1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội

62 2,7K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 482,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi lợn con mắc bệnh mà điều trị lâu khỏi sẽ gây chi phí điều trị cao,lợn con bị còi cọc, chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa của đàn lợngiống, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng,

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều năm nay, chương trình nạc hóa đàn lợn luôn là mục tiêuhàng đầu của nhà nước ta nhằm cung cấp con giống có chất lượng cao chongười chăn nuôi, với các giống siêu nạc, chỉ số tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạclại cao, giá bán ra thị trường hoặc xuất khẩu rất được giá, đem lại lợi nhuậncho người chăn nuôi

Ở nước ta hiện nay, việc phát triển chăn nuôi lợn theo hình thức trangtrại đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt là các trang trại có vốn đầu tư nướcngoài, được phát triển theo hướng chuyên môn hoá, điển hình như các trangtrại lợn của công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam có vốn đầu tư từThái Lan

Những giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh nhưngkhả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh và chống chịu bệnh tật kém.Đây là vấn đề khó khăn mà các trại chăn nuôi thường gặp phải Trước tìnhhình đó, yêu cầu các trang trại chăn nuôi phải có qui trình tiêm phòng, vệ sinhphòng bệnh chặt chẽ và kết hợp với điều trị bệnh có hiệu quả

Đối với các trang trại chăn nuôi lợn nái, vấn đề thường gặp và cũng làvấn đề nan giải hiện nay vẫn là bệnh phân trắng lợn con ở lợn con theo mẹ.Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tuỳ thuộc vào sự thay đổi ít, nhiều của cácyếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu, với tỷ lệ mắcbệnh cao 70 - 80%, có nơi 100%, tỷ lệ chết có thể 18 - 20% (Đào Trọng Đạt,1996)[2] Khi lợn con mắc bệnh mà điều trị lâu khỏi sẽ gây chi phí điều trị cao,lợn con bị còi cọc, chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa của đàn lợngiống, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con sau này.Chính vì vậy bệnh phân trắng lợn con đã được nghiên cứu từ rất lâu, từ

đó tìm ra nguyên nhân, biện pháp phòng và trị hiệu quả là việc rất quan trọng

Trang 2

Bệnh này cũng được các trang trại chăn nuôi tư nhân đặc biệt quan tâm

và áp dụng chặt chẽ các biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả, giảm thiểu tối

đa những thiệt hại do bệnh gây ra, nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái

Xuất phát từ vấn đề trên và để góp phần tư liệu về tình hình dịch bệnhcủa đàn lợn, nhất là đàn lợn của các trại lợn giống tư nhân, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “ Khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh

và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã Thanh mỹ - Sơn Tây – Hà Nội ”.

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

+ Nắm được quy mô chăn nuôi của trại

+ Nắm được quy trình vệ sinh phòng bệnh của trại

+ Nắm được thực trạng dịch bệnh của trại để tìm biện pháp phòngchống hữu hiệu

Trang 3

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI

Theo Jsenve, nguyên nhân chủ yếu là do stress ẩm, lạnh Khi các tácnhân stress tác động vào cơ thể dễ gây ra cơ chế bệnh lý, làm mất thăng bằng,giảm khả năng thích nghi của cơ thể với điều kiện ngoại cảnh, tạo điều kiệncho bệnh phát sinh

Paltineae và cộng sự (1975) đã cho biết trong quá trình chẩn đoán bệnh

phân trắng lợn con phát hiện thấy E.coli và đề nghị chú ý đến các Serotyp: O5,

O8, O55, O64, O78, O149, O179

Theo Sokol và cộng sự (1991)[18] cho rằng vi khuẩn E.Coli có vai trò

cộng sinh thường trực trong đường ruột trở thành vi khuẩn gây bệnh là vìtrong quá trình sống, cá thể vi khuẩn tiếp nhận được các yếu tố gây bệnh màtheo ông đó là các yếu tố gây dung huyết (HY), yếu tố cạnh tranh (Col), yếu

tố bám dính (K88, K99), độc tố đường ruột (Enterotoxin), yếu tố kháng khángsinh R Các yếu tố gây bệnh này không được truyền qua ADN củachromosome mà di truyền bằng ADN nằm ngoài chromosome được gọi làPlasmid, qua hiện tượng trao đổi di truyền bằng tiếp hợp Chính nhờ các yếu

tố gây bệnh này đã giúp cho vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruộtnon, từ đó gây dung huyết, nhiễm độc huyết

Trang 4

Theo Bulsa, I G.et al (1982)[17] các vi khuẩn E.coli gây bệnh đường

ruột có khả năng bám dính vào tế bào nhung mao ruột Sự bám dính này là dopili thực hiện Có 5 loại kháng nguyên, kháng nguyên K là yếu tố bám dínhtrong cấu trúc Pili bao gồm K88ad, K99, 987P

Theo Sử An Ninh (1995)[9] cho rằng: nguyên nhân phát sinh bệnh phântrắng lợn con có liên quan chặt chẽ đến phản ứng thích nghi của cơ thể đối vớicác yếu tố stress biểu hiện qua sự biến động về hàm lượng một số thành phầntrong máu như đường huyết, cholesterol, sắt, Kali, Natri

Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp (1999)[16], kiểm tra

tính kháng thuốc của E.coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh

phía Bắc trong 20 năm (1975 - 1995) cho thấy tính kháng thuốc tăng rấtnhanh, tính kháng với nhiều loại kháng sinh cũng tăng rất cao

Theo Đỗ Ngọc Thụy, Cù Hữu Phú (2002)[15], các tác giả đã phân lập vi

khuẩn E.coli Ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, đã xác định được các chủng E.coli

mẫn cảm cao với các loại kháng sinh Nitrofurazolidon (85%), Neomycine(80%), Sulfonamid (75%)

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ LỢN CON

Ở lợn con, do cấu tạo cơ thể cũng như chức năng của các cơ quan, bộphận cơ thể, chức năng của hệ thống thần kinh, thể dịch chưa hoàn thiện, do

đó sự thích ứng của lợn con với điều kiện ngoại cảnh còn kém Hiểu rõ đượcđiều này giúp cho người chăn nuôi có những biện pháp tốt để chăn nuôi tốt và

Trang 5

hạn chế tối đa bệnh phân trắng lợn con.

Lợn con theo mẹ có 5 điểm yếu chính khiến lợn con thích ứng kém vớimôi trường: điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng cơ thể rất ít, hệthống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, thiếu sắt, hệ thống miễn dịch vàhormone chưa phát triển

* Điều hoà thân nhiệt kém

Lúc mới sinh, thân nhiệt của lợn con là 38,50C – 390C, thân nhiệt trungbình là 330C – 350C Ở giai đoạn này năng lực điều hoà nhiệt rất kém: nhiệt

độ trực tràng giảm 20C khi nhiệt độ chuồng nuôi 180C, nhưng sẽ giảm 50C khinhiệt độ chuồng nuôi là 110C (sau 20 phút) Thân nhiệt trở lại bình thường sau24h (Vũ Duy Giảng (1997)[3]

* Dự trữ năng lượng cơ thể rất ít

Lúc lợn con mới sinh, cơ thể chứa 80% nước và chỉ có 20% lipid (ở 3tuần có 65% là nước và 12% lipit) Ngoài chất dự trữ cơ thể là lipid còn cóglycogen Tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) khoảng 1.000 - 1.200Kcal, chỉ tương đương với 1 lít sữa, năng lượng này chỉ đủ cho lợn con sốngkhoảng 2 ngày Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con được bú sớm và giữ

ấm Nhờ quá trình oxy hoá mô bào mỡ mà gia súc non điều chỉnh được thânnhiệt và khả năng điều chỉnh thân nhiệt ở gia súc non là khác nhau, phụ thuộcvào độ phát triển khác nhau của các mô bào mỡ của từng cá thể, từng loại giasúc (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1996)[2]

* Hệ thống enzyme tiêu hoá chưa hoàn chỉnh

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa hoànthiện Phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng nhanh về dung tích dạ dày, ruột non

và ruột già Nhưng cơ quan tiêu hoá của lợn con chưa được hoàn thiện do một

số men tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần tuổi đầu.Đặc biệt là hàm lượng HCl, ở lợn con việc sản sinh HCl là không đáng kểcho tới 3 tuần tuổi Lúc cai sữa pH chuyển từ 3 sang 4 - 5 Điều này không đủ để

Trang 6

hoạt tính men pepsin đạt mức tối ưu (pH = 2 - 3) Từ đó mà tăng nguy cơ tiêu chảy.

Ở lợn con khi cho con vật ăn thức ăn rắn sớm, HCl sẽ tăng lên cao Thức ăn protein

và chất khoáng có năng lực đệm cao, chống lại sự hạ thấp của pH dạ dày

Theo Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh VănKháng (1996)[2], lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu axít HCl tự

do trong dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa Dovậy việc tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt là việc cai sữa sớm đã rút ngắnđược giai đoạn thiếu HCl, hoạt hoá hoạt động miễn dịch, tạo khả năng xâydựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Cho tới 15 - 21 ngày, enzyme của lợn con chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa(chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipid và lactazacho lactoz) Bắt đầu từ 3 tuần tuổi, hoạt tính enzym tiêu hoá tinh bột vàprotein thực vật phát triển nhanh Do đó việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kíchthích sự phát triển đầy đủ các loại enzyme tiêu hoá

là việc cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế đượcbệnh phân trắng lợn con

* Hệ thống miễn dịch và hormone chưa hoàn chỉnh

Lợn con mới đẻ ra trong máu hầu như không có kháng thể Lượng khángthể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu Cho nên khả năng miễndịch của lợn con hoàn toàn là thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể thuđược nhiều hay ít từ sữa mẹ

Trong sữa đầu của lợn nái, hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu

Trang 7

mới đẻ hàm lượng protein chiếm tới 18 - 19%, trong đó hàm lượng

_globulin chiếm số lượng khá lớn (34 - 35%) _globulin có tác dụng tạoglobulin có tác dụng tạosức đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễndịch của lợn con _globulin có tác dụng tạoglobulin trong sữa đầu được lợn con hấp thu bằng conđường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử _globulin giảm đi rấtnhanh theo thời gian

Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ ngày 20 - 25 ngày tuổi lợncon mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó lợn con không được búsữa đầu sớm thì khả năng mắc bệnh rất cao Đây là một điều rất quan trọng,đòi hỏi người chăn nuôi cần phải biết, hiểu rõ để có phương pháp chăn nuôitốt, nhất là chăn nuôi lợn nái sinh sản (Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, VõVăn Sự, Võ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông (2000))[4]

Lợn con mới sinh nhận từ sữa đầu một lượng kháng thể đặc hiệu (IgG)

có hiệu quả trong 10 ngày đầu Hấp thụ Immunoglobulin của sữa đầu cũnggiảm nhanh trong vòng 24 giờ sau khi sinh

Tất cả các yếu tố, tác nhân hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ tửvong, tăng tỷ lệ nhiễm bệnh sau khi sinh Miễn dịch chủ động thực hiện bắtđầu từ 3 tuần tuổi

2.3 HỆ VI SINH VẬT ĐƯỜNG RUỘT CỦA LỢN

Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa vật chủ và hệ vi sinh vật bên trongđường tiêu hoá cũng như các vi sinh vật với nhau trong tập đoàn của chúngluôn ở trạng thái cân bằng Theo Nguyễn Thị Nội (1978)[10], trong đườngtiêu hoá của lợn luôn có rất nhiều vi sinh vật cư trú, chúng giữ chức năng nhấtđịnh trong quá trình tiêu hoá và có vai trò sinh lý quan trọng với cơ thể

Hệ vi khuẩn đường ruột bao gồm hai nhóm vi khuẩn lớn

* Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, nước

uống, bao gồm: Staphylococcus, Streptococcus, Bacillus subtilis Trong

đường tiêu hoá của lợn còn có thêm cả trực khuẩn yếm khí gây thối rữa:

Trang 8

Chlostridium perfringens, Bacillus puticficus, Bacillus fuso bacterium, Plantvincenti, B.fuso bacterium pubatun.

* Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: nhóm vi khuẩn này thích ứng với

môi trường của đường tiêu hoá trở thành vi khuẩn bắt buộc gồm: Escherichia

coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Proteus

Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: chủ yếu thuộc nhóm vi khuẩn đường

ruột “Enterobacteriaceae”.

Enterobacteriaceae: là một họ lớn bao gồm các trực khuẩn Gram âm,

sống trong đường tiêu hoá của người và gia súc, tồn tại trong phân rác, nước

tiểu, trong đất hoặc trong thực vật Enterobacteriaceae đại diện có: E.coli;

Salmonella; Klebsiella; Shigella; Proteus.

- Escherichia coli (E.coli)

Vi khuẩn luôn tồn tại trong đường tiêu hoá người và gia súc, gia cầm.Đây là loại vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi, mọi

chỗ Khi có điều kiện cho cơ thể vật chủ thì các chủng E.coli trở lên cường

độc gây bệnh cho gia súc, gia cầm

Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, có đủ ba loại kháng

nguyên Kháng nguyên K cũng có nhiều loại như: L, A, B Dựa vào cấu trúc

kháng nguyên người ta chia E.coli ra làm các Serotyp khác nhau Dựa vào cấu

trúc kháng nguyên người ta đã xác định được 170 kháng nguyên: 80 khángnguyên K, 56 kháng nguyên H và một số quyết định kháng nguyên F

Bệnh phân trắng lợn con do serotyp O78: K88 gây ra ở lợn con thường làm

chết lợn ở 1 tuần tuổi và 2 tuần tuổi, do E.coli vào trong cơ thể gây tiêu chảy và

bại huyết

- Salmonella

Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae, vi khuẩn Salmonella được gọi là trực khuẩn đường ruột Ở điều kiện bình thường Salmonella không gây bệnh mà có vai trò góp phần giữ cân bằng hệ vi sinh

Trang 9

vật đường tiêu hoá Khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút, vi khuẩn xâmnhập vào một số cơ quan nội tạng và gây bệnh.

Cấu tạo kháng nguyên của Salmonella hết sức phức tạp, bao gồm 3 loại:

kháng nguyên O, kháng nguyên H, kháng nguyên K

Salmonella có hai loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố Trong đó nội

độc tố là độc tố rất nguy hiểm, gây độc thần kinh, hôn mê, co giật, gây phù nềmảng payer, hoại tử ruột

- Klebsiella

Klebsiella là vi khuẩn không di động, không hình thành nha bào, thường

sinh giáp mô và sản sinh niêm dịch

Vi khuẩn Klebsiella có ba loại kháng nguyên: kháng nguyên K, kháng

nguyên O dạng S bóng láng và kháng nguyên O dạng R nhám

- Proteus

Proteus thường ký sinh ở đường ruột, bình thường với số lượng ít không

gây bệnh Nhưng khi có yếu tố bất lợi tác động vào cơ thể làm cho sức đềkháng của cơ thể giảm thì vi khuẩn trỗi dậy gây bệnh và gây tổn thương tạinơi cư trú

- Shigella

Shigella là loại trực khuẩn gram âm, không có khả năng di động Shigella

2.4 BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON (Colibacillosis)

Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng rất đa dạng, đặc điểm củabệnh là viêm dạ dày - ruột, đi tả và gầy sút nhanh Theo Phạm Sỹ Lăng, LêThị Tài (2000)[7] cho rằng, bệnh phân trắng lợn con là một bệnh truyền nhiễmcấp tính làm chết nhiều lợn con đang bú mẹ, thể hiện đặc trưng bằng triệuchứng ỉa chảy phân trắng - vàng kèm theo bại huyết

Theo các tác giả Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên(2002)[11], bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và suốt trong thời

Trang 10

kỳ bú mẹ Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 50 - 100%, trong đó tỷ lệ chết có thể tới 60

- 70%, nếu không can thiệp kịp thời, bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng thườngphát mạnh khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào)

2.4.1 Nguyên nhân

Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm,nghiên cứu và đưa ra những nhận định khác nhau về nguyên nhân gây bệnh.Song, tập trung nguyên nhân gây bệnh có thể theo hai hướng chính như sau:

- Nguyên nhân nội tại

- Nguyên nhân do ngoại cảnh

* Nguyên nhân nội tại

Theo các tác giả Nguyễn Văn Thanh, Bùi Thị Tho, Bùi Tuấn Nhã (2004)[14] Khi mới sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hoá

và hệ miễn dịch Trong dạ dày lợn con thiếu axít HCl do đó pH dạ dày cao(pH = 3 - 4), tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển

Khi thiếu HCl, Pepsinozen tiết ra không trở thành men pepsin hoạt độngđược Khi thiếu men pepsin, sữa mẹ không được tiêu hoá và bị kết tủa dướidạng casein, gây rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân màu trắng (màu của caseinchưa được tiêu hoá)

Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết nhiệt của lợn conchưa hoàn chỉnh, do đó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường củathời tiết, khí hậu Lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1%.Lúc khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt vàthải nhiệt Đặc điểm này lý giải tại sao bệnh này lại hay xảy ra ồ ạt, hàng loạtkhi khí hậu thời tiết thay đổi bất thường

* Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh

Gần đây nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã thống nhất Bệnhphân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàngloạt các yếu tố Do đó việc phân chia nguyên nhân chỉ là tương đối, nhằm

Trang 11

mục đích xác định nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để

có biện pháp phòng trị có hiệu quả

Qua các tài liệu của nhiều tác giả, có thể chia thành những nguyên nhânchính sau:

+ Do điều kiện thời tiết khí hậu

+ Do đặc điểm nuôi dưỡng

+ Do vi khuẩn mà chủ yếu là E.coli

+ Do virus

* Do điều kiện thời tiết khí hậu

Những điều kiện phát sinh bệnh phân trắng lợn con như:

+ Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển nhiều

+ Tỷ lệ mắc bệnh ở nông trường thuộc trung du và miền núi ít hơn, thờigian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng

+ Chuồng xây chỗ trũng tạo điều kiện cho bệnh phát triển

Bệnh phân trắng lợn con phát triển ồ ạt khi độ ẩm trong chuồng tăng.Bệnh càng trầm trọng khi thời tiết lạnh và ẩm Và việc sưởi ấm có tác dụnglàm cho lợn con tăng sức chống đỡ bệnh Theo tác giả thì sưởi ấm là biệnpháp phòng bệnh cơ bản nhất, không những trong vụ Đông - Xuân giá rét mà

cả trong mùa hè ẩm thấp

Theo các tác giả Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, Lê Ngọc Mỹ,Huỳnh Văn Kháng (1996)[2], khi lợn con ra khỏi bụng mẹ, lợn con chịu ảnhhưởng trực tiếp của môi trường sống như: nóng, lạnh, mưa, hanh khô, ẩm thấpthất thường, do cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, nên các phản ứngthích nghi và bảo vệ rất yếu vì vậy khi thời tiết thay đổi đột ngột, lợn con dễ

bị cảm lạnh, đó cũng là điều kiện thuận lợi để bệnh phân trắng phát triển.Trong các yếu tố về khí hậu thì quan trọng nhất là độ ẩm và nhiệt độ Độ

ẩm thích hợp cho lợn con vào khoảng 75 - 85% Do đó trong những tháng

Trang 12

mưa nhiều thì số lượng lợn con bị phân trắng tăng rõ rệt, có khi tới 90 - 100%toàn đàn Vì vậy việc làm khô chuồng là vô cùng quan trọng Nền chuồng ẩmthấp, khó thoát nước trong mùa nóng bức làm bệnh phân trắng dễ phát sinh.Theo tác giả Sử An Ninh (1993)[8], Bệnh phân trắng lợn con có liênquan đến trạng thái stress Trong đó Stress lạnh ẩm làm cho lợn con khônggiữ được mối cân bằng hoạt động của hệ thống: hạ khâu não - tuyến yên -tuyến thượng thận làm thay đổi hàm lượng Fe2+, Na+ và K+ trong máu làmgiảm sức đề kháng của lợn con, nhất là lợn con sơ sinh, gây hiện tượng ỉaphân trắng Do vậy, việc tạo bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi ấm áp về mùađông, thoáng mát về mùa hè và giữ khô ráo chuồng là hết sức cần thiết Khi

độ ẩm chuồng nuôi dưới 60% thì bệnh phân trắng lợn con giảm rõ rệt, nênviệc vệ sinh chuồng trại là yếu tố quyết định trực tiếp đến sức khoẻ của lợncon Vệ sinh tốt sẽ làm tăng khả năng miễn dịch không đặc hiệu của lợn

* Do đặc điểm nuôi dưỡng

Ngoài điều kiện về các yếu tố bên ngoài, điều kiện về nuôi dưỡng cũngđóng vai trò quan trọng, do lợn con mới sinh, đặc điểm thích nghi còn kém,các cơ quan nhất là cơ quan tiêu hoá chưa phát triển đầy đủ Do vậy nếu yếu

tố dinh dưỡng không tốt, không hợp lý cũng là nguyên nhân chính gây bệnh.Bệnh phân trắng lợn con là do hai nguyên nhân, tác động nặng, nhẹ khác nhau:+ Do thành phần sữa mẹ có nhiều chất khô, mỡ khó tiêu lợn con sinh

tích thực, từ đó trực trùng E.coli tác động phân huỷ sữa thành axít gây

viêm dạ dày - ruột

+ Do trữ lượng sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi ra ngoài lạikhông được sữa mẹ cung cấp Co, B12 nên sinh bần huyết Cơ thể suy yếu,không hấp thụ được đầy đủ chất dinh dưỡng

Tình trạng rối loạn trao đổi protein có thể xuất hiện do thiếu hụt proteintrong thức ăn, do tỷ lệ các axít amin trong khẩu phần không cân đối, do hệtiêu hoá của lợn mẹ hấp thu kém Do vậy, nếu không chăm sóc tốt, cung cấp

Trang 13

đầy đủ chất cũng là nguyên nhân gây nên bệnh.

Mặt khác, ở giai đoạn sơ sinh, lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về giảiphẫu và sinh lý nên quá trình tiêu hoá và hấp thu kém, điều hoà nhiệt kém, hệthống miễn dịch chưa hoạt động, nên việc tạo sữa tốt cho lợn con bú là rấtquan trọng và sự tạo sữa của lợn mẹ ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau,giai đoạn mới sinh 1 - 3 ngày đầu có quá trình tiết sữa đầu có hàm lượngprotein rất cao 18 - 19%, protein huyết thanh là 34 - 38% protein tổng số Do

đó, phải có quá trình tập ăn thích hợp cho lợn con

Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, D, B, C cao hơn rất nhiều so vớisữa thường Ngoài ra, trong sữa đầu có MgSO4, có tác dụng tẩy rửa các chấtcặn bã trong đường tiêu hoá của lợn sơ sinh làm tăng nhu động ruột, làm quátrình tiêu hoá tốt Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng kháng thể _globulin có tác dụng tạoglobulin

Do vậy mà việc cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ là rất cần thiết để cung cấphàm lượng kháng thể đáng kể chống lại sự xâm nhiễm của các vi khuẩn gâybệnh, đồng thời tăng sức đề kháng của cơ thể

* Nguyên nhân do E.coli

Đây là nguyên nhân được nhiều tác giả nghiên cứu từ rất lâu, và đã

chứng minh được vai trò của E.coli trong bệnh phân trắng lợn con.

Theo tác giả Lê Văn Tạo và cộng sự (2006)[12], đã phân lập từ phân của

lợn con mắc bệnh phân trắng được 75 chủng E.coli thuộc 13 serotyp kháng

mẹ chửa không được chăm sóc đầy đủ, chuồng trại chăn nuôi mất vệ sinh, vi

khuẩn E.coli có sẵn trong ruột hoặc cảm nhiễm từ ngoài vào gặp điều kiện

Trang 14

thích hợp tiếp nhận được các yếu tố gây bệnh trở thành gây bệnh Với các yếu

tố gây bệnh có được, trước hết vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruộtnon bằng kháng nguyên bám dính vào tế bào nhung mao xâm nhập và cư trú

ở thành ruột non, phát triển, nhân lên, sản sinh ra độc tố đường ruột, độc tốđường ruột sẽ phá huỷ tổ chức thành ruột và làm thay đổi cân bằng trao đổimuối - nước, chất điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà rútnước từ cơ thể tập trung vào ruột và dạ dày, sữa không tiêu, bị vón lại sinh ratiêu chảy, phân có màu trắng Khả năng xảy ra bệnh trong một đàn phụ thuộcvào nhiều yếu tố như:

+ Khả năng tiếp xúc của lợn sau khi đẻ với E.coli, sự ô nhiễm E.coli

trong nơi sinh của lợn

+ Điều kiện chăm sóc lợn mẹ

+ Nhiệt độ chuồng nuôi

+ Hàm lượng kháng thể được truyền qua sữa đầu của lợn mẹ

Bệnh phân trắng lợn con là bệnh truyền nhiễm có điều kiện cho nên lây

lan không mạnh Các Serotyp E.coli thường phân lập được từ bệnh phẩm lợn

con bị bệnh phân trắng là O9, O111, O149 Khi đàn bị bệnh nếu không can thiệpkịp thời tỷ lệ chết cao tới 60 - 90%, đặc biệt lợn con mắc bệnh vào tuần tuổiđầu Những lợn con khỏi bệnh thường bị còi cọc, phát triển chậm trong giaiđoạn sau, nuôi kém hiệu quả

* Nguyên nhân do virus

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của virus

Một số nhà khoa học Khi nghiên cứu đã thấy Rotavirus thuộc họ Reovindae

gây ra Bệnh hay xảy ra ở lợn 1 - 5 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 50 - 100% Cótriệu chứng điển hình là phân nhão như hồ rồi đến phân lẫn nhiều nước màuvàng hoặc xám, chứa nhiều chất vón

2.4.2 Cơ chế gây bệnh

Bệnh phân trắng lợn con có liên quan đến trạng thái stress như: thời tiết

Trang 15

ẩm lạnh hoặc nóng ẩm đột ngột, thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường vềlượng đạm và chất béo, chất khoáng và vitamin.

Hệ thống dạ dày - ruột đặc biệt mẫn cảm với stress Ngay ở giai đoạnbáo động của quá trình stress, nhu động ruột tăng, thậm chí gây ỉa chảy cấptính Nếu tác nhân stress tác động với cường độ mạnh, kéo dài thì chắc chắnxảy ra viêm dạ dày - ruột Tiếp theo quá trình viêm của dạ dày - ruột bởistress, các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá đã làm bệnh trầm trọng hơn, tổnthương nặng hơn

Các tác nhân stress sẽ tạo điều kiện “mở đường” cho vi khuẩn phát triển,

nhất là vi khuẩn E.coli.

Vi khuẩn E.coli bằng cách trực tiếp hay gián tiếp xâm nhập vào đường

ruột của lợn Trong ruột, khi có đủ các điều kiện thuận lợi, vi khuẩn nhân lên

với số lượng lớn, sản sinh yếu tố kháng khuẩn Colicin V (Col V) Yếu tố này

tiêu diệt hoặc hạn chế sự phát triển của các vi khuẩn đường ruột khác, đặc biệt

là các vi khuẩn có lợi: B.subtylis, các vi khuẩn lactic, trở thành vi khuẩn có số

lượng lớn trong đường ruột Khi có số lượng lớn, chiếm ưu thế, vi khuẩn trànlên ruột non Ở ruột non nhờ kháng nguyên bám dính, vi khuẩn bám dính vàolớp tế bào biểu mô nhung mao ruột, nhờ yếu tố xâm nhập, vi khuẩn xâm nhậpvào trong lớp tế bào biểu mô, vi khuẩn phát triển và nhân lên lần thứ nhất làmphá huỷ lớp tế bào này gây ra viêm ruột Cũng tại đây vi khuẩn sản sinh độc

tố đường ruột Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối - nướclàm cho nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể Nước

tập trung vào ruột làm cho ruột căng lên cộng với khí do vi khuẩn E.coli trong

ruột lên men tạo ra cũng làm cho ruột căng ra, sức căng của ruột và quá trìnhviêm ruột kích thích vào hệ thần kinh thực vật ở ruột tạo nên những cơn nhuđộng ruột mạnh đẩy nước và phân ra ngoài, gây nên tiêu chảy

2.4.3 Triệu chứng – bệnh tích.

* Triệu chứng:

Trang 16

Bệnh thường xảy ra ở lợn con, có con mắc rất sớm, thường sau khi sinh

2 – 3 giờ và mắc muộn khi 20 – 21 ngày tuổi

Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì sau 2 – 3ngày thì hạ xuống bình thường, cũng có con thì thân nhiệt hạ xuống do ỉachảy, mất nước nhiều

Lợn mắc bệnh, trong 1 – 2 ngày đầu vẫn bú và chạy nhảy như thường.Sau đó con vật ít bú hay bỏ bú, gầy tóp nhanh chóng, lông xù, đuôi rũ, danhăn nheo nhợt nhạt, hai chân sau run rẩy và dúm lại, đuôi và khoeo dính đầyphân Khi con vật ỉa rặn nhiều làm lưng uốn cong, bụng tóp lại, thể trạn đờđẫn, nằm nhiều hơn Có con ỉa chảy mất nước nhiều thì hố mắt trũng xuống,niêm mạc mắt, mũi, mồm nhợt nhạt, chân lạnh Thần kinh co giật từng cơn,cảm giác ở da bị mất Vật bệnh từ 5 – 7 ngày, cơ thể quá kiệt sức dẫn đếnchết Nếu gia súc qua khỏi thì còi cọc, chậm lớn, dễ mắc các bệnh kế phátkhác

Ngoài việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng, thì bệnh còn được xác địnhchủ yếu dựa vào trạng thái thay đổi của phân qua các giai đoạn bệnh:

- Giai đoạn đầu kể từ 12 – 24 giờ trước khi bị bệnh, lợn con đi ỉa khókhăn, phân táo bón, đen nhỏ như hạt đỗ đen

- Giai đoạn tiếp theo, phân táo bón chuyển sang sền sệt, màu vàng, sau

2 – 3 ngày phân chuyển thành màu vàng trắng hay trắng xám, sau có thể làvàng Phân ngày một lỏng hơn, số lần ỉa chảy cũng ngày càng nhiều, có khi

15 – 20 lần/ngày, có mùi tanh khắm, trong phân có lẫn những hạt sữa chưatiêu lổn nhổn như vôi, hay có lẫn nhiều bọt khí Có trường hợp mới mắc bệnhđến ngày thứ ba, phân đã loãng như nước, tháo ra tung tóe, lúc này lợn mấtnước nặng, lợn rơi vào trạng thái hôn mê, hấp hối và chết, tỷ lệ chết cao cóthể là 40 – 70%, thậm chí là 100%

- Giai đoạn khỏi bệnh, lợn đi ỉa phân từ màu trắng xám chuyển thànhxám đen hay đen, phân đặc dần thành khuôn như phân lợn khỏe

* Bệnh tích:

Xác chết gầy, đuôi và khoeo dính đầy phân, mắt trũng sâu, lông da khô

Trang 17

mất tính đàn hồi.

Dạ dày chứa đầy sữa đông vón màu vàng trắng do chưa tiêu Ruột non

có dịch màu vàng và có xuất huyết điểm ở thành ruột, niêm mạc ruột bị hoại

tử từng đám Trong ruột (ruột già) chứa phân màu vàng Làm cho ruột xuấthuyết, hạch màng treo ruột sưng

Một số trường hợp lợn con bị viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng, chứa dịch

Theo Lê Văn Tạo (2006)[12], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi

khuẩn tồn tại trong môi sinh, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi sinhquá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm vikhuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm

nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý

nghĩa to lớn trong phòng bệnh

Theo Đào Trọng Đạt (1996)[2], để phòng bệnh tốt, cần phải đảm bảonuôi dưỡng, chăm sóc tốt Để có đàn lợn khoẻ mạnh phải nuôi dưỡng vàchăm sóc tốt lợn nái giống khi mới chửa, phải đảm bảo các nhu cầu vềdinh dưỡng, về các loại vitamin, các nguyên tố đa, vi lượng

Giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm áp vào mùa đông và đầu mùaxuân, giữ khô ráo, chống ẩm ướt, sẽ làm cho lợn con phòng được bệnh lợncon phân trắng Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoạitrong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con ỉa phântrắng đem lại hiệu quả cao

- Phòng bệnh bằng bổ sung sắt

Ở lợn con, việc thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, làm giảm sức đề khángcủa lợn cũng là nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

Trang 18

Theo các tác giả Trần Minh Hùng, Đinh Bích Thuỷ, Đinh Thị Huệ,Nguyễn Thị Đô, Nguyễn Thị Thao (1986), khi sử dụng Dextran FerriumViệt Nam liều sử dụng 100 mg/Fe/1kgTT đã thu được kết quả: thuốc cótác dụng hạn chế bệnh phân trắng lợn con với tỷ lệ 58% trong tổng đànkhông mắc bệnh trong 4 tuần tuổi đầu, nâng cao được tỷ lệ nuôi sống từ62% lên 96% trọng lượng cai sữa tăng hơn 1,46 kg/con so với đối chứng.

- Phòng bệnh bằng Vac - xin

Nguyễn Thị Nội và cộng sự (1978)[10] đã chế tạo Vac - xin từ các

chủng E.coli gây bệnh phân trắng ở lợn con phân lập ở địa phương, thuộc

các serotyp O143, O147, O141, O149, O129, O138, O127, O115, O8,… Vac - xin chếdạng vô hoạt dùng tiêm cho lợn mẹ 1 - 2 lần trước khi đẻ Lợn mẹ đượcmiễn dịch sẽ truyền miễn dịch cho lợn con qua sữa, nhất là sữa đầu Lợn

con có khả năng chống đỡ với các chủng E.coli gây bệnh Hiệu quả 60%.

Hiện nay trên thị trường Việt Nam, ngoài Vac - xin trong nước sảnxuất đang lưu hành các loại Vac - xin do nước ngoài sản xuất như:Neocolipor của hãng Nissan chemical Indutries, Vac - xin litler Guard LT

- C của hãng Embrex INC sản xuất phòng tiêu chảy phòng bệnh tiêu chảy

do E.coli.

* Trị bệnh

Hiện nay, các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học làhiệu quả điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều đi đếnkết luận: Cần phải điều trị sớm, kết hợp với nhiều biện pháp tổng hợpnhằm khống chế và khắc phục rối loạn tiêu hóa và hấp thu, chống loạnkhuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điềutrị triệu chứng

Đối với bệnh phân trắng lợn con, muốn điều trị tốt phải đảm bảotoàn diện các hướng sau:

- Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hóa

- Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát bằng thuốc hóa học trị liệu

- Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đườngtiêu hóa

Trang 19

- Bổ sung nước, chất điện giải.

- Bổ sung Fe, các vitamin

Đồng thời phải thực hiện tốt khâu vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng cảlợn mẹ và lợn con

Hiện nay, người chăn nuôi sử dụng nhiều dược phẩm có bán trên thịtrường để điều trị bệnh phân trắng lợn con Nhiều tác giả nhận xét: Tỷ lệmắc khỏi bệnh khi sử dụng kháng sinh và các thuốc hóa học trị liệu biếnđộng trong một thời gian nhất định, tùy thuộc vào từng địa phương vàtrong cùng một khu vực thì hiệu quả sử dụng thuốc kháng sinh hay thuốchóa dược khác đều giảm dần theo thời gian Nguyên nhân dẫn đến hiệntượng này là do tính đa dạng của nguyên nhân gây bệnh và tính khángthuốc của các loại vi khuẩn gây bệnh đối với thuốc đó Vì vậy các chuyêngia thú y khuyên rằng để điều trị đạt hiệu quả cao cần phải tiến hành làmkháng sinh đồ để chọn ra kháng sinh có tác dụng mạnh nhất đối với vikhuẩn gây bệnh, dùng thuốc này để điều trị bệnh phân trắng lợn con nóiriêng và các bệnh do vi khuẩn nói chung

Nhiều tác giả cho rằng: Việc lạm dụng kháng sinh còn phá hủy sựcân bằng cần thiết của hệ vi khuẩn đường ruột, làm giảm đáng kể các visinh vật có lợi cho quá trình tiêu hóa

Ngoài ra khâu hộ lý chăm sóc, bổ sung nước và chất điện giải là cầnthiết để cơ thể bệnh nhanh chóng hồi phục

PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Lợn con giai đoạn theo mẹ từ 1 - 21 ngày tuổi ở trại lợn giống siêu nạcThanh Mỹ - Sơn Tây – Hà Nội

Trang 20

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

+ Điều tra tình hình chăn nuôi, dịch bệnh của trại lợn giống siêunạcThanh Mỹ - Sơn Tây – Hà Nội

+ Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn con theo

mẹ tại trại lợn giống siêu nạc Thanh Mỹ - Sơn Tây – Hà Nội

- Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn con theo

mẹ từ năm 2006 – 2008 và các tháng trong năm 2009

- Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ+ Theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc phân trắng lợn con+ Thử nghiệm một số loại thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

* Phương pháp điều tra dựa vào số liệu được cung cấp tại phòng kỹ thuậtcủa trại và qua quan sát trực tiếp

* Phương pháp xác định bệnh dựa vào dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng

Để xác định các chỉ tiêu lâm sàng của bệnh, chúng tôi tiến hành theo dõitrên những lợn con đã mắc bệnh Theo dõi tỉ mỉ và đếm chính xác những con cóbiểu hiện lâm sàng đặc trưng trên tổng số con theo dõi: 65 con

* Phương pháp xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo độ tuổi củalợn con

Để xác định nội dung này, chúng tôi tiến hành trên những đàn lợn conđồng đều nhau, có cùng thời điểm sinh, cùng lứa đẻ, giống nhau về chế độchăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi trong 3 giai đoạn: 1, 2 và 3 tuần tuổi

* Phương pháp xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ củalợn mẹ

Để thực hiện được nội dung này, chúng tôi chọn ra trong đàn lợn nái đẻnhững nái có các lứa khác nhau (dựa vào thẻ nái của từng nái) Chọn ra 8 lứa,mỗi lứa chọn ra 3 đàn Những đàn này có cùng điều kiện chăm sóc, nuôi

Trang 21

dưỡng là như nhau và đều được theo dõi trong cùng một thời điểm.

* Phương pháp thử nghiệm thuốc điều trị

Để thử nghiệm một số thuốc điều trị chúng tôi tiến hành phân 3 lô để

điều trị, những lô này đồng đều nhau Việc chọn thuốc để điều trị cho các lô

+ Tính thời gian điều trị trung bình

Sau khi điều trị, tiếp tục theo dõi để đánh giá các chỉ tiêu:

+ Số con tái phát, tỷ lệ tái phát

+ Số con còi cọc, tỷ lệ còi cọc

+ Khối lượng cai sữa trung bình của những con đã điều trị, so sánh vớikhối lượng cai sữa trung bình của những con không mắc bệnh

Từ những chỉ tiêu theo dõi trên, đánh giá hiệu quả và độ an toàn củacác thuốc thử nghiệm với thuốc của trại

Trong quá trình điều trị, chúng tôi tuân thủ các nguyên tắc điều trị,cũng như nguyên tắc sử dụng kháng sinh đồng thời thực hiện chăm sóc,nuôi dưỡng tốt

* Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ mắc bệnh (%) = Tổng số con mắc bệnh

Tổng số con theo dõi x 100

Tỷ lệ khỏi (%) = Tổng số con khỏi

Tổng số con điều trị x 100

Trang 22

Tỷ lệ tái phát (%) = Tổng số con mắc lại

Tổng số con điều trị khỏi x 100

Tỷ lệ chết (%) = Tổng số con chết

Tổng số con theo dõi x 100

Tỷ lệ còi cọc (%) = Tổng số con còi cọc

Tổng số con điều trị khỏi x 100

* Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được chúng tôi xử lý bằng phương pháp thống kêsinh học trên phần mềm Excel

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 QUY MÔ CHĂN NUÔI CỦA TRẠI

4.1.1 Vài nét cơ bản về trại lợn giống siêu nạc Thanh mỹ - Sơn Tây - Hà Nội

Trại lợn giống siêu nạc nằm trên địa phận xã Thanh Mỹ - Sơn Tây - HàNội Trại nằm gần trung tâm thị xã Sơn Tây Tổng diện tích của trại khoảng1.5 ha, trong đó 1 ha dùng để chăn nuôi, 0,5 ha là ao cá, còn lại là diện tíchđất để xây thêm trại, nhà ở cho công nhân

Trang 23

Trại được thành lập vào năm 2006, là trại gia công của công ty CP (công

ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Cụ thể, tư nhân (chủ trại) xây dựng

cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới lợn, cám, thuốc, kỹ thuật viên Hiện nay, trại do ông Phùng Văn Trường làm chủ trại, kỹ thuật viên( của công ty CP) là anh Nguyễn Văn Hưng Trại có 12 công nhân, 1 ngườiquản lý, 1 bảo vệ Trại hoạt động dưới sự giám sát chặt chẽ của chủ trại và kỹthuật viên của công ty

Trong khu chăn nuôi có 2 dãy chuồng nuôi lợn nái đẻ và lợn nái mangthai, 1 ô chuồng nuôi nái hậu bị, 1 phòng thuốc và phòng kỹ thuật, 1 kho cám.Trước khi từ ngoài vào trại phải qua hố chứa thuốc sát trùng cho xe ôtô,phòng sát trùng và thay đồ của công nhân và khách thăm quan Hệ thốngnước sử dụng tại trại là nước ngầm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y

Tại mỗi chuồng đều có hệ thống làm mát: phía đầu chuồng là giàn mát,cuối chuồng là quạt gió Chuồng nuôi lợn nái có 8 quạt gió 1 chuồng, chuồngnuôi lợn hậu bị có 2 quạt gió Chuồng được xây dựng thành dãy theo hình thức

cứ 1 chuồng mang thai lại được nối liền với một chuồng đẻ Các chuồng đềuđược xây kín Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ rộng 1,5 m2,cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chốngnóng bằng nhựa

4.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn của trại

Trại Thanh Mỹ - Sơn Tây - Hà Nội là một trại nuôi lợn nái ngoại Trạihoạt động nhằm sản xuất lợn thương phẩm F1, sau đó lợn F1 được chuyểnđến các trại lợn thịt của công ty CP hoặc bán cho khách hàng

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,2 - 2.5 lứa/năm Tỷ

lệ sơ sinh: 11,77 con/đàn, tỷ lệ cai sữa: 9,97 con/đàn Trại hoạt động vào mứckhá theo đánh giá của công ty CP Hoạt động chăn nuôi của trại là chỉ chănnuôi lợn nái, cơ cấu đầu lợn của trại được biểu thị qua bảng 4.1

Bảng 4.1.1 Kết quả điều tra cơ cấu đàn lợn của trại lợn giống siêu nạc

Trang 24

Thanh mỹ - Sơn Tây – Hà Nội (tháng 4/2009)

(con)

Tỷ lệ(%)

Qua bảng 4.1.1 chúng tôi thấy:

Trại chỉ sản xuất lợn thương phẩm F1, do đó cơ cấu của trại chỉ có lợnnái, lợn đực giống và lợn con theo mẹ Cụ thể: lợn đực giống có 12 con, lợnnái sinh sản có 610 con, lợn nái hậu bị 42 con

Tại trại lợn nái nuôi con đến 21 ngày tuổi, đến lúc cai sữa là cho xuấtchuồng, chuyển sang các trại chăn nuôi thịt của công ty, do đó ở trại chỉ cólợn con theo mẹ

Trong trại có 12 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôinhằm mục đích kích thích động dục lợn nái và làm cho lợn nái mê ì và lấytinh để thụ tinh nhân tạo Tinh nhân tạo được khai thác từ 2 giống lợn củacông ty CP, là Duroc và Pidu Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyểngiống tinh cũng như con đực Theo dạng Pidu – Duroc - Pidu hoặc Duroc-Pidu – Duroc Lợn nái được phân bổ ở 4 ô chuồng: 1 chuồng nuôi lợn náimang thai, 3 chuồng nuôi lợn nái đẻ

+ Ở mỗi chuồng nuôi lợn nái mang thai, có 442 lợn nái, 12 lợn đực.+ Ở mỗi chuồng nuôi lợn đẻ có 56 lợn nái, lợn nái chuẩn bị đến ngày đẻ

sẽ được chuyển xuống đây

+ Thức ăn cho lợn nái toàn bộ là cám ăn thẳng có chất lượng cao, được

Trang 25

công ty CP Group cấp theo từng đối tượng lợn.

4.2 CÔNG TÁC TIÊM PHÒNG CỦA TRẠI

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trại lợn nái siêu nạc Thanh Mỹ - SơnTây - Hà Nội được thực hiện nghiêm ngặt với sự giám sát chặt chẽ của kỹthuật viên của công ty CP Việc phòng bệnh được tập trung chủ yếu vào haikhâu: vệ sinh phòng bệnh và phòng bệnh bằng Vac - xin

4.2.1 Vệ sinh phòng bệnh

Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng không đặc hiệu chođàn lợn Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vệ sinh thân thể cholợn thì việc tạo bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi thuận lợi cho lợn là một việcrất quan trọng

Trại lợn giống siêu nạc Thanh Mỹ - Sơn Tây – Hà Nội là một trại lợn cótrang thiết bị hiện đại, thiết kế phù hợp với việc vệ sinh thú y Hai bênđường vào khu chăn nuôi là hệ thống ao thả cá, do đó chỉ có một đườngduy nhất vào khu chăn nuôi trên đường này có hố vôi tiêu độc xe ôtô.Khi công nhân vào khu nuôi lợn đều phải sát trùng tại nhà sát trùng vàthay quần áo Quần áo bên ngoài không được mang vào khu chuồng nuôilợn và ngược lại, quần áo lao động trong khu chuồng nuôi không được sửdụng bên ngoài

Ở trong các chuồng nuôi được vệ sinh sạch sẽ, chuồng được định kỳ tiêuđộc bằng Biocid vào đầu giờ chiều hàng ngày, pha Biocid với tỷ lệ 1,5 mlBiocid trên 1 lít nước sạch, phun vào không khí, sàn chuồng, xung quanhtrại Các hành lang giữa các dãy chuồng thường xuyên được rắc vôi bột.Gầm chuồng thường xuyên được xịt rửa vào mùa hè, và 2 ngày xịt rửamột lần vào mùa đông

Các ô chuồng nuôi lợn cai sữa, sau khi bán lợn con, lợn mẹ được chuyểnsang chuồng nuôi lợn mang thai Các tấm đan chuồng này được tháo ra,mang ra ngâm ở hố sát trùng bằng dung dịch NaOH 10%, ngâm trong 1

Trang 26

ngày, sau đó được cọ sạch, phơi khô Khung chuồng cũng được cọ rửasạch bằng xà phòng, sau đó được xịt dung dịch sát trùng Biocid, nềnchuồng được dội rửa bằng nước vôi Sau khi sát trùng kỹ, rửa sạch nhữngtấm đan chuồng tiến hành lắp đan Sau khi lắp xong các tấm đan, tiếnhành phun vôi lên các tấm đan, để khô sau 1 ngày thì đưa lợn chờ đẻ vào.

Hệ thống chuồng nuôi lợn của trại được thiết kế là hệ thống chuồngkín, do đó thuận lợi cho việc tạo bầu tiểu khí hậu thuận lợi cho lợn pháttriển Nhiệt độ trong chuồng được điều tiết nhờ hệ thống giàn mát ở đầuchuồng, hệ thống quạt ở cuối chuồng và hệ thống bóng đèn

4.2.2 Phòng bệnh bằng Vac - xin

Tiêm Vac - xin nhằm thực hiện mục đích tạo miễn dịch chủ động cholợn nái, và thông qua lợn nái tạo miễn dịch thụ động cho lợn con qua sữađầu của lợn nái

Quy trình phòng được thể hiện ở các bảng 4.2.1, 4.2.2, 4.2.3 sau đây:

Bảng 4.2.1: Lịch tiêm phòng cho lợn hậu bị trước phối

Tuần trước

khi phối

Bệnhphòng Vac - xin

Đường đưathuốc

Liềulượng(ml/con)

Bảng 4.2.2: lịch tiêm phòng Vac - xin cho lợn nái dạ

Tuần sau Bệnh phòng Vac - xin Đường đưa Liều lượng

Trang 27

phối thuốc (ml/con)

Bảng 4.2.3: lịch tiêm phòng cho lợn con

Ngày tiêm Bệnh phòng Vac - xin/hóa

dược

Đường đưathuốc

Liều lượng(ml/con)

(Nguồn: Phòng kỹ thuật) Việc tiêm phòng do kỹ thuật viên của công ty trực tiếp thực hiện, tỷ lệ tiêmphòng cao đạt 100% Với lợn đực chỉ tiêm 2 loại Vac - xin là Coglapest,Aftopor phòng dịch tả và Lở mồng long móng, 6 tháng tiêm nhắc lại 1lần.Việc tiêm phòng Vac - xin được ghi chép đầy đủ nhằm theo dõi và báocáo về công ty

4.3 TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN CỦA TRẠI

4.3.1 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại

Nhìn chung, do công tác phòng bệnh tương đối tốt, Vac - xin tại trạiđang dùng là Vac - xin ngoại, mức độ bảo hộ cao, lịch tiêm phòng chặt chẽ do

đó bệnh truyền nhiễm ít xảy ra Nhưng các bệnh nội khoa, ngoại khoa, sảnkhoa vẫn xảy ra trên đàn lợn nái của trại Kết quả điều tra được chúng tôitrình bày ở bảng 4.3.1

Bảng 4.3.1 Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái

nuôi tại trại năm 2009

(n = 610)

Nái hậu bị(n = 42)

Trang 28

Số camắc bệnh(ca)

Tỷ lệ (%)

Số conmắc bệnh(con)

Qua bảng 4.3.1 ta thấy, tỷ lệ lợn mắc bệnh Áp xe rất cao ở cả lợn nái

và hậu bị Lợn nái : 14,10%, lợn hậu bị: 14,29% Nguyên nhân của bệnh

là do khi tiêm, người công nhân tiêm với lượng lớn tại một mũi tiêm (cóthể tới 20 ml), hoặc tiêm kháng sinh quá nông, mà kháng sinh dùng cholợn nái là kháng sinh nhũ dầu

Những bệnh ngoại khoa như viêm khớp là những bệnh hay xảy ra vớilợn nái sinh sản, tuy tỷ lệ không cao nhưng luôn xảy ra với lợn nái

Với bệnh sinh sản cũng là những bệnh thường xuyên xảy ra ở trại náisinh sản Qua bảng 4.3.1 ta thấy, lợn hay mắc các bệnh: sảy thai (2,79%),

đẻ khó (9,34%), viêm vú (4,59%), viêm đường sinh dục (11,80%), thai gỗ(2,46%), viêm khớp là (4,92 %), còn ở hậu bị ít bệnh khớp hơn

+ Bệnh viêm đường sinh dục xảy ra với tỷ lệ rất cao 11,8% Bệnhnày cao là do khi lợn đẻ, nhất là đẻ khó, công nhân đỡ đẻ ẩu đã can thiệpthô bạo gây ra viêm nhiễm Bệnh thường diễn ra sau khi đẻ 2 - 3 ngày vớitriệu chứng chảy mủ màu vàng hay màu trắng đục

Trang 29

+ Tuy được tiêm Vac - xin, nhưng vẫn có tỷ lệ không nhỏ mắc bệnhvới triệu chứng thai chết lưu, khô đen lại Khi ra ngoài, những thai nàyđược đưa ra có cả bọc nhau thai.

+ Dù được vệ sinh cẩn thận, nhưng lợn nái trong chuồng vẫn mắcviêm vú, với tỷ lệ 4,59% Triệu chứng là lợn ăn kém, hơi sốt, bầu vúnóng, đỏ và có dạng không đều từ ngực xuống Do việc chẩn đoán đượcxác định sớm, việc điều trị được tiến hành sớm vì vậy ít khi để bệnh tiếntriển nặng

+ Tỷ lệ bệnh đẻ khó cũng khá cao trong trại: 9,34% Nguyên nhâncủa đẻ khó có thể là do: lợn mẹ quá yếu, quá béo, thai quá to hay lợn mẹnhỏ mà thai to Để đỡ đẻ cho những đàn này, người chăn nuôi phải tiếnhành móc thai ra ngoài, kết hợp tiêm Oxytoxin để tăng cường co bóp cơtrơn tử cung

+ Tỷ lệ lợn nái sảy thai của trại: 2,79% Với nái mang thai do chế độchăm sóc không hợp lý, di chuyển nhiều và di chuyển nhanh, nhữngnguyên nhân làm lợn ngã, đều có thể là nguyên nhân gây sảy thai

Ngoài ra, qua bảng 4.3.1 ta cũng thấy lợn nái tại trại cũng mắc bệnhghẻ, là bệnh hay gặp ở những đàn lợn nuôi tập trung, tại trại tỷ lệ này là6,88% (với nái đang sản xuất) và 19,05% (với nái hậu bị) Để hạn chếbệnh này, người ta tiến hành phun thuốc diệt ghẻ toàn chuồng 1 tuần 1lần

Sau đây là phác đồ điều trị của một số bệnh:

- Bệnh viêm khớp

+ Dùng kháng sinh: Vetrimoxin LA, liều 1ml/10kg P, Tiêm bắp

+ Dùng thuốc trợ sức, trợ lực: Bcomplex, 12ml/con,tiêm bắp

AD3E, 15ml/con, tiêm bắp

Glucoza 5%, truyền phúc xoang, 500ml/con

+ Liệu trình: Từ 3 – 5 ngày

Trang 30

- Viêm vú

+ Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ và thường xuyên

+ Tiêm Oxytoxin, liều 3cc/con để kích thích tiết sữa, ngày 2 lần

+ Dùng kháng sinh Vetrimoxin LA, 1ml/10kg P, tiêm bắp

+ Truyền Glucoza 5%, 500ml/con

+ Liệu trình từ 3 – 5 ngày

- Viêm đường sinh dục

+ Vệ sinh sạch sẽ chuồng trại

+ Tiêm Oxytocin, 3cc/con/ngày 2 lần

+ Vetrimoxin LA, liều 1ml/10kg P

+ Truyền Glucoza 5%, 500ml/con

+ Dùng dao mổ ổ Áp xe, ở vị trí 2/3 phía dưới

+ Nặn hết mủ ra, lau thật khô vết mổ, sau đó cho Xanh metylen vào+ Tiêm Vetrimoxin LA, 1ml/10kg P, Tiêm bắp để chống nhiễm trùngNhư vậy với các bệnh xảy ra, Sau khi điều trị đã khỏi hoàn toàn, trừbệnh viêm vú có 27 con khỏi/ 28 con điều trị, Đạt tỷ lệ khỏi là96,43%

Đối với lợn con trong trại, bệnh xảy ra chủ yếu là bệnh phân trắnglợn con, còn các trường hợp bệnh khác, chúng tôi không thấy xuất hiện

Trang 31

trong thời gian thực tập Tình hình bệnh phân trắng lợn con trong trại sẽđược chúng tôi trình bày ở những phần sau.

4.3.2 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con của trại

* Kết quả tỷ lệ mắc, chết của bệnh phân trắng lợn con từ năm (2006- 2008)Trong các trang trại chăn nuôi lợn, nhất là các trại chăn nuôi lợn náisinh sản, bệnh phân trắng lợn con là một bệnh nan giải gây những thiệthại không nhỏ cho người chăn nuôi Tuy được phòng bệnh tốt, nhưngbệnh vẫn xảy ra trong trại với tỷ lệ không nhỏ

Để xác định rõ tình hình mắc bệnh phân trắng trên đàn lợn con theo

mẹ ở trại, chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình mắc bệnh phân trắnglợn con tại trại qua 3 năm (2006 - 2008), được trình bày ở bảng 4.3

Bảng 4.3.2 Kết quả điều tra tỷ lệ mắc và chết của bệnh phân trắng lợn con

Tỷ lệ(%)

Tổngcon

đẻ ra

Sốcon

Tỷ lệ(%)

Sốcon

Tỷ lệ(%)

Cũng qua bảng 4.3.2 ta thấy, trong 3 năm tỷ lệ đàn lợn mắc bệnh là rất

Ngày đăng: 18/12/2014, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1986), Bệnh gia súc non, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia súc non
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1986
2. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Vũ Duy Giảng (1997), Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
4. Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Võ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông (2000), Giáo trình chăn nuôi lợn, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Võ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
5. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, Lê Thị Ngọc Diệp (1999), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu tính kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh trong thú y và tìm giải pháp hạn chế sự lan truyền tính kháng thuốc để nâng cao hiệu quả điều trị, góp phần hạn chế sự ô nhiễm môi trường” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, Lê Thị Ngọc Diệp (1999), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ "“Nghiên cứu tính kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh trong thú y và tìm giải pháp hạn chế sự lan truyền tính kháng thuốc để nâng cao hiệu quả điều trị, góp phần hạn chế sự ô nhiễm môi trường
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, Lê Thị Ngọc Diệp
Năm: 1999
6. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (2000, “thực hành điều trị thú y”, NSX Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: thực hành điều trị thú y
7. Phạm Sỹ Lăng (2004), Bệnh thường gặp ở lợn và kỹ thuật phòng trị, Quyển 1, Bệnh truyền nhiễm, NXB lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường gặp ở lợn và kỹ thuật phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: NXB lao động xã hội
Năm: 2004
8. Sử An Ninh (1993), "Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, độ ẩm thích hợp phòng bệnh lợn con phân trắng", Kết quả nghiên cứu khoa học 1991 - 1993, khoa chăn nuôi thú y, Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, độ ẩm thích hợp phòng bệnh lợn con phân trắng
Tác giả: Sử An Ninh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
9. Sử An Ninh (1995), “Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn con mắc bệnh phân trắng”, Luận án Phó tiến sỹ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn con mắc bệnh phân trắng”
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1995
10. Nguyễn Thị Nội (1978) “Tìm hiểu vai trò Escherichia coli trong bệnh phân trắng lợn con và vaccin dự phòng”, Luận án phó tiến sỹ Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu vai trò Escherichia coli trong bệnh phân trắng lợn con và vaccin dự phòng”
11. Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên (2002), “Phòng trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam”, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam”
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
12. Lê Văn Tạo (2006), "Bệnh do vi khuẩn Escherichia coli gây ra ở lợn", Khoa học kỹ thuật thú y, tập III, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh do vi khuẩn Escherichia coli gây ra ở lợn
Tác giả: Lê Văn Tạo
Năm: 2006
13. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương( 2001), “ Vi sinh vật thú y”, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y”
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
14. Nguyễn Văn Thanh, Bùi Thị Tho, Bùi Tuấn Nhã (2004), “Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở gia súc gia cầm”, NXB lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: P"hòng và trị một số bệnh thường gặp ở gia súc gia cầm”
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Bùi Thị Tho, Bùi Tuấn Nhã
Nhà XB: NXB lao động xã hội
Năm: 2004
15. Đỗ Ngọc Thụy, Cù Hữu Phú (2002), “Tính kháng thuốc của các chủng E.coli phân lập từ lợn con tiêu chảy ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Tạp chí KHKT Thú y, số 2, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính kháng thuốc của các chủng E.coli phân lập từ lợn con tiêu chảy ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Ngọc Thụy, Cù Hữu Phú
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, Lê Thị Ngọc Diệp (1999), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu tính kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh trong thú y và tìm giải pháp hạn chế sự lan truyền tính kháng thuốc để nâng cao hiệu quả điều trị, góp phần hạn chế sự ô nhiễm môi trường”.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, Lê Thị Ngọc Diệp (1999), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ" “Nghiên cứu tính kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh trong thú y và tìm giải pháp hạn chế sự lan truyền tính kháng thuốc để nâng cao hiệu quả điều trị, góp phần hạn chế sự ô nhiễm môi trường”
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, Lê Thị Ngọc Diệp
Năm: 1999
17. Bulsma.I.G, Denú.A, Vander.C, and Frik, J.F 91982), “Diffirent Pig phenotypes afect adhểnce of Escherichia Coli Tojeunal brúh bỏ dess by K 88ab , K 88ac , K 89ab antigen, In fect im mu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bulsma.I.G, Denú.A, Vander.C, and Frik, J.F 91982), “"Diffirent Pig phenotypes afect adhểnce of Escherichia Coli Tojeunal brúh bỏ dess by K"88ab", K"88ac", K"89ab "antigen, In fect im mu
18. SoKol, M.A; Drey fui,J.D; Fairbrother, T.M (1991), “characterization òthe me chanism ò Escherichia Coli heat stable entertoxin, Ìnect Immun 44” Sách, tạp chí
Tiêu đề: SoKol, M.A; Drey fui,J.D; Fairbrother, T.M (1991)," “characterization òthe me chanism ò Escherichia Coli heat stable entertoxin, Ìnect Immun 44
Tác giả: SoKol, M.A; Drey fui,J.D; Fairbrother, T.M
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.3.1. Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái - khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội
Bảng 4.3.1. Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái (Trang 27)
Bảng 4.3.3. Kết quả điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con - khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội
Bảng 4.3.3. Kết quả điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con (Trang 33)
Bảng 4.3.4. Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con - khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội
Bảng 4.3.4. Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con (Trang 36)
Bảng 4.4.1. Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng - khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội
Bảng 4.4.1. Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng (Trang 42)
Bảng 4.5.1. Kết quả theo dõi thời gian khỏi bệnh trung bình và tỷ lệ khỏi của các loại thuốc điều trị - khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội
Bảng 4.5.1. Kết quả theo dõi thời gian khỏi bệnh trung bình và tỷ lệ khỏi của các loại thuốc điều trị (Trang 47)
Bảng 4.5.2. Kết quả theo dõi số con tử vong tỷ lệ tái phát của  mỗi loại thuốc điều trị - khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội
Bảng 4.5.2. Kết quả theo dõi số con tử vong tỷ lệ tái phát của mỗi loại thuốc điều trị (Trang 49)
Bảng 4.5.3. Kết quả theo dõi tỷ lệ còi cọc sau điều trị của mỗi loại thuốc - khảo sát quy mô chăn nuôi, tình hình dịch bệnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại xã thanh mỹ - sơn tây – hà nội
Bảng 4.5.3. Kết quả theo dõi tỷ lệ còi cọc sau điều trị của mỗi loại thuốc (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w