Việc nhiễm các loài giun xoắn được xác định thông qua thói quen ăn uốngbao gồm người ăn thịt chưa chín của thịt động vật khác.. Theo Porio and Murrll, 2006 Ở những nước đang phát triển n
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này, em xin bày
tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới thầy giáo Trần Văn Quyên và các thầy, các cô, các cán bộ trong bộ môn Ký sinh trùng – Kiểm nghiệm thú sản – Vệ sinh thú y đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp.
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo trong Khoa thú y – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện cho em thực hiện và hoàn thành báo cáo.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của các cán bộ trong Trung tâm chẩn đoán thú y TW Đặc biệt xin cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ của Trung tâm đã giúp đỡ để
em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này Với trình độ còn một số hạn chế nên báo cáo của em tuy đã có những thành công nhất định nhưng cũng không khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để em tích luỹ được kinh nghiệm giúp ích cho công việc sau này.
Hà Nội, ngày … tháng… năm 2014
Sinh viên
Phạm Văn Trượng
Trang 2Một trong những bệnh lây qua do tập quán ăn uống gây nguy hiểm cho con người đó là bệnh giun xoắn Trên thế giới, bệnh nhiều khi gây thiệt hại lớn về người và của.Có rất nhiều cuộc điều tra về bệnh nhưng chưa được
cụ thể
Ở Việt Nam đầu những năm 1970 phát hiện ổ dịch giun xoắn ở Nghĩa
Lộ từ lợn chuyền cho người vì ăn thịt lơn sống Ngoài ra các năm 1967,
1968 cũng phát hiện hai ổ dịch giun xoắn do ngoại lai
Gần đây (tháng 12 năm 2010) phát hiện ổ dịch giun xoắn Ở xã Ngũ Hiệp huyện Thanh Trì – Hà Nội với 22 trường hợp bị nhiễm trong đó có hai người chết
Chính vì vậy, theo tinh thần chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ NN& PTNT – Bùi Bá Bổng ký duyệt vào công văn số 561/SNN – CCTY ngày 18/8/2008 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xã Ngũ Hiệp huyện Thanh Trì – Hà Nội về việc lập đề tài nghiên cứu khoa học về bệnh xoắn tại xã Ngũ
Trang 3Hiệp huyện Thanh Trì – Hà Nội và được sự đồng ý của Cục Thú y, Trung tâm Chẩn đoán Thú Y TW tiến hành xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học:
“Điều tra tình hình nhiễm bệnh giun xoắn (Trichinellosis) trên lợn tại xã Ngũ Hiệp huyện Thanh Trì – Hà Nội ”.
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Được sự phân công của khoa Thú y và bộ môn ký sinh trùng –Kiểm nghiệm thú sản –Vệ sinh Thú y; Được sự nhất trí của trung tâm chẩn đoán Thú Y Trung ương Tôi cùng các cán bộ của trung tâm chẩn đoán Thú y TW
và các cán bộ thú y của trạm Thú y xã Ngũ Hiệp huyện Thanh Trì – Hà Nội tiến hành thực hiện đề tài nhằm mục đích :
- Điều tra tình hình nhiễm giun xoắn trên lợn tại 03 bản của xã Làng Chiếu thuộc huyện Bắc Yên – tỉnh Sơn La
- Thực hiện phương pháp tiêu cơ, phương pháp chẩn đoán miễn dịch
để xác định ấu trùng giun bao trong cơ từ đó so sánh sự chính sác của các phương pháp trên
- Tìm hiểu nguyên nhân xẩy ra ổ dịch tại xã Làng Chếu tỉnh Sơn La
- Từ đó đề ra một số biện pháp phòng trừ bệnh tại địa phương
Trang 4
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH GIUN XOẮN (GIUN BAO)
Bệnh giun xoắn là bệnh chung giữa người và đông vật Việc nhiễm các loài giun xoắn được xác định thông qua thói quen ăn uống(bao gồm người ăn thịt chưa chín của thịt động vật khác) Đây là yếu tố chính lây truyền cho con người Theo (Porio and Murrll, 2006)
Ở những nước đang phát triển những thông tin về bệnh giun xoắn trên động vật và con người không rõ ràng, chỉ có một số nước có nền kinh
tế phát triển có những bản báo cáo chính thức về việc nhiễm bệnh trên động vật và con người, thông qua các ngành thú y, sinh vật học, động vật học, dịch tễ, những người làm việc với ký sinh trùng
Trong vòng 20 năm trở lại đây, mặc dù đã tích cực phòng chống song bệnh giun xoắn vẫn được phát hiện ngày một tăng ở nhiều quốc gia, thậm chí còn thành dịch Nhiều nhà khoa học cho rằng cần đưa bệnh giun xoắn lên hàng bệnh cần báo dịch Do sự lạm dụng sinh thái xảy ra ở mọi nơi trên thế giới song lại không thiết lập hệ thống giám sát điều tra chặt chẽ khiến cho tỷ lệ nhiễm bệnh này tăng lên Theo thông báo của WHO, tháng 3/2001, dịch giun xoắn đã xảy ra ở Italia làm hàng ngàn người mắc và 50%
số lợn điều tra trong đợt dịch này bị nhiễm giun xoắn Tại Pháp, thịt ngựa
là món ăn ưa thích và do ăn phải thịt ngựa nhiễm giun xoắn chưa nấu chín, 3.000 người đã mắc bệnh này năm 1976 Trung Quốc là nơi có tỷ lệ nhiễm (theo điều tra huyết thanh ) khác nhau tuỳ địa phương do tập quán ẩm thực khác nhau, song tỷ lệ nhiễm nơi cao nhất là 12%
Ở Việt Nam, phát hiện ổ dịch giun xoắn vào năm 1968 Tiếp đó vào những năm 2002 và 2004, bệnh giun xoắn đã bùng phát ở một địa điểm tại
Trang 5một tỉnh miền núi phía Bắc do tập quán ăn nem, tiết canh chế biến từ thịt lợn sống
Tại Việt Nam, trong những năm 1967, 1968 đã phát hiện 02 ổ dịch giun xoắn ở người bị nhiễm từ Lào Hiện nay, một số vật chủ nhiễm bệnh được biết đến bao gồm lợn, chó, mèo và người (Giáo trình Ký sinh trùng, ĐHNN, 1997)
Từ 1970 – 2004 đã xảy ra 03 ổ dịch giun xoắn trên người: Nghĩa Lộ, Yên Bái năm 1970; Tuần Giáo, Điện Biên (tỉnh Lai Châu cũ) năm 2001; Lai Châu năm 2004 (Van De, 2006; Pozio 2007) và đến tháng 6 năm 2008 tại xã Làng Chiềng thuộc huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La đã xảy ra ổ dịch giun xoắn mới trên người Nguyên nhân xác định tại các ổ dịch nói trên là do bà con ăn thịt lợn chưa nấu chín như lạp, gỏi, thịt chua Cho đến nay, chưa có chương trình điều tra quy mô về bệnh này tại Việt Nam
Trên thế giới, bệnh giun xoắn ít khi gây chết người, tuy nhiên tại Việt Nam với tổng số 68 người nhiễm trong 03 ổ dịch giai đoạn 1970 –
2004 (Pozio, 2007) và 22 người nhiễm (Viện ký sinh trùng sốt rét) với số người chết 08 người tại 04 ổ dịch nói trên thì ở Việt Nam có số người chết cao nhất trong khu vực (Trung Quốc: 213/2000 chết; Thái Lan 97/7500 chết; Pozio, 2007)
Sơn La là một tỉnh miền núi phía Bắc với dân số khoảng 1.022.300 người Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến năm 2006 toàn tỉnh có khoảng 384.500 lợn, tuy nhiên phương thức chăn nuôi vẫn chủ yếu là nhỏ
lẻ, hình thức chăn nuôi lợn thả rông vẫn tồn tại, trình độ dân trí thấp, tập tục sinh hoạt thức ăn chưa nấu chín như món thịt chua (đặc biệt vào các ngày
lễ, đám cưới…) vẫn còn, công tác kiểm soát giết mổ còn yếu kém, bà con vẫn còn giết mổ tại nhà Đây là những yếu tố gây nguy cơ nhiễm bệnh cao
Do giun Trichinella spiralis gây ra, là một bệnh chung của người
Trang 6nhà hoặc dã thú Động vật nhiễm từ con này sang con khác do ăn thịt nhau
và ăn xác chết, người bị nhiễm do ăn thịt tái hoặc nấu chưa kỹ Bệnh đã có
từ lâu, năm 1828 lần đầu tiên Peacok thấy vết vôi hoá ở cơ thịt một tử thi, nhưng không tìm được nguyên nhân Năm năm sau, Hilton mổ tử thi một
cụ già 70 tuổi thấy hiện tượng trên và cho bệnh tích do ấu trùng Cysticercus
ở thời kỳ đầu gây ra Hai năm sau (1835), Paget kết luận, vôi hoá ở cơ là do
ký sinh trùng Trong năm đó, Owen nghiên cứu chi tiết loại ký sinh trùng
này, đặt tên là Trichinella spiralis Owen, 1855 Năm 1860, Zenker lần đầu
tiên chẩn đoán chính xác bệnh nhân bị chết do giun xoắn, chứng minh người mắc bệnh là do ăn thịt lợn hun khói hoặc thịt ướp
Trang 7Giun đực, 1,4 – 1,6 x 0,04 mm, ở cuối có một đôi gai chồi, không có gai giao hợp Lỗ bài tiết ở giữa hai gai chồi.
Giun cái 3- 4 x 0,06 mm Âm hộ ở đoạn giữa thực quản Hậu môn ở phía đuôi Bên trong giun có cơ quan sinh sản và ruột Giun cái đẻ ra ấu trùng chứ không đẻ trứng, có thể đẻ từ 1000 – 1500, có khi 6000 -10.000 ấu trùng
Hình ảnh: ấu trùng giun xoắn
Ấu trùng mới đẻ có kích thước 0,08 – 0,12 x 0,005 – 0,006 mm, khi ấu trùng vào cơ thể thì to hơn, 0,1 -1,15 mm: ấu trùng cuộn hình xoáy ốc trong thịt
2.2.2 Vòng đời
Vòng đời bắt đầu khi ấu trùng đóng kén trong cơ thịt được nuối vào
dạ dày, ruột, bị tiêu hoá, ấu trùng trong cơ được giải phóng ra Sau khi nhiễm 20 giờ thì ấu trùng lột xác, qua 4 lần lột xác (mất 4 ngày) phát triển thành giun trưởng thành, rồi chui vào niêm mạc ruột, giao phổi Sau đó con đực chết, bị tiêu hoá hoặc thải ra khỏi cơ thể, con cái sống dài hơn nhưng không quá 4 - 6 tuần chui sâu hơn vào các tuyến libeckun, một số còn đi qua cả lớp dưới niêm mạc và các khoảng lâm ba và hạch lâm ba để sinh
Trang 8được đẻ ra và chui vào niêm mạc ruột, theo dịch lâm ba và hệ lâm ba, theo máu tuần hoàn đi khắp các cơ quan, tổ chức cơ, tim, óc, tuỷ sống, nhưng chỉ vào cơ vân mới sống được Có lẽ ở đây có đầy đủ máu lưu thông.
Máu bị nhiễm ấu trùng cao nhất vào giữa ngày thứ 8 và thứ 25 sau khi nhiễm Tìm thấy ấu trùng trong cơ sớm nhất vào ngày thứ 7 sau khi nhiễm, phần lớn xuất hiện vào ngày thứ 12 Nhưng ấu trùng mới đẻ có hình trụ, dài 80 -120 m, đường kính 5 - 6 m Khi tới cơ vân, ấu trùng rời mao mạch, chọc vào màng sợi cơ nhờ một cái gai chồi ở phía trước, khi vào tới đấy chúng bắt đầu lớn lên, sau khi nhiễm 30 ngày đã dài 1 mm và đường kính 35 m Chúng bắt đầu cuộn lại 17 - 20 ngày sau khi nhiễm, và kén được hình thành rõ khoảng 21 ngày, 7 - 8 tuần sau khi nhiễm thành dạng đầy đủ Khi ấu trùng có đường xoắn giống cái vặn nút chai Một ấu trùng hoàn toàn phát triển thường có 2,5 vòng xoắn Chúng có thể gây bệnh được ở giai đoạn này và đã phân biệt được giống Đầu trước nhọn, đầu sau hơi hẹp, bên trong đã có các cơ quan như ruột, tế bào ruột, tinh hoàn và buồng trứng tuỳ theo giống Đuôi giun thì cụt
Ấu trùng sống rất lâu trong cơ thể: ở lợn 11 năm, ở người 20 - 24 năm, có khi đến 25 - 31 năm Tuổi thọ của giun cái chưa biết chắc chắn nhưng không quá 5 - 6 tuần, của giun đực thì ngắn hơn Như vậy trong cơ thể một động vật vừa có giun trưởng thành, vừa có ấu trùng nên vừa là ký chủ cuối cùng vừa là ký chủ trung gian
2.2.3 Dịch tễ học
* Đường xâm nhập vào cơ thể: nói chung, các trường hợp mắc bệnh giun xoắn đều do ăn thịt lợn chưa chín hoặc thịt các động vật khác mang ấu trùng giun xoắn
Gần đây, nhiều tác giả rất chú ý tới khả năng truyền bệnh giun xoắn qua phân Năm 1938, M.C Coy lần đầu ấu trùng thải ra trong phân chuột cống có sức miễn dịch gây nhiễm được cho chuột cống bình thường,
Trang 9Spindler (1953) cũng dùng phương pháp tương tự gây nhiễm cho lợn Olsen (1958) và Zimmerman (1953 – 1960) chứng minh, trong phân của con vật không chỉ có ấu trùng còn sức hoạt động mà còn có khá nhiều kén phát triển tốt, bởi vậy con vật nào ăn phải là bị nhiễm bệnh Charles (1968) thí nghiệm gây nhiễm giun xoắn cho lợn bằng cách cho ăn phân lợn có bệnh, thấy, nuôi chung lợn khoẻ và lợn có bệnh hoặc lấy phân lợn bệnh trộn với thức ăn cho lợn khỏe thì vẫn bị nhiễm giun xoắn Giun xoắn truyền qua phân còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác Thí dụ, khi gây nhiễm ấu trùng vào đường ruột vì một nguyên nhân nào đó mảng thức ăn không tiêu hóa hết có chứa ấu trùng được thải ra ngoài lơn khỏe ăn phải nên cung bị nhiễm
Tuy nhiên ấu trùng sau khi cảm nhiễm đều bị thải ra ngoài trong khoảng 24 giờ, nhưng thời gian dễ cảm nhiễm nhất vẫn trong khoảng 4 giờ sau khi nhiễm Quá thời gian trên, khả năng gây nhiễm của phân có ấu trùng sẽ giảm nhiều
Một vấn đề quan trọng được nhiều người đề cập là bệnh giun xoắn
có hay không truyền qua bào thai (bệnh Trichinellosis bẩm sinh), những kết quả thu được còn trái ngược nhau
Leuckart (1876) và Nevinny (1927) thấy con của những con mẹ bị nhiễm trong thời kỳ có chửa đều không mắc bệnh Pavlica (1927) tìm thấy
ấu trùng ở một lợn con 3 tháng tuổi và nghĩ rằng có thể bị nhiễm qua tử cung, đã gây nhiễm nhân tạo cho lợn cái có chửa nhưng không tìm thấy ấu trùng ở lợn con Hood (1938) thấy trẻ con trên 1 năm tuổi bị nhiễm nhẹ và phổ biến Gần đây Harmanova (1969) làm thí nghiệm có hệ thống nhằm giải đáp vấn đề trên Tác giả thí nghiệm ở 65 con cái (gần 16 thai và 191 con non) của chuột nhắt chuột cống, thỏ, mèo, chó và chồn Trong thời kỳ con cái có chửa, cho ăn trực tiếp thịt có ấu trùng, từ 50 đến 10.000 ấu trùng,
Trang 10có nhiễm ấu trùng không Kết quả đã xác nhận có nhiễm bệnh qua tử cung
ở hai loài động vật là chuột cống và thỏ Đối với chuột nhắt, mèo, chó, chồn không tìm thấy ở thai và con non
* Vòng tuần hoàn
Hình ảnh: Vòng đời cửa giun xoắn
Năm 1860, Zenker lần đầu tiên phát hiện được vòng tuần hoàn của căn bệnh Hơn 100 năm qua đã có những quan điểm và cách giải thích khác nhau
Zenker và Leuckart cho rằng, lợn nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn phải thịt chuột có ấu trùng giun xoắn, và người ăn thịt lợn có ấu trùng chưa nấu chín thì nhiễm bệnh Hai tác giả này cho lợn và chuột là khâu cơ bản nhất
Trang 11trong vòng tuần hoàn của giun xoắn, còn các động vật khác là mang căn bệnh thứ yếu và người là con đường tuyệt vọng của giun xoắn Vòng tuần hoàn có thể tóm tắt như sau:
Trong nhiều trường hợp bệnh có vòng lây truyền giữa các dã thú trong rừng Người có thể nhiễm bệnh do thịt lợn rừng, gấu, chó, hải mã, hải cẩu và chồn Bắc cực Ngoài ra, chim trời ăn xác bệnh, bài tiết ấu trùng theo phân và côn trùng ăn thịt cũng có vai trò tương tự Cả hai loại này đầu chỉ chứa ấu trùng trong thời gian ngắn Ấu trùng đi qua ruột chồn cũng có thể gây bệnh cho lợn, nếu lợn ăn phải phân đó
Kozar (1962) đã tổng hợp tình hình bệnh ở người và động vật trong nhiễu vùng trên thế giới Đã thống kê được 49 loài thú rừng có vú nhiễm căn bệnh ở nhiều vùng bao gồm các dã thú ăn thịt, loài mèo, động vật nuôi lấy lông, loài gậm nhấm và cả loài ăn côn trùng Kozar nhận định hai vòng lây truyền riêng biệt một vòng hẹp của một chu trình ở thành thị hoặc nông thôn bao gồm lợn nhà, chó, mèo, loài vật nuôi lấy lông, chuột cống, các loài gặm nhấm, kể cả loài gặm nhấm ăn côn trùng Một vòng nữa lớn hơn bao gồm các thú rừng, mà ở Châu Âu gồm lợn rừng, chồn và sói, ở Bắc Mỹ gồm gấu Bắc cực, chồn, hải mã và các loài khác
Trang 12Theo Merkuchev (1955), cách giải thích của Zenker và Leuckart có phần phiến diện, vì một số khu vực tuy không có chuột hoặc lợn, nhưng vẫn có bệnh giun xoắn, chỉ kiểm tra lợn mổ ở các lò mổ và chuột ở những nơi đó và không kiểm tra lợn nhiễm giun ở các vùng chăn thả Nếu chỉ dựa vào phương pháp liên hệ thức ăn giữa các động vật mang giun xoắn để nghiên cứu vòng tuần hoàn của chúng thì rất khó giải thích con đường truyền bệnh của một số động vật, vì những động vật này không ăn thịt những động vật mang giun xoắn và cũng rất ít khi ăn xác chết những động vật ăn thịt.
Côn trùng là thức ăn thường xuyên và phổ biến của đồng vật mang giun xoắn Nhiều tác giả cho biết, loài côn trùng ăn thịt và ấu trùng của chúng, nhất là loài côn trùng cách cứng họ Carabidae tham gia phá huỷ xác chết và các loài thuộc họ Silphidae chiếm số đông Nếu những côn trùng này phân bố rộng, phá huỷ phần lớn xác chết của động vật dã sinh thì chúng có thể là ký chủ bảo tồn giun xoắn, như vậy có thể là môi giới truyền căn bệnh từ xác chết cho động vật có vú Merkuchev đã nghiên cứu mối liên quan giữa côn trùng cách cứng thuộc họ Silphidae và Carabidae với bệnh giun xoắn Kết quả:
- Côn trùng cách cứng họ Silphidae không ăn giun xoắn, thỉnh thoảng vẫn thấy vài đoạn giun xoắn ở ruột
- Ấu trùng Silphidae nuốt kén ấu trùng giun xoắn, thỉnh thoảng vẫn thấy vài đoạn giun xoắn ở ruột
- Ấu trùng Silphidae nuốt kén ấu trùng giun xoắn và cả những ấu trùng chưa đóng kén, có thể duy trì khả năng gây nhiễm tới ngày thứ năm
Carabidae có thể nuốt kén ấu trùng giun xoắn và rất nhiều mẩu thịt,
có thể duy trì khả năng truyền bệnh trong ruột chúng tới ngày thứ sáu
- Ấu trùng các loài ruồi (Musca) đều có thể nuốt rất nhiều kén ấu trùng giun xoắn, duy trì khả năng truyền bệnh tới ngày thứ tám Dã thú và
Trang 13lợn có thể nhiễm bệnh do ăn phải những loài côn trùng này hoặc nhộng của ruồi Trong điều kiện tự nhiên, những côn trùng này là ký chủ dự trữ tạm thời của giun và trở thành khâu phụ trong việc lây truyền từ xác chết đến các động vật ăn thịt, động vật ăn tạp và động vật ăn côn trùng Loài chim
ăn tạp có tác dụng nhất định trong việc bảo tồn và gieo rắc giun xoắn
Căn cứ tài liệu trên đây, có thể xác định nguồn dịch nguyên thuỷ của bệnh giun xoắn ở trong nhóm sinh vật trong rừng, trong đó bao gồm tất cả mọi động vật dã sinh – vật mang giun xoắn Nguồn dịch kế phát của bệnh giun xoắn ở trong nhóm sinh vật có liên hệ với người có thể gồm 3 khâu:
- Mèo, chó, chuột nhà – Lợn - Người
Trong các động vật mang giun xoắn thì tỷ lệ nhiễm giun cao nhất là
dã thú, kế đó là mèo, chuột nhà và chó, cuối cùng là lợn
Nguồn dịch nguyên thuỷ lây truyền sang nguồn dịch kế phát là do sản phẩm săn bắn Cách giải thích này của Merkuchev có ý nghĩa thực tiễn trong công tác phòng chống bệnh giun xoắn
* Sức đề kháng của căn bệnh: ấu trùng sống rất lâu trong cơ thể
Khi kén già thì màng bọc quanh ấu trùng dày hơn và bị thấm vôi Sau khi thành kén, chúng sống rất lâu ở lợn 11 năm, ở người 20 -24 năm, có khi tới
25 -31 năm nhưng khả năng gây nhiễm giảm đi nhiều
Sức đề kháng của ấu trùng giun trong xác chết rất mạnh Sau khi con vật chết, thịt thối, chúng vẫn sống được 2 -3 tháng, có khi trên 4 tháng, những động vật có khả năng nhiễm giun xoắn nếu ăn phải thịt này thì vẫn mắc bệnh Các cách xử lý như nấu chín, làm lạnh, ướp muối và gần đây chiếu bằng tia X, đều làm chết ấu trùng Ở nhiệt độ 700C, ấu trùng trong thịt chết rất nhanh Với nhiệt độ – 120C, ấu trùng duy trì sức sống được 47 ngày Thịt ướp gia vị và hun khói không nhất thiết làm chết ấu trùng, còn ướp muối có thể diệt được ấu trùng bên ngoài, nhưng những ấu trùng ở sâu
Trang 14bên trong có thể sống trên một năm Nếu thịt này cho động vật ăn vẫn làm chúng chết Điều đó chứng tỏ đọc lực của giun xoắn rất mạnh.
* Tập quán ăn uống với việc nhiễm bệnh: Bệnh thường phát ra ở những
vùng ở tập quán ăn thịt hun khói, thịt chưa nấu (thịt tái, nem chua, lạp,…) Bảng kê dưới đây chứng tỏ điều đó:
Món ăn người ăn Số mắc bệnh Số người Tỷ lệ (%)
Số người chết
* Tình hình nhiễm bệnh của động vật và người: Động vật trong
một vùng nhiễm bệnh không có nghĩa là người cũng mắc bệnh phổ biến như động vật Thí dụ, tỷ lệ thú rừng nhiễm giun ở Italia cùng gần như ở Đức, nhưng tỷ lệ người bị bệnh ở Đức lại cao hơn ở Italia rất nhiều Ở Trung Quốc, người hầu như không bị bệnh, nhưng bệnh lại có ở thú rừng
và gia súc với tỷ lệ: cáo 47,1%, lợn – 0,88%, chuột 2,2%, chó 28,6%
* Phân bố theo địa lý và tình hình nhiễm giun xoắn ở Việt Nam
Nói chung bệnh giun xoắn ở người, gia súc và thú rừng đã được phát hiện ở khắp các vùng trên thế giới (Kozar, 1962) Bệnh phân bố khá rộng ở nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ la – tinh Riêng ở Châu Úc ít khi gặp Hiện nay Đan Mạch được coi là một nước đã thanh toán xong bệnh giun xoắn Bệnh đang phát triển mạnh nhất ở Ba Lan và vùng Bắc cực Theo Cameron (1962), bệnh thường có trong một số loài ăn thịt Bắc cực
Do thói quen ăn uống của người Eskimô và sự thiếu dần đun nấu, bệnh có nhiều ở Cameron (1962), có khi cả bộ lạc bị chết hết trong mùa đông
Trang 15Ở Việt Nam: Đầu năm 1970 phát hiện ổ dịch giun xoắn ở Nghĩa Lộ từ
lợn truyền cho người vì ăn thịt lợn sống
Ngoài ra, các năm 1967, 1968 cũng phát hiện được hai ổ dịch giun xoắn do ngoại lai Hiện nay ta đã biết ký chủ nhiễm giun xoắn ở Việt Nam
Số có (con)
Tỷ lệ
Chó 31 11 35,4 Nghĩa Lộ Đại học NN (1970)Lợn 173 10 5,7 Nghĩa Lộ Đại học NN (1970)
Chuột 62 5 8,06 Lào Đại học quân y(1976)
Trang 162.2.4 Cơ chế sinh bệnh , triệu chứng và bệnh tích
* Triệu chứng
Bệnh nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào mức nhiễm ấu trùng, tuổi ký chủ,
và trước đó có bị nhiễm hay không Triệu chứng ở người nặng hơn ở lợn Khi lợn bị nhiễm nặng thấy: sau khi nhiễm 3 -5 ngày, lợn sốt, kiết lỵ, nôn mửa, gầy sút rất nhanh, thường bị chết sau 12 -15 ngày Tuy nhiên bệnh thường ở thể mãn tính: con vật cảm thấy ngứa, cọ sát vào tường, bắp thịt đau, đi lại khó khăn, ăn uống không bình thường, khó nuốt, gầy yếu, hay nằm, bốn chân cứng thẳng, có khi thuỷ thũng ở mắt, chân Triệu chứng trên kéo dài khoảng 1 tháng, sau đó không rõ rệt
Triệu chứng ở người biểu hiện rất nặng và điển hình: Trong 5 -15 ngày đầu của bệnh, giun trưởng thành gây ra ỉa chảy, nôn mửa giống như ngộ độc thức ăn cấp tính Ấu trùng xâm nhập vào sợi cơ gây viêm cơ, đau bắp thịt, có thể nhẹ hoặc rất nặng Khi nhiễm nặng, khó thở, khó nhai, khó nuốt, khó nói Thủy thũng quanh mặt và hai bên mặt, thân nhiệt thường cao, tăng bạch cầu ái toan Do viêm cơ tim nặng, mạch đập yếu, bị tái tim, huyết áp
hạ nhanh, người bệnh mê man Rối loạn thần kinh như viêm thần kinh, mù,
mê sảng, viêm não Theo tài liệu ở nước ta (1971), thấy một số triệu chứng chủ yếu ở 63 bệnh nhân như sau:
Đau cơ chiếm tỷ lệ 95,5%, sốt 93,6%,;
Phù các loại 84,1%, ỉa chảy 79,6% ;
Bạch cầu ái toan tăng 79,6%, đau quặng bụng 50,7%;
Mỏi cơ 20,6%, nhức đầu 15,8%, nổi ban 14,4% vân vân
Trang 17sau: viêm cơ cấp tính sốt và đau bắp thịt, khó nhai, khó nuốt, khó đi lại, khó thở, phù ở mặt, rõ nhất ở mí mắt, ăn ít, gầy sút nhanh Bệnh tích thường thấy trong cơ vân (cơ hoành, cơ liên sườn…), cũng có ở phổi, ở tim và ở
óc Hiện nay có tác giả cho rằng, ấu trùng thường vào những cơ có hệ thống mao quản phân bố nhiều và máu lưu thông nhiều Nhận xét này được V.Britov (1959) xác nhận bằng thực nghiệm Tác giả dùng một cái nẹp kim khí áp vào chi sau của chó và gây tổn thương, kết quả ở cơ chi này có tới 29% ấu trùng nhiễm vào nhưng vẫn ít hơn so với chi khoẻ
Qua thí nghiệm tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở các cơ của lợn như sau:
Cơ chân hoành cách 100%, cơ hoành cách gần sườn 95,5%,
Cơ lưỡi 95,2%, Cơ hầu 100%,
Cơ mắt, cơ thực quản, cơ môi trên, cơ tai, cơ đuôi, từ 66,6% đến 100% Nếu xét về tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm thì cơ hoành cách cao hơn hẳn các loại cơ khác (Matov, 1960) Ngoài các bộ phận trên, còn thấy ở dạ dầy, tinh hoàn, gan, phổi, tim, ruột non, tuỵ, óc…nhưng rất nhẹ
Khi mới nhiễm, bệnh tích khó thấy bằng mắt thường, màu của cơ có thể biến đổi, tuỳ theo mức độ nhiễm nặng nhẹ, từ màu trắng nhạt tới đỏ tím, thịt thường rắn hơn bình thường do viêm cơ Khi ấu trùng vào màng sợi cơ, sợi cơ bị thoái hoá, thành khối đồng nhất, mất vân ngang, bắt màu eosin giảm, bắt màu hematroxilin tăng, bị thuỷ thũng đường kính có thể to gấp 3 lần
Trong thời gian đó, ấu trùng chỉ bị màng sợi cơ bao bọc, chất nguyên sinh của sợi cơ bị thoái hoá hạt ái kiềm làm thành một vòng sáng xung quyanh ấu trùng Thoái hoá sợi cơ lan ra một quãng quanh chỗ ấu trùng, có khi tới
6 mm, còn những sợi cơ bên cạnh không bị nhiễm thì thoái hoá trong Nhân của sợi cơ tăng lên, nhất là các sợi cơ bị nhiễm, có khi sau 5 ngày, số
Trang 18kém, vào tháng thứ 4 sau khi nhiễm thì tan ra, chỉ còn một ít tồn tại ít lâu trong sợi cơ bị nhiễm.
Lúc đầu ít có phản ứng tế bào, nhưng sau khi các sợi lân cận bị thoái hoá, bạch cầu đa nhân, lâm ba cầu và đại thực bào thâm nhập nhiều Bạch cầu ưa eosin đặc biệt nhiều; trong bệnh nặng, có thể thấy viêm cơ tăng ưu eosin cấp tính, nhưng không ở quanh ấu trùng mà ở cách một quãng
Khoảng 17 ngày sau nhiễm, khi ấu trùng bắt đầu cuộn lại và bị nguyên sinh bao bọc và nhân sợi cơ thoái hoá, màng sợi dầy lên, phần bị bệnh có thể tách khỏi phần còn lại của sợi Màng sợi dầy dần lên do lắng đọng các chất Sau 3- 4 tuần kén đã hình thành rõ, ấu trùng bị hao trong một tổ chức dầy, đồng nhất, hình hạt chanh, ở mỗi đầu màng bọc dầy hơn
và những tế bào mỡ phát triển từ các đầu vào sợi ở xung quanh làm cho toàn thể tổ chức có hình bầu dục Thường chỉ có một ấu trùng trong một kén, đôi khi có hai, nhiều hơn nữa thì rất ít Kén lớn 400 - 700µ , thường
tách từng cái một nhưng có khi làm thành cuỗi hoặc tập hợp lại làm thành một bệnh tích hình hạt
Sau khi kén bị biến đổi, thoái hoá thành bã đậu dẫn tới canxi Thường thấy canxi hoá vào tháng thứ 6 sau khi nhiễm Rối loại dinh dưỡng
ở cơ, kèm theo tích luỹ canxi, cường độ trao đổi chất giảm Bắt đầu ngấm vôi hai đầu, sau thấm dần vào bao rồi vào giun và giun bị chết Thời gian bắt đầu canxi hoá thay đổi tuỳ theo ký chủ, ở thỏ thấy vào 3 tháng và hoàn toàn canxi vào tháng thứ 7, ở lợn vào tháng thứ 5 và hoàn toàn vào tháng thứ 9, còn ở chuột nhắt thì chậm hơn, sau 1 năm vẫn thấy một số kén không bị canxi, ở người có thể dài hơn từ 14 – 40 năm Nói chung canxi hoá hoàn toàn xảy ra trong 15 -24 tháng sau khi nhiễm Thấy điểm vôi hoá ở đầu cực kén, hoặc ở mô liên kết gần cực Sau đó các cực bị canxi hoá có hình hạt chanh
Quá trình vôi hoá theo nhiều đường, lúc đầu vôi thấm ở màng mỏng toàn bộ kén Lúc đầu ấu trùng còn sống, sau đó lớp vôi dày dần và ấu trùng
Trang 19chết Kén có hình bầu dục Có nhiều trường hợp, vôi tích ở cực và tràn xuống, kén hai cực liên kết và bao phủ cả ấu trùng.
Kén canxi hoá dễ thấy bằng mắt thường, đặc biệt ở chỗ nối gân với
cơ Đi đôi với các bệnh tích trên, có thể có biến đổi ở tim; cơ tim màu nhợt nhạt tới màu sẫm, đôi khi thoái hoá mỡ, cơ tim nhão và có tắc mạch
Về vi thể, cơ tim có thuỷ thũng và có những ổ sợi cơ hoại tử phân tán, xung quanh có bạch cầu trung tính, lâm ba cầu, đại thực bào và đặc biệt
ưa eosin thâm nhập gian chất Hiện tượng viêm cơ tim được coi là ấu trùng thâm nhập và phá huỷ các sợi cơ
Bệnh tích ở phổi cũng được coi là do ấu trùng; xuất huyết dưới phế mạc, tụ máu và thuỷ thũng, có khi nhồi huyết Ngoài ra còn thấy viêm phế quản và viêm chi phế quản Cũng thấy bệnh tích ở não và tuỷ sống: viêm màng não, viêm não, xuất huyết phân tán khắp hệ thần kinh trung ương
2.2.5 Chẩn đoán
Bệnh giun xoắn ở người cần được chẩn đoán tổng hợp:
- Căn cứ dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng;
- Làm sinh thiết tìm ấu trùng ở cơ;
- Chẩn đoán bằng miễn dịch học : Phản ứng kết hợp bổ thể, ngưng kết
và phản ứng nội bì…
Dùng một số biện pháp để phân biệt ấu trùng
Hiện nay, theo tổ chức thú y thế giới (OIE, 2008), một số phương pháp chẩn đoán áp dụng như biện pháp ấu trùng và kháng thể kháng giun xoắn như sau:
- Phát hiệu ấu trùng giun xoắn
+ Ép cơ: Đây là phương pháp tiêu tốn thời gian và nhân công, độ nhậy thấp, chỉ có thể kiểm tra tối đa 1g/mẫu (EC 2075/2005) Phương pháp này không khuyến cáo cho kiểm tra thịt tại các cơ sở giết mổ, tuy nhiên phương
Trang 20pháp này vẫn được áp dụng đối với một số nơi chưa có điều kiện dùng phương pháp tiêu cơ.
+ Phương pháp tiêu cơ: Đây là phương pháp được khuyến cáo áp dụng cho kiểm tra thịt tại các cơ sở giết mổ Phương pháp này độ nhạy cao
và khối lượng mẫu chẩn đoán gấp 50 -100 lần phương pháp ép cơ
+ Phương pháp PCR: Do chi phí cao nên phương pháp này không thông dụng trong kiểm tra thịt, tuy nhiên rất hữu hiệu trong xác định loài giun xoắn
- Xác định kháng thể kháng ấu trùng giun xoắn
+ Phương pháp huyết thanh học bao gồm ELISA, Western Blot IFAT; trong đó phương pháp ELISA (kháng nguyên E/S) được khuyến cáo dùng trong các chương trình điều tra huyết thanh học.Về mặt thú y, cần kiểm tra giun xoắn ở thịt lợn và các loài gia súc vật khác đảm bảo cung cấp thịt hợp vệ sinh Cần cải tiến kỹ thuật kiểm tra giun xoắn theo ba nội dung:
- Nghiên cứu vị trí cơ thịt kiểm tra giun xoắn Đã so sánh các loại cơ
và thấy cơ chân hoành cách mô bị nhiễm giun nhiều nhất, vì thế thường lấy
cơ này để kiểm tra
Cải tiến trang thiết bị và kỹ thuật kiểm tra giun xoắn Đã nghiên cứu chế máy cắt thịt thành miếng nhỏ và máy phóng ảnh kiểm tra giun xoắn tự động hàng loạt
- Nghiên cứu biện pháp xử lý thịt lợn có giun xoắn ở nhiệt độ thấp.Việc chẩn đoán giun xoắn ở lợn và các súc vật khác nhau khi mổ thường dùng phương pháp ép cơ: lấy thịt ở chân hoành cách, khoảng 40 -50g, dùng kéo cong cắt lấy 20 – 24 miếng nhỏ bằng đầu tăm, rồi dàn đều trên phiến kính kiểm tra giun xoắn, ép mạnh hai đầu phiến kính cho thịt nát
ra, đặt vào kính soi giun xoắn hoặc kính hiển vi có độ phóng đại 40 – 50 lần Phương pháp này thường dùng kiểm tra giun xoắn ở các lò mổ lợn, kém chính xác, năng suất thấp