Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với sự năng động, hoạt động trong nhiều lĩnh vực và số lượng đông đảo của mình đã góp phần quan trọng vào việc tăng thu nhập quốc dân GDP, giải q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
- CHI NHÁNH HÀ NỘI
MÃ SINH VIÊN : A16387
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
- CHI NHÁNH HÀ NỘI
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Phạm Thị Bảo Oanh Sinh viên thực hiện : Trần Hà Thu
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo giảng viên bộ môn Kinh
tế, khoa Quản lý, trường Đại học Thăng Long đã giúp đỡ em trong thời gian làm Khóa luận, đặc biệt là giáo viên hướng dẫn – Thạc sĩ Phạm Thị Bảo Oanh Mặc dù rất bận rộn trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhưng cô đã dành sự quan tâm, chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình làm Khóa luận tốt nghiệp đại học Đây là động lực lớn giúp em hoàn thành Khóa luận của mình
Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc và các anh chị trong Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Công thương – Chi nhánh Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em có thể thực tập tại chi nhánh, giúp đỡ em trong quá trình thu thập dữ liệu
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp, đồng kính chúc các cô, chú, anh, chị trong chi nhánh luôn mạnh khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc
Sinh viên
Trần Hà Thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Trần Hà Thu
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 1
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 2
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ 5
1.2 Một số vấn đề cơ bản về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Khái niệm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 7
1.2.2 Đặc điểm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.2.3 Vai trò của cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
1.2.4 Các nguyên tắc và điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 11
1.2.5 Phân loại cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 13
1.2.6 Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
1.3 Đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 17
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 17
1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 18
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 20
1.3.3.1 Các chỉ tiêu định tính 20
1.3.3.2 Các chỉ tiêu định lượng 23
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 26
1.3.4.1 Nhóm nhân tố khách quan 26
1.3.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÕN CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI 32
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội 32
2.2 Những quy định trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội 33
Trang 62.2.1 Nguyên tắc cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 33
2.2.2 Điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 33
2.2.3 Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 34
2.2.4 Các sản phẩm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 35
2.3 Tình hình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn năm 2011 – 2013 37
2.3.1 Tình hình doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 37
2.3.2 Tình hình doanh số thu hồi nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 38
2.3.3 Tình hình dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ 39
2.4 Tình hình chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn năm 2011 -2013 46
2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội 46
2.4.1.1 Chỉ tiêu định tính 46
2.4.1.2 Chỉ tiêu định lượng 48
2.4.2 Đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội 52
2.4.2.1 Kết quả đạt được 52
2.4.2.2 Hạn chế còn tồn tại 53
2.4.2.3 Nguyên nhân của hạn chế 54
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÕN CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI 59
3.1 Định hướng phát triển kinh doanh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội trong những năm tới 59
3.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội trong những năm tới 60
3.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội 61
3.4 Một số kiến nghị 69
3.4.1 Kiến nghị với Chính phủ và Nhà nước 69
3.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 70
3.4.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương 71
KẾT LUẬN 72
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
SaiGonBank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU – BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 2
Bảng 2.1: Doanh số cho vay DNVVN tại SaiGonBank Hà Nội 37
Bảng 2.2: Doanh số thu nợ DNVVN tại SaiGonBank Hà Nội 38
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay DNVVN tại SaiGonBank Hà Nội 39
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay DNVVN phân theo biện pháp bảo đảm tiền vay 41
Bảng 2.5: Dư nợ cho vayDNVVN phân theo thời hạn 42
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay DNVVN phân theo nhóm nợ 44
Bảng 2.7: Dư nợ cho vay DNVVN phân theo loại tiền 45
Bảng 2.8: Tỷ lệ nợ quá hạn – nợ xấu cho vay DNVVN tại SaiGonBank Hà Nội 48
Bảng 2.9: Thu nhập từ hoạt động cho vay DNVVN tại SaiGonBank Hà Nội 51
Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng dư nợ DNVVN tại SaiGonBank Hà Nội 40
Biểu đổ 2.2 Tỷ trọng dư nợ cho vay DNVVN phân theo kỳ hạn 42
Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng nợ quá hạn cho vay DNVVN 48
Biểu đồ 2.4 Vòng quay vốn tín dụng đối với DNVVN tại SaiGonBank Hà Nội 50
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế vào năm 1986 đến nay, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và đầy triển vọng GDP không ngừng được cải thiện, đời sống người dân ngày càng được nâng cao hơn,
và trên hết vị thế về kinh tế, chính trị của Việt Nam đã được biết đến và khẳng định trong mắt các nước ở khu vực và trên thế giới Trong bước chuyển mình và phát triển
đó, thì sự đóng góp của doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất đáng kể Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với sự năng động, hoạt động trong nhiều lĩnh vực và số lượng đông đảo của mình đã góp phần quan trọng vào việc tăng thu nhập quốc dân (GDP), giải quyết vấn đề việc làm, giúp thực hiện điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô… Nhận thấy tầm quan trọng và tiềm năng lớn từ đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các ngân hàng thương mại của Việt Nam nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội nói riêng thời gian qua đã tích cực mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay loại hình doanh nghiệp này, đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn và phục vụ cho quá trình phát triển Song bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận thì chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội vẫn còn những mặt hạn chế dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trong
hệ thống ngân hàng tăng cao, đồng thời dẫn đến nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng Thực tế cho thấy cần có những nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Từ yêu cầu nói trên, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội” để làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp chương trình
đào tạo bậc đại học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung làm rõ ba mục tiêu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội, từ đó tìm ra các hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế
Trang 10- Từ những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội giai đoạn năm 2011 - 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: là phương pháp được sử dụng để thu thập thông tin, số
liệu về tình hình cũng như chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội, để từ đó kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phương pháp so sánh: là phương pháp sử dụng các số liệu thu thập được so
sánh theo từng giai đoạn nghiên cứu, từ đó làm rõ tình hình cho vay doanh nghiệp vừa
và nhỏ, chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội, thông qua đó đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Phương pháp phân tích, tổng hợp: là phương pháp đánh giá, phân tích tổng hợp
lại tình hình cũng như chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương – Chi nhánh Hà Nội để tìm ra được những hạn chế còn tồn tại cũng như nguyên nhân của hạn chế đó Lấy đó làm cơ sở đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại đơn vị
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, đồ thị, kết cấu của khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Một số cơ sở lý luận về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương - Chi nhánh Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, được tổ chức hoạt động bởi các cá nhân,
có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường (nhưng phải tuân theo pháp luật), nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế
có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Tùy theo từng cách
tiếp cận khác nhau mà người ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau DNVVN là loại hình phổ biến trong nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Nói đến DNVVN là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên quy mô của doanh nghiệp Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa, tiêu chuẩn chung nào cho việc phân định ranh giới quy mô doanh nghiệp Bởi vì, mỗi quốc gia có một điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện kinh tế khác nhau, có những đặc trưng riêng biệt, và tùy theo đó để có phương pháp cụ thể xác định quy mô doanh nghiệp trong nền kinh tế sao cho thích hợp với nền kinh tế nước mình
Hơn nữa, việc xác định thế nào là một DNVVN của một nước cần được cân nhắc, xem xét với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, tình hình làm việc nói chung và tính chất của nền kinh tế hiện hành của nước đó Một doanh nghiệp đặt trong môi trường kinh tế nước này có thể là DNVVN, nhưng nếu đặt trong môi trường kinh
tế của một quốc gia khác lại là doanh nghiệp lớn hay thậm chí cũng có thể là doanh nghiệp cực nhỏ Tại thời điểm đang xét, doanh nghiệp có thể được coi là vừa, nhưng tại thời điểm nào đó trong quá khứ, nó lại được xem là doanh nghiệp lớn Do đó, việc xác định quy mô DNVVN chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định Ở Việt Nam, theo nghị định số 90/2001/NĐ –
CP đưa ra chính thức định nghĩa DNVVN như sau: “DNVVN là cơ sở SXKD độc lập,
đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”
Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) năm 2003, các DNVVN được phân chia theo quy mô như sau:
Doanh nghiệp vô cùng nhỏ (Micro – enterprise): Có đến 10 lao động, tổng tài
sản không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100.000USD
Trang 12Doanh nghiệp nhỏ (Small – enterprise): Có không quá 50 lao động, tổng tài sản
có giá trị không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3.000.000 USD
Doanh nghiệp vừa (Medium – enterprise): Có không quá 300 lao động, tổng tài
sản có giá trị không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15.000.000 USD
Ở Việt Nam, DNVVN được phân chia theo tiêu chí phân loại DNVVN được đưa vào trong điều 3 Nghị định Chính phủ số 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30/06/2009 với nội dung như sau:
Bảng 1.1 Phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
300 người
II.Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
300 người
III.Thương mại
và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
100 người
(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 30/06/2009)
Trên cơ sở những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa DNVVN trong điều
kiện hiện nay: “DNVVN là cơ sở SXKD độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế
Các DNVVN hoạt động ở cả lĩnh vực thương mại, dịch vụ, cũng như công nghiệp, xây dựng, nông – lâm – ngư nghiệp ; hoạt động dưới nhiều hình thức như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH,
Trang 13doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, DNVVN đóng góp khoảng 33% sản lượng công nghiệp, chiếm khoảng 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa
Có tính linh hoạt, năng động, trong kinh doanh, có khả năng thích ứng nhanh với các biến động, thay đổi của nền kinh tế trong nước và thế giới
Các DNVVN có sự chủ động trong kinh doanh, có khả năng chuyển đổi mặt hàng nhanh, có thể thay đổi nhanh chóng, thích nghi kịp với những biến động của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, của giá cả, thị trường, cũng như những đòi hỏi
về sản phẩm, dịch vụ theo nhu cầu, thị hiếu, khả năng của người tiêu dùng mà các doanh nghiệp lớn khó bắt kịp; qua đó tạo ra nhiều loại hàng hoá và dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Như vậy, có thể nói các DNVVN
có lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc định hướng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới từ phía người tiêu dùng theo một khía cạnh nào đó
Mặt khác, nhờ tính năng động, các DNVVN dễ dàng tìm kiếm những thị trường mới và gia nhập thị trường này khi công việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận, hoặc rút khỏi thị trường này khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả Do cơ cấu gọn nhẹ, quy mô nhỏ, các DNVVN rất linh hoạt và mạnh dạn trong đầu tư sản xuất, đổi mới và cải tiến trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn
Tận dụng lao động để thay thế cho vốn
Để tiến hành SXKD, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội Quan hệ lao động trong các DNVVN thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn Chính vì vậy mà người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong công việc, điều đó góp phần nâng cao hiệu quả SXKD đối với doanh nghiệp Giúp một bộ phận lớn người dân có công ăn việc làm, các DNVVN có những tác động tích cực trong việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư tại địa phương, góp phần duy trì và bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống Hàng năm, các DNVVN thu hút khoảng 50,13% tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam, chiếm khoảng 28% lực lượng lao động cả nước
Có nguồn tài chính hạn chế
Việc tạo nguồn vốn kinh doanh thường là một khó khăn đối với các doanh nghiệp, không chỉ DNVVN mà kể cả doanh nghiệp lớn Các DNVVN có quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ trong khi nhu cầu sử dụng vốn lớn để phục vụ cho việc mở rộng hoạt động SXKD hay đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, dây chuyền sản xuất Nguồn vốn đó có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau như vay mượn bạn bè, người thân tuy nhiên đó không phải là nguồn vốn tốt để có thể phát triển Chính vì thế, phần lớn các DNVVN nhỏ luôn ở trong tình trạng thiếu vốn Các NHTM cũng như các
Trang 14tổ chức tài chính khác thường e ngại không muốn cho DNVVN vay vốn bởi vì họ chưa
có quá trình kinh doanh uy tín, thiếu tài sản thế chấp và chưa tạo được nhiều uy tín về
khả năng trả nợ
Có trang thiết bị, công nghệ thủ công, lạc hậu
Trong nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, để thành công, ngoài yếu tố vốn và lao động ra, công nghệ, máy móc, trang thiết bị, các phương pháp sản xuất là yếu tố mà bất kể doanh nghiệp nào cũng cần quan tâm Việc ứng dụng và đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn vốn, trình độ nhân lực nên các DNVVN ít có sự đổi mới công nghệ hiện đại hơn, và phần lớn các trang thiết bị được sử dụng vẫn khá lạc hậu (cho dù hiện nay, đã có rất nhiều DNVVN đã chú trọng đến đổi mới công nghệ và áp dụng rất thành công, linh hoạt các máy móc, thiết bị hiện đại trên thế giới)
Năng lực cạnh tranh thấp
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trong những năm gần đây, với sự đổi mới trong cơ chế quản lý, chính sách và luật, các doanh nghiệp ngày càng được thành lập nhiều Tuy nhiên, do sự manh mún về số lượng cũng như chất lượng kinh doanh, sức cạnh tranh của các DNVVN rất thấp Tuy tham gia vào nhiều lĩnh vực và thành phần kinh tế, nhưng các sản phẩm của họ chỉ chiếm thị phần nhỏ Đó là vì uy tín các DNVVN hiện vẫn chưa cao, tâm lý của người tiêu dùng còn e ngại về chất lượng và trình độ quản lý kinh doanh của các chủ doanh nghiệp Họ vẫn ưa chuộng và tin tưởng các sản phẩm ở các doanh nghiệp lớn, có thương hiệu hơn
Trình độ lao động kĩ thuật hạn chế
Mặc dù DNVVN có nguồn lao động dồi dào, giá rẻ nhưng số nhân công chất lượng cao lại rất ít Chính điều này cùng với việc quy mô doanh nghiệp nhỏ lại thiếu vốn đã hạn chế sự phát triển, lớn mạnh của các DNVVN nên hầu như các DNVVN thiếu các nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư
Trang 15lớn, các dự án đầu tư công cộng Do đó, khó khăn đặt ra đối với các DNVVN là làm sao thu hút được những quản lý giỏi, nhân viên, người lao động có khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực DNVVN cũng không lập được kế hoạch tài chính, không xây dựng được phương
án SXKD khả thi, không đưa ra được những định hướng phát triển lâu dài, và mang tính chiến lược; do đó khi thị trường có biến cố, họ khó trở tay kịp, điều đó có thể dẫn đến thua lỗ, thất bại trên thị trường
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Góp phần làm cho nền kinh tế năng động
Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn Quy luật của vật lý là khối lượng của một vật càng lớn thì quán tính của nó càng lớn Cũng vậy, các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn Một nền kinh tế đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp thời với các thay đổi trên thị trường Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các DNVVN sẽ trở nên “nhanh nhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn và dễ điều chỉnh (xét về mặt chuyển động) hoạt động
Góp phần phân phối lưu thông hàng hóa xuất khẩu, mở rộng thị trường
Trong quá trình tái sản xuất xã hội, hàng hoá từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng phải qua khâu trung gian Đó là khâu lưu thông do mạng lưới các cửa hàng thương nghiệp dịch vụ bán buôn và bán lẻ đảm nhận Do lợi thế của mình các DNVVN thích hợp với lĩnh vực kinh doanh thương nghiệp - dịch vụ bán lẻ Vì rằng các DNVVN chỉ cần một số vốn ban đầu nhỏ cũng có thể hoạt động được, chi phí lưu thông cũng được giảm đến mức tối thiểu Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển có tính nhảy vọt, vượt ra khỏi biên giới quốc gia và đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới
Cho nên bất kỳ nước nào, dù ở trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp cũng đều phải thực hiện chiến lược kinh tế mở, với nội dung cơ bản là: Tận dụng lợi thế so sánh tích cực tham gia vào việc phân công lao động quốc tế, chuyên môn hoá và hợp tác hoá quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ và kinh nghiệm tốt của nước ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước Đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh tế mở là mức bảo
hộ thấp, khuyến khích xuất khẩu (hướng ngoại)
Trang 16Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng
DNVVN thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh Đặc biệt có những hàng hóa người tiêu dùng có nhu cầu không thể sản xuất ở các doanh nghiệp có quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại mà chỉ có thể sản xuất bằng lao động thủ công, phân tán đến từng cơ sở sản xuất nhỏ và hộ gia đình Do các DNVVN có quy mô sản xuất nhỏ, có khả năng điều chỉnh hoạt động nên có thể đáp ứng những nhu cầu nói trên một các nhanh chóng và thuận tiện, giúp các doanh nghiệp lớn có thể sản xuất hoàn chỉnh hàng hóa, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần quan trọng vào phát triển loại hình dịch vụ phụ trợ
Là trụ cột của nền kinh tế địa phương
Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNVVN lại có mặt ở khắp các địa phương và là chủ thể đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương DNVVN do vốn ít, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém nên tỷ lệ lao động sử dụng trong các DNVVN thường lớn rất thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công như chế biến thuỷ sản đông lạnh, may mặc, da giầy, công nghiệp chế biến góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần khai thác những tiềm năng trong dân chúng
Đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia và giữ vai trò ổn định nền kinh tế
Sự phát triển đa dạng về ngành nghề, quy mô, hình thức tổ chức kinh doanh của DNVVN đã góp phần to lớn trong việc lấp chỗ trống cho những thiếu hụt từ khu vực kinh tế quốc doanh, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất tạo ra sức sống cho nền kinh tế, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đóng góp đáng kể cho quỹ tiêu dùng, đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp DNVVN hàng năm đã đóng góp từ 40% đến 50% GDP cho nền kinh tế và tỷ lệ này có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây nhờ có các chính sách khuyến khích phát triển của Đảng và Nhà nước
Như vậy với số lượng lớn thuộc mọi thành phần kinh tế, thu hút phần lớn lao động trong các doanh nghiệp và kinh doanh trên mọi lĩnh vực, đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng phong phú, đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được Các DNVVN đã và đang tạo ra phần lớn các sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà nước Mặt khác, nó cũng đáp ứng nhanh những nhu cầu của thị trường DNVVN dễ có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm đạt đến một nền kinh tế phát triển và bền vững
Bên cạnh đó, một bộ phận lớn trong nguồn lực kinh tế của nước ta hiện nay vẫn còn nằm rải rác gây ra một sự lãng phí lớn Nhờ có DNVVN mà đã tập trung được
Trang 17những bộ phận hoạt động kinh tế nhỏ lẻ trở thành các hợp tác xã, các doanh nghiệp Sự hình thành và phát triển của các DNVVN đã khắc phục phần nào sự lãng phí nguồn lực kinh tế quốc gia bởi các DNVVN hoạt động sản xuất, kinh doanh với nhiều phương thức trong một số lĩnh vực mà những nhà đầu tư lớn cũng như Nhà nước ít quan tâm, ví dụ như hiện nay các hợp tác xã thủ công, các làng nghề truyền thống đang phát triển giúp người dân có công ăn việc làm, tăng nguồn thu nhập cho bản thân người lao động và cho đất nước Từ đó góp phần ổn định nền kinh tế thị trường đang ở giai đoạn phát triển khá phức tạp của nước ta
1.2 Một số vấn đề cơ bản về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cho vay là hoạt động kinh doanh quan trọng đem lại khoản thu nhập lớn cho ngân hàng Theo PGS.TS Mai Văn Bạn (Trong giáo trình nghiệp vụ NHTM, năm
2008) thì cho vay được hiểu là “việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
NHTM (người sở hữu) sang khách hàng (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu” Theo Luật các Tổ chức
tín dụng (năm 2010) đã định nghĩa cho vay như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín
dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Từ những khái niệm trên có thể hiểu cho vay của NHTM là giao dịch về vốn (vốn
ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả tiền và tài sản) giữa NHTM và các chủ thể khác trong nền kinh tế Trong đó, bên đi vay được quyền sử dụng vốn của NHTM trong một thời gian nhất định theo các nguyên tắc và điều kiện thoả thuận trước giữa hai bên; bên đi vay có trách nhiệm sử dụng vốn theo mục đích đã xác định trước, và phải hoàn trả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho NHTM
NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khác nhau như các cá nhân, doanh nghiệp… Hiện nay, trong các đối tượng khách hàng của NHTM thì DNVVN là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất Ưu điểm của DNVVN không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế
và tăng thu nhập dân cư Trong đó, các DNVVN vay vốn là để đáp ứng nhu cầu SXKD, tạo ra của cải, sản phẩm cho nền kinh tế, thông qua đó làm giàu cho chính
doanh nghiệp và nền kinh tế Vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Cho vay DNVVN của NHTM là việc NHTM giao hoặc cam kết giao một khoản tiền cho DNVVN để sử dụng vào mục đích đầu tư, phát triển SXKD của doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã
Trang 18cam kết” Nhìn chung, cách thức cho vay DNVVN cũng tương tự như với các khách
hàng doanh nghiệp khác, tùy thuộc vào thời hạn và số tiền doanh nghiệp xin vay để đưa ra hình thức và quy trình cho vay hợp lí
1.2.2 Đặc điểm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhu cầu vay vốn đa dạng: vì DNVVN là tổ chức kinh tế, mọi hoạt động đều
hướng vào SXKD, tạo ra sản phẩm cung ứng trên thị trường nhằm mục tiêu kiếm lời vì vậy hoạt động cho vay DNVVN đáp ứng cho nhu cầu vốn thiếu hụt đó để bổ sung vốn lưu động, mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới dây chuyền, công nghệ…
Thời hạn cho vay đa dạng: do nhu cầu vay vốn của DNVVN khá phong phú, từ
các khoản vay bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong SXKD mà doanh nghiệp có thể sử dụng doanh thu bán hàng trong vòng một năm để hoàn trả đầy đủ cho ngân hàng, cho đến các khoản vay có quy mô tương đối lớn như vay vốn để mua sắm TSCĐ, mở rộng sản xuất… Để trả nợ đầy đủ cho ngân hàng thì hiệu quả kinh tế trong vòng một năm là không thể đủ vì vậy thời gian cho vay phải kéo dài trên một năm
Quy mô khoản vay thường nhỏ: thường không quá lớn, phụ thuộc vào chu kì
SXKD của doanh nghiệp, quy mô dự án hay các hợp đồng kinh tế được kí kết Quy mô khoản vay đối với DNVVN khá thấp nếu tính bình quân trên một DNVVN, chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt và mua sắm dây chuyền, thiết bị có giá trị không quá cao
Nguồn trả nợ từ hiệu quả sử dụng vốn: vì DNVVN vay vốn để phục SXKD
tạo ra nguồn thu, vì vậy ngân hàng yêu cầu DNVVN vay vốn phải trả nợ từ chính các nguồn thu nhập từ hiệu quả sử dụng vốn này Đối với ngắn hạn, DNVVN trả nợ bằng doanh thu bán hàng Đối với trung và dài hạn, nguồn trả nợ là từ lợi nhuận sau thuế của dự án Tuy nhiên, DNVVN dễ gặp khó khăn trong việc trả nợ vay khi có sự biến động trên thị trường tài chính – tiền tệ như: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, tài chính…
Số lượng khách hàng lớn: do số lượng DNVVN lớn, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong các loại hình doanh nghiệp dẫn đến nhu cầu vay vốn để phục vụ cho SXKD là rất lớn
Thường áp dụng hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản: do năng lực tài
chính của DNVVN còn hạn chế, hiệu quả SXKD chưa cao, năng lực quản lý còn thấp… nên chưa tạo ra được lòng tin với ngân hàng Vì vậy, các DNVVN thường phải
có TSĐB khi vay vốn các NHTM và tài sản đảm bảo phải có giá trị lớn hơn khoản vay
Trang 191.2.3 Vai trò của cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
(1) Đối với nền kinh tế
Hỗ trợ các DNVVN thực hiện SXKD góp phần thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế
NHTM cung cấp nguồn vốn hỗ trợ cho DNVVN thực hiện quá trình mở rộng SXKD, đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng, tay nghề người lao động nhằm mục đích cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ… góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế Hoạt động cho vay DNVVN giúp cho các doanh nghiệp không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, thời vụ làm ăn, duy trì hoạt động SXKD liên tục, quá trình lưu thông được thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội
Tạo công ăn việc làm
Hoạt động cho vay DNVVN đóng vai trò gián tiếp điều chỉnh cơ cấu vùng, lãnh thổ Khu vực DNVVN được xem như khu vực thu hút nhiều lao động, góp phần vào giải quyết công ăn, việc làm cho xã hội Vì vậy, khi ngân hàng mở rộng cho vay thì sẽ tạo điều kiện giúp các DNVVN thu hút được nhiều lao động hơn Qua đó, hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Với việc mở rộng cho vay DNVVN sẽ ngày càng thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Từ đó tạo đà cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, đồng thời góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, thực hiện ổn định tài chính
(2) Đối với NHTM
Mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng
Hoạt động cho vay DNVVN mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được tốt và hiệu quả hơn Hoạt động cho vay có hiệu quả tức là khả năng quay vòng vốn tín dụng cao, qua đó ngân hàng có thể
mở rộng các hình thức dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng như mở rộng quy mô vốn tín dụng cho một khách hàng Như vậy, không những có thể duy trì mối quan hệ với khách hàng truyền thống mà còn mở rộng, thu hút thêm khách hàng mới Đó cũng
là cách để NHTM mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao lợi nhuận Hoạt động cho vay có hiệu quả sẽ làm giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý và đặc biệt là giảm những chi phí, thiệt hại rất lớn do không thu hồi được khoản tín dụng Như vậy, sẽ gia tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng
Trang 20(3) Đối với DNVVN
Là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triển của các DNVVN
DNVVN muốn ra đời, tồn tại, phát triển và chiến thắng trong cạnh tranh thì phải tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh Nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực máy móc thiết bị, mở rộng thị phần là rất lớn Với tư cách trung gian tài chính, ngân hàng đã tạo cơ hội cho các chủ doanh nghiệp tiếp cận với vốn để thực hiện mục đích của mình, giúp cho doanh nghiệp có nguồn lực tài chính để phát triển hoạt động SXKD
Góp phần tăng nguồn vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNVVN
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu, khách quan trong nền kinh tế thị trường Quy luật này ngày càng quan trọng, quyết định rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, trong đó có DNVVN Phát triển thị phần, xây dựng lòng tin, tạo hình ảnh là những công việc không hề đơn giản với các DNVVN khi mà vị thế của các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước đã được khẳng định trên thị trường Do vậy, các DNVVN thường xuyên tìm cách huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, trong đó có nguồn vốn từ hoạt động cho vay của ngân hàng để có thể mua sắm các trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ… nhằm mở rộng hoạt động SXKD, phát triển thị phần của mình Khi yêu cầu này của doanh nghiệp được đáp ứng, sức mạnh tài chính của doanh nghiệp tăng lên thì mục đích chiếm lĩnh thị trường, tạo thế cạnh tranh không còn là bài toán nan giải đối với DNVVN nữa
Góp phần hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ đƣợc liên tục
Để có thể hoạt động một cách thường xuyên, các DNVVN phải có trang thiết bị tốt, có thị trường đầu vào đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp song các doanh nghiệp này lại có vốn lưu động tự có rất ít so với nhu cầu cần thiết Do đó nguồn vốn để mua vật tư, hàng hóa cho sản xuất chủ yếu được bù đắp bằng nguồn vốn vay ngân hàng Mặt khác, cho vay DNVVN của ngân hàng cũng tác động mạnh mẽ vào tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp qua việc mở rộng tín dụng tiêu dùng, cho vay hoặc bảo lãnh để các tổ chức kinh tế, cá nhân hoạt động trong mọi lĩnh vực lưu thông qua mua bán hàng hóa
Góp phần nâng cao hiệu quả SXKD của các DNVVN
Ngân hàng cho các DNVVN vay vốn để đáp ứng các nhu cầu SXKD Thông qua cho vay, vốn tín dụng được cung cấp kịp thời tạo điều kiện cho SXKD, vòng quay vốn được lưu chuyển thuận lợi và nhanh chóng thúc đẩy hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Thông qua công tác thẩm định, ngân hàng có thể giúp các DNVVN kiểm tra được tính khả thi cũng như có hiệu quả của các phương án/dự án SXKD, bên cạnh đó
Trang 21quá trình giám sát và đôn đốc doanh nghiệp trả nợ của ngân hàng cũng góp phần thúc đẩy cũng như nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
1.2.4 Các nguyên tắc và điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.4.1 Nguyên tắc cho vay
Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Khách hàng phải cam kết sử dụng khoản vay đúng theo mục đích đã thỏa thuận với ngân hàng, theo đúng qui định của pháp luật và theo các qui định khác của ngân hàng cấp trên Mục đích vay vốn được ghi rõ ràng trong hợp đồng cho vay nhằm đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động kinh doanh trái pháp luật và việc tài trợ
đó là phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng
Hơn nữa mục đích sử dụng vốn là cơ sở để ngân hàng xem xét nhu cầu vay vốn của DNVVN, cũng như đánh giá khả năng thu hồi nợ, từ những căn cứ này NHTM mới ra quyết định cho vay Bên cạnh đó, mục đích sử dụng vốn còn là căn cứ để NHTM kiểm tra quá trình sử dụng vốn của DNVVN nhằm phát hiện các rủi ro để đưa
ra những biện pháp xử lý khi có vấn đề Không chỉ vậy, DNVVN sử dụng vốn vay đúng mục đích chính là cơ sở quan trọng để tạo nguồn thu, đảm bảo khả năng trả nợ cho NHTM
Vốn vay phải đƣợc hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời hạn
đã cam kết trong hợp đồng tín dụng
NHTM chủ yếu sử dụng số tiền huy động được từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cho vay Ở giai đoạn huy động vốn, NHTM tham gia với tư cách là người đi vay, do vậy phải có nghĩa vụ hoàn trả cho người gửi tiền đúng hạn cả gốc và lãi Muốn thực hiện được điều này, với tư cách là chủ thể cho vay, NHTM có quyền yêu cầu bên đi vay (DNVVN) hoàn trả cho mình đúng hạn cả gốc và lãi Nếu các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng
NHTM là loại hình doanh nghiệp, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở lấy thu bù chi và có lãi Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng có rất nhiều chi phí phải trang trải: trả lãi huy động vốn, trả lương cán bộ nhân viên, nộp thuế nhà nước…
vì vậy yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải hoàn trả lãi vay đầy đủ theo đúng cam kết trong hợp đồng để bù đắp chi phí và đảm bảo mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
1.2.4.2 Điều kiện cho vay
Phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật: Quan hệ giữa ngân hàng với doanh
nghiệp vay vốn là quan hệ được pháp luật bảo vệ, vì vậy nó phải được lập dựa trên cơ
Trang 22sở quy định của luật pháp Do đó, các chủ thể tham gia quan hệ phải có đầy đủ tư cách pháp lý Hơn thế trong quan hệ vay mượn sẽ phát sinh sự chuyển giao và giao dịch về tài sản, do đó cần có sự xác nhận của các bên tham gia theo đúng quy định của luật pháp Như vậy, DNVVN vay vốn phải có đủ tư cách pháp lý để thực hiện các giao dịch
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp: vốn vay phải được sử dụng hợp pháp tức
là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay phải phù hợp với đăng ký kinh doanh của các DNVVN Vì DNVVN vay vốn hoàn trả nợ vay từ hiệu quả sử dụng vốn từ quá trình SXKD của doanh nghiệp, vì vậy nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trái với quy định của pháp luật sẽ bị Nhà nước xử lý, tịch thu dẫn đến mất khả năng trả nợ cho ngân hàng
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn đã cam kết: DNVVN
phải có năng lực tài chính lành mạnh, khả năng quản lý tốt, chứng minh sự phát triển
ổn định của mình Năng lực tài chính lành mạnh của DNVVN được thể hiện qua tổng giá trị tài sản – nguồn vốn lớn, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời cao… Các yếu
tố này đảm bảo cho DNVVN hoạt động thường xuyên liên tục, phát triển trong tương lai, là cơ sở vững chắc đảm bảo cho cam kết hoàn trả nợ vay ngân hàng đúng hạn
Có dự án đầu tư, phương án SXKD khả thi, hiệu quả, phù hợp với quy định pháp luật: DNVVN phải có phương án hoặc dự án khả thi và hoạt động hiệu quả vì
hiệu quả của việc sử dụng vốn mang lại lợi ích cho cả DNVVN lẫn ngân hàng
Đối với DNVVN: kinh doanh hiệu quả thì thu nhập thu về sẽ đảm bảo bù đắp chi
phí, giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng đồng thời duy trì mối quan hệ tín dụng, tạo được uy tín với ngân hàng
Đối với NHTM: nguồn thu từ dự án và phương án vay vốn được coi là nguồn thu
thứ nhất đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng Kế hoạch kinh doanh khả thi, có hiệu quả của DNVVN sẽ đảm bảo khả năng thu hồi nợ gốc và lãi cho ngân hàng
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay: vì khả năng thu hồi nợ từ nguồn
thu thứ nhất – hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp không được đảm bảo do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến rủi ro không thu hồi đủ
nợ vay gây tổn thất cho ngân hàng cũng như ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNVVN Vì vậy, NHTM phải yêu cầu khách hàng thực hiện đầy đủ các biện pháp đảm bảo tiền vay để tạo cơ sở cho ngân hàng thu hồi nợ, ngăn chặn rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng
Trang 231.2.5 Phân loại cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.5.1 Phân theo mục đích vay vốn
Cho vay mua bán bất động sản: là việc NHTM cho DNVVN vay vốn phục vụ
cho hoạt động mua bán bất động sản như mua sắm, và xây dựng nhà ở, đất đai, trong
lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho vay phục vụ SXKD công nghiệp và thương mại: là vệc NHTM cho DNVVN
vay vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho vay hỗ trợ xuất nhập khẩu: là việc NHTM cho DNVVN vay vốn nhằm hỗ
trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa xuất nhập khẩu
Cho vay dự án: là việc NHTM cho DNVVN vay vốn tài trợ cho các dự án mới
dựa trên những khoản thu nhập được dự tính trong tương lai Các dự án này đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khoảng thời gian dài, đồng thời chưa thể thu được lãi trong thời
gian xây dựng của dự án
Các khoản cho vay khác: là các khoản vay chưa được xếp vào các loại trên 1.2.5.2 Phân theo thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn: là việc NHTM cho DNVVN vay vốn có thời hạn tối đa 12
tháng, nhằm bù đắp sự thiếu hụt của vốn lưu động của các doanh nghiệp
Cho vay trung hạn: là việc NHTM cho DNVVN vay vốn có thời hạn trên 12
tháng đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm TSCĐ, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ
và thời gian thu hồi vốn nhanh Ngoài ra, đây còn là nguồn hình thành vốn lưu động
thường xuyên cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập
Cho vay dài hạn: là việc NHTM cho DNVVN vay vốn có thời hạn lớn hơn 5
năm, được sử dụng chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như mua sắm dây chuyền sản xuất, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô vốn lớn; xây dựng xí nghiệp, nhà xưởng mới; xây dựng các công trình dân dụng, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản
khác
1.2.5.3 Phân theo phương thức cho vay
Cho vay theo hạn mức tín dụng: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa
thuận cấp cho doanh nghiệp hạn mức cho vay, có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, theo
số dư tối đa tại thời điểm tính Hạn mức này được cấp trên cơ sở kế hoạch SXKD, giá trị tài sản thế chấp, tài sản cầm cố bảo lãnh (nếu có), nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp Mỗi lần vay, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và yêu cầu vay vốn, lượng vay vốn Trong thời gian ngân hàng cam kết cho vay, doanh nghiệp có thể thực
Trang 24hiện vay – trả nhiều lần, nhưng dư nợ không được vượt quá hạn mức cho vay Phương thức này áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn bổ sung vốn lưu động thường xuyên, có năng lực tài chính tốt, SXKD ổn định, có lãi, đã tạo được uy tín với ngân hàng và không có nợ cần chú ý tại các tổ chức cho vay
Cho vay từng lần: là hình thức cho vay đối với các doanh nghiệp không có nhu
cầu vay thường xuyên, chỉ có nhu cầu thời vụ, hay sản xuất đặc biệt mới tìm đến vay ngân hàng Vốn vay này chỉ tham gia vào một số chu kỳ nhất định của chu kỳ SXKD Mỗi lần vay vốn doanh nghiệp phải lập hồ sơ vay vốn theo quy định Việc thẩm định, xét duyệt cho vay, quản lý giám sát tình hình sử dụng vốn vay và thu hồi nợ được thực hiện theo từng hợp đồng cho vay Doanh nghiệp có thể rút vốn một lần hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ sử dụng vốn nhưng không vượt quá số tiền cho vay ghi trong hợp đồng cho vay Nếu doanh nghiệp rút vốn nhiều lần, mỗi lần rút vốn doanh nghiệp phải
kí giấy nhận nợ và gửi cho ngân hàng bản sao chứng từ tài liệu chứng minh cho mục đích sử dụng vốn vay Phương thức cho vay này thường xuyên yêu cầu các DNVVN phải có TSĐB, áp dụng với các doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng vốn thường xuyên hoặc chưa có nhiều uy tín với ngân hàng
1.2.5.4 Phân theo hình thức đảm bảo
Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà khi cho vay, ngân hàng đòi hỏi
các doanh nghiệp vay vốn phải có tài sản bảo đảm như thế chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp vay vốn, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, hoặc phải có bảo lãnh tài sản bằng tài sản của bên thứ ba (bên bảo lãnh) Hình thức cho vay này áp dụng đối với các DNVVN chưa có uy tín cao đối với ngân hàng, khi cho vay, ngân hàng cần phải có tài sản để đảm bảo doanh nghiệp sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình
Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức ngân hàng cho vay dựa trên uy
tín của doanh nghiệp vay vốn hoặc bên bảo lãnh, gọi là tín chấp Cho vay tín chấp chỉ
áp dụng đối với những doanh nghiệp lâu năm, có quan hệ tốt với ngân hàng, có uy tín trên thị trường, có khả năng tài chính mạnh, hoạt động kinh doanh hiệu quả
1.2.5.5 Theo loại tiền
Cho vay bằng nội tệ: là việc ngân hàng cho DNVVN vay vốn thực hiện hoạt
động SXKD bằng VND
Cho vay bằng ngoại tệ: là việc ngân hàng cho DNVVN vay vốn thực hiện hoạt
động SXKD bằng các loại ngoại tệ mạnh như: USD, EUR, GBP, JPY,…
Trang 251.2.6 Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bước 1: Tiếp nhận nhu cầu vay vốn và hướng dẫn DNVVN lập hồ sơ vay vốn
Khi một DNVVN có nhu cầu đề nghị ngân hàng cho vay vốn, cán bộ tín dụng sẽ trao đổi với khách hàng, tìm hiểu sơ bộ về ngành nghề kinh doanh của khách hàng, nhu cầu vay, mục đích vay vốn… từ đó cán bộ tín dụng sẽ xác định xem liệu dự án, phương án vay vốn đó có nằm trong phạm vi và khả năng tổ chức của khách hàng hay không, đề xuất vay vốn có phù hợp với chiến lược phát triển, chính sách tín dụng của ngân hàng mình không Nếu phù hợp, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng về hồ
sơ vay vốn và là đầu mối tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp hợp lệ của
các tài liệu trong hồ sơ
Bước 2: Thu thập thông tin
Để có cơ sở thẩm định DNVVN vay vốn cũng như nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, ngân hàng có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như:
Thông tin do DNVVN lập và nộp cho NHTM:
Sau một thời gian nhất định, DNVVN về chuẩn bị hồ sơ theo hướng dẫn của cán
bộ tín dụng sẽ trở lại nộp hồ sơ cho NHTM Đây là cơ sở để ngân hàng thẩm định và
ra quyết định cho vay Hồ sơ vay vốn của DNVVN thường gồm ba bộ hồ sơ:
Hồ sơ pháp lý: gồm các giấy tờ chứng minh năng lực pháp luật dân sự của
DNVVN vay vốn như: quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng kí thuế, điều lệ hoạt động của doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm đối với người đại diện của doanh nghiệp…
Hồ sơ khoản vay: là các tài liệu chứng minh năng lực tài chính và mục đích sư
dụng vốn của DNVVN như: báo cáo tài chính (bảng tổng kết tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh tài chính, lưu chuyển tiền tệ), hợp đồng mua bán hàng hóa, hóa đơn mua bán hàng hóa, phương án SXKD, khả năng vay trả và nguồn trả hợp lý…
Hồ sơ đảm bảo tiền vay: là các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng hợp
pháp của DNVVN đối với tài sản mà doanh nghiệp cam kết sử dụng làm tài sản đảm
bảo trong quá trình vay mượn vốn tại ngân hàng
Thông tin lưu trữ tại ngân hàng: là những thông tin về các lần vay mượn trước
đây của DNVVN tại ngân hàng, hoặc thông tin về các lần giao dịch tài chính khác của
DNVVN được lưu trữ tại ngân hàng
Thông tin thu được qua điều tra, khảo sát: là những thông tin do ngân hàng thu
thập được từ các nguồn bên ngoài có liên quan đến DNVVN xin vay vốn
Thông tin khác: là các nguồn thông tin thu thập được từ các đối tác, các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền…
Trang 26Đánh giá các yếu tố không liên quan đến tài chính của DNVVN như là: cơ cấu
bộ máy nhân sự, bộ phận kiểm soát nội bộ, trình độ, năng lực và đạo đức của người điều hành, kinh nghiệm của lãnh đạo doanh nghiệp vay vốn, lĩnh vực hoạt động chủ
yếu của DNVVN, thị phần trên thị trường…
Thẩm định tài chính:
Thẩm định năng lực tài chính của DNVVN: thẩm định tình hình tài sản – nguồn
vốn, tình hình SXKD, hiệu quả mang lại trong các năm trong quá khứ và tại thời điểm
hiện tại của doanh nghiệp
Thẩm định nhu cầu vay vốn của DNVVN: thẩm định tính khả thi, hiệu quả của kế
hoạch SXKD của DNVVN
Thẩm định các biện pháp đảm bảo tiền vay: kiểm tra tình trạng thực tế của tài sản
bảo đảm Phân tích, thẩm định bảo đảm tiền vay và định giá bảo đảm tiền vay
Sau quá trình thẩm định, cán bộ tín dụng lên báo cáo đề xuất tín dụng và dựa trên
cơ sở này, lãnh đạo ngân hàng đưa ra quyết định cho vay Việc quyết định cho vay trên
cơ sở các thông tin thu thập, phân tích từ khâu thẩm định ngoài ra còn phải dựa trên các thông tin thu thập từ thị trường và các cơ quan có liên quan, chính sách tín dụng của ngân hàng, khả năng nguồn vốn và điều kiện thanh toán của ngân hàng… Nếu từ chối cho vay, ngân hàng sẽ giải thích rõ lý do bằng văn bản cho DNVVN Nếu chấp thuận cho vay, NHTM sẽ cùng DNVVN thảo luận về các điều kiện trong hợp đồng vay vốn và hợp đồng đảm bảo tiền vay
Bước 4: Ký kết hợp đồng cho vay
Sau khi ngân hàng và DNVVN đã thỏa thuận và thống nhất được các điều kiện trong hợp đồng cho vay, hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng vay mượn Trong đó, hợp đồng cho vay là văn bản thỏa thuận giữa DNVVN và ngân hàng trong đó ngân hàng cam kết cấp cho DNVVN một khoản tín dụng trong thời gian và lãi suất nhất định Hợp đồng cho vay mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủ các điều khoản của pháp luật quy định
Vì vậy, cả ngân hàng và DNVVN phải cân nhắc thật kỹ lưỡng trước khi ký kết hợp đồng tín dụng
Trang 27Bước 5: Giải ngân
Là việc phát tiền vay cho DNVVN trên cơ sở mức cho vay đã cam kết theo hợp đồng cho vay Trước khi thực hiện giải ngân, cán bộ tín dụng quản lý giải ngân phải xác nhận rằng các tài liệu và các điều kiện đã được đáp ứng đầy đủ Cán bộ tín dụng quản lý giải ngân chịu trách nhiệm nhận hồ sơ kèm chứng từ thanh toán của khách hàng, kiểm tra các căn cứ phát tiền vay theo quy định Việc phát tiền vay phải bảo đảm nguyên tắc có hàng hóa, dịch vụ đối ứng, phù hợp với mục đích vay vốn có hóa đơn chứng từ cung cấp hàng hóa, dịch vụ của bên bán hàng…
Bước 6: Kiểm tra giám sát khoản vay và thu hồi nợ
Là quá trình thực hiện các bước công việc sau khi cho vay nhằm hướng dẫn, đôn đốc DNVVN sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc lãi vay đúng hạn, đồng thời thực hiện các biện pháp thích hợp nếu người vay thực hiện đầy đủ đúng hạn các cam kết Việc kiểm tra giám sát này có thể thực hiện định kỳ hoặc đột xuất, một lần hoặc nhiều lần tùy theo độ an toàn của khoản vay
Không phát hiện rủi ro: định kỳ DNVVN trả đầy đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng
theo thỏa thuận trong hợp đồng Đến khi thu hồi đầy đủ nợ, ngân hàng thanh lý hợp đồng cho vay, tất toán khoản vay, hoàn trả tài sản đảm bảo cho DNVVN và lưu trữ thông tin
Phát hiện rủi ro: cán bộ tín dụng phải kiểm tra nguyên nhân, mức độ vi phạm để
từ đó đưa ra biện pháp xử lý thích hợp Nếu cần thiết có thể yêu cầu DNVVN trả nợ trước hạn, khởi kiện ra trước pháp luật để thu hồi nợ Sau khi đã thu hồi đủ nợ, ngân hàng tiến hành thanh lý hợp đồng cho vay, tất toán khoản vay, hoàn trả TSĐB (nếu còn) và lưu trữ thông tin
1.3 Đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trên thế giới cũng như tại nước ta hiện nay, ngân hàng đang ngày càng đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hoá các hình thức cho vay, mở rộng thị trường hoạt động… một mặt làm giảm bớt rủi ro cho vay mặt khác lại làm tăng tính rủi ro do chịu sự tác động từ nhiều phía hơn NHTM hạch toán kinh doanh độc lập, mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Chính vì vậy, chất lượng cho vay có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của NHTM, trong đó phải nói đến chất lượng cho vay DNVVN Chất lượng cho vay DNVVN có thể được hiểu một cách đơn giản là hiệu quả của việc cho vay mang lại, là khả năng thu hồi đầy đủ và đúng hạn cả vốn gốc và lãi theo hợp đồng cho vay, hạn chế rủi ro tổn thất cho ngân hàng, đảm bảo ngân hàng có thể tồn tại và phát triển
Đó là mối quan hệ tỷ lệ thuận, chất lượng cho vay DNVVN cao khi hiệu quả và khả
Trang 28năng thu nợ cao và ngược lại Bên cạnh đó, các vị trí khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về chất lượng cho vay
Theo quan điểm của DNVVN: Các khoản cho vay có chất lượng là các khoản
vay có vốn vay phù hợp với mục đích vay vốn, có lãi suất và kì hạn hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp phát triển, thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng và quy chế cho vay
Theo quan điểm của NHTM: Chất lượng cho vay DNVVN thể hiện trên hai
mặt cơ bản: mức độ an toàn của khoản vay và hiệu quả kinh tế của khoản vay
Mức độ an toàn của khoản vay: được thể hiện qua khả năng hoàn trả của
DNVVN Một khoản vay chứa đựng nhiều nguy cơ không thu hồi được nợ thì được coi là khoản vay có chất lượng kém
Hiệu quả kinh tế của khoản vay: đó là khả năng sinh lời mà khoản vay mang lại
để đảm bảo cho việc hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng cũng như sự tồn tại
và phát triển bền vững của ngân hàng Thông qua hoạt động cho vay này, các doanh nghiệp nhận tiền vay sẽ được hỗ trợ về vốn để mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm… đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội
Trên giác độ nền kinh tế: đối với sự phát triển kinh tế xã hội, chất lượng cho
vay DNVVN thể hiện ở việc có tạo ra được các hiệu quả xã hội như: phục vụ tốt cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần giải quyết vấn đề việc làm, tăng trưởng kinh tế, khai thác các nguồn lực có hiệu quả, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế Bởi ngân hàng là tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, có tác động sâu rộng đến mọi hoạt động trong nền kinh tế, và là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định nền kinh tế
Như vậy, ta có thể hiểu một cách khái quát, chất lƣợng cho vay DNVVN chính
là sự thỏa mãn nhu cầu vay vốn của DNVVN, đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Khoản vay đƣợc coi là có chất lƣợng tốt thì nó phải mang lại lợi ích kinh tế cho cả doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng và cho cả xã hội Tức là vốn đưa vào kinh doanh tạo ra số tiền lớn đủ để trang
trải chi phí, trả được gốc và lãi cho ngân hàng đồng thời có lợi nhuận đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế
1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.3.2.1 Đối với các ngân hàng thương mại
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay giữa các trung gian tài chính thì việc nâng cao chất lượng cho vay chính là chìa khóa thành công cho các ngân hàng,
Trang 29bởi vì cho vay là một trong những hoạt động sinh lời nhất của các NHTM, nó chiếm khoảng 50% thu nhập của ngân hàng, cá biệt còn có ngân hàng cho vay đến 90% tổng thu nhập của mình Khi các ngân hàng tìm cách nâng cao chất lượng cho vay tức là ngân hàng tìm kiếm những khoản vay mang lại lợi tức cao nhất cũng như giảm tối thiểu rủi ro gặp phải khi cho vay Thông qua đó các ngân hàng không ngừng gia tăng vốn tự có trong quá trình hoạt động đồng thời ổn định và lành mạnh hóa tình hình tài chính của ngân hàng
Nâng cao chất lượng cho vay sẽ giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong việc thu hút khách hàng so với các đối thủ Bởi chất lượng dịch vụ là mục tiêu hướng đến trong sự phát triển lâu dài, của các NHTM, khi mà chính sách lãi suất chỉ mang lại lợi ích ngắn hạn cho ngân hàng
Ngoài ra, việc này còn giúp ngân hàng khai thác và sử dụng hiệu quả mạng lưới chi nhánh, mở rộng thị phần Chất lượng cho vay DNVVN còn phản ánh chính sách hoạt động của ngân hàng, qua đó, có thể đánh giá một phần trình độ tổ chức, quản lý điều hành kinh doanh của ngân hàng Nâng cao chất lượng cho vay DNVVN sẽ góp phần giúp ngân hàng có định hướng và đánh giá lại tổ chức của mình Vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay DNVVN của NHTM là xu thế khách quan và nằm trong sự phát triển chung của hoạt động ngân hàng
1.3.2.2 Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việc nâng cao chất lượng cho vay của các NHTM sẽ giúp DNVVN tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng dễ dàng, thuận lợi hơn, giảm bớt các thủ tục rườm rà Quá trình vay vốn của các DNVVN vì thế sẽ nhanh gọn và linh hoạt hơn, với mức lãi suất thích hợp và được hưởng nhiều dịch vụ ưu đãi tốt hơn từ phía ngân hàng Điều này làm các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và thời gian, có điều kiện khai thác kịp thời các cơ hội đầu tư, mở rộng SXKD, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh Để có thể vay được vốn ngân hàng, cũng đòi hỏi các DNVVN làm ăn hiệu quả hơn, lập ra được các phương án kinh doanh khả thi, có tình hình tài chính minh bạch hơn Điều đó đòi hỏi nỗ lực từ cả hai phía, ngân hàng - DNVVN mới đem lại hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng cho vay của NHTM đối với các DNVVN
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế
Nâng cao chất lượng cho vay của NHTM đối với các DNVVN giúp nền kinh tế
ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững hơn; góp phần thực hiện các chính sách kinh tế tốt hơn Bởi doanh nghiệp và ngân hàng là hai loại hình quan trọng đặc biệt của nền kinh tế Sự ổn định, phát triển của chúng có tác động rất mạnh mẽ và sâu rộng đến nền kinh tế quốc dân
Trang 30Vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay của NHTM đối với các DNVVN hết sức quan trọng đối với bản thân các ngân hàng, doanh nghiệp, mà với cả toàn bộ nền kinh
tế Việt Nam Để thực hiện được việc này, ngân hàng cần phân tích rõ những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay, các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay Từ đó
có thể tìm ra cho mình biện pháp đúng đắn, hữu hiệu và thích hợp với mỗi ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.3.1 Các chỉ tiêu định tính
(1) Đối với NHTM
Khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của DNVVN đi vay
Chất lượng cho vay của ngân hàng với DNVVN được cho là tốt khi mà ngân hàng có khả năng đáp ứng kịp thời và đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của DNVVN đó là: quy mô vốn đáp ứng đủ nguyện vọng của doanh nghiệp, thời gian vay, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng, lãi suất cho vay hợp lý, thời gian giải quyết thủ tục vay vốn nhanh, thủ tục vay vốn đơn giản… Ngược lại nếu ngân hàng không đáp ứng tốt được các nhu cầu nói trên sẽ phản ánh chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng là chưa đạt yêu cầu
Thái độ phục vụ của cán bộ tín dụng
Trong quá trình giao tiếp với khách hàng của cán bộ tín dụng cũng như các bộ phận hỗ trợ khác thể hiện sự năng động, cởi mở tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng sẽ góp phần nâng cao hình ảnh và chất lượng của NHTM trong hoạt động cho vay DNVVN Nếu thái độ phục vụ của cán bộ nhân viên càng chuyên nghiệp, thân thiệt, tác phong nhanh nhẹn, xử lý tình huống nhanh chóng và hợp lý… thì càng cho thấy được chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng là tốt và ngược lại Đây là một thước đo phản ánh chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng vì vậy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chính là một vấn đề quan trọng của ngân hàng
Khả năng nâng cao uy tín của ngân hàng trong việc cho vay
Nếu ngân hàng có uy tín trong việc cho vay, cũng chứng tỏ chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng cao trong thị trường Uy tín có được là do bản thân ngân hàng
đã tạo được niềm tin với DNVVN, được DNVVN đánh giá và nhìn nhận Uy tín đó có thể được tạo ra từ chính sách phát triển của ngân hàng Quá trình thực hiện cho vay, ngân hàng thể hiện tính chuyên nghiệp như thế nào, có kịp thời đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng trên cơ sở nguồn lực sẵn có của ngân hàng hay không? Nếu các khía cạnh này được ngân hàng giải quyết tốt thì phản ánh chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng là cao và ngược lại
Trang 31Khả năng bán chéo sản phẩm của ngân hàng
Chất lượng cho vay DNVVN càng tốt cho thấy doanh nghiệp vay vốn thỏa mãn với các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Dựa trên sự hài lòng đó, doanh nghiệp sẵn sang sử dụng thêm các dịch vụ khác của ngân hàng như: gửi tiền, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn… Như vậy, ngân hàng có khả năng cung cấp thêm cho DNVVN các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng khác bên cạnh việc cho vay, điều này cho thấy ngân hàng càng có khả năng bán chéo sản phẩm, cung cấp thêm nhiều sản phẩm cho chính doanh nghiệp vay vốn càng phản ánh được sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng Qua đó cho thấy được chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng càng cao và ngược lại
Khả năng mở rộng quan hệ với khách hàng mới
Với số lượng ngân hàng ngày càng gia tăng, tính cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ thì mỗi ngân hàng phải tìm cho mình một chiến lược riêng, một hướng đi phù hợp để khẳng định sức cạnh tranh của ngân hàng Do đó, việc mở rộng số lượng khách hàng mới sẽ là nhân tố quan trọng có thể đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mà ở đây chính là chất lượng cho vay DNVVN Khi chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng càng tốt thì uy tín của ngân hàng càng được nâng cao trên thị trường, càng thu hút thêm được các doanh nghiệp mới đến vay vốn ngân hàng Ngược lại, chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng chưa tốt sẽ không đủ khả năng để lôi kéo và tìm kiếm thêm các khách hàng mới Từ đó cho thấy khả năng mở rộng quan hệ với khách hàng mới cũng chính là thước đo đánh giá chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng là tốt hay chưa tốt
(2) Đối với DNVVN
Khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh
Đối với các DNVVN không hiếm khi gặp những cơ hội kinh doanh tốt nhưng do năng lực tài chính có hạn nên khó có thể nắm bắt Lúc này việc ngân hàng nhanh chóng cho doanh nghiệp vay vốn sẽ giúp các DNVVN tận dụng tốt cơ hội kinh doanh
để có thể gia tăng thêm lợi nhuận, phát triển thị phần, tăng sức cạnh tranh của mình trên thị trường Như vậy, ngân hàng càng đáp ứng tốt nhu cầu vay vốn giúp cho khách hàng nắm bắt được cơ hội kinh doanh thì khoản vay càng có chất lượng Ngược lại, nếu khoản vay đó chậm trễ, làm lỡ mất các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
phản ánh chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng là chưa tốt
Mức độ thỏa mãn của doanh nghiệp khi vay vốn
Sự hài lòng của khách hàng được thể hiện qua những kỳ vọng mà khách hàng đến vay vốn, đó là luôn được vay vốn với số tiền theo đúng nhu cầu sử dụng, lãi suất thấp, thời gian vay vốn phù hợp với tình hình SXKD của DNVVN, thủ tục cho vay
Trang 32nhanh chóng, đơn giản… Khi khách hàng cảm thấy thỏa mãn nhu cầu vay vốn của mình sẽ trở thành khách hàng trung thành của ngân hàng đồng thời giúp ngân hàng mở rộng thêm nhiều khách hàng tiềm năng Như vậy, khách hàng càng thỏa mãn cao khi vay vốn của ngân hàng thì càng cho thấy chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng
là tốt và ngược lại
Mức độ cải thiện tình hình SXKD sau khi sử dụng vốn vay
Do nhu cầu vay vốn của các DNVVN là để đầu tư cho các hoạt động SXKD nên chất lượng cho vay còn được đánh giá sau khi doanh nghiệp nhận được vốn tài trợ từ ngân hàng Việc doanh nghiệp có sử dụng vốn vay đúng mục đích để tạo ra nhiều lợi nhuận, cải thiện được tình hình SXKD, đảm bảo khả năng trả nợ vốn gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng, từ đó cho thấy chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng là cao
và ngược lại
(3) Đối với nền kinh tế
Đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội
Hiệu quả xã hội của khoản vay đem lại là một trong những yếu tố để đánh giá chất lượng cho vay, bởi vì hoạt động cho vay không chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận
mà còn phải đảm bảo hiệu quả xã hội Có nghĩa là hoạt động cho vay phải phục vụ sản xuất và lưu thông theo đúng đường lối kinh tế của Đảng và Nhà nước đã đề ra
Chất lượng cho vay DNVVN tốt nghĩa là các DNVVN đã nâng cao được hiệu quả hoạt động SXKD, đồng thời giúp cho hoạt động cho vay của các NHTM cũng hiệu quả hơn, đem lại lợi nhuận cao với mức rủi ro thấp Vì vậy mà thúc đẩy được nền kinh
tế phát triển, đẩy lùi lạm phát, thực hiện ổn định tiền tệ
Khả năng tạo thêm công ăn việc làm tại địa phương
Khi dự án/phương án SXKD của DNVVN được đưa vào thực hiện sẽ giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động tại địa phương Với những dự án/phương án mới đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm cho người lao động, giải quyết được vấn đề thất nghiệp Đối với những dự án nhằm mở rộng duy trì hoạt động SXKD sẵn có thì sẽ tạo thêm việc làm cho công nhân viên, giải quyết vấn đề dư thừa lao động Do đó, việc cho vay DNVVN sẽ được đánh giá là có chất lượng cao nếu góp phần tăng lượng
người lao động có việc làm Thông qua cho vay DNVVN thì các ngân hàng đã đóng
góp vào sự phát triển chung của kinh tế - xã hội, tăng việc làm, thúc đẩy sản xuất… Tuy nhiên, đây là một chỉ tiêu khó có thể đánh giá chính xác
Trang 331.3.3.2 Các chỉ tiêu định lượng
(1) Chỉ tiêu dư nợ cho vay DNVVN
Dư nợ cho vay DNVVN
Tỷ trọng dư nợ cho vay DNVVN = - x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay là số dư cuối kỳ tính toán, được tính theo thời điểm, đây là tổng
số tiền vay đối với DNVVN còn phải thu hồi tại một thời điểm Chỉ tiêu này cho thấy
dư nợ cho vay đối với các DNVVN chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
Nếu tỷ trọng này càng lớn thì càng thể hiện tầm quan trọng của hoạt động cho vay DNVVN trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng Nếu hoạt động cho vay DNVVN có chất lượng tốt sẽ góp phần gia tăng
sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mang lại thu nhập và tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển bền vững trong tương lai và ngược lại
(2) Tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN
DNVVN của ngân hàng Theo quyết định số 18/2007 QĐ – NHNN ngày 25/4/2007 về
sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng phòng
để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng đã phân loại các khoản nợ quá hạn
thành các nhóm như sau:
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý – Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày) bao gồm: các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với các khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả
nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn – Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày) bao gồm: các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2, các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Trang 34- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ - Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày) bao gồm: các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn –Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày) bao gồm: các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn, các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý
Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết trong 100 đồng ngân hàng đang cho DNVVN vay có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN càng thấp theo thời gian thì chất lượng hoạt động cho vay ngày càng có xu hướng tốt dần lên và ngược lại Theo quy định của NHNN, tỷ lệ nợ quá hạn không được vượt quá 5% tổng dư nợ, phản ánh chất lượng cho vay của NHTM là nằm trong giới hạn an toàn Ngân hàng có chỉ số này dưới 5% và càng nhỏ thì chất lượng cho vay DNVVN càng tốt Ngược lại nếu chỉ số này lớn hơn 5% phản ánh nguy cơ mất vốn của ngân hàng, đồng thời là nguy cơ giảm thu nhập của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn tới nguy cơ mất khả năng thanh toán nếu tỷ lệ này quá cao Khi ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá
là chất lượng cho vay thấp, rủi ro cao và ngược lại
(3) Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Tỷ lệ nợ xấu phản ánh rõ nét chất lượng
và rủi ro trong hoạt động cho vay DNVVN của NHTM
Nợ xấu cho vay DNVVN
(1) Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ = - x 100%
cho vay DNVVN Tổng dư nợ cho vay DNVVN
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay DNVVN của NHTM Hệ số này cho biết, trong 100 đồng ngân hàng đang cho DNVVN vay có bao nhiêu đồng là nợ xấu Nếu hệ số này <=3% và càng nhỏ thì càng thể hiện chất lượng cho vay DNVVN của NHTM càng tốt Hệ số này >3% và càng lớn cho thấy chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng càng xấu, công tác quản lý tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát nợ kém, khả năng thu hồi nợ giảm, rủi ro trong cho vay của ngân hàng cao
Trang 35Nợ xấu cho vay DNVVN
(2) Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn = - x 100% cho vay DNVVN Nợ quá hạn cho vay DNVVN
Chỉ tiêu nợ xấu cho vay DNVVN trên nợ quá hạn cho vay DNVVN cho biết trong 100 đồng nợ quá hạn cho vay DNVVN thì nợ xấu chiếm bao nhiêu đồng Cũng giống như chỉ tiêu trên, tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng cho vay DNVVN của NHTM càng thấp, ngân hàng có khả năng mất vốn càng cao Ngược lại nếu tỷ lệ này thấp, cho thấy chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng tốt hơn
(4) Vòng quay vốn tín dụng
Doanh số thu nợ cho vay DNVVN
Vòng quay vốn tín dụng = - x 100%
Dư nợ bình quân cho vay DNVVN
Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng của ngân hàng đối với DNVV Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh hay nói một cách khác là đồng vốn ngân hàng cho DNVVN vay đã tham gia nhiều vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh tình hình ngân hàng quản lý vốn tín dụng đối với DNVVN tốt, chất lượng cho vay DNVVN cao Ngược lại, chỉ số này thấp chứng tỏ có những bất ổn có thể xảy ra trong quá trình thu hồi vốn Thông qua đó ngân hàng sớm có biện pháp nhắc nhở, đôn đốc DNVVN kịp thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra Đây là căn cứ để ngân hàng đưa ra quyết định có cho vay trong những lần tiếp theo hay không
(5) Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay
Thu lãi cho vay DNVVN
(1) Tỷ lệ thu lãi cho vay DNVVN = - x 100%
trên tổng thu nhập Tổng thu nhập
Chỉ tiêu này phản ánh phần trăm thu nhập từ hoạt động cho vay đối với DNVVN của ngân hàng trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh nói chung Chỉ tiêu này cho thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động cho vay DNVVN trong việc tạo ra thu nhập cho ngân hàng Nếu tỷ lệ này càng cao thì sẽ tạo ra nguồn thu lớn cho ngân hàng, đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển trong tương lai, đồng thời phản ánh chất lượng cho vay DNVVN càng tốt, hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng
an toàn, hiệu quả và ngược lại
Trang 36Thu lãi từ cho vay DNVVN
(2) Tỷ trọng thu nhập từ = - x 100%
cho vay DNVVN Tổng thu lãi cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh phần trăm thu nhập từ hoạt động cho vay đối với DNVVN của ngân hàng trong tổng thu nhập từ hoạt động cho vay nói chung của ngân hàng Nó trực tiếp cho thấy hiệu quả của hoạt động cho vay đối với DNVVN và khả năng sinh lời từ hoạt động này Tỷ trọng này càng cao càng phản ánh tầm quan trọng của cho vay DNVVN trong hoạt động cho vay nói chung của ngân hàng Qua đó cho thấy chất lượng cho vay DNVVN càng tốt, đóng góp vào chất lượng cho vay nói chung của ngân hàng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng an toàn, hiệu quả và ngược lại
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
1.3.4.1 Nhóm nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính của DNVVN, nếu môi trường kinh tế xấu sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng khoản vốn vay mà doanh nghiệp đã vay của ngân hàng Ngược lại, nếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn, thu hồi được vốn nhanh đồng thời lợi nhuận thu được sẽ cao và
từ đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp được đảm bảo, khoản vay sẽ được trả đúng hạn, khoản vốn cho vay DNVVN của ngân hàng sẽ có chất lượng tốt
Môi trường chính trị - xã hội
Tình hình chính trị, an ninh trật tự, an toàn xã hội đều ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của DNVVN và các ngân hàng Trong xu hướng hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, tình hình kinh tế chính trị trong và ngoài nước đều
có thể ảnh hưởng đến hoạt động của DNVVN và các ngân hàng, ảnh hưởng đến quy
mô và chất lượng cho vay của ngân hàng
Một nền chính trị ổn định, ít biến động, bộ máy Nhà nước hoạt động hiệu quả là điều kiện lý tưởng để thực hiện các định hướng phát triển kinh tế nói chung, hoạt động kinh doanh của các DNVVN và ngân hàng nói riêng Điều đó tạo tâm lý an tâm cho các nhà đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động của mình, nhu cầu vốn vay vì thế cũng tăng lên, tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng quy mô cho vay Do DNVVN hoạt động ở khắp các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn hoạt động rộng rãi; nếu chính sách kinh tế của Chính phủ về ưu đãi, phát triển ngành nghề, lĩnh
Trang 37vực, vùng miền nào, đều có ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng
sẽ thấp và khó có thể thu hồi được
Môi trường tự nhiên
Điều kiện tự nhiên thuận lợi hay khó khăn, ít chịu thiên tai hay chịu nhiều thiên tai, dịch bệnh đều tác động đến hoạt động SXKD, nhu cầu vay vốn và vốn vay của DNVVN, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động cho vay, quy mô cho vay và chất lượng cho vay của ngân hàng Đây là một nguyên nhân gây rủi ro tín dụng mà con người không phải lúc nào cũng lường trước hết được Chẳng hạn như trong năm 2008 vừa qua, Việt Nam chịu nhiều thiên tai, dịch bệnh, vì thế sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thủy sản của các DNVVN chịu nhiều thiệt hại nặng nề, làm giảm hiệu quả SXKD của doanh nghiệp dẫn đến việc không đảm bảo khả năng trả nợ đầy đủ cho
ngân hàng, từ đó làm chất lượng cho vay DNVVN đi xuống
1.3.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan
(1) Nhân tố từ phía ngân hàng
Chính sách cho vay của ngân hàng
Chính sách cho vay DNVVN bao gồm chính sách về khách hàng, hạn mức cho vay, lãi suất và thời hạn cho vay, kỳ hạn nợ, hình thức cho vay, các khoản đảm bảo và chính sách xử lý với các tài sản có vấn đề
Chính sách cho vay là kim chỉ nam cho hoạt động cho vay DNVVN, ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng Chính sách cho vay DNVVN đúng đắn, chặt chẽ, hợp lý sẽ thu hút được nhiều DNVVN đến vay vốn, tiết kiệm được thời gian, chi phí, và công sức cho cả hai bên, góp phần giảm thiệt hại, rủi ro cho ngân hàng, nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng
Quy mô vốn và cơ cấu vốn cho vay DNVVN
Vốn huy động là nguồn vốn cho vay chủ yếu của ngân hàng, vì thế, ngân hàng luôn cố gắng huy động lượng vốn ngày càng lớn đáp ứng nhu cầu vay vốn và vốn vay
Trang 38của DNVVN Ngân hàng không ngừng đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh để tìm kiếm vốn huy động, linh hoạt trong tìm kiếm nguồn, đưa ra nhiều chính sách hấp dẫn thu hút lượng tiền trong dân chúng và các doanh nghiệp đang thừa vốn
Vốn tự có cũng quyết định đến việc mở rộng cho vay của ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định tổng dư nợ cho vay của một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của NHTM Vì vậy, vốn tự có của ngân hàng có tính quyết định đến khối lượng tín dụng tối đa mà ngân hàng có thể cho một doanh nghiệp vay Điều này ảnh hưởng đến tổng dư nợ cho vay của ngân hàng và dư nợ cho vay DNVVN cũng như chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng
Chất lƣợng công tác thẩm định cho vay
Thẩm định là một việc rất quan trọng trong hoạt động cho vay của các ngân hàng Khi cho vay, ngân hàng đều cần thẩm định món vay đó một cách kỹ càng, cẩn thận (về ngành nghề kinh doanh, môi trường kinh doanh, tình hình SXKD, phương án
sử dụng vốn vay có khả thi không, khả năng trả nợ của khách hàng) để đưa ra quyết định có cho vay hay không và nếu cho vay thì được vay bao nhiêu Chất lượng thẩm định ảnh hưởng lớn đến chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng
Nếu công tác thẩm định mà không được chú trọng, không chính xác thì quyết định cho vay DNVVN sẽ có nhiều sai lầm, công tác cho vay không hiệu quả, gây rủi
ro cho ngân hàng Nhưng nếu quá trình thẩm định quá lâu, quá thận trọng, nhiều thủ tục rườm rà thì có thể ngân hàng sẽ bỏ qua cơ hội kinh doanh tốt của DNVVN, mất chi phí và thời gian Điều này sẽ làm giảm sức cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh hàng loạt ngân hàng đua nhau thành lập như hiện nay, gây ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNVVN
Chất lƣợng, trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng của ngân hàng
Con người luôn là trung tâm của mọi hoạt động, là yếu tố hàng đầu quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nào, hoạt động cho vay DNVVN của ngân hàng cũng không phải ngoại lệ Đối với các ngân hàng thì trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp… của đội ngũ cán bộ tín dụng là điều hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay DNVVN của NHTM vì đội ngũ cán bộ tín dụng là đội ngũ trực tiếp tiếp xúc với DNVVN, là cầu nối giữa DNVVN với ngân hàng Cũng chính họ là người tạo lập các mối quan hệ với các DNVVN Chất lượng nguồn nhân lực còn ảnh hưởng đến sự chính xác trong khâu thẩm định tín dụng, đến quyết định cho vay vốn của ngân hàng, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNVVN Chính vì vậy, chất lượng và hiệu quả cho vay cao hay thấp phụ thuộc khá nhiều vào công tác tuyển chọn
và đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên của mỗi NHTM
Trang 39Chất lƣợng thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng có ý nghĩa quan trọng với hoạt động tín dụng Các quá trình trình cho vay đều cần có thông tin đầy đủ, chính xác để ngân hàng có thể ra quyết định, kiểm soát hoạt động sử dụng vốn của DNVVN Đây chính là nguyên liệu cho quá trình cho vay bao gồm: các thông tin về hoạt động cho vay, môi trường kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh tế… Đối với các DNVVN, nguồn thông tin của các doanh nghiệp thường khó tiếp cận hơn các doanh nghiệp lớn, và có tiếp cận được cũng không thể đảm bảo những thông tin đó là chính xác Vì thế ngân hàng cần chủ động xây dựng hệ thống thông tin của riêng mình, để đánh giá chính xác nhất về doanh nghiệp NHTM có đảm bảo được thông tin để đánh giá về DNVVN chính xác
và kịp thời thì mới có thể đảm bảo chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp đó
Công tác kiểm tra, giám sát các khoản vay
Thực hiện việc cho vay DNVVN, ngân hàng cần thẩm định, đánh giá chặt chẽ, chính xác; bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện khoản vốn vay của khách hàng để nhanh chóng, kịp thời bổ sung, điều chỉnh, khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, yếu kém của ngân hàng trong công tác cho vay, tránh rủi ro cho ngân hàng Điều này cũng đảm bảo xem DNVVN sử dụng vốn vay như thế nào, đúng mục đích hay không, có hiệu quả không; đồng thời cán bộ tín dụng
có thể hỗ trợ, tư vấn cho khách hàng nâng cao hiệu quả vốn vay Do đó, ngân hàng cần phải thiết lập một đội ngũ kiểm soát có chuyên môn, có trách nhiệm cao, hoạt động có hiệu quả, giúp ngân hàng tránh những rủi ro, sai lầm trong kinh doanh từ đó góp phần nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay DNVVN nói riêng
Công nghệ, trang thiết bị ngân hàng
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ, cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng Nếu cơ sở vật chất đồng bộ, trang thiết bị và công nghệ ngân hàng hiện đại, tiên tiến sẽ giúp các giao dịch diễn ra thuận tiện, nhanh chóng, dễ dàng hơn Các trang thiết
bị hiện đại phục vụ cho dịch vụ ngân hàng hiện đại, môi trường làm việc văn minh, lịch sự, khang trang, đẹp đẽ giúp cho DNVVN và cả cán bộ nhân viên của ngân hàng làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn, tạo niềm tin của DNVVN đối với ngân hàng Ngoài
ra, công nghệ ngân hàng cũng tăng khả năng cạnh tranh của NHTM, từ đó ảnh hưởng đến việc thu hút khách hàng, mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay DNVVN
(2) Nhân tố từ phía các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Năng lực tài chính của các DNVVN
Năng lực tài chính là một nhân tố rất quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Năng lực tài chính thể hiện ở khối lượng vốn chủ sở hữu và tỷ
Trang 40trọng vốn chủ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của các DNVVN Ngân hàng đánh giá năng lực tài chính của các DNVVN thông qua các nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng thanh toán, khả năng sinh lãi, khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn Nếu doanh nghiệp có năng lực tài chính cao, hoạt động có hiệu quả, thì mới có thể sử dụng vốn vay có hiệu quả, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng cũng cao, chất lượng cho vay vì thế cũng cao hơn
Đạo đức kinh doanh, uy tín, năng lực quản lý của chủ DNVVN
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, chữ “tín” luôn là yếu tố quan trọng thúc đẩy, tạo lập và giữ vững các quan hệ làm ăn lâu dài, có hiệu quả DNVVN làm ăn có
uy tín, trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ cho ngân hàng đầy đủ, đúng hạn luôn được ngân hàng ưu tiên hơn, có nhiều ưu đãi hơn trong cho vay vốn Nhiều DNVVN sau khi vay được vốn sử dụng vốn vay sai mục đích đã cam kết, cố tình lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, làm mất lòng tin của ngân hàng đối với doanh nghiệp, tác động tới bản thân món vay, khiến cho ngân hàng phải áp dụng chặt chẽ các biện pháp bảo đảm tiền vay Điều đó tác động lại doanh nghiệp, hạn chế khả năng vay vốn của DNVVN và uy tín của DNVVN trên thị trường
Năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp tốt đảm bảo cho uy tín của doanh nghiệp, họat động SXKD của doanh nghiệp có hiệu quả, tình hình tài chính công ty đảm bảo,
có khả năng trả nợ cho ngân hàng, chất lượng khoản vay được đảm bảo
Khả năng sử dụng vốn vay và phương án SXKD của dự án vay vốn
DNVVN muốn vay vốn ngân hàng đầu tiên phải có phương án sử dụng vốn vay
có hiệu quả Nếu phương án/dự án SXKD của doanh nghiệp không có tính khả thi cao, không có khả năng sinh lời lớn, không thể đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng Vì thế, ngân hàng sẽ có thể không cho vay, hoặc cho vay nhưng với số lượng ít
Chất lượng cho vay của ngân hàng không chỉ thể hiện ở việc ngân hàng có thể thu hồi được nợ đầy đủ, đúng hạn hay không, mà còn thể hiện ở chỗ ngân hàng có đáp ứng tốt cho nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp với mức chi phí hợp lý không, doanh nghiệp có dảm bảo thực hiện phương án vay vốn đúng mục đích, có hiệu quả hay không Do đó, doanh nghiệp có phương án sử dụng vốn vay hợp lý cũng là một trong
những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng