thịtrường tác động đến cả “đầu ra” và “đầu vào” của doanh nghiệp Nếu thịtrường ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và cónhiều cơ hội hội nhập vào xu thế toàn cầu hoá Ngược lại nếu thị trườngbiến động thường xuyên liên tục sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp như: sựbiến động về giá cả, sự tiêu thụ hàng hoá, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng, sởthích của các tác nhân thị trường cuối cùng là tác động đến chi phí củadoanh nghiệp, mà hiệu quả sử dụng vốn là yếu tố được xem xét và quantâm hàng đầu đối với nhà quản lý
Mặt khác, thị trường còn đóng vai trò là nơi tái tạo nguồn vốn đểdoanh nghiệp thực hiện tái sản xuất kinh doanh mở rộng trên cơ sở đẩymạnh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.4.4 - Nguồn vốn
Nói đến hoạt động của doanh nghiệp ta nghĩ ngay đến vấn đề vốnnhiều hay ít sẽ tạo ra mức doanh thu lớn hay nhỏ Như vậy, với một mức
Trang 21doanh thu nào đó, đòi hỏi phải có sự cân bằng tương ứng với một lượngvốn.
Tuy nhiên, mối quan hệ đó không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận vớinhau, điều đó còn phụ thuộc vào hiệu quả quản lý, sử dụng vốn kinh doanh.Mỗi doanh nghiệp có một đặc điểm khác nhau, nhưng tóm lại nó thườngbao gồm các khoản vốn sau: Vốn vay Ngân hàng và các tổ chức tín dụng,vốn chủ sở hữu, vốn ngân sách cấp, vốn liên doanh - liên kết và nhiềunguồn vốn khác Như vậy, vốn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốnnhư thế nào?
♦ Đối với nguồn vốn vay Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
Để có được nguồn vốn sử dụng thì doanh nghiệp phải bỏ chi phí ratrả cho việc sử dụng nó Tỷ lệ này thường xuyên thay đổi tuỳ thuộc vàotrạng thái của nền kinh tế và số lượng vốn vay của doanh nghiệp Mặt khác,doanh nghiệp không thể vay bao nhiêu tuỳ thích, mà nó phụ thuộc vào hạnmức tín dụng Nếu vượt quá hạn mức thì Ngân hàng sẽ không cho vay nữa.Trước khi tiến hành huy động vốn thì doanh nghiệp phải tính đến yếu tố chiphí mà mình phải bỏ ra để trả cho việc huy động đó Chi phí này lại nằmtrong công tác về sử dụng vốn
♦ Đối với nguồn vốn chủ sở hữu :
Như đã nêu ở trên, DNNN phải làm ăn có hiệu quả, bảo toàn và pháttriển vốn thì Nhà nước mới cấp phát vốn cho doanh nghiệp Còn đối vớicông ty cổ phần thì đảm bảo được tỷ suất doanh lợi cao hơn tỷ lệ lợi tức yêucầu của các nhà đầu tư Để có được những nguồn vốn đó, đòi hỏi doanhnghiệp phải đạt được mục tiêu kinh doanh của mình Để đạt được mục tiêukinh doanh thì doanh nghiệp phải đạt được hiệu quả sử dụng vốn
♦ Các nguồn vốn khác.
Trang 22Các nguồn vốn khác bao gồm: Vốn chiếm dụng của cá nhân, đơn vịkhác trong và ngoài doanh nghiệp, vốn liên doanh - liên kết, vốn FDI, ODA Khi lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn của mình, các doanh nghiệpphải cân nhắc, so sánh lợi nhuận đem lại và chi phí bỏ ra để có đượcchúng, từ đó xác định cho mình một cơ cấu vốn tối ưu với chi phí thấp nhất.Nếu chi phí vốn cao sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm hiệuquả sử dụng vốn.
1.2.4.5 - Rủi ro kinh doanh
- Là rủi ro cố hữu trong tài sản của doanh nghiệp, trong trường hợpdoanh nghiệp không sử dụng nợ vay Rủi ro kinh doanh càng lớn thì tỷ lệ nợtối ưu càng thấp
Khi các rủi ro xảy ra dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị mất uy tín,mất bạn hàng cuối cùng là thất bại trong kinh doanh, hiệu quả sử dụngvốn kém
Muốn thành công trong kinh doanh các doanh nghiệp phải biết chấpnhận rủi ro, phải biết đúng hướng đầu tư, xem rủi ro nào có thể chấp nhậnđược, rủi ro nào không thể chấp nhận được
1.2.4.6 - Các nhân tố khác
♦ Nhân tố con người:
Là yếu tố quyết định nhất trong việc đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quảtrong doanh nghiệp Một doanh nghiệp có trong tay một đội ngũ cán bộ côngnhân có năng lực, trình độ cao giàu kinh nghiệm làm việc, khả năng tiếpthu nhanh những công nghệ hiện đại, có tính sáng tạo sẽ đem lại hiệu quảkinh doanh cho không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Vìvới đội ngũ này, doanh nghiệp sẽ xây dựng cho mình một phương án kinhdoanh tốt nhất, biết tận dụng triệt để nguồn lực sẵn có, xây dựng mối quan
hệ tốt với khách hàng, bạn hàng tạo được một ê kíp làm việc từ trên xuống
Trang 23dưới đoàn kết, ăn ý và có hiệu quả Ngoài ra, trình độ quản lý về mặt tài chínhhết sức quan trọng, quy trình hạch toán của doanh nghiệp có phù hợp, số liệu
kế toán có chính xác thì quyết định tài chính của của người lãnh đạo củadoanh nghiệp mới có cơ sở khoa học Việc thu chi phải rõ ràng, đúng tiến
độ, kịp thời, tiết kiệm mới nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn cho doanhnghiệp Việc quản lý hàng tồn kho, quản lý khâu sản xuất, tiêu thụ cũnghết sức quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DN
♦ Cơ chế quản lý và các chính sách của Đảng, Nhà nước.
Đây là một trong những nhân tố khách quan tác động đến hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước tạo hành lang pháp lý, môi trườngkinh doanh cho doanh nghiệp hoạt động, do đó doanh nghiệp phải chấphành những chế độ, quy định của Nhà nước Bất kỳ sự thay đổi nào trong
cơ chế quản lý của Nhà nước đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn ngày 1/1/1999 Nhà nướcban hành và áp dụng luật thuế giá trị gia tăng đã ảnh hưởng rất lớn đến kếtquả kinh doanh của các doanh nghiệp
Một cơ chế quản lý ổn định, thích hợp với các loại hình doanh nghiệp
sẽ là điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, giúp cho họ yên tâmkhi tiến hành sản xuất kinh doanh, dồn hết năng lực sẵn có của mình vàokinh doanh mà không sợ sự biến động của thị trường
Ngoài những yếu tố kể trên thì hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp còn chịu ảnh hưởng của nhân tố khác như: Mối quan hệ của doanhnghiệp với các bạn hàng, môi trường cạnh tranh, sản phẩm của doanhnghiệp
Trang 24THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XDCTGT 892
2.1- GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XDCTGT 892
2.1.1- Đặc điểm quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Xây dựng công trình giao thông 892 được thành lập ngày 24 tháng 5năm 2000 theo giấy phép kinh doanh số 1131153 do Sở Kế hoạch đầu tư Thànhphố Hà Nội cấp
Từ ngày 01/01/2006 theo luật Doanh nghiệp Nhà Nước hết hạn thì Công tyXDCTGT 892 đã chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên XDCTGT 892.Hoạt động theo luật Doanh nghiệp, trực thuộc Tổng công ty XDCTGT 8 của Bộgiao thông vận tải theo hình thức công ty mẹ, công ty con Công ty TNHH mộtthành viên XDCTGT 892, 100% vốn Nhà Nước
Tổng số vốn khi thành lập là : 3.420 triệu đồngVốn kinh doanh bổ sung : 7.840 triệu đồngTrực thuộc: Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 (CIENCO 8)
Địa chỉ trụ sở chính: Số 268 đường Khương Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.Điện thoại: 043.858.1287
Fax: 84 – 4 – 8.581.287
Mã số thuế: 0100863673
Tài khoản: 7301-0034C ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng Long Hà Nội
Ngành nghề kinh doanh: Xây dựng – Thầu tổng hợp
Công ty XDCTGT 892 trực thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giaothông 8 – Bộ Giao thông Vận tải là doanh nghiệp Nhà Nước chuyên ngành xâydựng các công trình giao thông đường bộ
Trang 25Công ty được thành lập năm 1976, trên cơ sở đội sửa chữa và đảm bảo giaothông trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại địa bàn tỉnh Sơn La Năm
1973, nhiệm vụ chủ yếu của công ty trong thời kỳ này là đại tu và sửa chữa cáctuyến đường quốc lộ bị chiến tranh phá hoại tại khu vực phía Bắc Lực lượng laođộng của công ty thời kỳ này khoảng 130 người chủ yếu là lực lượng thanh niênxung phong tại các chiến trường chuyển sang, trình độ tay nghề thấp Số cán bộlàm công tác quản lý và chuyên môn có trình độ đại học và trung cấp ít (đại học là
2 người và trung cấp là 7 người)
Năm 1976, nhiệm vụ chính trong thời kỳ này là đại tu và sửa chữa lớn cáctuyến đường phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh
Cũng trong thời kỳ này Công ty được Nhà Nước giao cho nhiệm vụ thicông công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính vì thế Công ty đã được cấptrên tăng cường thêm nhiều xe, máy móc, thiết bị phục vụ thi công nền, mặtđường như: trạm trộn bê tông nhựa 25 tấn/h, máy rải bê tông nhựa… Lựclượng lao động cũng được tăng cường từ các trường Đại học, dạy nghề Thời
kỳ này số lao động của công ty có tay nghề bậc 4 -5 hơn 30 người và trở thànhmột trong những công ty mạnh của ngành
Năm 1986, thực hiện đường lối của Đảng giao quyền tự chủ sản xuất kinhdoanh cho các đơn vị sản xuất Đây là giai đoạn công ty gặp nhiều khó khăn dochuyển đổi cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, hạch toán kinh doanhbước đầu còn bỡ ngỡ, lúng túng, tư tưởng trông chờ, ỷ lại của thời kỳ bao cấp cònkhá nặng nề, lực lượng lao động đông nhưng trình độ tay nghề yếu, thu nhập thấp,đời sống của cán bộ công nhân viên gặp nhiều khó khăn
Để thoát khỏi tình trạng trên, Đảng ủy đã cùng Ban Giám đốc Công ty và cácđoàn thể tập trung bàn bạc tìm giải pháp tháo gỡ Với sự quyết tâm cao của lãnhđạo Công ty cùng với sự nhiệt tình hăng say lao động của tập thể cán bộ công nhânviên trong Công ty, đơn vị đã dần lấy lại được thăng bằng và đứng vững đi lên
Trang 26trong cơ chế thị trường, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, tìm kiếm việc làm và từngbước sắp xếp lại tổ chức từ các phòng ban đến các đơn vị sản xuất.
Công ty thực hiện việc đào tạo và đào tạo lại lực lượng cán bộ tham mưu nghiệp
vụ, tinh giảm biên chế, nâng cao hiệu quả công tác của từng cá nhân nhằm quản lý
và điều hành sản xuất tốt, CBNV sáng tạo và gắn bó với Công ty Đối với sản xuấtthì Công ty sắp xếp thành các đội, xí nghiệp, thành lập các đội sản xuất chuyênngành có đủ năng lực thi công các dự án lớn theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh
và có tính năng động cao, trong sản xuất thì đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thịtrường, chủ động hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Để sản xuất kinh doanh vàmọi hoạt động đi vào nề nếp, Công ty đã xây dựng một hệ thống quy chế quản lýsản xuất kinh doanh như: quản lý thiết bị vật tư, quản lý chất lượng công trình,quản lý giá thành, quản lý lao động tiền lương…
Do có biện pháp tích cực trong tổ chức quản lý và điều hành sản xuất nên đãgóp phần tích cực cho công ty ngày càng ổn định, phát triển
Công ty TNHH Một thành viên XDCTGT 892 tiền thân là trạm tiếp đón C30trực thuộc ban xây dựng 64 Thực hiện nhiệm vụ đón tiếp cán bộ công nhân viênthuộc các đơn vị thuộc ban xây dựng 64 làm nhiệm vụ Quốc tế tại nước Cộng hòadân chủ nhân dân Lào về nước nghỉ phép và công tác Tại quyết định số 672/QĐ –CB5 ngày 1/4/1983 của Bộ Giao thông Vận tải đổi tên thành Xí nghiệp phục vụ đờisống 8 trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông 8 Thực hiện nhiệm
vụ đưa cán bộ công nhân viên trong liên hiệp làm việc tại Nước Cộng hòa dân chủnhân dân Lào và cung ứng toàn bộ lương thực, thực phẩm và các mặt hàng tiêudùng cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của Liên hiệp tại đây Do nhiệm vụ mởrộng địa bàn hoạt động để phù hợp với sự phát triển kinh tế cả nước nên Tổng công
ty xây dựng công trình giao thông 8 đã chuyển phần lớn các đơn vị thành viên vềnước Vì vậy, chức năng, nhiệm vụ của xí nghiệp cũng được chuyển sang xây dựng
cơ bản Giao thông vận tải theo quyết định số 69/QĐ – TTCB – LĐ ngày 9/1/1992,
Trang 27đổi tên xí nghiệp sản xuất và dịch vụ 8 thành Công ty xây dựng và sản xuất dịchvụ.
Trải qua các thời kỳ kiện toàn bộ máy và thay đổi tổ chức, sau này công ty đượcđổi tên thành Công ty xây dựng công trình giao thông 892 theo quyết định số 1036/QĐ/TCCB - LĐ ngày 27/05/1993 của Bộ Giao thông Vận tải và quyết định số1440/QĐ – UB ngày 05/04/2000 về việc cho phép đặt trụ sở chính tại Hà Nội.Công
ty xây dựng công trình giao thông là một đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toánđộc lập có tài khoản tiền việt và tài khoản ngoại tệ gửi tại ngân hàng
*) Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Công ty trưởng thành và phát triển trong điều kiện nền kinh tế nước ta gặprất nhiều khó khăn nguồn tài trợ của Nhà Nước
Hiện nay Công ty đang gặp nhiều khó khăn về vốn đầu tư thi công do một sốcông trình đã thi công xong nhưng chủ đầu tư thanh toán chậm, thời gian chậmthanh toán kéo dài, một số công trình thi công chậm do chủ đầu tư không giảiphóng được mặt bằng Nhưng với sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp Tổng công tyXDCTGT 8, Công ty có đội ngũ CBCNV có trình độ khoa học chuyên môn nghiệp
vụ được đào tạo theo đúng ngành nghề kinh doanh có kinh nghiệm trong quản lýsản xuất kinh doanh, đội ngũ công nhân có tay nghề cao
2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
Khi một công trình đầu tư ta phải tiến hành các hoạt động cơ bản trong đó thứ tự vànội dung các công việc cùng trách nhiệm và mối quan hệ các bên hữu quan trọng
để thực hiện công việc đó và được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Trang 28
Hình 01: Cơ chế tiến hành xây dựng công trình giao thông
Để tổ chức sản xuấn tốt , công ty chia các bộ phận 1 xí nghiệp XDGT 2 , 5 đội XD ( số 6,8,11,18,201 ) , dự án Sài Gòn Trung Lương , công Trường , Vành Đai , tổ sửa chữa máy thiết bị những quy trình các đội giống nhau chỉ khác công trình khác công trình ở các bộ phận được đảm nhận nhiệm vụ công trình đó lớn hay bé
Dù công trình lớn hay bé khi được nhận thầu và đã đầy đủ hợp pháp hóa của nhà nước Tiếp theo giai đoạn thực hiện công trình:
Thực hiện đầu tư
Kết thúc xây dựng bàn giao công trình
+ Các công trình cụ thể +Các kết quả KT-XH đạt được do xây dựng công trình.
Trang 29Thực hiện đầu tư
Tổ chức quan lý vật tư kỹ thuật
Khảo sát thiết kế kỹ thuật Dự toán trong CT
Thiết kế CT
Giá dự toán công trình
Thi công công trình
Trang 302.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
PHã GI¸M §èC Phụ trách đội sản xuất số 11
PHÒNG KINH TẾ
- KẾ HOẠCH
Tổng số: 6 người
PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN
Tổng số: 6 người
PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ - LAO ĐỘNG
Trang 31Bộ phận hành chính của công ty có chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện trong các lĩnh vực: quản lý văn phòng, giao dịch với khách hàng đến làm việc, nội quy cơ quan, giữ gìn trật tự, an ninh trong cơ quan trong khi làm việc và phục vụ ăn
ở sinh hoạt tại cơ quan
Bộ phận tổ chức cán bộ lao động
Bộ phận tổ chức cán bộ lao động có chức năng tham mưu và tổ chức thực hiệncông tác tổ chức cán bộ, tổ chức lao động, tiền lương, tiền thưởng, chế độ chính sách, thanh tra pháp chế, thi đua khen thưởng, kỷ luật và một số vấn để khác liên quan đến người lao động
Trang 32d) Phòng tài chính – kế toán
Phòng Tài Chính kế toán gồm có 7 người: một kế toán trưởng, 1 kế toán tiền mặtkiêm giao dịch với ngân hàng; 1 kế toán tiền lương, BHXH, tạm ứng; 1 kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ; 1 kế toán tài sản cố định, kiêm thủ quỹ; 1 kế toántổng hợp; 1 kế toán thống kê tại các đội xây dựng công trình
* Chức năng:
Phòng tài chính - kế toán là tổ chức thuộc bộ máy quản lý của Công ty, có chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện công tác tài chính kế toán theo pháp luật của Nhà nước và yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty nhằm khai thác, huy động, đáp ứng kịp thời và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất
2.2 – THỰC TRẠNG VỀ VỖN CỦA CÔNG TY TNHH XDCTGT 892 2.2.1 Khái quát chung về nguồn vốn của công ty
Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty từ năm 2009 đến năm 2011.
Đơn vị: Triệu đồng
(Nguồn BCĐKT của công ty các năm 2009 – 2011).
Trang 33Từ bảng trên ta thấy doanh thu năm 2011 tăng vọt so với năm 2009 Lợi
nhuận năm 2009 không có, trong khi đó năm 2011 lợi nhuận đạt những 8.988 triệu đồng Điều này, chứng tỏ công ty đang có chiều hướng phát triển lớn mạnh, điều đóđược thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: Doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế Qua xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của công ty năm 2011 cho thấy tổng số vốn đầu tư vào hoạt động SXKD là: 199.188.986.112 đồng (ở đầu năm 2011) đến cuối năm số vốn này tăng lên tới: 280.513.225.736 đồng
Trong đó, đầu năm: - Vốn lưu động chiếm: 162.346.791.900 đồng
Trang 34Từ bảng số liệu trên, ta có các chỉ tiêu năm 2011 của công ty là:
Biểu 2: Cơ cấu tài sản của công ty năm 2011 Đv : Tr đồng
Về cơ cấu tài sản: TSLĐ & ĐTNH là 162.348 trđ (81,5%) vào đầu năm
Đến cuối năm đã tăng lên là 240.364 trđ (85,69%), trong đó phần lớn là nằm ở nợ phải thu chiếm 39,79%, hàng tồn kho chiếm 31,49% tổng giá trị tài sản của công
=
=
Trang 35ty Tài sản là hiện vật (hàng tồn kho, TSCĐ, công trình XDCB dở dang) là 128.416trđ, chiếm 45,78%; tài sản còn lại là vốn bằng tiền, công nợ phải thu, đầu tư tài chính dài hạn chiếm 54,22% Những tỷ lệ này cho thấy việc đầu tư dài hạn vào cơ
sở vật chất kỹ thuật hình thành TSCĐ của DN còn thấp, công nghệ lạc hậu, nguồn vốn còn hạn chế Cụ thể một số nhóm tài sản như sau:
Về nợ phải thu: Tại thời điểm ngày 31/12/2011 là 111.624 trđ chiếm 39,79% tổng giá trị tài sản của DN Tình hình này cho thấy vốn của Công ty bị chiếm dụng lớn Hơn nữa, trong khi các vốn khác chiếm tỷ trọng thấp mà nợ phải thu lại có xu hướng tăng lên (đầu năm là 52.588 trđ, đến cuối năm là 111.624 trđ) với tỷ trọng tăng tương đối là 13,39% Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm tình hình, hiệu quả sử dụng vốn của công ty gây cho công ty khó khăn hơn trong hoạt động kinh doanh, làm giảm lợi nhuận của công ty Vì các khoản nợ phải thu này không sinh lời, làm giảm tốc độ quay vòng của vốn
Về hàng hoá tồn kho: Tại thời điểm ngày 31/12/2011 là 88.336 triệu đồng chiếm 31,49% tổng giá trị tài sản so với tổng giá trị TSLĐ thì hàng hoá tồn kho chiếm 36,75%, trong khi đó vốn bằng tiền 11.484 trđ chiếm 4,09%, nợ phải thu củacông ty 111.624 triệu đồng chiếm 39,79% Điều này cho thấy việc sử dụng vốn chưa hiệu quả, phần lớn vốn lưu động đọng ở khâu thanh toán, công nợ
Giá trị vật tư, hàng hoá tồn kho, ứ đọng không cần dùng, kém phẩm chất, chưa có biện pháp xử lý kịp thời nhất là vật tư ứ đọng từ những công trình rất lâu không còn phù hợp nữa Gánh nặng chi phí bảo quản, cất giữ tăng thêm làm cho tình hình tài chính của DN càng khó khăn
Về tài sản cố định: TSCĐ của công ty là 38.452 trđ chiếm 13,7% trong tổng tài sản, trong đó nguyên giá là 99.664 triệu đồng chiếm 35,53% giá trị còn lại
là 38.452 triệu đồng chiếm 38,58% ngyuên giá, tỷ lệ hao mòn là 61,42% So với thời điểm đầu năm 2011, nguyên giá là 86.612 triệu đồng chiếm 43,48%, nguyên giá TSCĐ tăng 13.052 triệu đồng, tài sản tăng thêm một phần bởi điều chỉnh giá,
Trang 36chủ yếu do DN đầu tư mới vào các trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho văn phòng, đội thi công
Giá trị còn lại của TSCĐ là 38,58% cho thấy tài sản của công ty cũ nhiều, mức độ đầu tư đổi mới TSCĐ trong các năm quá chậm
Biểu 3: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty năm 2011 Đv: Tr đ
Chỉ tiêu
Từ bảng biểu trên ta thấy tài sản của DN được hình thành từ hai nguồn là:
- Nguồn vốn vay và chiếm dụng
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Trong đó:
Trang 37Vốn vay và vốn chiếm dụng chiếm 95,63% vào đầu năm, đến cuối năm tăng
về lượng là 75.832 triệu đồng nhưng tỷ trọng lại giảm đi còn 94,94% Vốn chủ sởhữu chiếm một lượng rất nhỏ 5,06% Như vậy, DN có một đồng vốn thì phải vayhoặc chiếm dụng gần 19 đồng cho kinh doanh (94,94/5,06 = 19 lần) của mình
Tuy nhiên, số liệu này chỉ mới phản ánh tại thời điểm 31/12/2011, do vậy,chưa phản ánh hết tình hình huy động vốn của DN Tỷ trọng vốn vay của DN rấtlớn đòi hỏi DN phải đạt mức doanh lợi cao mới đủ trả lãi vay Ngân hàng
Về nguồn vốn CSH: Tổng nguồn vốn chủ sở hữu cuối năm là 14.200 triệu
đồng, trong đó đầu năm là 8712 triệu đồng, gấp 1,63 lần Đặc biệt là lợi nhuận chưaphân phối của DN đến cuối năm có phần khá hơn nhưng đó vẫn chỉ là con số âm.Nguồn vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá khả năng tự chủ về tài chính của DN.Một DN có mức vốn CSH cao sẽ chủ động về năng lực hoạt động của mình, không
bị phụ thuộc vào các đối tác bên ngoài Như vậy, nguồn vốn CSH của DN quá nhỏ(5,06%), chứng tỏ khả năng tự chủ về tài chính là quá thấp so với chỉ tiêu của toànngành
Về nợ phải trả: Tổng số nợ phải trả là 190.480 triệu đồng vào đầu năm,
cuối năm con số này tăng lên là 266.312 triệu đồng bằng 1,39 lần và tăng 2,39(798.936/334.872) lần nợ phải thu Khoản nợ phải trả này DN phải mất chi phí choviệc sử dụng nó là lãi suất trong khi đó các khoản phải thu thì DN lại không đượchưởng lãi Đây là điều không hợp lý trong sử dụng vốn của công ty Các khoảnphải trả tăng lên phần lớn là do sự tăng lên của các khoản phải thu, hàng tồn khocủa DN Cũng từ biểu 3 ta thấy, nếu xét về tỷ trọng thì tất cả các khoản phải trả baogồm: nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ khác đều, có xu hướng giảm đi, riêng nợ dài hạn
có xu hướng tăng lên Điều này chứng tỏ công ty đã chú ý đến đầu tư vào TSCĐnhằm đổi mới thiết bị công nghệ, sử dụng hợp lý hơn nguồn vốn vay của mình
Như vậy, qua phân tích về cơ cấu tài sản, nguồn vốn của công ty TNHH Mộtthành viên XDCTGT 892 năm 2011, ta thấy:
Trang 38- Tổng tài sản của công ty tăng 81.320 triệu đồng.
- Các loại tài sản khác đều có xu hướng tăng lên riêng vốn bằng tiền vàTSLĐ khác có xu hướng giảm
- Nợ phải trả và vốn CSH cũng tăng lần lượt là 75.832 triệu đồng và 5.488triệu đồng
Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng vốn của công ty còn nhiều hạn chế do nhiềunguyên nhân khác nhau Để hiểu chính xác hơn ta đi sâu vào nghiên cứu vốn cốđịnh và vốn lưu động của DN, từ đó giúp ta có được cái nhìn đầy dủ hơn về tìnhtrạng sử dụng vốn tại công ty TNHH Một thành viên XDCTGT 892
Trang 39Qua bảng biểu 4 ta thấy:
TSCĐHH của công ty chiếm phần lớn trong tổng TSCĐ và ĐTDH của DN TSCĐHH này bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, máy thi công công trình, máy vi tính, máy đóng cọc và nhiều máy móc phục vụ cho quá trình kinh doanh của công ty Với hoạt động chủ yếu là xây dựng các công trình, đường quốc lộ mà tỷ trọng TSCĐHH lại chiếm quá cao trong tổng số tài sản cố định của công ty Năm 2008 tỷ trọng này đạt 89,9%, năm 2009 đạt 89,2%, năm 2010 đạt 95,4%, đến năm 2011 tỷ trọng này đạt 95,8% Như vậy, tỷ trọng tài sản cố định hữuhình của công ty tại thời điểm lớn nhất là năm 2011 và có xu hướng tăng dần qua các năm Điều này chứng tỏ công ty đã cố gắng đổi mới trang thiết bị hiện đại phục
vụ cho quá trình thi công công trình
Hơn thế nữa để hoà nhập vào xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá thương mại điện tử hiện nay thì công ty liên tục đổi mới trang thiết bị này là hoàn toàn phù hợp Mặc
dù vậy, khoản tài sản cố định dùng để đầu tư dài hạn vào chứng khoán không thay đổi qua các năm, điều này chứng tỏ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa được tốt, khoản lợi nhuận giữ lại không cao Chi phí xây dựng cơ bản dở dang có
xu hướng giảm dần về sau kể từ năm 2009, điều này cho thấy công ty đã từng bước
sử dụng hợp lý hơn nguồn vốn của mình Ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp Ta có thể sử dụng bảng số liệu sau:
Biểu 5: Tỷ suất tài trợ vốn cố định của công ty
(Nguồn BCTC của công ty từ năm 2009- 2011)
Qua bảng biều ta thấy từ năm 2009 đến 2011:
Nguồn vốn dài hạn < Tài sản cố định
Trang 40Như vậy, vốn lưu động thường xuyên của công ty < 0 Nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho tài sản cố định Doanh nghiệp phải đầu tư vào tài sản cố định một phần nguồn vốn ngắn hạn TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn làm cho cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản cố định để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả Tình hình tài chính của doanh nghiệp là không tốt.
Cũng từ biểu 5 ta thấy doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư vào tài sản cố định nhưng TSCĐ của công ty lại không được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn của công ty
Để nắm rõ hơn ta xem tình hình tăng giảm NVCSH của CT qua bảng biểu:
Biểu 6: Tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu (Đơn vị: Tr đồng)
-(Nguồn BCTC của công ty từ năm 2009 đến năm 2011)
Từ biểu trên ta thấy, nguồn vốn kinh doanh của công ty (nguồn vốn cố định)tăng lên là do kết chuyển từ nguồn vốn đầu tư XDCB sang Còn lại các nguồn kháckhông thay đổi do không có sự kết chuyển hoặc không được Ngân sách nhà nướccấp
2.3.2.2 - Hiệu quả sử dụng vốn cố định tại công ty TNHH Một thành viên XDCTGT 892