1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi bò và một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn bò sữa tại xã phù đổng-gia lâm-hà nội

55 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 332,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến năm 2010 mục tiêu nâng tổng số đàn bò sữa lên 200.000 con với sản lượng sữa hàng hoá 230.000 đến 320.000 tấn ,và tự túc 40% nhu cầu sữa trong nướcNghị quyết 167/QĐ-TTg tháng 10/2001

Trang 1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề.

Hiện nay ngành chăn nuôi nước ta đang trên đà phát triển đặc biệt là ngành chăn nuôi bò sữa.Vì đây là ngành mang lại nhiều lợi nhuận cho ngành chăn nuôi,nó tận dụng được phế phụ phẩm trong nông nghiệp và công nghiệp chế biến tạo ra sản phẩm có dinh dưỡng cao, nó góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân lao động.Cùng với sự phát triển kinh tế đời sống nhân dân ngày được cải thiện,nhu cầu về sản phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao như thịt,trứng,sữa càng được con người quan tâm hơn

Măt khác chăn nuôi bò sữa là một trong những chiến lược được quan tâm, ưu tiên trong chương trình phát triển nông nghiệp của nước ta Đến năm

2010 mục tiêu nâng tổng số đàn bò sữa lên 200.000 con với sản lượng sữa hàng hoá 230.000 đến 320.000 tấn ,và tự túc 40% nhu cầu sữa trong nước(Nghị quyết 167/QĐ-TTg tháng 10/2001 của thủ tướng chính phủ).Cùng với việc nhập một số giống bò cao sản như bò Holstein Friean từ Cuba,bò Jersey từ Hoa Kỳ…công tác nghiên cứu lai tạo và chọn lọc đàn bò lai hướng sữa có sản lượng cao trong nước cũng được đẩy mạnh.Tuy nhiên,việc phát triển đàn bò sữa còn gập nhiều khó khăn,tình trạng bệnh tật thường xuyên xảy

ra làm ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi bò sữa.Ngoài các bệnh truyền nhiễm,ngoại khoa,ký sinh trùng,thì bệnh nội khoa cũng chiếm một phần tương đối quan trọng như bệnh Ỉa chảy,chướng hơi dạ cỏ,liệt dạ cỏ thì bệnh viêm phổi là khá phổ biến gây thiệt hại dai dẳng làm còi cọc chậm lớn ở gia súc non,làm giảm sức sản xuất ở gia súc trưởng thành, đặc biệt là làm giảm sản lượng và chất lượng sữa

Trang 2

Xuất phát từ quan điểm trên, được sự đồng ý của khoa thú y trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cùng với nguyện vọng của bản thân tôi đã tiến hành

thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi bò và một số phác

đồ điều trị bệnh trên đàn bò sữa tại xã Phù Đổng-Gia Lâm-Hà Nội”.

Trong suốt thời gian thực tập, được sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn Đàm Văn Phải,các cô,các chú trong ban thú y xã,cùng với sự cố gắng của bản thân,tôi đã thu thập được một số kết quả trình bầy trong báo cáo này

3.Tiến hành điều trị một số bệnh thường gập tại xã

4.Bước đầu điều tra tỉ lệ mắc bệnh viêm phổi trên đàn bò sữa và ảnh hưởng của chúng đến năng xuất sữa

5.Từ đó giúp đỡ cán bộ lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật có kế hoạch đúng đắn trong việc phát triển đàn bò sữa tại xã

Trang 3

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.Những hiểu biết về giống bò cho sữa.

Lịch sử chăn nuôi bò sữa của Viêt Nam có thể coi là bắt đầu từ những năm 1920,lúc mà người Pháp nhập một số bò Reasindhi vào Việt Nam.Những bò này được lai tạo với bò vàng Việt nam cho ra bò Laisind.Bò Laisind chiếm 30-40% đàn bò vàng trong cả nước,một số dùng làm nền rất tốt

để lai tạo với giống bò sữa chuyên dụng nhằm tạo ra các sản phẩm giống bò lai hướng sữa thích nghi với khí hậu nước ta

Bò Laisind có trọng lượng sơ sinh từ 19-25 kg,lúc trưởng thành bò cái

có trọng lượng từ 280-320 kg,còn bò đực có trọng lượng từ 450-500 kg,sản lượng sữa 800-1200/240 ngày.Con cao đạt 2000-2500 kg,tỷ lệ mỡ sữa là 5,5-6%

Đặc điểm chung của đàn bò HF nói chung về màu sắc lông da thì lang trắng đen chiếm ưu thế,lang trắng đỏ ít và toàn thân đen riêng đỉnh chán và chóp đuôi trắng.Về hình dạng và đặc trưng của bò,bầu vú rất phát triển tĩnh mạch vú ngoằn ngoèo nổi rõ.Tầm vóc khá lớn,khối lượng sơ sinh 35-45kg,khối lượng trưởng thành của bò cái là 450-750kg và của bò đực là 750-1000kg.Năng xuất sữa trung bình là 500-800kg/chu kỳ(10 tháng)tỷ lệ mỡ sữa thấp 3,3-3,6%.Bò HF chịu nóng và kham khổ kém,thích nghi với khí hậu mát mẻ

Đàn bò Jersey là giống bò sữa của Anh.Bò có màu vàng sáng hoặc sẫm.có những con có đốm trắng ở bụng,chân, đầu.Bầu vú phát triển tốt tĩnh mạch vú nổi rõ.Tầm vóc bò Jersey tương đối bé.Khối lượng sơ sinh 25-30kg.Khối lượng trưởng thành của bò cái 300-400kg,của bò đực là 450-

Trang 4

500kg.Năng xuất sữa bình quân đạt từ 3000-4500kg/chu kỳ.Tỷ lệ mỡ sữa 5,5%.Do có tầm vóc nhỏ bé và có yếm nên bò Jersey chống chịu nóng khá tốt Đàn bò lai hướng sữa bao gồm bò F1,F2 và F3 được tạo ra từ bò đực HF lai với bò cái Laisind.

Đàn bò F1(50% máu của bò HF)thường là đen toàn thân có đốm trắng

ở trán và đuôi.Một số ít có màu vàng hay vàng nhạt(thường là lúc mới sinh).Bê sơ sinh có khối lượng từ 25-30kg.Bò cái trưởng thành nặng từ 350-420kg,bò đực nặng từ 450-600kg.Năng suất sữa bình quân 2500-3000kg/chu kỳ.Tỷ lệ mỡ sữa 3,6-4,2%.Bò lai F1 chịu đựng tương đối tốt với diều kiện nóng ít bệnh tật

Đàn bò F2(75% máu HF)bò lai F2 thường có màu lông lang đen trắng hay trắng đỏ,ngoại hình gần giống vơi bò HF thuần tuý,mông hơi dốc.Khối lượng sơ sinh từ 30-35kg,khi trưởng thành bò cái đạt 350-400kg,bò đực đạt 550-600kg.Trong điều kiện chăm sóc tốt,bò cái F2 cho năng suất sữa cao hơn

bò F1,có thể đạt 3000-3500kg/chu kỳ,tỷ lệ mỡ sữa 3,2-3,8%.Trong điều kiện nóng ẩm(trên 30 độ)bò lai F2 chịu nhiệt kém hơn bò F1

Đàn bò F3(87%)có ngoại hình gần giống bò HF thuần.Tuy nhiên sức sản xuât sữa không ổn định phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu và chăm sóc nuôi dưỡng.Nếu nuôi dưỡng ở vùng khí hậu mát mẻ sẽ cho năng suất sữa cao hơn bò F2.Nếu bò nuôi ở Đồng Bằng cho sữa kém hơn bò F2 do chịu nóng kém.Trọng lượng lúc sơ sinh 30-38kg,khi trưởng thành 400-450kg/cái,650-700kg/đực.Sản lượng sữa 3500-4000kg/chu kỳ,tỷ lệ mỡ sữa 3,2-3,6%

Những bệnh thường xảy ra với bò sữa là:Bệnh sát nhau,bệnh sốt sữa,bệnh chướng hơi dạ cỏ,bệnh thối móng,bệnh hà móng,bệnh ký sinh trùng,bệnh viêm phổi

Trang 5

Theo Nguyễn Trọng Tiến-Nguyễn Xuân Trạch-Mai Thị Thơm-Lê Văn Ban(giáo trình chăn nuôi trâu bò 2001) đã đưa ra một số chỉ tiêu ảnh hưởng đến năng xuất sữa:

Mức protein trong khẩu phần không thích hợp đã ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của bò cao sản.Giảm thấp mức protein tiêu hoá khoảng 15-20%

so với tiêu chuẩn thì chưa ảnh hưởng xấu đến sữa nhưng giảm đến mức 77g trong một đơn vị thức ăn (trên 30% so với tiêu chuẩn) đã làm giảm sức sản xuất sữa đến 251,3kg trong một chu kỳ sữa.Mức độ cao của protein trong khẩu phần cũng ảnh hưởng xấu đến sự tiết sữa

-Giống:sản lượng và chất lượng sữa phụ thuộc vào giống tạo ra.Bò HF cho 4000-4500kg/chu kỳ,tỷ lệ mỡ sữa 3,2-3,8%.Bò Jersey cho 2800-3500kg/chu kỳ,tỷ lệ mỡ sữa 5,8-6%

-Ở bê sự thành tục về tính bao giờ cũng sớm hơn so với thành thục về vóc.Nếu phối cho bò cái quá sớm cũng sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể và làm kìm hãm sự phát triển của tuyến sữa.Tuổi phối giống lần đầu nên phối vào lúc 18-20 tháng tuổi và trọng lượng đạt 70% trọng lượng cơ thể -Bò cái thành thục sớm,lượng sữa cao nhất vào 6 năm tuổi(lứa 4) còn

bò cái thành thục muộn,lượng sữa cao nhất ở 8-9 năm tuổi(5,6 và 7)

-Với cùng một giống bò,con có trọng lượng lớn bao giờ cũng cho sữa cao hơn

-Sản lượng sữa không bị ảnh hưởng trong phạm vi nhiệt độ từ Oo

C-21oC Ở nhiệt độ thấp hơn -5oC và từ 26-27oC,sản lượng sữa giảm từ từ.Nhiệt

độ trên 27oC,giảm rõ rệt.Khi có thai lượng sữa ở trâu bò giảm từ 15-20% so với không có thai và lượng sữa giảm nhiều hơn khi có thai từ tháng thứ 4 trở đi

-Thời gian vắt sữa kéo dài, oxytoxin kém hiệu lực vắt sữa không đúng quy định sẽ ức chế sự tiết sữa và làm tăng tỷ lệ sót sữa trong tuyến sữa

Trang 6

sự bài tiết sữa dựa trên sự phản xạ thần kinh-hormon.Vắt sữa không đúng quy định sẽ làm ức chế sự tiết sữa.

-Bò cái mắc bệnh thường kém ăn thể trạng yếu dẫn đến khả năng tạo sữa kém đặc biệt là bệnh viêm phổi

2.2.Cơ sở lý luận

Kinh tế phát triển,ngành chăn nuôi cũng đang được phát triển do vậy công tác thú y cũng rất quan trọng,nó khống chế giải quyết triệt để những bệnh nguy hiểm xảy ra đối với đàn gia súc.Do vậy có rất nhiều tài liệu nói về các bệnh xảy ra trên đàn gia súc Đặc biệt là bệnh xảy ra trên bò:bệnh truyền nhiễm,bệnh ngoại khoa,bệnh ký sinh trùng,bệnh nội khoa

có dớt dãi

Xuất hiện các mụn nước trên niêm mạc miệng,lợi và chân răng Ở niêm mạc sừng vành móng,kẽ móng viêm sưng đỏ tạo ra các kẽ nứt ở vành và kẽ móng

* Điều trị:

Trang 7

Chúng ta chỉ có thể điều trị về mặt triệu chứng mà không điều trị được căn nguyên.Rửa sạnh các vết thương dùng vải màn tẩm các chất chua (nước chanh,quất,khế) hoặc các loại thuốc sát trùng (xanh metylen) bôi lên các vết thương Điều trị kéo dài 7-10 ngày là khỏi.

2.2.1.2.Bệnh tụ huyết trùng trâu bò:

* Nguyên nhân:

Căn bệnh là do cầu trực khuẩn Pasteurellosis multocida với serotyp A,B,D một loại vi khuẩn gram âm.Vi khuẩn có giáp mô,nhưng không hình thành nha bào,không có lông,không di động.Vi khuẩn có sức đề kháng kém với điều kiện ngoại cảnh.Các loại hoá chất sát trùng thông thường dễ dàng tiêu diệt được vi khuẩn.Tuy nhiên ở những nơi thiếu ánh sáng,đất ẩm nhiều Nitrat,giàu chất hữu cơ,vi khuẩn có thể sống hàng tháng

2.Thể cấp tính:Trâu bò đột nhiên bỏ ăn tỏ ra mệt lả,thở phì phò,thở hắt ra,rất nhiều trâu bò trưởng thành bí đái bí ỉa

Trâu bò sốt cao nhiệt độ lên 42oC,khi sốt thấy cánh mũi nở ra,trâu bò thở nặng,thở mệt nhọc

Niêm mạc,giác mạc mắt đỏ ửng lên chảy nhiều nước mắt.Sau đó thân nhiệt trâu bò có chiều hướng giảm xuống ta thấy có hiện tượng rối loạn tiêu hoá,phân trâu bò không đóng khuôn,mềm nát có nhiều nước thậm chí trong phân có lẫn máu

Trang 8

*Bệnh tích:

-Xác chết béo tốt

-Cắt vùng hầu để xem hạch lâm ba thấy hạch to hơn bình thường 3-4 lần.Trên bề mặt hạch hoặc là bị tụ máu hoặc là bị xuất huyết.Cắt đôi hạch thấy có nhiều nước vàng là hạch của bò còn nước có màu vàng nhạt ánh xanh

là hạch của trâu.Cơ hàm nhạt màu và mềm

-Tim bị viêm ngoại tâm mạc,xoang bao tim tích nước,có nhiều điểm xuất huyết ở xoang bao tim và ở ngay trên cơ tim

Phổi có hiện tượng viêm phổi thuỳ,màng phổi dính vào lồng ngực,các thuỳ phổi bị tụ máu có màu đỏ gạch

-Gan vừa bị tụ máu vừa bị thoái hoá có màu vàng nhạt

Trang 9

trâu bò chỉ có 1 chủng duy nhất và người ta gọi đó là vi rút cường độc dịch tả trâu bò.

*Triệu chứng:Bệnh xảy ra chủ yếu ở thể quá cấp tính và thể cấp tính: -Thể quá cấp:thể này bệnh phát ra một cách đột ngột.Trâu bò sốt cao đi đứng loạng choạng có một vài biểu hiện thần kinh kích thích và đột ngột chết trước khi có hiện tượng ỉa chảy

-Thể cấp tính:thời gian nung bệnh từ 5-7 ngày.Sau đó trâu bò có triệu chứng ủ rũ,mệt mỏi,ăn ít hoặc bỏ ăn,uống nước nhiều

-Sốt cao,nhiệt độ cơ thể lên đến 41-41,5oC kéo dài 2-3 ngày,con vật táo bón và có hiện tượng thần kinh nhẹ

-Chảy nước mắt lúc đầu trong sau đó đục và đặc dần,lầy nhầy màu trắng,chảy ngoằn nghèo ở 2 bên khoé mắt,mí mắt dính lại.Niêm mạc kết mạc

bị viêm đỏ

-Khi hạ sốt lúc đầu phân hơi đặc sệt về sau phân lỏng dần có màu xanh đen có lẫn màng giả thậm chí có lẫn vệt máu và đến giai đoạn cuối cùng con vật đi ỉa vọt cần câu phân hầu như toàn nước có mùi thối khắm

-Sau một thời gian đi ỉa chảy làm cho trâu bò mất nước,gầy sút nhanh chóng chủ yếu bọc xương

-Đến giai đoạn cuối cùng trâu bò nằm im một chỗ,phân rỉ ra ở hậu môn làm cho 2 chân sau và hậu môn dính bê bết phân

-Sau một tuần đến 15 ngày trâu bò suy kiệt mà chết

Trang 10

-Màng phổi có hiện tượng xuất huyết,các thuỳ phổi bị viêm nhẹ hoặc thoái hoá.

-Gan có đám tụ máu,có đám viêm thoái hoá,túi mật viêm,có một số trường hợp dịch mật loãng

-Thận có vỏ bị xuất huyết,toàn bộ niêm mạc dạ dầy và ruột đặc biệt là ruột non bị viêm và xuất huyết tràn nan.Hạch lâm ba và màng treo ruột bị viêm sưng gấp 1,3 đến 2 lần so với bình thường

*Điều trị:Đây là bệnh không điều trị được về căn nguyên (là vi rut DTTB).Chỉ điều trị được triệu chứng,mục đích để làm nhẹ bớt các triệu chứng:ỉa chảy (chống mất nước và làm giảm bớt tỷ lệ chết nếu được.Chúng ta

có thể dùng các loại thuốc đông y như:các quả chất chát (ổi xanh,chuối xanh),hoặc dùng các thuốc điều trị tiêu chảy cộng với cho uống dung dịch điện giải kết hợp với thuốc trợ sức trợ lực và chăm sóc nuôi dưỡng,hộ lý

* Nguyên nhân:

Theo Huỳnh Văn Kháng(2001),nguyên nhân hà móng là do:

-Gia súc nuôi trong chuồng nuôi với nền chuồng thường xuyên ẩm ướt,tích tụ nhiều phân và nước tiểu,móng chân bò bị ngâm lâu ngày trong phân và nước tiểu,vi sinh vật yếm khí tác động làm cho sừng của móng bị biến tính làm thối rữa,hoại tử

Trang 11

-Móng bò phát triển không bình thường, đáy móng phát triển không bằng phẳng,chỗ lồi lõm,móng dị dạng làm cho nó dễ bị tổn thương,sây sát vi khuẩn yếm khí xâm nhập vào gây hà móng.

* Triệu chứng:

Bệnh phát ra ở hai chân sau,chân trước hầu như không bị.Trong trường hợp nhẹ con vật đi lại được nhưng chậm chạp,khó khăn nhất là khi đứng lên nằm xuống

Bệnh nặng gia súc bị què, đi lại rất khó khăn.Nếu cả hai chân sau bị què con vật nằm bệp không đứng lên được.Do nằm lâu con vật bị rối loạn tiêu hoá hoặc bị lở loét toàn thân

Kiểm tra ở đáy móng gia súc có thể thấy phần cứng của móng có nhiều vết lõm hình tròn,hình bầu dục như vết hà của củ khoai lang,trên bề mặt vết lõm có mầu đen khi nạo thấy tổ chức sừng nát mủn,thối.Kích thích vào thấy con vật đau

* Điều trị:

Phương pháp điều trị bệnh hà móng chủ yếu là dùng phương pháp ngoại khoa.Dùng dao nạo móng nạo hết phần sừng của móng đã bị biến tính,bị hoại tử,làm cho móng thật bằng phẳng.Sau nạo hết những tổ chức bị hoại tử

Trước tiên rửa bằng dung dịch Byocid 1%,tiếp đó dùng cồn Iod 5% bôi vào sát trùng,rắc kháng sinh lên đó(1 penicillin + 1 streptomycin).Cuối cùng băng vải

xô vào kết hợp một gói CuSO4 phía dưới móng và đi guốc bảo vệ cho bò

Trang 12

-Căn bệnh do hai loài sán có tên là Fasciola hepatica và Fasciola gigantica gây nên Ở nước ta phổ biến nhất là Fasciola gigantica.

-Ký chủ cuối cùng:trâu,bò,dê,cừu…

-Ký chủ trung gian:là những ốc thuộc họ Limnae(L.swinhoei,L.viridis)và họ Raidise.Hai họ ốc này sống trong ao hồ,mương,rãnh,chân ruộng mạ có nước xâm xấp,các vùng trên đồng cỏ,khe suối miền núi

* Triệu chứng:Theo Trần Văn Quyên (1996):

-Triệu chứng bệnh sán lá gan làm bò gầy yếu,phù thũng dưới yếm,cổ,lông khô,dễ dụng.Phân lúc đặc lúc loãng hoặc ỉa chảy quanh năm.Hốc mắt lõm sâu,niêm mạc nhợt nhạt,giảm sức đề kháng con vật đễ bị chết trong điều kiện thiếu ăn,rét mướt,làm viêc nhiều(nhất là vào vụ đông xuân)

-Do loài Neoascaris vitulorun gây ra

-Độc tố của giun làm làm con vật trúng độc,bê nghé ỉa lỏng,phân trắng gầy sút.Giun trưởng thành chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ làm bê nghé gầy yếu

* Triệu chứng:

-Bê nghé ốm có dáng đi lù khù,chậm chập, đầu cúi lưng cong,hay tách đàn,có khi bỏ bú hoặc bỏ ăn Đầu hay cúi xuống đất hoặc ngoảnh về phía bụng,chân đạp bụng

Trang 13

Phân lúc xanh đen hoặc loãng dần chuyển sang màu vàng,trắng đục như nước vo gạo,mùi thối khắm.Vật ỉa vọt cầu vồng,thở có mùi hôi.Vật chết trong trạng thái ỉa chảy nặng,thân nhiệt hạ 34-35oC.

-Do va đậpthành ngực làm chấn thương,cũng có thể do thời tiết lạnh

và kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm(dịch tả trâu bò,tụ huyết trùng…)

-Chảy nhiều nước mũi,nưỡc mũi cố màu xám nâu,có mùi thối

-Ho,tiếng ho dài, ướt và có cảm giác đau

* Điều trị:

-Để gia súc nơi thoáng mát và yên tĩnh,cho ăn thức ăn giàu dinh dưỡng và dễ tiêu

-Dùng thuốc điều trị:dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng

-Để ngăn chặn sự viêm lan và giảm dịch thẩm xuất nâng cao súc đề kháng của cơ thể ta dùng đơn sau:

Rp:Dung dịch canxiclorua 10% 100ml

Trang 14

Urotropin 10% 100ml

Vitamin C 3g

Dùng thuốc trợ sức,trợ lực,trợ tim

2.2.4.2.Hội chứng ỉa chảy trên bê:

*Theo Pozypaul(2002),nguyên nhân dẫn đến hội chứng ỉa chảy trên bê là do: -Yếu tố chủ quan:bê trong giai đoạn từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi thì bộ máy tiêu hoá của chúng chưa được hoàn chỉnh,do vậy mà sự tiêu hoá thức ăn còn kém,sự thích nghi và sức đề kháng với môi trường còn chưa được tốt

-Yếu tố khách quan:Do các loại vi khuẩn như E.coli,Salmonella,Amid…do thời tiết mưa gió cộng với nhiệt độ môi trường lạnh, độ ẩm không khí cao làm nền chuồng ẩm ướt làm xuất hiện khí độc:H2S,NH3…

Cũng theo Pozypaul:thông thường trong 10 bê ở giai đoạn sơ sinh thì sẽ

có 3 bê mắc chứng ỉa chảy và trong 10 bê mắc chứng ỉa chảy thì có 1 bê chết

ở giai đoạn 1 tháng tuổi

* Nguyên tắc phòng bệnh:

-Tạo nên môi trường cơ sở vật chất chăn nuôi phù hợp,thức ăn nuôi dưỡng đảm bảo,vệ sinh phòng bệnh tốt

2.2.5.Những hiểu biết về bệnh viêm phổi:

*Bệnh viêm phổi là bệnh xảy ra trên đường hô hấp của trâu bò và có rất nhiều thể viêm khác nhau:

2.2.5.1.Viêm phế quản cata cấp:

* Nguyên nhân nguyên phát:

-Do gia súc bị nhiễm lạnh

-Chăm sóc nuôi dưỡng gia súc kém

-Do gia súc hít phải một số hơi độc (H2S,amoniac…)

Trang 15

-Do niêm mạc phế quản bị tổn thương cơ giới (uống thuốc để thuốc chảy vào phế quản).

-Do gia súc bị thiếu sinh tố A

Tất cả các nguyên nhân trên làm giảm sức đề kháng của cơ thể và kích thích niêm mạc.Từ đó làm cho vi khuẩn thông thường ở không khí,vi khuẩn

đã cư trú sẵn trong hầu,họng có cơ hội trỗi dậy và gây viêm

*Nguyên nhân kế phát:

-Do ký sinh trùng ký sinh ở phổi (giun phổi),hoặc do ấu trùng giun đũa

di hành gây tổn thương niêm mạc phế quản dẫn đến vi khuẩn xâm nhập vào gây viêm

-Do kế phát từ một số bệnh:cúm,lao,tụ huyết trùng…

-Do viêm lan từ một số khí quan bên cạnh (viêm thanh quản,viêm họng…)

*Cơ chế sinh bệnh:

-Những kích thích bệnh lý thông qua hệ thần kinh trung ương,tác động vào hệ thống thụ cảm của đường hô hấp,làm rối loạn tuần hoàn của vách phế quản nội dẫn đến xung huyết niêm mạc và gây viêm.Niêm mạc phế quản có thể viêm cục bộ hoặc viêm tràn lan,dịch rỉ viêm tiết ra (hồng cầu,tế bào thượng bì) đọng lại ở vách phế quản,kết hợp với phản ứng viêm thường xuyên kích thích niêm mạc phế quản và gây nên phản xạ ho.Do vậy trên lâm sàng thấy gia súc ho nhiều

-Sản vật độc được sinh ra trong quá trình viêm kết hợp với độc tố của vi khuẩn thấm vào máu dẫn đến làm cho con vật bị sốt…

-Mặt khác một số dịch rỉ viêm đọng lại ở trong vách phế quản gây nên hiện tượng xẹp phế nang

*Triệu chứng:

1.Viêm phế quản lớn:

Trang 16

-Con vật không sốt hoặc sốt nhẹ (nhiệt độ cao hơn bình thường 0,5oC).Nếu sốt ,trong một ngày lên xuống không theo qua luật.

-Tần số hô hấp không tăng

-Ho là triệu chứng chủ yếu:Thời kỳ đầu ho khan,tiếng ho ngắn,sau gia súc

có cảm giác đau.Sau 3-4 ngày mắc bệnh tiếng ho ướt và kéo dài,(ho kéo từng cơn)

-Nước mũi chảy nhiều:Lúc đầu nước mũi chảy trong về sau đặc dần và có màu vàng,thường dính vào 2 bên mé mũi

-Nghe phổi:Thời kỳ đầu âm phế nang tăng.Sau 2-3 ngày mắc bệnh,xuất hiện âm ran (lúc đầu ran khô,sau đó ran ướt)

-Kiểm tra đờm thấy có tế bào thượng bì,hồng cầu

2.Viêm phế quản nhỏ:

-Thể viêm này thường kế phát với viêm phế quản lớn:

-Con vật sốt (nhiệt độ cao hơn bình thường từ 1-2oC)

-Tần số hô hấp thay đổi:Con vật thở nhanh và khó,có trường hợp phải hóp bụng và lỗ mũi mở to để thở hoặc phải há mồm ra để thở

-Ho khan,tiếng ho yếu và ngắn,sau khi ho con vật thở khó và mệt

-nước mũi không có hoặc ít

-Nghe phổi có âm ran ướt,đôi khi thấy âm vò tóc

-Nếu hiện tượng viêm lan sang viêm phổi dẫn đến gia súc có triệu chứng của bệnh phế quản phế viêm

Trang 17

1.Hộ lý:

-Giữ ấm cho gia súc,chuồng trại sạch sẽ và thoáng khí,kín gió về mùa đông

-Không cho gia súc ăn thức ăn bột khô

-Cho gia súc ăn thức ăn lỏng,dễ tiêu hoá

-Dùng dầu nóng xoa hai bên ngực

-Dùng dầu nóng xông mũi cho gia súc

2.Dùng thuốc điều trị:

-Dùng thuốc ho và long đờm:

+ Chlorua amon

+ Natribicacbonnat

-Nếu gia súc sốt cao,ta dùng kháng sinh

-Dùng thuốc trợ tim,trợ sức,nâng cao súc đề kháng:

+ Cafein Natribenzoat,hay long não nước,Vitamin B1,Vitamin C

2.2.5.2.Viêm phế quản cata mãn:

Trang 18

-Mặt khác dịch viêm tích lại nhiều và lâu ở lòng phế quản gây nên hiện tượng giãn phế quản,nếu dịch viêm làm tắc phế quản sẽ gây nên hiện tượng xẹp phổi.

*Triệu chứng:

-Gia súc không sốt,hoặc sốt nhẹ (nếu viêm tiểu phế quản)

-Ho:ho là triệu chứng chủ yếu (thường ho vào buổi sáng sớm,ban đêm,hoặc khi gia súc vận động).Khi ho gia súc không có cảm giác đau như thể viêm cấp

-Nước mũi đặc và có màu vàng hoặc xanh

-Thở khó:Bệnh mới đầu hiện tượng thở khó không rõ.Nhưng càng về sau

do lòng phế quản hẹp,hiện tượng khó thở rất rõ,tần số hô hấp tăng (đặc biệt là khi gia súc vận động)

-Gõ vùng phổi:Không có gì đặc biệt.Nhưng khi có hiện tượng khí phế thì vùng phổi lùi về phía sau.Nếu phổi bị xẹp thì xuất hiện vùng âm đục

-Nghe vùng phổi:thường nghe thấy tiếng rít (do lòng phế quản bị hẹp),âm ran ướt,nếu viêm ở phế quản lớn thì nghe thấy âm bọt vỡ

-X quang phổi:Thấy rốn phổi đậm

-Nội soi phế quản:Niêm mạc phế quản tái nhợt,teo lại,trên niêm mạc có nhiều chất nhầy

-Bệnh kéo dài con vật gầy dần,thiếu máu dẫn đến suy tim rồi chết

Trang 19

-Dùng thuốc chống nhiễm khuẩn:dùng loại kháng sinh có hoạt phổ rộng với thời gian kéo dài (để ngăn ngừa sự bội nhiễm):

+ Dùng peniciline + streptomycin + dung dịch novocain 0,25%

-Dùng thuốc điều trị triệu chứng:

*Dùng thuốc giảm ho và long đờm

*Dùng thuốc làm giảm dịch thẩm suất

-Dùng thuốc trợ lực,nâng cao sức đề kháng:

+ Dùng Vitamin nhóm B,Vitamin nhóm C,thuốc bổ máu

2.2.5.3.Bệnh khí phế trong nang:

*Nguyên nhân:

-Do gia súc phải làm viêc quá nặng quá sức

-Do kế phát từ một số bệnh khác (từ viêm mũi,viêm thanh quản cấp,viêm tiểu phế quản)

*Cơ chế sinh bệnh:

-Do đường hô hấp trên,hay phế quản bị hẹp cho nên không khí từ phế nang

đi ra ngoài bị trở ngại,do vậy một ít không khí vẫn tích lại trong phế nang.Nhưng cơ thể luôn cần không khí (nhất là khi vận động) gia súc càng hô hấp mạnh hơn (đặc biệt là khi hít vào) cho nên mỗi lần hô hấp không khí lại tích lại trong phế nang dẫn đến phế nang to ra (5-15 lần).Có sự trèn ép giữa phế nang và phế quản làm cho đàn tính của phế nang giảm dẫn đến làm cho

cơ thể thiếu Oxy.Trên lâm sàng thấy gia súc có hiện tượng khó thở

Trang 20

+ Khi gõ vùng phổi thấy xuất hiện âm trống,vùng phổi mở rộng cả về phía trước.

*Nghe phổi:

-Lúc đầu nghe thấy âm phế nang tăng,sau đó thì âm phế nang giảm (do phế nang mất tính đàn hồi)

-Nếu khí phế kế phát từ bệnh viêm phế quản mãn thì khi nghe phổi sẽ thấy

âm ran ướt hoặc âm ran khô

-Nếu khí phế do phế quản hẹp,thì khi nghe phổi thấy âm phế quản bệnh lý hay âm vò tóc

-Nếu khí phế do tắc phế quản thì khi nghe phổi không nghe thấy âm phế nang

-Ở thể mãn tính:về cơ bản giống như khí phế cấp tính,nhưng bệnh tiến triển chậm.Con vật thở khó,làm việc dễ mệt,ngực phồng to,âm động mạch phổi tăng,gia súc thường xuyên ho và gầy dần

-Dùng thuốc để cho gia súc dễ thở và trợ tim

-Dùng thuốc trợ sức,lực và bồi bổ cơ thể

Trang 21

-Do ho kéo dài.

-Do trúng độc khoai hà

*Cơ chế sinh bệnh:

-Do những nguyên nhân trên làm cho gia súc thở mạnh,làm phế nang hay tiểu phế quản bị vỡ,không khí chui vào tổ chức giữa các phế nang,ép phế nang và phế quản làm cho quá trình hô hấp ở phổi bị trở ngại nghiêm trọng làm cho gia súc khó thở,thậm chí ngạt thở

-Do hiện tượng khí phế mà một số phế nang khác phải làm việc bù,khi làm việc bù quá mức,các phế nang này bị rách.Cho nên hiện tượng khí phế càng lan rộng

*Triệu chứng:

-Hiện tượng thở khó xảy ra đột ngột,con vật há mồm,thè lưỡi,lỗ mũi bành

ra để thở.Bệnh tiến triển từ 1-2 tiếng hay 1-2 ngày,gia súc ngạt thở chết

-Gõ vùng phổi:Xuất hiện âm bùng hơi và vùng gõ lùi về phía sau

-Nghe phổi:Thấy âm vò tóc,nếu có sự kết hợp với viêm phế quản,còn nghe thấy âm ran khô và ướt

-có hiện tượng khí phế dưới da:đặc biệt là dạ cỏ,nách,ngực

-Mạch nhanh tần số hô hấp tăng cao

-Niêm mạc mắt bầm tím

*Điều trị:

1.Hộ lý:

-Cho gia súc nghỉ làm việc,để gia súc ở nơi yên tĩnh,thoáng mát,cho thức

ăn lỏng,cho ăn nhiều bữa

2.Dùng thuốc điều trị:

-Dùng thuốc trợ tim:(Cafein Natribenzoat,long não…)

-Dùng thuốc giảm ho và an thần

Trang 22

-Dùng dầu nóng xoa bóp vào nơi khí phế dưới da.Nếu cần thiết thì lấy kim chọc vào để tháo khí.

2.2.5.5.Sung huyết và phù phổi:

*Nguyên nhân:

1-Xung huyết bị động:

-Thiểu năng tim (hở,hẹp van tim,suy tim)

-Viêm thận gây thuỷ thũng toàn thân

-Các bệnh gây liệt gia súc nằm quá lâu (bại liệt,què)

-Do bội thực dạ cỏ hay chướng hơi dạ cỏ

2.Sung huyết chủ động:

Cũng tương tự như xung huyết bị động.Nhưng trong trường hợp do vi trùng tác động thì những huyết quản ở những chỗ đau to lên nhiều huyết cầu tràn vào phế nang và một ít fibrin thường làm cho phổi bị xơ hoá

Trang 23

3.Phù phổi:

Chủ yếu là tăng huyết áp tiểu tuần hoàn làm vách mạch quản bị phá hoại dẫn đến tính thấm màng mạch tăng,tương mạch từ lòng mạch quản thoát ra ngoài làm cho phổi bị thuỷ thũng (phù).Vì vậy trên thực tế ta thấy gia súc thể hiện khó thở,thậm chí ngạt thở chết

-Chảy nước mũi (nước mũi có nhiều bọt trắng hay có màu hồng)

-Nếu bị nặng gia súc ngạt thở,4 chân lạnh có triệu chứng thần kinh (sợ hãi,run rẩy)

-Nghe vùng phổi:

+ Nếu do xung huyết phổi thì âm phế nang nhỏ nhưng một số nơi khác thì

âm phế nang lại tăng

+ Nếu do phù phổi thì âm phế nang giảm,có khi mất hẳn.Nghe thấy âm ran ướt và ran khô

-Gõ vùng phổi:

+ Khi phổi xuất huyết gõ phổi có âm

+ Khi phù phổi có âm đục và cạnh đó có vùng âm bùng hơi

-Nghe tim:

+ Nếu sung huyết chủ động tim đập nhanh và mạnh

+ Nếu sung huyết bị động tim đập yếu,tĩnh mạch cổ phồng to

*Điều trị:

1.Hộ lý:

-Cho gia súc nghỉ ngơi,đưa gia súc vào nơi thoáng mát,thoáng khí

Trang 24

-Nếu sung huyết chủ động thì dùng nước đá chườm vào vùng đầu,phun nước lạnh lên da,hay dùng nước lạnh thụt rửa.

-Nếu sung huyết phổi nặng thì phải dùng phương pháp chích huyết thanh ở tĩnh mạch

2.Dùng thuốc điều trị:

-Dùng thuốc trợ tim,trợ lực

-Dùng thuốc để làm giảm dịch thẩm xuất

2.2.5.6.Bệnh phổi xuất huyết:

-Do trúng độc một số hoá chất hay các loại cây thực vật

-Do bệnh máu không đông,bệnh bạch huyết

*Triệu chứng:

-Gia súc thở khó

-Mạch nhanh và yếu

Gia súc hoảng hốt và run rẩy

Nhiệt độ hạ hơn bình thường

-Nghe phổi có âm ran ướt

-Sau đó con vật ngã,4 chân lạnh và chết

*Điều trị:

1.Hộ lý:

-Cho gia súc nghỉ ngơi

Trang 25

-Dùng nước đá đắp vào vùng trán và vùng đầu.

-Nếu do sung huyết phổi gây nên thì ta có thể dùng biện pháp chích huyết (lấy bớt máu ở tĩnh mạch ra)

1.Nguyên nhân nguyên phát:

-Do gia súc được chăm sóc và nuôi dưỡng kém làm cho sức đề kháng của

cơ thể giảm.Khi bị cảm lạnh gia súc dễ bị mắc bệnh

-Do phổi bị kích thích bởi hơi nóng,hơi độc (H2S,amoniac…) làm tổn thương niêm mạc phế quản vi trùng xâm nhập rồi gây bệnh

-Do tổn thương cơ giới

2.Nguyên nhân kế phát:

-Do kế phát từ một số bệnh

+ Từ bệnh truyền nhiễm (cúm,lao,viêm màng mũi thối loét…)

+ Từ ký sinh trùng (bệnh giun phổi hay do sự di hành của ấu trùng giun đũa)

+ Từ bệnh nội khoa (bệnh tim,bệnh ứ huyết ở phổi)

-Do sự viêm lan:Từ viêm tử cung hoá mủ,viêm vú,viêm dạ dày và ruột,viêm hạch,từ đó vi trùng theo máu vào phổi gây bệnh

*Triệu chứng:

-Con vật ủ rũ,mệt mỏi,kém ăn hoăc không ăn

Trang 26

-Sốt cao (nhiệt độ tăng hơn bình thường từ 1-2oC) và sốt lên xuống theo hình sine.

-Gia súc ho mới đầu ho khan và ngắn,có cảm giác đau.Sau đó ho ướt và kéo dài,giảm đau

-Nước mũi ít và đặc thường dính vào 2 bên lỗ mũi.Nếu viêm phổi hoại thư thì nước mũi như mủ và có mùi thối

-Khó thở:tần số hô hấp tăng (có khi 40-100 lần/phút)

-Niêm mạc mắt tím bầm

-Lúc đầu tim đập nhanh,sau đó yếu dần

-Khi gõ vùng phổi gia súc có cảm giác đau và có phản xạ ho:vùng âm đục của phổi phân tán,xung quanh vùng này là âm bùng hơi

-Khi nghe vùng phổi:nghe thấy âm phế quản bệnh lý,âm ran ướt (ở thời kỳ đầu).Âm ran khô,âm vò tóc (ở thời kỳ cuối).Nếu vùng phổi bị gan hoá thậm chí không nghe được âm phế nang,nhưng xung quanh vùng gan hoá ta lại nghe thấy âm phế nang tăng

-Đối với gia súc yếu và nằm thì nên làm giá đỡ,hoặc thường xuyên trở mình cho gia súc

-Dùng dầu nóng xoa bóp vùng ngực.Nếu có điều kiện dùng đèn Soluxe hay hồng ngoại chiếu vào vùng ngực

Trang 27

-Dùng Protein liệu pháp để nâng cao sức đề kháng của cơ thể (hoặc dùng huyết liệu pháp).

2.Điều trị:

-Dùng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn

-Dùng thuốc trợ sức,trợ lực,nâng cao sức đề kháng,giảm dịch thẩm xuất và tăng cường giải độc

2.2.5.8.Bệnh thuỳ phế viêm:

*Nguyên nhân:

Có nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung có 2 quan điểm:

-Quan điểm 1:Bệnh này là kết quả của một bệnh truyền nhiễm,vì bệnh này được phát hiện khi ngựa mắc bệnh viêm phế mạc truyền nhiễm,bệnh sốt phát ban hay viêm hạch truyền nhiễm.Bệnh phát ra ở bò khi bò mắc bệnh tụ huyết trùng,ở lợn là triệu chứng của bệnh dịch tả

-Quan điểm 2:Bệnh này hoàn toàn là một bệnh không truyền nhiễm,bệnh xảy ra do điều kiện ngoại cảnh tác động tới (như gia súc bị cảm,nhiễm lạnh đột ngột,hít phải một số khí độc,làm việc quá sức…)

*Triệu chứng:

-Bệnh xảy ra đột ngột (đột nhiên gia súc sốt cao 41-42oC,sốt kéo dài liên miên từ 6-9 ngày,sau đó nhiệt độ hạ dần) cũng có những trường hợp nhiệt độ

hạ xuống đột ngột xuống ngay mức bình thường

-Gia súc mệt mỏi,ủ rũ,kém ăn hoặc không ăn,run rẩy

-Niêm mạc sung huyết hay hoàng đản

-Ho ít,ho ngắn,khi ho gia súc có cảm giác đau

-Nước mũi ít màu đỏ hay màu gỉ sét

-Hiện tượng thở khó xuất hiện rõ rệt,có những trường hợp ngồi thở như kiểu chó ngồi

-Khi gõ vùng phổi:âm biến đổi theo từng thời kỳ

Ngày đăng: 18/12/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2.Tình hình mắc bệnh ngoại khoa trên đàn bò sữa tại xã Phù - điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi bò và một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn bò sữa tại xã phù đổng-gia lâm-hà nội
Bảng 4.2. Tình hình mắc bệnh ngoại khoa trên đàn bò sữa tại xã Phù (Trang 40)
Bảng 4.3:tình hình mắc bệnh ký sinh trùng trên đàn bò sữa tại xã Phù - điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi bò và một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn bò sữa tại xã phù đổng-gia lâm-hà nội
Bảng 4.3 tình hình mắc bệnh ký sinh trùng trên đàn bò sữa tại xã Phù (Trang 42)
Bảng 4.4.Tình hình mắc bệnh nội khoa trên đàn bò tại xã Phù Đổng – - điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi bò và một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn bò sữa tại xã phù đổng-gia lâm-hà nội
Bảng 4.4. Tình hình mắc bệnh nội khoa trên đàn bò tại xã Phù Đổng – (Trang 43)
Bảng 4.5:Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn bò sữa tại xa Phù - điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi bò và một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn bò sữa tại xã phù đổng-gia lâm-hà nội
Bảng 4.5 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn bò sữa tại xa Phù (Trang 46)
Bảng 4.6.Tình hình nhiễm bệnh viêm phổi trên đàn bò sữa tại xã Phù - điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi bò và một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn bò sữa tại xã phù đổng-gia lâm-hà nội
Bảng 4.6. Tình hình nhiễm bệnh viêm phổi trên đàn bò sữa tại xã Phù (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w