Cho đến nay thì hàng trăm loài cầu trùng đã được phát hiện ký sinh trên nhiều loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, dê, chó, ngựa, vịt, ngan, ngỗng… Tuy nhiên cũng chỉ có một số loài cầu t
Trang 1Bệnh cầu trùng có ở nhiều nước trên thế giới và là một bệnh có hầu hết ở các động vật nuôi Bệnh do loài đơn bào giống Eimeria ký sinh ở trong niêm mạc ruột gây ra Bệnh thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, yếu sức, dễ mắc các bệnh khác và khi gặp điều kiện thuận lợi bệnh phát thành dịch giết hại nhiều gia súc, gia cầm.
Việc nghiên cứu cầu trùng Eimeria ký sinh trên đàn gia súc, gia cầm đã bắt đầu từ thế kỷ XIX nhưng những kết quả đáng kể phải đến thế kỷ XX Cho đến nay thì hàng trăm loài cầu trùng đã được phát hiện ký sinh trên nhiều loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, dê, chó, ngựa, vịt, ngan, ngỗng… Tuy nhiên cũng chỉ có một số loài cầu trùng có ý nghĩa về gây bệnh và dịch tễ học, trong đó cầu trùng gà (Coccidiosis avium ) được nhắc đến như là một trong những giống Eimeria gây tác hại lớn nhất trong chăn nuôi Chính vì thế, chăn nuôi gà càng phát triển việc quan tâm phòng trừ bệnh cầu trùng ở gà không thể xem nhẹ
Ở việt nam do khí hậu nóng ẩm mưa nhiều rất thuận lợi cho việc cầu trùng phát triển Hơn nữa, các loài cầu trùng Eimeria ở gà là những nguồn bệnh
Trang 2có sức đề kháng mạnh làm cho sức kháng thuốc, quen thuốc của cầu trùng ngày càng tăng làm cho hiệu quả phòng bệnh cầu trùng giảm sút đòi hỏi phải thay thuốc sử dụng liên tục …
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Điều tra tình hình nhiễm cầu trùng trên đàn gà nuôi tại công ty TNHH thương mại và dịch vụ tổng hợp Tiến Đạt và so sánh hiệu lực của một số thuốc”
1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI:
1 Xác định tình hình nhiễm cầu trùng trên đàn gà nuôi tại công ty
2.Xác định sự biến động noãn nang trên đàn gà nuôi tại công ty TNHH Tiến Đạt, Đông Anh, Hà Nội
3 Xác định hiệu quả phòng trị một số loại thuốc chống bệnh cầu trùng
4 Giúp cho công ty đề ra biện pháp phòng trừ bệnh có hiệu quả nhất
Trang 3PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ BỆNH CẦU TRÙNG
Bệnh cầu trùng là một loại bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật nuôi thuần chủng, hoang thú và con người do một nhóm nguyên sinh đơn bào ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, chủng Eimeria, hai giống Eimeria và Isospora Bộ nguyên sinh động vật Coccidae được liệt vào những kí sinh trùng phổ biến khá rộng rãi trong tự nhiên Ở gia súc gia cầm, hoang thú và người, cầu trùng đã gây nên tổn thất lớn về kinh tế Trong ngành chăn nuôi, bệnh cầu trùng gia cầm được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất lâu về các mặt: căn nguyên gây bệnh, đặc điểm dịch tễ, thuốc phòng trị…
2.1.1 Căn bệnh
Cho đến ngày nay những nghiên cứu về cầu trùng đã được nhiều tác giả công bố và phần lớn những công trình này được thực hiện ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu của Rivelta (1863), Eimer (1870), Leuc Kart (1879), Zublin (1906), Pocne (1913), Bruce (1912)…., đã tìm thấy những loài cầu trùng khác nhau Các tác giả cũng khẳng định tất cả các loài cầu trùng gây bệnh cho động vật nuôi, động vật hoang dã và người đều do một loại nguyên sinh động vật sinh sản theo bào tử thuộc ngành Potozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, họ Eimeriidae Bộ này có 2 giống chính liên quan đến thú y và y học là Eimeria và Iospora
Ngày nay người ta xác định được hàng trăm loài cầu trùng khác nhau thuộc giống Eimeria chúng ký sinh và gây bệnh cho những loài động vật khác nhau Sự ký sinh của cầu trùng có tính chất riêng biệt, nghiêm ngặt trên mỗi ký chủ, thậm chí trên mỗi cơ quan, mô bào, tế bào nhất định Cầu trùng Eimeria có tính chuyên biệt nghiêm ngặt và chỉ có thể nhiễm vào loại ký chủ mà chúng đã thích nghi trong quá trình tiến hoá Ví dụ: các cầu trùng cừu không thể nhiễm vào bò và các gia súc khác, các cầu trùng thỏ chỉ có thể nhiễm vào ký chủ của
Trang 4nó mà không nhiễm vào các gia súc khác Tính chuyên biệt nghiêm ngặt của cầu trùng giống Eimeria biểu hiện không chỉ với ký chủ của chúng mà còn đối với nơi chúng ký sinh trong cơ thể gia súc Cụ thể, E.tenella chỉ sống trong niêm mạc manh tràng gà, E.acervulina trong tá tràng gà, E.bukid nomensis ký sinh ở niêm mạc ruột non bò trong khi đó E.cylindrica cũng thấy ở những gia súc trên nhưng chúng chỉ ký sinh trên niêm mạc ruột già, E.stiedae cư trú trong
tế bào biểu bì ống mật thỏ, còn ở ngỗng thì cầu trùng E.trunkata sinh sống ở màng niêm mạc bể thận bể thận gây ra bệnh cầu trùng niêm mạc ở thận Mặt khác, tính chuyên biệt của cầu trùng còn thể hiện ở chỗ nếu ký chủ nuốt phải noãn nang (Oocyst) mà noãn nang này không thể ký sinh trong ký chủ đó thì noãn nang này không phát triển và gây bệnh được
Như vậy, noãn nang sẽ thải ra ngoài môi trường, tiếp tục xâm nhập vào ký chủ thích hợp và gây bệnh Như vậy tính chuyên biệt của cầu trùng giống Eimeria biểu hiện rõ nét và phát sinh trong quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối với từng cơ quan, từng
mô bào riêng biệt
*Vị trí cầu trùng trong hệ thống nguyên sinh động vật
Các loại cầu trùng gây bệnh cho động vật nuôi, động vật hoang dã và người đều thuộc ngành Protozoa (Goldfuss, 1879), lớp Sporozoa, bộ Coccidae (Leuc Kart, 1879), họ Eimeriidae (Pocne, 1913) Trong đó có hai giống quan trọng là Eimeridae và Isospora
J.K.Prenkei (1974 – 1977) đã phân bộ phụ Eimeridae thành 3 họ với các giống như sau:
Trang 5* Phân loại cầu trùng gà
Bệnh cầu trùng là do một loại đơn bào họ Coccidae gây ra và thế bệnh có tên khoa học là Coccidiosis Avium.Cho đến nay người ta đã phát hiện ra gần 10 loài cầu trùng gây bệnh trên gà, nhưng trong đó có 9 loài đã xác định rõ tên, kích thước, màu sắc, có khả năng gây bệnh là:
1 Eimeria tenella (Pailliet và Fucet, 1967)
Là loại cầu trùng manh tràng phổ biến rộng rãi nhất và có tính độc lực cao Nang trứng hình bầu dục, bao bọc bởi hai lớp vỏ, có màu xanh nhạt, không
có lỗ noãn, có hạt cực Kính thước noãn nang là 14,2 – 20 x 9,5 – 24,8 μm Giai đoạn sinh sản bào tử của cầu trùng trong những điều kiện thuận lợi có thể tiến triển từ 18 – 48 giờ
Thời kỳ cầu trùng phát triển trong cơ thể 10 ngày, cầu trùng bắt đầu thải nang trứng vào ngày thứ 6, thứ 7 sau khi nhiễm vào cơ thể Số lượng các noãn nang thải tối đa trong 3 – 4 ngày đầu Những ngày tiếp theo cường độ thải cầu trùng giảm nhiều và đến ngày thứ 10 thì hoàn toàn không thấy chúng nữa Đôi khi nang trứng E.tenella được bảo vệ trong manh tràng, từ đó chúng thải ra ngoài môi trường một thời gian dài tới 5 – 7 tháng Ở môi trường ngoài, nang trứng E.tenella khá bền vững, một thời gian dài vẫn giữ được sức sống và khả năng gây bệnh Theo N.A.Kolpaxki và P.I.Paskin thì cầu trùng loài này giữ được khả năng gây bệnh sau khi nằm trong đất suốt năm
Tính độc đáo của E.tenella là do đặc điểm sinh vật học của loài này, nhờ
cư trú chủ yếu ở một bộ phận của ruột có tầm quan trọng về mặt sinh lý manh tràng, chúng gây tổn thương rất nặng ở bộ phận này Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là các thể phân lập đời II, khi phát hiện một số lượng lớn trong vách ruột sẽ phá huỷ màng niêm mạc gây chảy máu Dưới lớp niêm mạc, xoang ruột chứa đầy những tế bào biểu bì bị phá hoại, những yếu tố hữu hình của máu
và những dạng cầu trùng ở những giai đoạn phát triển khác nhau Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hoá bị rối loạn Màng niêm mạc bị tổn thương là điều kiện để các vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân huỷ các chất chứa trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể
Trang 62 Eimeria acervulina (Tyzzer, 1929)
Là loài cầu trùng độc lực yếu và chỉ gây bệnh cho gà con khi nhiễm cho chúng một liều lớn nang trứng Thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếu trong tá tràng và gây quá trình viêm ác tính Các noãn nang có hình quả trứng gà hoặc hình ovan Đầu nhỏ của noãn nang có 1 Micropil, đầu to có nhân phân cực, vỏ bọc nhẵn, kích thước của noãn nang là 17,7 – 20,2 x 13,7 – 16,3μm Thời gian hình thành bào tử nang ở môi trường bên ngoài là 24 giờ E acrvulina ký sinh tại vùng tá tràng và rất ít khi ở ruột non (ionum)
3 Eimeria maxima (Tyzzer, 1929)
Là loại cầu trùng độc lực cao nhưng khả năng gây bệnh thấp hơn E.tenella và E.necatrix Noãn nang cũng có hình quả trứng hoặc hình ovan Vỏ bọc xù xì, màu nâu nhạt.Tại đầu nhỏ của noãn nang có 1 micropil và dưới nó là nhân phân nhạt kích thước của noãn nang là 24,4 – 42,5 x 16,5- 29,8μm tức là loại noãn nang lớn Thời gian hình thành bào tử nang ở môi trường bên ngoài
cơ thể là 48 giờ Trong cơ thể chúng ký sinh không những trong tế bào biểu bì
bề mặt niêm mạc mà còn trong các lớp sâu của Mucose thuộc đoạn tá tràng và dưới đoạn tá tràng (ioum) thời kỳ phát bệnh thay đổi từ 10 ngày tới 2 – 3 ngày
4 Eimeria mitis (Tyzzer, 1929)
Là loài có độc lực yếu Noãn nang có dạng hình tròn, vỏ bọc không màu, không nhân phân hạt Kích thước nhỏ:11,0 – 19,0 x 10 – 17,1μm Thời gian hình thành bào tử nang trong môi trường bên ngoài là 48 giờ Chủng cầu trùng này ký sinh trong tá tràng và ruột non dưới tá tràng (ioum)
5 Eimeria necastrix (Horton Smith, 1996)
Là loài cầu trùng có độc lực cao nhưng mức độ phổ biến và khả năng gây bệnh của nó thấp hơn E.tenella Nang trứng hình bầu dục, không có màu, kích thước 13 – 20 x 13,1 – 18,3μm Noãn nang không có lỗ noãn, ở 1 trong 2 đầu chúng có hạt cực, thời gian sinh sản bào tử dưới 48 giờ Thời kỳ xâm nhập vào trong cơ thể là 138 – 140 giờ Gà con 2 – 5 tuần tuổi cảm thụ mạnh nhất với loại cầu trùng này Thời gian phát bệnh là 12 ngày Nang trứng sau một lần nhiễm vào cơ thể thì có thể được thải ra một thời gian dài hơn Quá trình phát
Trang 7triển nội sinh ở giữa ruột non và gây ra bệnh cầu trùng ác tính thể ruột với tỷ lệ chết cao vào ngày thứ 5, thứ 7 sau khi nhiễm bệnh.
6 Eimeria praecocx (Johnson,1930)
Loài này độc lực yếu Noãn nang có hình trái xoan,vỏ cứng không màu Nhân phân cực nằm ở một bên cạnh hoặc xen kẽ giữa các nguyên bào tử Kích thước nhỏ: 16,6 – 27,7 x 14,8 – 19,4μm Thời gian tạo thành bào tử nang là 24 – 36 giờ Cầu trùng này khu trú ở ruột non
7 Eimeria hagani (Levine, 1942)
Loài này có độc lực yếu nang trứng hình bầu dục, kích thước 15,8 – 29,9 x 14,3 – 29,5μm Thời gian thành thục là 48 giờ, noãn nang không có lỗ noãn Phát triển nội sinh chủ yếu trong tá tràng và nhiễm vào biểu bì Khi biến động noãn nang mạnh, niêm mạc có thể có những tổn thương sâu hơn Các cầu trùng sau khi nhiễm một lần vào cơ thể phải gần 8 ngày mới được thải ra
8 Eimeria brunette (Johnson, 1930)
Là loài cầu trùng có độc lực cao như E.tenella và E.necatrix Nang trứng hình bầu dục, không màu, kích thước 20,7 -30,3 x 18,1 -24, 2μm Noãn nang không có lỗ noãn, bên trong có thể thấy một hay một số hạt cực Thời gian sinh sản bào tử luôn ổn định 24 giờ Loài cầu trùng này thường ký sinh ở ruột già, đôi khi phần cuối ruột non, trực tràng và lỗ huyệt Sau khi gây bệnh một lần cầu trùng thải ra trong vòng 10 ngày hay hơn nữa
9 Eimeria mivati (Edgar và Seibold, 1964)
Nang trứng hình trứng, không có màu, kích thước 10,7 – 20 x 10,1 – 15,3μm Noãn nang có lỗ noãn, có hạt cực Thời gian sinh bào tử là 18 – 24 giờ Thời kỳ phát triển nội sinh của cầu trùng gây tổn thương tế bào biểu bì nhung mao hay những khe hốc trên suốt phần ruột non Thời kỳ phát bệnh là 12 này
2.1.2 Vòng đời
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng trên hành tinh chúng ta là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên
Trang 8Vòng đời của cầu trùng giống Eimeria đặc trưng bằng 3 giai đoạn phát triển.
- Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony)
- Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogonia)
- Giai đoạn sinh sản bào tử (Sprogonia)Quá trình phát triển của cầu trùng gồm có 2 giai đoạn 1 và 2 xảy ra ngay trong các tế bào ký chủ (chu kỳ nội sinh – Endogen) Còn giai đoạn 3 là ở ngoài
cơ thể (giai đoạn ngoại sinh – Exogen)
Khi gà ăn phải nang bào tử của cầu trùng có trong thức ăn nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào Ở trong đường tiêu hoá, dưới tác dụng của các dung dịch men tiêu hoá, màng bao bọc ngoài của các noãn nang bị phân huỷ và giải phóng các bào tử vào khoang ruột Tuỳ thuộc vào từng loài bào tử thích nghi ở những phần cuối ruột khác nhau của đường tiêu hoá Ở đó các bào tử xâm nhập vào các tế bào biểu mô của thành ruột Bào tử phát triển hay còn gọi là trưởng thành làm đầy tế bào và dẫn đến sự phân chia thành nhiều phần nhỏ trong tế bào
Trong giai đoạn phân chia, nhân của tế bào được chia thành một số phần
và mỗi phần nhận được một tế bào chất
Sau khi kết thúc một lần phân chia, các bào tử được giải phóng ra với dạng hình thoi có thể bám vào tế bào ký chủ hoặc xâm nhập vào các tế bào khác và tiếp tục một quá trình phân chia của thế hệ thứ hai Quá trình phân chia tiếp tục một vài thế hệ tiếp sau Kết quả làm cho các tế bào biểu mô ở đường tiêu hoá bị phá huỷ gây xuất huyết biểu hiện ra ngoài là phân đỏ có máu
Trong quá trình phân chia và phát triển có một số chuyển thành tế bào đực và tế bào cái Tiếp sau đó là một quá trình sinh sản hữu tính bắt đầu.Trong quá trình phát triển những thể chưa thành thục về tính được gọi là giao tử Những giao tử đực phân chia thành một số lượng lớn các giao tử con linh động Trong khi đó sự phát triển của các giao tử cái lớn dần thành những giao tử cái riêng lẻ, kết quả hợp thành hợp tử.Hợp tử này sẽ được bao bởi một lớp màng và trở thành noãn nang Noãn nang được bài tiết ra ngoài theo phân và thành dạng
Trang 9nguyên bào tử Các nguyên bào tử nếu lây nhiễm vào thức ăn nước uống rồi đi vào cơ thể theo đường tiêu hoá Ở đó nó được phân chia thành các kén bào tử Trong loài Eimeria noãn nang trưởng thành chứa 4 kén bào tử và mỗi kén bào
tử Bên trong túi bào tử hình thành lưỡi liềm, tức là các thể bào tử và túi bào tử biến thành bào tử Lúc này nang trứng (Oocyst) được gọi là nang trứng thành thục Ở đây nó kết thúc giai đoạn sinh sản bào tử Khi noãn nang (Oocyst) vào
cơ thể ký chủ qua thức ăn, nước uống, dưới tác dụng của dịch tiêu hoá vỏ noãn nang được vỡ ra và giải phóng ra các bào tử thể, chúng xâm nhập vào các tế bào biểu bì ruột…Và rồi chu kỳ sinh sản cứ thế tiếp diễn
Sự phát triển của nang trứng (Oocyst) ở môi trường bên ngoài phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh nhất là điều kiện nhiệt độ, độ ẩm Cho nên thời gian phát triển của noãn nang ở các loài cầu trùng khác nhau thì thời gian sản sinh bào tử cũng khác nhau Đó là đặc điểm vô cùng quan trọng trong phân loại cầu trùng
Thời gian xâm nhập của cầu trùng diễn ra rất nhanh Ở mỹ, bằng thí nghiệm của Mokher (1939) trên E.acervulina cho thấy là 1 giờ 30 phút sau khi vật chủ nuốt noãn nang vào, các bào tử được giải phóng ra trong tá tràng, 54 giờ sau khi nhiễm chúng đã có trong tế bào biểu bì ruột Sau đó 16 giờ bắt đầu nhân lên, 3 ngày sau khi xâm nhập vào, thế hệ thứ hai đã xâm nhập vào tế bào biểu bì mới
Vì vậy trong công tác phòng trị phải đặc biệt quan tâm cắt đứt vòng đời phát triển của cầu trùng để giảm thiệt hại do bệnh gây nên
Trang 102.1.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh cầu trùng gia cầm
Bệnh cầu trùng gà rất phổ biến, hầu như không có đàn gà nào không bị nhiễm một trong các chủng Eimeria Bệnh chủ yếu xảy ra đối với gà con, gà dò,
gà mới trưởng thành Gà ốm và gà khỏi bệnh nhưng mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng lâu dài, nguy hiểm nhất, các yếu tố vệ sinh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thiếu các vitamin, nguyên tố vi lượng, đặc biệt nuôi chung gà con với gà lớn sẽ thúc đẩy bệnh càng ngày càng nặng nề Bệnh bùng nổ triền miên
và kéo dài Chuột, chó, mèo, chim sẻ và một số côn trùng có thể mang bệnh từ đàn này sang đàn khác, từ chuồng này sang chuồng khác
Ngoài môi trường thiên nhiên bào tử mang cầu trùng tồn tại rất lâu Theo Kogan (1959) chúng có thể giữ được khả năng gây bệnh sau 5 tháng Đem sấy khô ở nhiệt độ 40oC sau 4 ngày, giữ trong điều kiện thiếu không khí được 30 ngày
Phương thức chủ yếu truyền qua đường miệng
* Các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm cầu trùng ở gia cầm
Điều kiện chuồng trại là một khâu quan rọng liên quan đến dịch tễ bệnh cầu trùng ở gia cầm Hoàng Thạch (1996), (1997), (1998) khảo sát tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở các phương thức chăn nuôi cũng thu được kết quả: gà nuôi lồng tỷ
lệ nhiễm cầu trùng là 0,37% trong khi đó nuôi nền độn chuồng bằng trấu tỷ lệ nhiễm là 22,49 – 57,38% Thực tiễn cho thấy điều kiện chuồng nuôi gà hạn chế chúng tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm đi
Theo Dương Công Thuận, Nguyễn Ngọc Ân (1978) nhận xét: Bệnh cầu trùng có tính chất lây lan mạnh, đặc biệt ở gà dưới 2 tháng tuổi, cho nên bệnh này còn được coi như bệnh truyền nhiễm ở gà con từ 10 – 49 tuần tuổi
Theo Abuladze (1990), Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) cho thấy bệnh cầu trùng xảy ra ở gà con dưới 3 tháng tuổi, mắc nhiều nhất là gà từ 2 – 8 tuần tuổi trong đó là 3 -4 tuần tuổi mắc nặng nhất và tỷ lệ chết cao nhất
Theo Lê Văn Năm (2006) gà nhiễm cầu trùng nặng nhất vào giai đoạn 20 – 56 tuần tuổi, nếu không được chữa trị kịp thời đàn gà có thể bị chết đến 100% Từ những dẫn liệu trên đây cho thấy lứa tuổi là yếu tố liên quan đến mức
Trang 11độ nhiễm cầu trùng ở gà Vấn đề này cần vận dụng phòng đón trước những lứa tuổi bị nhiễm cao.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), gia cầm nuôi nhốt chật chội,
ẩm độ môi trường cao, thức ăn không đủ dinh dưỡng, chăm sóc kém đều ảnh hưởng tới mức độ nhiễm cầu trùng, ẩm độ môi trường cao, nhiệt độ thay đổi đột ngột là điều kiện thuận lợi cho cầu trùng phát triển
Bệnh cầu trùng thường xảy ra vào mùa xuân và hè, bệnh có thể phát ra ở bất cứ thời gian nào ở những trại gà lớn, khi nuôi nhiều, chuồng trại chật, chưa kịp phân chia ô chuồng, chất thải quá nhiều chưa kịp thay đổi chất độn chuồng,
độ ẩm trong chuồng nuôi tăng nhanh
Số liệu điều tra của bộ môn thú y thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Trung Ương năm 1986 -1988 cho thấy:
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), thì nguồn bệnh là những gia cầm ốm hoặc những gia cầm mắc bệnh ở thể ẩn Từ quan điểm đánh giá cao khả năng truyền lây từ nguồn bệnh là gà mắc bệnh ở thể ẩn (ở gà lớn) là nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm
Tác giả Lê Văn Năm (2006) nhấn mạnh: tuyệt đối không nuôi chung gà con với gà lớn Sự lây truyền thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, chất độn chuồng, độ dày của chất độn chuồng, các dụng cụ chăn nuôi, mật độ trong không gian chuồng nuôi, độ ẩm của nền chuồng, độ ẩm không khí, thức ăn không đủ chất dinh dưỡng… đều có ý nghĩa lớn trong lây lan bệnh cầu trùng (Peter Long, Leid W Wedeolm, 1982)
Đường nhiễm bệnh, là do gà nuốt phải noãn nang của cầu trùng có sức gây nhiễm
* Sức đề kháng
Trang 12Sở dĩ cầu trùng phổ biến rộng rãi là do sức đề kháng của cầu trùng rất cao Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) thì noãn nang bị hút vào trong bụng rồi vẫn có khả năng gây bệnh trong vòng 24 giờ Trong đất ẩm cầu trùng
có sống được 4 -5 năm (Charles,1967) Noãn nang vẫn tiếp tục sinh sản bào tử sau nhiều ngày tiếp súc với dung dịch KMnO4 0,1%, formol 5%, CuSO4 5%,
H2SO4 10%, HCl 10% (Pernard, 1925) Các tác giả Reley (1933), Stotis và Meynhofer (1978), Goodrich (1944) nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh tới sự phát triển của các noãn nang như sau: noãn nang có sức đề kháng cao đối với nhiều loại hoá chất, chất sát trùng nhưng noãn nang không có khả năng phát triển trong điều kiện khô và nhiệt độ cao Về mặt nhiệt độ, sự phân chia noãn nang thực hiện giữa 0oC và 38oC,nhiệt độ thích hợp nhất là 25 – 30oC
Ở 0oC nang trứng bảo tồn tối đa là 2 tháng, để vào nhiệt độ thích hợp chúng lại phân chia
Palimpsestor và Litvis (1958) cho biết: noãn nang cầu trùng tồn tại trong đất tốt nhất là ở độ sâu 5 – 7cm, noãn nang chết dưới tác dụng của các huyễn dịch Formol, dầu hoả, Xalixin - Nhựa thông, Formol - Nhựa thông với nồng độ
5 -10%, ở nhiệt độ 40 – 45oC noãn nang bị chết đi bởi dung dịch Creolin 5% Noãn nang đó là noãn nang non và thành thục sau 20 - 30 giây, noãn nang chết ngay tức khắc trong nước nóng 80oC
Ngoài tự nhiên, noãn nang tồn tại rất lâu Theo Kogan (1959) chúng có thể giữ được khả năng gây bệnh sau 5 tháng Đem sấy khô ở nhiệt độ 40oC sau
4 ngày , giữ trong điều kiện thiếu không khí được 30 ngày
* Gây nhiễm nhân tạo
Shirley (1995) đã làm thí nghiệm gây bệnh nhân tạo trên gà và theo dõi thời gian thải noãn nang theo phân, ông cho biết:
E.tenella gây nhiễm bằng 500 đến 2.000 noãn nang/ gà, phát hiện noãn nang trong phân sau đó 5 đến 6 ngày
E.maxima gây nhiễm bằng 500 đến 2.000 noãn nang/ gà, phát hiện noãn nang trong phân sau đó 6 đến 8 ngày
Trang 13E.acervulia gây nhiễm bằng 1.000 đến 10.000 noãn nang / gà, phát hiện noãn nang trong phân sau đó 5 đến 6 ngày.
E.mitis gây nhiễm bằng 500 đến 10.000 noãn nang/ gà, phát hiện noãn nang trong phân sau đó 5 đến 6 ngày
E.brunetti gây nhiễm bằng 500 đến 2.000 noãn nang/gà, phát hiện noãn nang trong phân sau đó 6 đến 8 ngày
E.necatrix gây nhiễm bằng 6.000 đến 8.000 noãn nang/gà, phát hiện noãn nang trong phân sau đó 6 đến 9 ngày
Cầu trùng xâm nhập vào cơ thể gà theo đường tiêu hoá Nhờ khả năng sinh sản to lớn mà cầu trùng đều gây ra tổn thương lan tràn trên mặt niêm mạc ruột gà Từ đó một số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị huỷ hoại là điều kiện thuận lợi cho các hệ vi sinh vật khác nhau phát triển và xâm nhập vào cơ thể gà Nói một cách khác, niêm mạc ruột bị tổn thương là điều kiện lý tưởng để các bệnh khác phát triển, cụ thể như: bệnh do E.coli, bệnh bạch lỵ và phó thương hàn ,CRD, tụ huyết trùng, Gumboro, Newcastle, Marek…
Theo các tác giả Varga istvant (1986), Kobulej T (1972), Phan Lục (1997), cầu ký sinh ở ruột và phá huỷ bề mặt niêm mạc ruột nên nhiều đoạn ruột không còn chức năng tham gia vào quá trình tiêu hoá làm cho gà bị đói dai dẳng dẫn tới ngưng đọng và phù nề các cơ quan mô bào khác Vì vậy, quá trình sinh bệnh thường làm loãng máu, giảm bạch cầu, mạch đập chậm
Một biến đổi có ý nghĩa to lớn trong quá trình sinh bệnh cầu trùng đó là
sự rối loạn trao đổi nước Nguyên nhân chính là do các thể sản sinh của cầu trùng và hệ vi khuẩn có trong đường ruột xâm nhập tấn công các tế bào ruột gây
Trang 14viêm, gây rối loạn chức năng hấp thụ và vận động của ruột dẫn tới ỉa chảy Quá trình viêm càng tăng dịch phân tiết càng nhiều, mất cân bằng nước càng trầm trọng Biểu hiện lâm sàng: gà rất khát nước Nếu mất 10 – 15% lượng nước trong cơ thể gà sẽ bị chết.
2.1.5 Triệu trứng
Đối với gà bệnh thường xảy ra ở những đàn độ tuổi 10 – 90 ngày tuổi Nhưng nặng nhất là ở gà con từ 18 - 45 ngày tuổi Thời gian ủ bệnh ngắn: 4 – 7 ngày, phụ thuộc vào chủng loại cầu trùng , nơi khu trú và mức độ nhiễm bệnh,
số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể và tình trạng chung sức khỏe đàn gà.Bệnh có 3 thể biểu hiện: Cấp tính, mãn tính, và không có triệu trứng lâm sàng (mang trùng)
2 – 3 ngày, ít khi sau 7 – 8 ngày gà bị chết nếu không có sự can thiệp thuốc kịp thời Qua nhiều lần thí nghiệm khẳng định tỷ lệ chết do cầu trùng có thể lên tới
90 – 95%, thậm chí toàn bộ số gà thí nghiệm chết nếu không can thiệp điều trị
* Thể mãn tính
Bệnh thường quan sát thấy ở gà lớn tuổi hơn từ 45 – 90 ngày tuổi Cùng với các triệu chứng đã mô tả ở thể cấp nhưng mức độ biểu hiên nhẹ hơn, thời gian ốm kéo dài hơn, 7 – 15 ngày tỷ lệ chết thấy khoảng 25 – 45%
Trang 15* Thể không có triệu chứng lâm sàng
Theo nhiều tác giả thì đây là thể mang trùng của những gà lớn đã trưởng thành Khi quan sát bề ngoài gà hoàn toàn khoẻ mạnh, ăn uống, đi lại bình thường Triệu chứng lâm sàng duy nhất là đôi khi gà bị ỉa chảy, tỷ lệ đẻ không đều, năng suất trứng giảm 12- 25% Khi xét nghiệm phân gà thấy có rất nhiều noãn nang cầu trùng
Niêm mạc ruột non dày lên và quan sát thấy vô số điểm xuất huyết Khi
bị kế phát bởi E.coli 078 thì cả ruột non phình rất to chứa nhiều hơi, phân lẫn máu Nhìn từ ngoài vào ngay sau khi mổ bụng gà (chưa mổ ruột) ta đã thấy ngay qua màng ruột thấy vô số nốt đỏ nốt trắng Nốt đỏ là điểm xuất huyết, nốt trắng là các tụ điểm tăng sinh của tế bào bị nhiễm các thể phân lập và có rất nhiều căn nguyên tập chung tại đây
Khi chúng ta mổ những đoạn ruột có những biến đổi nói trên ta thấy: Phân gà sống, lẫn máu hoặc phân gà và niêm mạc ruột có màu nâu nhạt, đặc biệt rõ nhất là ở ruột già Các biến đổi khác của cơ thể thuộc về tình trạng còi cọc và thiếu máu
2.1.7 Chẩn đoán
Có 4 phương pháp chẩn đoán bệnh:
- Dịch tễ: Gà bị ốm thường sau 10 – 14 ngày tuổi và bệnh nặng nhất từ
18 – 45 ngày tuổi, từ 45 – 90 ngày luôn ở thể mãn tính, sau 90 ngày là thể mang trùng
- Lâm sàng: Bệnh với những triệu trứng lâm sàng điển hình như đã mô tả
ở trên cho phép chúng ta có cơ sở nghi đó là bệnh cầu trùng
Trang 16Loại thuốc thứ hai cũng rất phổ biến là Rigecoccin Thuốc còn mang các tên Clopydol, Meticlopindol, Methylchlorpindol, Coyden, Rigecoccin sử dụng giống như Furazolidon tức là phòng từ 5 – 6 ngày tuổi, liều phòng 2,5g/10kg thức ăn, liều chữa là 5g/10kg thức ăn.
Để tránh những tác hại do con người và tránh khả năng kháng thuốc của cầu trùng, những năm đầu của thập kỷ 90 trên thế giới người ta đang có xu hướng dùng các loại thuốc thuộc nhóm kháng khuẩn (Sulfonamid hay còn gọi
là Sulfamid) và kháng sinh (Antibiotic).Các loại thuốc đó được kết hợp với nhau trong cùng một nhóm hoặc giữa nhóm này với nhóm khác tạo ra hàng trăm phế phẩm đặc trị, không độc, có phổ tác dụng rộng, hoạt tính tác dụng cao Hiện nay, ở nước ta có một số loại thuốc chống bệnh cầu trùng mang lại hiệu quả tốt như: Coccistop 200 (Hãng Intervet, Hà Lan), Esb3 (Hãng Ciba, Thụy Sĩ), Coccibio (Pháp), Dinaprol (Hãng Jakarta, Indonesia), Cygro (Hãng Bayer, Đức), Vetpro 60% (Hãng Cipla, Ấn Độ), Coxymax, Baycox 2,5% (Hãng Bayer, Đức)… Bên cạnh các thuốc có nguồn gốc từ nước ngoài thì nước ta cũng đã sản xuất một số loại thuốc cũng có hiệu quả cao trong phòng trị bệnh cầu trùng
Trang 17như: Anticoccid (Công ty vật tư thú y trung ương), Coccistop – Esb3, Sulfutil, Rigeccocein – WS (Công ty cổ phần HanvetC).
Để phòng trị bệnh có hiệu quả, hàng năm công ty đã nhập một số loại thuốc phòng trị bệnh cầu trùng cho đàn gà, cụ thể là các loại thuốc:
Baycox 2,5% (Hãng Bayer, Đức): Thuốc dạng dung dịch màu trắng, nhớt chứa 2,5% Toltrazuril Liều phòng là 1ml/2 lít nước uống, liều trị là 1ml/ lít nước dùng liên tục 2 ngày
Coxymax (Công ty TNHH thú y xanh Việt Nam) chứa 30% Sulfachlozin, thuốc dạng bột màu trắng, tan trong nước Liều dùng 100g/600kg thể trọng dùng liên tục 3 ngày
Coxiclin (Công ty TNHH thuốc thú y Hoàng Kim): thuốc dạng nước, chứa 25% Toltrazuril Pha 1ml thuốc trong 1lít nước sạch cho uống trong 2 ngày
* Phòng bệnh
Trước khi đưa gà vào nuôi, chuồng và tất cả dụng cụ phục vụ cho chăn nuôi phải được tiêu độc, khử trùng bằng việc quét dọn cơ học sạch sẽ, sau đó phun Crezin 5%, sau một tuần phun lại bằng Formon 1,5%, sau đó 2 ngày quét vôi đặc Mọi dụng cụ sau khi rửa sạch được ngâm trong Crezin 5% 2 – 5 giờ và phơi thật khô Chất độn chuồng phải phơi khô phun Formon 1,5% mới được đưa vào chuồng
Chuẩn bị xong, cả chuồng và dụng cụ đều được hun sấy bằng một hỗn hợp thuốc tím + Formon với tỷ lệ ngang nhau: 10m3 chuồng cần 10g thuốc tím pha với 10ml Formon 30 – 38o, có thể đổ thêm 10ml nước để giảm phản ứng, giữ khói thuốc tím lâu hơn trong chuồng để khử trùng tốt hơn Cuối cùng sau 2 ngày mới đưa gà vào nuôi Trước cửa chuồng gà nên có chậu thuốc khử trùng hoặc rắc một lớp mỏng vôi bột Ra vào chuồng phải đi qua đó
Tại chuồng nuôi và vùng xung quanh chuồng phải có biện pháp tiêu diệt các vật cơ học hoặc sinh học có khả năng mang mầm bệnh vào như chuột, chim cút, chim bồ câu, chim sẻ…
Trang 18Nghiêm cấm nuôi lẫn gà dưới 2 tháng tuổi chung với gà dò, gà thịt lớn,
gà đẻ…Cấm mổ khám gà chết ngay trong chuồng nuôi
Tăng cường khả năng kháng bệnh cho gà bằng cách chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi và quy định phòng bệnh thú
y đối với mỗi bệnh
Vệ sinh thú y là công việc thường xuyên nhưng ngày càng đóng vai trò quyết định trong chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh Ngày nay, tại một số nước tiên tiến đã có những trại gà sạch rất hạn chế dùng thuốc và không dùng vacxin Mục đích của những việc này cuối cùng cũng để phục vụ con người về chất lượng thực phẩm sạch và tự nhiên nhất Nước ta so với 20 – 25 năm trước đây, bệnh cầu trùng đã giảm hơn tuy nhiên dịch bệnh vẫn có thể xảy ra và diễn biến khác thường do khả năng kháng thuốc biến đổi và sự thích nghi của cầu trùng rất lớn, hơn nữa vệ sinh thú y của ta chưa thực sự tốt, đặc biệt là vệ sinh chuồng trại
- Phòng bệnh bằng hoá dược
Đây là phương pháp kinh điển nhưng có hiệu quả Trong khoảng 10 năm trở lại đây ngành hoá dược thú y đã có những tiến bộ, có rất nhiều loại thuốc chống cầu trùng mới được ra đời (Baycox 2,5%, Esb3, Coccistop 2000…), một
số thuốc cũ đã sử dụng rất lâu 23 – 30 năm nay như (Rigecocin, Amprolium) Tuỳ theo khả năng và thói quen mà mỗi cơ sở chăn nuôi dùng một loại thuốc khác nhau, thậm chí liều lượng và liệu trình cũng khác nhau
2.2 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ THUỐC PHÒNG TRỪ BỆNH CẦU TRÙNG
Bệnh cầu trùng được A Luvenhuch phát hiện từ năm 1632 tức là cách đây trên 370 năm và cùng thời gian này các nhà nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá Cho đến nay có rất nhiều hãng tung ra thị trường các loại thuốc đặc trị bệnh cầu trùng khác nhau nhưng thành phần chủ yếu của các loại thuốc này đều nằm trong 11 nhóm thuốc chính và hoá chất bao gồm trên 100 loại thuốc có khả năng trị được bệnh cầu trùng cho gia súc, gia cầm
Trang 191 Nhóm các hợp chất chứa Nitrofuran gồm: Furazolidon, Tripan Cocruleum (phẩm xanh), Mepacrin (Acrichin)…Nhưng đa số các chất trong nhóm này đã bị cấm sử dụng tại nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.
2 Nhóm Pyrinidin gồm: Amprolium, Beclothiamin, Diaveridin, Pyrimethamin, Trimethoprim Nhóm thuốc này rất xưa nhưng đến nay vẫn phát huy tác dụng và cho kết quả phòng trị cầu trùng rất tốt
3 Nhóm Arsen: Đại diện cho nhóm này người ta hay dùng Acetarsol hoà tan trong 1% Na2CO3.2H2O
4 Nhóm Nicarbazin (Nicrazin), Nicoxin…
5 Nhóm Dinitrobenzamid gồm: Dinitrolmid (DOT), Iramin, Nitromid…
6 Nhóm Chinolin và các dẫn xuất gồm: Buquinolat (Antagonal), Decoquinat, Nequinat (Methylbenzoquat)
7 Nhóm Pyrimidin và các dẫn xuất gồm: Rigecoccin (Clopydol, Coyden, Methylclopydol, Methylchlorpyndol…) Khi Rigecoccin kết hợp với Choloretracyclin thì tác dụng tốt hơn nhiều
8 Nhóm Guanidin và các dẫn xuất: Đại diện là Robenidin (Robensiden)
9 Nhóm Imidazol và các dẫn xuất: Đại diện là Glycamid
10 Nhóm Sulfonamid khá phổ biến và được sử dụng khá rộng rãi: Sulfathiazol, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin, Sulfaquinoxalin, Sulfaguanidin, Sulfachlorpyridazin, Sulfachlorpyrazin (Sulfaclozin)…
11 Nhóm kháng sinh – Antibiotic gồm: Salinomycin, Monennzin, Chlortetracyclin, Tetracyclin, PenicillinG…, Semduramycin…
Trong đó hiệu quả và tốt nhất là Salinomycin và Monenzin