1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội

58 1,6K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 367,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1977 Vũ Văn Ngữ và Nguyễn Hữu Nhạ cho rằng bệnh lợn con ỉa phân trắng là do hiện tượng loạn khuẩn.Sử An Ninh và cộng sự 1981 cho rằng : nguyên nhân phân phản ứng thích nghi của cơ th

Trang 1

[Type a quote from the document or the summary of an interesting point You can position the text box

anywhere in the document Use the Text Box Tools tab to change the formatting of the pull quote text box.]

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM khoa

-*** -kho¸ luËn tèt nghiÖp

Đề tài:

Điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo

Trang 2

Ngành chăn nuôi lợn từ rất lâu đời được coi là nghề truyền thống trong sản xuất nông nghiệp của nước ta Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học

kỹ thuật, chăn nuôi lợn ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về qui mô và số lượng, chuyển đổi cách chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại khép kín Hình thức chăn nuôi này cho phép chăn nuôi với số lượng lớn và được đầu tư hơn cả về thức ăn, con giống, kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc từ đó góp phần giảm tình hình dịch bệnh đem lại lợi nhuận kinh tế cao

Bên cạnh sự phát triển trên, thì thực tế vẫn tồn tại đó là nhiều năm nay ở các

cơ sở chăn nuôi nông hộ vẫn thường xuyên xuất hiện một số bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, một trong số các bệnh gây thiệt hại lớn là bệnh lợn con phân trắng Mặc dù bệnh lợn con phân trắng không có tỷ lệ chết cao nhưng sau khi lợn con khỏi bệnh thường còi cọc, giảm khả năng tăng trọng, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi

Xuất phát từ thực trạng trên, để góp phần nâng cao năng xuất chăn nuôi, hạn chế tình hình dịch bệnh đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng Chúng tôi tiến

hành thực hiện đề tài “Điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn

lợn con theo mẹ và thực hành thú y tại trại Vinh Sơn_ Việt Long – Sóc Sơn –

Hà Nội”.

Trang 4

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Bệnh phân trắng lợn con rất hay gặp trong chăn nuôi lợn bệnh xảy ra trên khắp cả nước cũng như trên thế giới Bệnh đã gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi lợn Bệnh đã làm giảm khả khả năng tăng trọng còi cọc chậm lớn, lợn con dễ bị suy kiệt rồi chết gây thiệt hại kinh tế cao

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, bệnh phân trắng lợn con đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các

cơ sở chăn nuôi tập trung

Năm 1962, Hùng Cao đã nhận xét bệnh có thể xảy ra quanh năm ở những nơi chăn nuôi tập chung, bệnh phát mạnh vào mùa đông sang hè ( từ tháng 11 đến tháng 5 ) khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ nóng sang lạnh )

Đào Trọng Đạt và cộng sự (1964) nhận định nguyên nhân gây bệnh do ảnh hưởng các nhân tố bên ngoài (sự thay đổi thời tiết đột ngột lợn con bị lạnh thức

ăn lợn mẹ kém phẩm chất hoặc thay đổi đột ngột, chuồng trại ẩm ướt …) gây rối loạn thần kinh dẫn đến rối loạn tiêu hoá

Năm 1970, Nguyễn Vĩnh Phước kết hợp với xí nghiệp thuốc thú y phân lập

và giám định E.coli trong bệnh bợn con tiêu chảy ở Quang Trung, Kiều Thị,Cầu Ngãi, Yên Sở Đến năm 1974 ông đã xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con xảy ra ở mọi lưá tuổi và ở lợn sơ sinh

Năm 1966, Cù Xuân Dần nghiên cứu một chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu của lợn bệnh và so sánh với lợn bình thường

Nguyễn Văn Lượng 1963 bệnh lợn con ỉa phân trắng là do thiếu nguyên tố

vi lượng nên khi ông dùng hợp chất như đồng, sắt bổ xung cho lợn mẹ và lợn con thì khỏi bệnh

Trang 5

Năm 1977 Vũ Văn Ngữ và Nguyễn Hữu Nhạ cho rằng bệnh lợn con ỉa phân trắng là do hiện tượng loạn khuẩn.

Sử An Ninh và cộng sự 1981 cho rằng : nguyên nhân phân phản ứng thích nghi của cơ thể đối với các yếu tố stress biểu hiện qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu như đường huyết, sắt, kali, natri,…

Năm 1996 Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho khi theo dõi tính kháng thuốc của E.coli phân lập từ lợn con ỉa phân trắng cho biết: số chủng E.coli kháng thuốc từ năm 1978 đến 1988 tăng khá mạnh, nhất là các loại kháng sinh Chloramphenicol, Tetracyline

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Bệnh lợn con phân trắng đã xảy ra từ rất lâu và đã co mặt ở khắp nơi trên thế giới Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân, cơ chế gây bệnh và biện pháp phòng trị bệnh

Theo Bakhtin A.G (1956) Nguyên nhân gây bệnh lợn con phân trắng chủ yếu do vệ sinh chuồng trại, chăm sóc quản lý kém, thức ăn thiếu chất dinh dưỡng

Cùng với việc phân lập và nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của E.coli thì việc nghiên cứu và sản xuất các chế phẩm phòng bệnh tiêu chảy ở lợn cũng được quan tâm

Năm 1979, Zơiway công bố đầu tiên nghiên cứu về sai sót trong chăn nuôi gia súc non và ảnh hưởng của khí hậu của thời tiết gây nên ỉa chảy ở gia súc non, trong đó có ỉa chảy ở lợn

Năm 1939, Maningo nghiên cứu về bệnh đã cho rằng nguyên nhân gây ra bệnh phân trắng lợn con là do thiếu khoáng và vitamin

Năm 1964, Samdrs, Stervens, Saika ở Anh đã xác định ở lợn hai tuần tuổi đều thấy co E.coli trong mẫu phân Ở Cộng hoà dân chủ đức đã khẳng định kháng nguyên K88 đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

Trang 6

2.2 Đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn con

Ở lợn con, do cấu tạo cũng như chức năng của các cơ quan bộ phận cơ thể đặc biệt là hệ tiêu hoá chưa hoàn chỉnh Do đó môi trường ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể vật nuôi và vật nuôi chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện ngoại cảnh và cùng với vi sinh vật có trong đường tiêu hoá như E.coli, salmonella, protzoa…nhân cơ hội này đã phát triển mạnh mẽ trong ruột của lợn con Vì vậy, đã làm mất sự cân bằng giữa vi sinh vât có lợi và vi sinh vật có hại, khi sức đề kháng của con vật giảm đã tạo điều kiện cho vi sinh vật có hại phát triển mạnh mẽ đẻ gây bệnh Tuy nhiên tự bản thân nó không gây ra được bệnh, chỉ khi môi trường thay đổi là các vi sinh vật có hại ở đường ruột nhân cơ hội này phát triển làm con vật ỉa chảy nặng

Các yếu tố liên quan gián tiếp là khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn thay đổi đột ngột làm mất cân bằng trong cơ thể, quá trình tiêu hoá bị rối loạn dẫn đến quá trình loạn khuẩn trong đương tiêu hoá Đây Là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển mạnh cả về số lượng cũng như độc lực gây bệnh

2.2.1 Đặc điểm tiêu hoá của gia súc non.

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Phát triển nhanh thể hiện sự tăng lên về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già Nhưng

cơ quan tiêu hoá của lợn con chưa được hoàn thiện là do một số mem tiêu hoá thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở ba tuần tuổi đầu

Lúc đầu ở dạ dày có nồng độ ion H+ rất thấp, thậm chí không có , khả năng diệt trùng rất thấp, sau một thời gian bú sữa mẹ làm nồng độ HCL bắt đầu tăng lên Các tuyến tiêu hoá dần dần được phát triển và khả năng tiêu hoá tốt hơn.Nhìn chung bộ máy tiêu hoá của lợn con biến đổi theo tuổi, còn ở giai đoạn lợn con theo mẹ độ PH rất thấp ở dạ dày (Trần Cừ 1972)

2tuần tuổi: PH =2,829tuần tuổi :PH=4,96

Trang 7

Theo Đào Trọng Đạt, Lê Ngọc Mỹ, Phan Thanh Phương, Huỳnh Văn Kháng (1996), lợn con trên 14-16 ngày tuổi tình trạng thiếu axit HCL tự do trong dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa Do đó việc tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt là việc cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCL, hoạt hoá hoạt động miễn dịch, tăng khả năng đáp ứng miễn dịch của

cơ thể

2.2.2 Hệ vi sinh vật đường ruột ở gia súc non

* Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn bao gồm: Eshcherichia coli,

salmonella, shigella, klebsiella, proteus,…trong đó chủ yếu là nhóm vi khuẩn đường ruột “enterobacteriaceae”

Enterobacteriaceae: là một họ vi khuẩn bao gồm các trực khuẩn Gram âm,

sống trong đường tiêu hoá của người và gia súc, tồn tại trong phân giác, trong đất và thực vật Enterobacteriaceae đại diện có: E coli, Samonella, shigella, klebsiella, proteus

Escherichia(E coli): vi khuẩn luôn tồn tại trong đường tiêu hoá của người

và gia súc, gia cầm Đây là loại vi khuẩn phổ biến có mặt ở mọi nơi Khi có điều kiện thuận lợi thì trong cơ thể các chủng E.coli trở nên cường độc gây bệnh cho gia súc gia cầm Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, có đủ ba loại kháng nguyên Dựa vào cấu trúc kháng nguyên người ta xác định được 170 kháng nguyên: 80 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H và một số quyết định kháng nguyên F

Bệnh lợn con ỉa phân trắng do serotyp O78,K88 gây ra ở lợn con thường làm chết lợn ở 1 tuần tuổi và 2 tuần tuổi, do E.coli vào trong cơ thể gây tiêu chảy và bại huyết

-Salmonella (Sal): ở điều kiện thường Salmonella không gây bệnh mà có vai

trò góp phần giữ cân bằng hệ vi sinh vật đường tiêu hoá Khi sức đề kháng của

cơ thể bị giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào một số cơ quan nội tạng và gây bệnh

Trang 8

Cấu tạo kháng nguyên của Salmonella hết sức phức tạp bao gồm ba loại: kháng nguyên H, kháng nguyên K, kháng nguyên O.

-Salmonella có hai loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố Trong đó nội độc

tố là độc tố nguy hiểm, gây độc thần kinh, hôn mê, co giật, gây phù và hoại tử ruột

-Kbsiella: là vi khuẩn không di động, không hình thành nha bào, thường sinh

giáp mô Vi khuẩn Klebsiella có ba loại kháng nguyên: kháng nguyên K, kháng nguyên O dạng S, kháng nguyên O dạng R

-Proteus: thường kí sinh trong đường ruột, bình thường với số lượng ít

không gây bệnh Nhưng khi có các yếu tố bất lợi tác động vào cơ thể làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm thì vi khuẩn trỗi dậy gây bệnh và gây tổn thương tại nơi cư trú

-Shigella: không có khả năng di động, cư trú tại ruột già, là một trong những

tác nhân gây viêm dạ dày-ruột

Lợn con theo mẹ thích ứng kém với môi trường: hệ thống miễn dịch chưa phát triển, hệ thống enzim tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, dự trữ năng lượng cơ thể rất ít, thiếu sắt, điều hoà thân nhiệt kém

2.2.3 Đặc điểm thích nghi ở lợn con

* Hệ thống miễn dịch chưa phát triển: lợn con sơ sinh nhận từ sữa đầu một

lượng kháng thể đặc hiệu (IgG) có hiệu quả trong 10 ngày đầu Nhưng sự hấp thu Immuglobin của sữa đầu cũng giảm nhanh trong vòng 24 giờ sau khi sinh

Do đó tất cả các tác nhân, yếu tố hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh, tỷ lệ tử vong sau khi sinh Miễn dịch chủ động được thực hiện bắt đầu từ 3 tuần tuổi

* Hệ thống enzim tiêu hoá chưa hoàn chỉnh: Ở lợn 15-21 ngày hệ thống

enzim chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa (chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipid và lactoz) Bắt đầu từ 3 tuần tuổi, hoạt tính enzim

Trang 9

tiêu hoá Vì vậy, việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển đầy đủ các loại enzim tiêu hoá.

Dự trữ năng lượng rất ít: khi mới sinh, cơ thể lợn con chứa 80% nước và 20% chỉ có lipid, còn ở 3 tuần có 65% là nước và 12% là lipid Ngoài chất dự trữ là lipid cơ thể cồn có glycogen Tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) khoảng 1000-2000Kcal, chỉ tương đương với 1 lít sữa, năng lượng này chỉ đủ cho lợn sống khoảng 2 ngày Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con bú sữa sớm và giữ ấm cho lợn con Vì năng lượng và các chất dinh dưỡng thu được đều được sử dụng vào việc cấu tạo cơ thể Có thể nói con vật giai đoạn này rất dễ bị mắc bệnh

Thiếu sắt: thiếu sắt dẫn tới thiếu máu do hàm lượng Hb ( hemoglobin ) dẫn tới hạn chế khả năng sản sinh kháng thể

Hàm lượng huyết sắc tố trong máu của các loài gia súc khác nhau là khác nhau, và ngay trong cùng một giống thì hàm lượng cũng thay đổi Ngoài ra gia súc ở độ tuổi khác nhau thì số lượng hemoglobin cũng thay đổi

Qua nghiên cứu cho thấy số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin thấp

ở lợn con sơ sinh, sau đó tăng ở lợn 1-2 tháng tuổi, rồi lại giảm dần và ổn định ở lứa tuổi trưởng thành (Trần Cừ, Cù Xuân Dần 1979) Trong điều kiện nóng ẩm thì hàm lượng Hemoglobin cũng tăng lên điều đó liên quan đến sự phân bố máu

và tác dụng kích thích của nhiệt độ, ánh sáng mặt trời đến cơ quan tạo máu Hàm lượng hemoglobin còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và tình trạng sức khoẻ

Dự trữ sắt lúc mới sinh rất ít (60-70mg ở gan), trong khi đó nhu cầu của cơ thể lợn tới 6-7mg/ngày, mà lượng sắt ở sữa chỉ có 1mg/ngày/con Điều đó cho thấy lợn con thiếu sắt, nhất là sau cai sữa Do vậy việc bổ sung sắt là việc làm rất cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế bệnh lợn con phân trắng

Trang 10

2.2.4 Đặc điểm về khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ dàng do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzim và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, hấp thu dinh dưỡng kém Do vậy, các mầm bệnh như E.coli, Samonella, dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh

Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozin được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào với các thành phần lạ là rất kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có chứa nhiều globulin miễn dịch, những chất bảo vệ lợn con mới đẻ chống nhiễm mầm bệnh Hai giờ sau khi

đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin miễn dịch từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24-36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên(Trương Lăng,2007 )

2.3 BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON

Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng tiêu chảy phân trắng ở lợn con đang theo mẹ, đặc biệt từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra quanh năm nhưng hay găp nhất khi thời tiết thay đổi: nóng lạnh bất thường, mưa nhiệt độ và

độ ẩm cao,…cũng có nhiều nguyên nhân khác rây ra bệnh như bệnh truyền nhiễm, bệnh kỹ sinh trùng, do các yếu tố ngoại cảnh, thức ăn thay đổi đột ngột…

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý dặc thù của đường tiêu hóa Hiện tượng lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tính chất diễn biễn, tùy theo độ tuổi nhất định, tùy theo yếu tố được xem là nguyên nhân chính mà nó còn gọi với nhiều tên khác nhau: Bệnh lợn con phân trắng, chứng khó tiêu, tiêu chảy sau cai sữa, chứng rối loan tiêu hóa…

Trang 11

Tuy nhiên, thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi

cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5-6 lần trở đi) và nước ở tron phân từ 75-76% trở lên được gọi là tiêu chảy Tiêu chảy là một hội chứng bệnh lý liên quan đến nhiều yếu tố, cho dù là yếu tố nào đi thì hậu quả của tiêu chảy là mất nước, chất điện giải, kiệt sức, trường hợp lợn khỏi bệnh thường còi cọc chậm lớn do niêm mạc đường tiêu hóa bị tổn thương làm giảm quá trình tiêu hóa hấp thụ thức ăn, tỷ lệ tử vong tương đối cao

Bệnh lợn con ỉa phân trắng là một hội chứng lâm sàng rất đa dạng, đặc điểm

là viêm dạ dày ruột ỉa chảy và gầy sút nhanh Bệnh thường sảy ra đối với lợn con sau khi sinh đến 45 ngày tuổi, và chủ yếu là giai đoạn lợn con theo mẹ từ 1-

21 ngày tuổi Giai đoạn này lợn con có sức đề kháng kém, dinh dưỡng phụ thuộc hoàn toàn vào bũ sữa mẹ, thân nhiệt lợn con phụ thuộc nhiều vào yếu tố chăm sóc, quản lý và điều kiện môi trường Vì vậy lợn mẹ kém ăn bỏ ăn, bị hội chứng MMA (viêm vú, viêm tử cung, mất sữa…) lợn con thiếu sắt hoặc nhiệt độ không đảm bảo đều tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn có hại trong đường tiêu hóa của lợn con phát triển như E.coli, salmonella…gây rối loạn tiêu hóa và tiết dịch lên chất đạm trong sữa cazenin không tiêu hóa được thải ra ngoài nên phân có màu trắng

2.3.1 NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Bệnh phân trắng lợn con gây ra do các nguyên nhân tổng hợp sau:

* Do điều kiện vệ sinh dinh dưỡng

Nhân tố bẩm sinh: do quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn có chửa, lợn mẹ bị thiếu chất dinh dưỡng, khóang , nhất là Fe,

CO, CA, vitaminB12 … làm bào thai phát triển kém, do đó ấu súc mới sinh rễ bị bệnh phân trắng lợn con

Trong khi lợn con mới sinh ra, nguồn năng lượng từ mẹ bị mất đi đột ngột, thân nhiệt lợn con giảm nhanh…

Trang 12

Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, D, B1, C cao hơn rất nhiều so với sữa thường Ngoài ra trong sữa đầu còn có MgSO4 có tác dụng tẩy rửa các chất cặn

bá trong đường tiêu hóa của lợn con sơ sinh làm tăng nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa được thuận lợi Đặc biệt trong sữa đầu còn có hàm lượng kháng thể làm tăng nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa được thuận lợi Đặc biệt trong sữa đầu còn có hàm lượng kháng thể làm tăng nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa được thuận lợi Đặc biệt trong sữa đầu còn có hàm lượng kháng thể globullin, vì vậy việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để cung cấp hàm lượng kháng thể đáng kể chống lại sự sâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh, đồng thời tăng sức đề kháng cho cơ thể

Do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng nhất là thiếu sắt, Khi còn bú mẹ lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn…vì vậy ta không chi cho lợn con bú sữa đầy đủ mà còn phải cung cấp đủ nước uống cho lơn con

* Do đặc điểm sinh lý lợn con

Khi mớ sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch Trong dạ dày lợn con thiếu a xit HCL (Clo hi đờ rích) nên pepsinnozen tiết ra không chở thành men pepsin hoạt động được Khi thiếu pepsin, sữa mẹ không được tiêu hóa và bị kết tủa dưới dạng cazein, gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy phân màu trắng (màu của cazein chưa được tiêu hóa) Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, do vậy nó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh này lại hay sảy ra hàng loạt, ồ ạt khi khí hậu thời tiết thay đổi thất thường

Vì vậy ta cần bổ sung lượng sắt ít nhất là 200-250ml trên con để lợn con tránh hiện tượng thiếu máu, trong sữa mẹ không chỉ thiếu sắt mà còn Coban,

Trang 13

vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu, tổng hợp một số enzim Do đó mà lợn con dễ bị bại huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên lợn con dễ mắc bệnh phân trắng lợn con.

* Do vi khuẩn đường ruột

Thường là kế phát Khi sức đề kháng của lợn con giảm, Ecoli, salmonella phát triển nhanh chóng gây bội nhiễm, tăng độc lực gây bệnh

Trực khuẩn E.coli là một loại trực khuẩn đường ruột sống ở ruột già, suất hiện và sinh sống ở động vật chỉ sau khi sinh ra 2 giờ và tồn tại đến khi cơ thể động vật chết đi

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978)[21], Nguyễn Như Thanh và cộng sự ( 2010 )[25] bình thường E.coli cư chú ở phần sau của ruột ít khi có ở dạ dày hay ở phần trước của ruột non Khi sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli mới phát triển mạnh, tăng cường độc lực và gây bệnh cho cơ thể Các tác giả cũng cho biết cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp có đủ cả ba loại kháng nguyên O, H, K kháng nguyên K có ba loại L, A, B, nên E.coli có nhiều type huyết thanh khác nhau, có ít nhất 130 kháng nguyên O, 80 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H

Nhiều ngiên cứu còn quan tâm đến yếu tố bám dính, yếu tố dung huyết, khả năng sâm nhập của vi khuẩn, khả năng kháng thuốc của E.coli Vi khuẩn E.coli bám dính vào các tế bào biểu mô ruột nhờ các yếu tố bám dính ở bề mặt vi khuẩn như F4(K88), F5(K99), F6(K987P) và F41F17,F18 hoặc một số yếu tố bám dính khác mà cho đến nay cấu trúc của chúng vẫn chưa được xác định dõ dàng Chính các yếu tố bám đinh này cùng với độc tố đường ruột Sta, STb, TL đã gây nên quá trình sinh bệnh của E.coli

E.coli sâm nhập và lây chuyền khắp cơ thể bằng con đường tiêu hóa (ruột non) và đường máu Sức đề kháng của cơ thể con vật sẽ quyết định sự lây truyền khắp cơ thể nhanh hay chậm, nặng hay nhẹ

Trang 14

Đào Trọng Đạt và cộng sự (1964) đã xác định được số lượng E.coli ở lợn bệnh lớn hơn lợn khỏe.

Tại Việt Nam các nghiên cứu về vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn nói chung cũng có nhiều tác giả quan tâm và tiến hành Bệnh do trực khuẩn E.coli gồm các type: O143, O149, O141, O117, O138, O139 và dùng các type này để sản suất vacxin phòng bệnh cho lợn mẹ (Nguyễn Thị Nội,1986)[17]

Theo Lê Văn Tạo và cộng sự (1993)[24], bệnh phẩm của lợn con tiêu chảy dưới 30 ngày tuổi ở các cơ sở chăn nuôi lơn sinh sản đã thu phân được 75 chủng E.coli thuộc 13 serotype kháng nguyên là : O111, O8/6, O26, O149,O55…

Trực khuẩn đường ruột có ở khắp mọi nơi lây lan chủ yếu bằng con đường

ăn uống ít khi qua các con đường khác Đối với lợn bệnh, quá trình tiêu hóa thức

ăn bị rối loạn là do hiện tượng loạn khuẩn, dẫn đến lợn con bị ỉa phân trắng.Với những lợn khỏe mạnh, E.coli chỉ cư trú ở ruột già và phần cuối ruột non

Vi khuẩn sinh axit lactic có ngay từ khi cơ thể mới sinh ra, chúng phát triển và tăng về số lượng khống chế sự phát triển của E.coli và gây thối, đồng thời ngăn chặn sự phát triển của các bệnh khác Ngược lại, các loại vi khuẩn sinh axit phát triển kém làm giảm số lượng và phá vỡ cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn E.coli phát triển nhanh về số lượng và độc lực, làm biến đổi bệnh lý trong đường ruột Khi hệ vi sinh vật mất cân bằng thi sẽ gây ra bệnh phân trắng lợn con và các bệnh kế phát khác

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978)[21], Nguyễn Như Thanh (2001)[25], cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, có 3 loại kháng nguyên đó là O, H, và K

- Kháng nguyên O (kháng nguyên thân) : là kháng nguyên vách tế bào, nó 2 đặc tính : chịu nhiệt ở 100oC sau 2giờ mới bị phá hủy, kháng cồn và bị phá hủy bởi fomon 5% Kháng nguyên O rất độc, chỉ cần 1/20mg là có thể cho chuột nhắt chết sau 24 giờ

Trang 15

- Kháng nguyên H (kháng nguyên lông) : là kháng nguyên có trên lông vi khuẩn, đó là một protit có cấu trúc miozin của cơ Nó có đặc điển là kém bền, kém chịu nhiệt, bị cồn và các enzim tiêu hóa protein phá hủy.

- Kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt) : gồm 3 loại L, A, B Bản chất hóa học là một loại polisaccarit bao quanh tế bào vi khuẩn Người ta đã xác định được 13 loại kháng nguyên K khác nhau

E.coli không chịu được nhiệt, đun 55oC bị diệt trong 1 giờ, 60oC bị diệt trong

30 phút, đun sôi sẽ chết ngay Các chất hóa học thông thường như axit phennic fomon… diệt trong 5 phút Sống ở môi trường ngoài vi khuẩn có thể tồn tại lâu tới 4 tháng

* Do các yếu tố ngoại cảnh trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân bằng giữa sức đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh Khi sức đề kháng của cơ thể giảm thì cân bằng này mất đi làm cho cơ thể rơi vào tình trạng bệnh lý

Do cấu tạo, chức năng sinh lý nhiều cơ quan của gia súc nói chung và lợn con nói riêng chưa hoàn chỉnh làm cho khả năng thích nghi và bảo vệ cơ thể rất kém Do vậy mà các yếu tố ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới sức đề kháng của cơ thể

Khi còn nằm trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do than nhiệt cơ thể mẹ quyết định Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Lúc này các yếu tố bất lợi của ngoại cảnh như: nóng, lạnh, mưa gió ẩm ướt, thời tiết thay đổi đột ngột làm giảm sức đề khánh của cơ thể tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát sinh và phát triển Trong những yếu tố về khí hậu thì nhiệt độ và ẩm độ là quan trọng nhất Nhiệt độ 28-300C , ẩm độ từ 75-85% là thích hợp cho lợn con Vì vậy vào những tháng giao mùa, tháng mưa nhiều, ẩm độ cao từ 86-90% nhiệt độ thay đổi thất thường lợn con ở những nơi ẩm ướt, thoáng gió có sự thải nhiệt bằng truyền nhiệt, khuếch tán nhiệt càng mạnh, con vật mất càng nhiều nhiệt làm cho cơ thể

Trang 16

bị nhiễm lạnh, gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến bệnh phân trắng lợn con, có khi tỷ

lệ bệnh phân trắng lợn con trong đàn là 90-100% ( Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986)[3]

Nhiều tác giả cho rằng: Nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con được xem như không đặc hiệu và mang tính tổng hợp, trong các yếu tố lạnh, ẩm được đánh giá là yếu tố hàng đầu của bệnh Khi môi trường ngoài lạnh, ẩm làm hệ thống điều hòa nhiệt bị rối loạn, dẫn rối loạn trao đổi chất của các cơ quan, các mô bào, các tế bào của cơ thể Làm cho sức đề khánh giảm sút tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn có sẵn trong đường ruột hay từ ngoài vào có cơ hội phát triển tăng nhanh về số lượng và độc lực gây bệnh

Mặt khác, ở gia súc non các men tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, đặc biệt trong dịch vị chưa có đủ lượng HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin.Chính

vì vậy mà không tiêu hóa được hết sữa mẹ trong khi sữa mẹ là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn ( Sử An Ninh, 1993 )[15]

Theo Sử An Ninh (1991)[14]: Bệnh phân trắng lợn con có mối liên quan đến trạng trái stress lạnh, ẩm làm cho lợn con không giữ được mối cân bằng hoạt động của hệ thống: Hạ khẩu não – tuyến yên – tuyến thượng thận làm biến đổi hàm lượng Fe2+, Na+ và K+ trong máu làm giảm sức đề kháng

Đối với các cơ sở chăn nuôi tập chung, công tác vệ sinh cần phải quan tâm nhiều hơn nữa Lợn con mới đẻ ra, sau khi thực hiện các thao tác lau nhớt, buộc rốn, bấm răng nanh…phải được được sưởi ấm bằng đèn hồng ngoại để bù đắp được sự mất nhiệt của cơ thể lợn con, đồng thời phải cho lợn con bú sữa đầu ngay để tăng sức đề kháng cho lợn con, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, vệ sinh vòi nược uống tự động tránh rỉ sắt trong nước, thường xuyên vệ sinh các máng ăn,

để lợn con tránh ăn phải thước ăn ôi thiu

Nếu trong công tác nuôi dưỡng, người chăn nuôi tuân thủ được qui trình trên thì sẽ hạn chế được các yếu tố bất lợi của thời tiết và lợn con ít mắc bệnh hơn

* Do virut

Trang 17

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của vrut Bohl EH và cộng sự (1978) : khi nghiên cứu chứng viêm ruột ỉa chảy ở lợn con

đã tìm thấy Rota virut O.Nilsson, Mantinson.K và Elisabeth-Peson (1984) đã thấy Rota virut kết hợp với Isospora suis gây tiêu chảy ở lợn con Ở nước ta cho đến nay chưa có tài liệu nào công bó tác nhân gây bệnh phân trắng lợn con theo hướng visrut

2.3.2 Cơ chế sinh bệnh

Lợn con theo mẹ dưới 21 ngày tuổi có sự gay gắt giữa qui luật sinh trưởng

và tăng trọng (nhất là con giống lợn ngoại và lợn lai) với sự chưa hoàn thiện của

cơ quan bộ phận trong cơ thể, đặc biệt là bộ máy tiêu hóa, thần kinh

Lợn con ở những ngày đầu mới sinh hàm lượng HCl tự do trong dạ dày hầu như không có, dẫn tới khả năng tiêu hóa sữa mẹ của lợn con kém(Trần Cừ,1987) làm giảm khả năng phòng bệnh của lợn con khi lợn con gặp các tác nhân có hại như: vi khuẩn, thời tiết khí hậu thay đổi, dinh dưỡng kém, sẽ tác động trực tiếp vào hệ tiêu hóa gây bội nhiễm vi khuẩn đường ruột, các vi khuẩn có hại sẽ phát triển nhanh, tăng nhanh cả về số lượng và độc lực

Seley.J 1973 tác giả của lý thuyết stress đã công bố những nghiên cứu của mình, ông khẳng định: hệ thống dạ dày-ruột đặc biệt mẫn cảm với stress

Tiếp theo quá trình viêm của dạ dày-ruột bởi stress, các vi khuẩn có trong đường tiêu hóa đã làm bệnh nghiêm trọng hơn, tổn thương nặng nề hơn

Khi nói đến nguyên nhân gây bệnh do E.coli, để gây được bệnh vi khuẩn E.coli phải có các kháng nguyên bám dính như : F4 (K88), F41,F18…nhờ có kháng nguyên bám dính mà vi khuẩn bám vào nhu mao ruột non, phát triển nhanh về

số lượng và sản sinh độc tố đường ruột Enterotoxin Độc tố đường ruột phá hủy

tổ chức đường ruột và làm thay đổi cân bằng trao đổi nước, chất điện giải làm nước được hút từ cơ thể vào ruột gây hiện tượng tiêu chảy

Đào Trọng Đạt (1979) [2] cho rằng khi lợn con đi ngoài nhiều lần sẽ bị mất nước gây rối loạn sinh lý tiêu hóa, hấp thu của ống tiêu hóa dẫn đến rối loạn hệ

Trang 18

vi sinh vật đường ruột Vi khuẩn có men gây thối phát triển mạnh làm cho quá trình bệnh càng thêm trầm trọng.

Như vậy quá trình sinh bệnh phân trắng lợn con đã đưa lợn con vào 3 trạng thái rối loạn :

- Rối loạn chức năng tiêu hóa hấp thu

- rối loạn cân bằng muối, nước và các chất điện giải do lợn con tiêu chảy quá nhiều, lợn con dễ rơi vào trạng thái nhiễm độc, trụy tim mạch mà chết

- Rối loạn cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột

2.3.3 Triệu chứng – bệnh tích

*Triệu chứng

Bệnh thường sảy ra ở lợn con, có con mắc rất sớm, ngay sau khi 2-3 giờ và mắc muộn nhất khi lợn con được 21 ngay tuổi

Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì sau 2-3 ngày là

hạ, cũng có con thi thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy mất nhiều nước

Lợn con mắc bệnh trong 1-2 ngày đầu lợn con vẫn bú và chạy nhảy như thường sau đó con vật ít bú dần và ngừng bú hẳn Gầy tóp nhanh chóng, lông sù đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân run rẩy và dúm lại, đuôi và kheo dính đầy phân Khi con vật đi ỉa thi rặn nhiều làm lưng uốn cong, bụng tóp lại, thể trạng đờ đẫn, nằm nhiều hơn, có con ỉa chảy mất nước nhiều thì hố mắt trũng xuống, niêm mạc mắt, mũi nhợt nhạt, chân lạnh Thần kinh co giật từng cơn, da

bị mất sự đàn hồi Con vật bị bệnh khoảng 5-7 ngày cơ thể sẽ kiệt sức rồi sẽ chết, nếu con vật có khỏi thi cũng còi cọc chậm lớn

Ngài việc chẩn đoán dựa vào các triệu chứng trên thì bệnh còn được xác định chủ yếu dựa vào các trạng thái thay đổi của phân qua các giai đoạn bệnh

- Giai đoạn đầu từ 12-14 giờ trước khi bị bệnh lợn con đi ỉa khó khăn, phân táo, đen đỏ như hạt đỗ

-Giai đoạn tiếp theo, phân táo bón chuyển sang dạng sền sệt màu vàng, sau 2-3 ngày phân chuyển sang màu trắng hay sám trắng, sau có thể là vàng xanh

Trang 19

Phân ngày một lỏng hơn, số lần ỉa ngày càng nhiều có khi 14-20 lần trong một ngày đặc biệt phân có mùi tanh khắm rất khó ngửi, trong phân có mùi sữa chưa tiêu hóa lổn nhổn như vôi hay có lẫn nhiều bọt khí Có trường hợp mới mắc bệnh đến ngày thứ 3 phân đã loãng như nước phun ra tung tóe, lợn con mất nước nặng, lợn rơi vào trạng thái hôn mê, hấp hối và chết, tỷ lệ chết cao từ 40-70% thậm trí 100%

-Giai đoạn khỏi bệnh, lợn đi ỉa từ phân màu trắng xám sang trắng đen hay đen, phân đặc đánh thành khuôn như phân lợn khỏe

Hồ Văn Nam và cộng sự ( 1997 )[12], Đào Trọng Đạt ( 1996 ) [4] cho rằng: chăm sóc và nuôi dưỡng tốt số lợn mẹ và con cần lưu ý đến các thành phần dinh dưỡng quan trọng trong khẩu phần như: khoáng, vitamin…sẽ hạn chế bệnh

Trang 20

Như vậy các tác giả đều nhận thấy hạn chế cá tác nhân stress có hại và đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho lợn mẹ và lợn con có tác dụng hạn chế tiêu chảy ở lợn con.

Hoàng Danh Dự (1983-1993)[1], Lê Thị Tài (1993)[23] đã dùng Dextran-Fe

để phòng và trị bệnh phân trắng lợn con

Đỗ Trung Cừ (2004) cho lợn con uống Biolactyl Sử An Ninh (1991)[14] khi tiêm ACTH, Presnisolon

Các biện pháp phòng và trị cần hướng vào 3 mục tiêu :

- Phải thực hiện tốt khâu vệ sinh (chuồng trại, thiết bị, dụng cụ chuồng nuôi, nhà ở) nhằm hạn chế E.coli gây bệnh Đồng thời phải thiết lập độ thông thoáng hợp lý để duy trì và đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai đoạn Đặc biệt phải ấm ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, vệ sinh sạch sẽ

có đèn sưởi ấm cho lợn Nếu phát hiện lợn con bị tiêu chảy thì cần nhanh chóng điều trị bằng thuốc

- Phải chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn con và lợn mẹ nhằm nâng cao sức đề kháng cho lợn con, phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, phải đảm bảo các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn

- Dùng vacxin phòng bệnh cho lợn con

Ở nước ta, Nguyễn Thị Nội (1986) đã sản xuất vacxin phòng bệnh cho lợ nái

và kết quả cho thấy tiêm vacxin cho lợn nái chửa có tác dụng làm cho lợn chậm

bị bệnh hơn những con lợn con do lợn mẹ không được tiêm đẻ ra

Lê Văn Tạo và cộng sự (1993)[24] dùng 7chủng E.coli đã xác định được yếu

tố gây bệnh chế tạo vacxin chế dạng Bactein để phòng bệnh cho kết quả tốt.Gần đây một số công ty đã đưa vacxin có chứa kháng nguyên bám dính tiêm vacxin cho lợn nái hậu bị và nái chửa kỳ cuối, kháng thể chống E.coli xâm nhập vào thành ruột

Trang 21

* Trị bệnh

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều đi đến kết luận:

Cần phải điều trị sớm và kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế

và khắc phục rối loạn tiêu hoá và hấp thu, đồng thời kết hợp điều trị nguyên nhân và triệu chứng

Đối với bệnh phân trắng lợn con muốn điều trị tốt thì cần đảm bảo các hướng sau:

- Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hoá

- Chống vi khuẩn gây bệnh bằng các chất hoá học trị liệu

- Cống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hoá.-Bổ sung nước, chất điện giải

- Bổ sung sắt và các vitamin

-Đồng thời thực hiện tốt khâu vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, hộ lý

Nhiều tác giả cho điều trị theo hướng điều trị bội nhiễm bằng thuốc kháng sinh và thuốc hoá học trị liệu

Trong nước các tác giả Phạm Gia Ninh (1976)[16], Trần Minh Hùng 1978)[7] cũng đã dùng các thuốc kháng sinh Sulfamid, Furzazolidon và các dược liệu

có Phytonxit để chữa bệnh phân trắng lợn con nhưng kết quả không trắc chắn

Vũ Văn Ngữ (1967),1982)[19] cho lợn uống Subcolac để bổ sung thêm vi sinh vật có lợi ở đường tiêu hoá, cạnh tranh lấn át các vi khuẩn có hại nhằm lập lại thế cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột

Bên cạnh đó có nhiều tác giả sử dụng thuốc nam để chữa bệnh phân trắng lợn con như: Hoàng Quốc Dương (1989), Trần Minh Hùng (1978,1981)[7]

Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1994) đã sử dụng cao anh túc kết hợp với Furazolidon cho chữa hiệu quả chữa khỏi trên 90%

Ngoài ra kinh nghiêm nhân dân dùng cây lạc thau, cây lào, cây bồ đề, cọc xước, hi nhiên, cây cứt lợn, quả hồng xiêm xanh, quả ôỉ xanh

Trang 22

Hiện nay người chăn nuôi sử dụng nhiều loại dược phẩm có bán trên thị trường để điều trị bệnh phân trắng lợn con.

Theo kết quả nghiên cứu, Đỗ Ngọc Thuý và cộng sự (2003) cho thấy chủng E.coli mẫn cảm mạnh với cácc loại kháng sinh: Amicacin, Apramycin, CeftiofurNhiều tác giả khac cho rằng việc lạm dụng kháng sinh còn phá huỷ cân bằng cần thiết của hệ vi khuẩn đường ruột, làm giảm đáng kể các vi khuẩn có lợi trong đường tiêu hoá

Ngoài ra khâu hộ lý, chăm sóc, bổ sung nước và chất điện giải là cần thiết để

cơ thể bệnh nhanh chóng hồi phục

Trang 23

Phần III NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, NGUYYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tôi thực hiện đề tài này nhằm tiến hành ngiên cứu nội dung sau:

-Điều tra tình hình lợn con ỉa phân trắng trên đàn lợn con theo mẹ từ măm 2008-2010

-Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi của lợn con

-Thử nghiệm và so sánh một số phác đồ điều trị bệnh lợn con phân trắng-Thực hành công tác thú y tại trại

3.2.ĐỐI TƯỢNG VÀ NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU

Trang 24

-Nhiễm trùng huyết ở thú non

* Liều lượng và cách sử dụng

Heo, Trâu, Bò: 1ml/8-10 kg thể trọng, vị trí tiêm bắp

liều này có thể tăng lên gấp đôi nếu nhiễm trùng nghiêm trọng, nhất là nhiễm trùng huyết

Nhà sản xuất : công ty Vettoquinol-Pháp

Nhà phân phối : Công ty thuốc thú y Amavet

* Thành phần 100ml chứa :

Gentamycin sulfate 5500mgTylosin tatrate 11000mgách dùng Heo, Dê, Cừu 1ml/10kgP/ngày

Vị trí : tiêm bắp thịt, tiêm trong 3-5 ngày

Trang 25

* Công dụng :

Heo, Trâu, Bò, Dê cừu trị viêm phổi, sốt cấp tính, viêm ruột tiêu chảy phân trắng, phân xanh, phân có máu, tụ huyết trùng, nhiễm trùng vết thương, viêm khớp, long móng, viêm tử cung, viêm vú

Sản xuất tại công ty liên doanh Anova

3.3.Phương pháp nghiên cứu.

3.3.1 Điều tra tình hình chung của trại: dựa vào số liệu do trại cung cấp và

qua quan sát trực tiếp

3.3.2 Xác định bệnh dựa vào dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích khi mổ khám gia súc chết.

3.3.3 Xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo lứa tuổi

Chúng tôi tiến hành trên những đàn lợn con đồng đều, cùng thời điêm sinh, cùng lứa đẻ, giống nhau về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi ở 3 giai đoạn: 1,2,3 tuần tuổi

3.3.4 Xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng đang theo mẹ

Chúng tôi tiến hành trên những đàn lợn con đồng đều, cùng thời điểm sinh

ra, cùng lứa đẻ, giông nhau về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi ở 3 giai đoạn : 1,2,3 tuần tuổi

3.3.5 thử nghiệm thuốc điều trị

Chúng tôi tiến hành 3 lô để điều trị, những lô này đồng đều nhau, cùng thời điểm,cùng lứa đẻ, giống nhau về chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng

Gồm ba loại thuốc được sử dụng đó là:

Trang 26

n

∑ xi ni

i=1

N

Tổng số con khỏi bệnh trong ngày, số con chết trong 3 – 5ngày điều trị

Thời gian điều trị trung bình

Số con tái phát, tỷ lệ tái phát

3.6.3 Xác định chỉ tiêu theo dõi.

Tổng số con mắc bệnh

Tỷ lệ mắc bệnh (%) = —————————— x 100

Tổng số con theo dõi

Tổng số con điều trị khỏi

Tỷ lệ trị khỏi (%) = ———————————— x 100

Tổng số con điều trị

Tổng số con tái phát

Tỷ lệ tái phát (%) = ——————————— x 10

Tổng số con điều trị khỏi

Thời gian điều trị khỏi = —————

Trang 27

a : Số tiền điều trị/ngày/con (Vnđ)

b : Thời gian điều trị khỏi trung bình ( ngày )

3.3.7 Phương pháp xửa lý số liệu.

Trang 29

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CỦA TRANG TRẠI VINH SƠN- VIỆT LONG – SÓC SƠN – HÀ NỘI

4.1.1 Giới thiệu về trại Vinh Sơn Việt Long – Sóc Sơn – Hà Nội

Trại lợn Việt Long – Sóc Sơn – Hà Nội nằm trên địa bàn xã Việt Long huyện Sóc Sơn – Hà Nội Xung quanh trại là đồng ruộng cách khu dân cư 2km, tổng diện tích trại là 5ha Trong đó 2ha dùng thả cá, 1,5ha được sử dụng để chăn nuôi, còn lại là diện tích trống và nhà ở cho công nhân ở trại

Trong khu chăn nuôi có 2 dãy chuồng lợn nái đẻ và lợn nái mang thai, một kho cám, hai dãy chuồng lợn nuôi lợn thịt, một gian để thuốc và hóa chất, dụng

cụ cho chăn nuôi

Tại mỗi ô chuồng đều có hệ thống máng uống tự động, máng ăn tự động, chuồng nái và hậu bị được tách riêng với chuồng lợn nuôi lấy thịt

Hệ thống nước được lọc và dẫn theo đương ống đến từng ô chuồng, có van đóng mở tự động khi lợn uống Hệ thống máng ăn bằng inox, và nhôm thiết kế tùy kiểu chuồng nuôi, vệ sinh dễ dàng

4.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn của trại

Trại Vinh Sơn Việt Long – Sóc Sơn – Hà Nội là trại được thành lập từ năm

2005, cơ sở vật chất của trại ngày càng được nâng cấp, các dãy chuồng, ô chuồng đều được thiết kế hiện đại

Trại có hai khu để bảo quản và dự trữ thức ăn Thức ăn cho lợn là cách loại cám dạng viên Lứa tuổi khác nhau, các loại lợn khác nhau thì dùng các loại cám khác nhau

Chúng tôi tiến hành cơ cấu đàn lợn trong 3 năm (2008 – 2010)

Kết quả được trình bày ở bảng 4.1

Ngày đăng: 18/12/2014, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Xuân Điền (1997): Bệnh phân trắng lợn con và vai trò của E.coli đối với bệnh này tại Buôn Ma Thuật – Đăk Lawk, Luận án Thạc sĩ khoa học Nông Nghiệp, Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phân trắng lợn con và vai trò của E.coli đối với bệnh này tại Buôn Ma Thuật – Đăk Lawk
Tác giả: Nguyễn Xuân Điền
Nhà XB: Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
8. Nguyễn Thị Huyền (2002): Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học hóa học, vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ và biện pháp phòng trị, Luận án Thạc sĩ khoa học Nông Nghiệp, Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học hóa học, vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Nhà XB: Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
10. Phạm Sỹ Lăng (2007): Một số bệnh quan trọng gây tác hại cho lợn, NBX Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng gây tác hại cho lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: NBX Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
11. Trương Lăng(2007): Cai sữa sớm lợn con, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cai sữa sớm lợn con
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
14. Sử An Ninh (1991):Tìm hiểu Stress lạnh ẩm và ACTH đối với cơ thể lợn con sơ sinh, Công trình nghiên cứu KHKT Nông Nghiệp, Kỷ Niệm 35 năm ngày thành lập trường Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Stress lạnh ẩm và ACTH đối với cơ thể lợn con sơ sinh
Tác giả: Sử An Ninh
Nhà XB: Công trình nghiên cứu KHKT Nông Nghiệp
Năm: 1991
24.Lê Văn Tạo và cộng sự (1993): Nghiên cứu chế tạo vacxin cho uống phòng bệnh lợn con phân trắng, Tạp chí KHKT Nông Nghiệp Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vacxin cho uống phòng bệnh lợn con phân trắng
Tác giả: Lê Văn Tạo, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí KHKT Nông Nghiệp Nông Nghiệp
Năm: 1993
25.Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2001) Giáo trình vi sinh vật thú y, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
27.Tạ Thị Vinh (1996): Những biến đổi bệnh lý đường ruột trong bệnh phân trắng lợn con, Luận án tiến sĩ Nông Nghiệp, Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi bệnh lý đường ruột trong bệnh phân trắng lợn con
Tác giả: Tạ Thị Vinh
Nhà XB: Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
1. Hoàng Danh Dự (1993): Nghiên cứu ứng dụng của Dextran Fe phục vụ chăn nuôi gia súc, Báo cáo nghiệm thu đề tài Hà Nội Khác
2. Đào Trọng Đạt (1979): Bệnh ở gia súc non, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Khác
3. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1986): Bệnh ở gia súc non,Tập 1 NXB Nông Nghiệp Hà Nội Khác
4. Nguyễn Thị Xuân Điền (1997): Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Khác
6. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1996): Kết quả điều tra tình hình kháng thuốc của E.coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng lợn con, Tạp chí KHKT thú y, Tập III số 4/1996 Khác
7. Trần Minh Hùng (1987): Tác dụng của kháng sinh thực vật đối với bệnh lợn con ỉa phân trắng, Thông tin thú y, Hà Nội Khác
9. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (2006): Thực hành điều trị thú y, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Khác
12. Hồ Văn Nam và cộng sự (1997): Giáo Trình bệnh nội khoa gia súc, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Khác
13. Sử An Ninh và cộng sự: Tìm hiểu hội chứng stress trong bệnh phân trắng lợn con, Tạp chí KHKT Nông Nghiệp Hà Nội Khác
15.Sử An Ninh (1993): Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, độ ẩm thích hợp phòng bệnh lợn con phân trắng, Kết quả nghiên cứu khoa học khoa chăn nuôi thú y, Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội Khác
16.Phạm Gia Ninh, Sử An Ninh, Phạm Văn Khẩn (1976): Sơ bộ nhận xét dùng vacxin E.coli và Phòng bệnh lợn con ỉa phân trắng, Báo cáo KHKT Nông Nghiệp, Trường đại học Nông Nghiệp 1I Hà Nội Khác
17.Nguyễn Thị Nội (1986): Tìm hiểu vai trò của E.coli trong bệnh phân trắng lợn con và vacxin dự phòng. Luận án thạc sĩ Khoa Học Nông Nghiệp Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Cơ cấu của trại lợn Vinh Sơn trong 3 năm 2008 – 2010. - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.1. Cơ cấu của trại lợn Vinh Sơn trong 3 năm 2008 – 2010 (Trang 30)
Bảng 4.3 Tiêm phòng  cho lợn hậu bị - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.3 Tiêm phòng cho lợn hậu bị (Trang 32)
Bảng 4.2 Quy trình phòng bênh cho đàn lợn tại trại Việt Long - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.2 Quy trình phòng bênh cho đàn lợn tại trại Việt Long (Trang 32)
Bảng 4.4 Lịch tiêm phòng cho lợn nái - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.4 Lịch tiêm phòng cho lợn nái (Trang 33)
Bảng 4.5 kết quả điều tra thiệt hại do một số bệnh truyền nhiễm trên đàn lợn từ 2008 – 2010 - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.5 kết quả điều tra thiệt hại do một số bệnh truyền nhiễm trên đàn lợn từ 2008 – 2010 (Trang 35)
Bảng 4.6 Kết quả điều tra tỷ lệ mắc và chết của bệnh phân trắng lợn con từ - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.6 Kết quả điều tra tỷ lệ mắc và chết của bệnh phân trắng lợn con từ (Trang 37)
Đồ thị 1: tỷ lệ mắc bênh phân trắng ở lợn con từ tháng 4 đến tháng 8 năm - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
th ị 1: tỷ lệ mắc bênh phân trắng ở lợn con từ tháng 4 đến tháng 8 năm (Trang 38)
Bảng 4.9 Kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.9 Kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của (Trang 43)
Bảng 4.1. Kết quả điều trị theo dõi tỷ lệ khỏi và thời gian khỏi bệnh trung bình của các loại thuốc trị. - điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y  tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội
Bảng 4.1. Kết quả điều trị theo dõi tỷ lệ khỏi và thời gian khỏi bệnh trung bình của các loại thuốc trị (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w