Các chương trình lai tạo giống chuột đã được thực hiện tạo ra các chủng chuột dùng trong các mô hình nghiên cứu khác nhau phục vụ nghiên cứu sinh y học.[6] Chuột là một loài động vật gắn
Trang 1&
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Đánh giá khả năng sinh trưởng và theo dõi một số chỉ tiêu sinh
sản trên đàn chuột nhắt trắng giống Swiss tại Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế”
HÀ NỘI - 2014
Trang 2PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nói đến loài chuột người ta thường nghĩ ngay đến chuột phá hoại mùa màng, truyền dịch bệnh gây hại cho con người Tuy vậy, ngoài những tác hại do chúng gây ra, loài chuột cũng có những điểm rất có ích đối với khoa học
Từ năm 1889, loài chuột bắt đầu được sử dụng làm vật nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Chuột được dùng làm thí nghiệm do thời gian mang thai, sinh trưởng và vòng đời ngắn nên các nhà khoa học có thể sớm thấy những gì diễn biến trong nghiên cứu Hơn nữa, hệ gen của chuột tương đối giống người Vì vậy, chuột được dùng để nghiên cứu các chứng bệnh và vắc xin có thể sẽ được dùng để phòng bệnh cho con người
Tại Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế, sử dụng nhiều chuột nhắt trắng, hàng năm cần trên 10.000 con phục vụ công tác kiểm định chất lượng vắc xin và sinh phẩm y tế
Để chủ động cho việc cung cấp động vật thí nghiệm nói chung và chuột nhắt trắng nói riêng đảm bảo số lượng và chất lượng, các cơ sở chăn nuôi động vật thí nghiệm cần biết được nhu cầu sử dụng Đặc biệt phải có sự hiểu biết rất
rõ về các đặc tính sinh lý sinh sản của loài động vật được nghiên cứu
Cũng như các loài động vật có vú khác, sinh sản ở chuột nhắt trắng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: độ tuổi sinh sản, lứa đẻ, điều kiện nuôi dưỡng, Những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn tới tỉ lệ động dục, khả năng thụ thai, số con đẻ ra và số con thu được sau quá trình nuôi theo mẹ Ở động vật đa thai, trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng thì độ tuổi sinh sản và lứa đẻ là 2 nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sinh sản tại thời điểm đó
Trang 3Để tìm hiểu vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả
năng sinh trưởng và theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn chuột nhắt trắng giống Swiss tại Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế”.
Mục tiêu của đề tài:
- Theo dõi khả năng sinh trưởng của chuột
- Tìm hiều về một số chỉ tiêu sinh sản (tỉ lệ chửa, tỉ lệ đẻ, số con sinh ra còn sống, số con thu được sau dứt sữa) của loài chuột nhắt trắng giống Swiss
- Đánh giá ảnh hưởng của trọng lượng, lứa đẻ tới khả năng sinh sản cửa chuột Swiss
Từ kết quả theo dõi, nghiên cứu đưa ra các kiến nghị đề xuất nâng cao chất lượng đàn chuột Swiss, nâng cao hiệu quả sinh sản trong công tác cung cấp động vật thí nghiệm
Trang 4PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 SỰ THUẦN DƯỠNG VẬT NUÔI
Tất cả những loài gia súc, gia cầm hiện nay đều có nguồn gốc là động vật hoang dã và đã được thuần dưỡng do bàn tay và trí óc của con người Trước khi trở thành những vật nuôi như hiện nay, động vật hoang dã đã phải trải qua một quá trình chọn lọc, huấn luyện, cải tiến nuôi dưỡng lâu dài
Sự thuần dưỡng vật nuôi lúc đầu chỉ là một việc không có ý thức rõ rệt, sau dần mới trở thành một công việc hoàn toàn có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp, có kỹ thuật và trải qua nhiều đời đã trở thành một việc chọn lọc có ý nghĩa lớn trong đời sống của con người Sự thuần dưỡng bắt đầu bằng việc bắt thú hoang huấn luyện, khai thác, biến đổi nó thành gia súc, gia cầm và ngày nay đã tạo nên những phẩm giống gia súc, gia cầm cao sản có hướng sản xuất nhất định
Trải qua một quá trình thuần dưỡng lâu dài đó, vật nuôi bắt nguồn từ động vật hoang dã đã có những thay đổi như sau:
+ Thay đổi về khả năng sản xuất: đây là sự thay đổi quan trọng và có ích nhất đối với đời sống con người
+ Sức sản xuất của vật nuôi tiến theo hướng nhất định: không những sức sản xuất của vật nuôi so với động vật hoang dã đã được thay đổi, được nâng cao rệt mà còn đi vào những hướng nhất định theo nhu cầu đời sống của con người
Ngoài những thay đổi cơ bản trên vật nuôi còn có những thay đổi về ngoại hình, tính tình và chức năng của các bộ phận Như hoạt động của bộ máy sinh dục của gia súc cũng khác thú hoang Thú hoang thường sinh sản theo mùa còn gia súc có thể sinh sản quanh năm, có các chu kỳ động dục đều đặn
Trang 5Một số đặc tính mới của gia súc là thành thục sớm, mức độ vỗ béo nhanh, khả năng sử dụng và tiêu hóa các chất dinh dưỡng tăng, thời kỳ có chửa ngắn nhưng tính miễn dịch kém.[2]
2.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CHUỘT THÍ NGHIỆM
Người ta không biết chắc chắn con người bắt đầu nuôi chuột thành vật nuôi từ khi nào, nhưng hầu như mọi người đều tin rằng người Trung Quốc là những người đầu tiên nuôi chúng Người ta thấy có những bản ghi chép về giống chuột đốm và chuột trắng ở Trung Quốc từ 1100 năm trước công nguyên Chuột nhắt trắng cũng được các nhà viết sử thời Hy Lạp và La Mã nhắc đến
Vào những năm 1700, đã có chuột nuôi, buôn bán làm vật cảnh ở Trung Quốc, Nhật Bản và châu Âu Vào thời Nữ hoàng Anh Victorya, đã có giải thưởng cho chuột cảnh “fancy” Năm 1895, Walter Maxey khởi xướng, người Anh sáng lập ra “Câu lạc bộ Chuột quốc gia” Đến thế kỷ XX đã có rất nhiều con chuột cảnh có màu lông khác nhau do lai tạo đột biến
Vào thời kỳ này, học thuyết di truyền của Gregor Mendel người Hà Lan
đã tác động mạnh lên giới khoa học, chuột nuôi đã được chọn là động vật thí nghiệm nghiên cứu di truyền Năm 1902, chuột là động vật có vú đầu tiên dùng
để chứng minh Định luật Mendel Người ta cũng nhanh chóng nhận ra cần phải
có dòng chuột nuôi thuần chủng để nghiên cứu
Các chương trình lai tạo giống chuột đã được thực hiện tạo ra các chủng chuột dùng trong các mô hình nghiên cứu khác nhau phục vụ nghiên cứu sinh y học.[6]
Chuột là một loài động vật gắn liền với sinh hoạt văn hoá của con người khá lâu đời, đặc biệt với nền văn hoá lúa nước như Việt nam Sự hoà nhập giữa loài chuột với con người trong một quần thể định cư được xác định từ thời kỳ đồ
đá mới (neolithic) ở Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 6500-5650 trước Công Nguyên Chuột nhà đã chứng tỏ là loại động vật có vú có khả năng thích nghi cao nhất với các quần thể định cư đa dạng của con người Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chuột và
Trang 6người lại mang những ý nghĩa khác nhau, chuột luôn là đối tượng để con người
“tìm và diệt” vì đặc tính sinh thái và tác hại của loài chuột Qua nhiều thế kỷ, một số loài chuột lại rất có ích đối với con người, chuột đã trở thành “ân nhân” bất đắc dĩ của con người
Việc sử dụng động vật trong nghiên cứu y học đã đóng góp cho nhân loại một kho tàng tri thức vô giá về các mặt cơ thể giải phẫu, sinh lý học, bệnh lý học
và sau này là mô hình thử nghiệm và di truyền học
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, có nhiều mô hình nghiên cứu phi động vật (quan sát và giải phẫu tử thi và sử dụng dòng tế bào người) để thay thế mô hình động vật, nhưng cũng chỉ đem lại giá trị khoa học nhất định, động vật vẫn là một trong những mô hình được sử dụng ưu thế nhất trong nghiên cứu y sinh học Mỗi năm có khoảng
17 đến 23 triệu con vật được sử dụng để nghiên cứu Trong số đó, chuột chiếm đến 95% các nghiên cứu trên mô hình động vật Sở dĩ chuột được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu y khoa là do kích thước nhỏ, giá thành rẻ, dễ nuôi, sinh sản nhanh, đặc biệt đời sống ngắn (2-3 năm) nên có thể theo dõi được hết đời sống
và có thể theo dõi được cả vài thế hệ Điểm quan trọng và quý giá nhất là đặc điểm sinh lý và di truyền học của chuột rất gần với con người Trên thực tế, mặc
dù tinh tinh (chimpanzee) có cấu trúc di truyền DNA 99% giống với con người,
và chuột có 98% bộ gen với con người, nhưng chuột vẫn luôn luôn là mẫu hình nghiên cứu được ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu y học Trong một thập niên gần đây, các nhà khoa học còn nâng cấp mô hình nghiên cứu chuột lên một tầm cao mới là có thể làm thay đổi cấu trúc gen trong chuột để gây ra các bệnh lý giống như bệnh lý ở người.[8]
Đáng ghi nhận nhất ở Mỹ là bà Abbie Lathrop, một giáo viên nghỉ hưu, thích chuột và nuôi chúng trong một trang trại của mình ở Massachusetts vào đầu thế kỷ XX Năm 1902, các dòng chuột nuôi của bà trở thành những con vật đầu tiên được Giáo sư Ernest Castle đưa vào phòng thí nghiệm của Đại học
Trang 7Harvard và sau đó là Đại học Pennsylvania, khi chúng được phát hiện thấy có mọc các khối u Sau đó, học trò của Ernest là Clarence Cook Little (1888-1971)
là người có công đầu trong việc tạo các giống chuột lai thuần chủng, lần đầu tiên được dùng trong nghiên cứu các bệnh ung thư có tính di truyền Ông đã tạo ra giống chuột DBA (Dilute, Brown, Agouti), tạm gọi là chuột thí nghiệm; các chủng chuột đầu tiên do Little lai tạo và vẫn thông dụng cho đến hiện nay là CBA, C3H, C57BL/6 và BALB/c Little cũng chính là người đã thành lập Phòng thí nghiệm Jackson năm 1929, cho đến nay vẫn là một trong những nơi cung cấp các giống chuột thí nghiệm lớn nhất thế giới.[8]
Chuột thuần chủng là các loại chuột dùng cho các kiểm nghiệm an toàn thuốc, thực phẩm, mỹ phẩm, cung cấp các nguồn tế bào phôi, tế bào gốc, cung cấp tế bào lai, sản xuất các chế phẩm sinh y học, nghiên cứu hoá chất gây ung thư… hay trong giảng dạy
Chuột chuyển gene dùng để nghiên cứu cơ bản: gene, làm mô hình nghiên cứu các bệnh tật nan y Một số hướng nghiên cứu hiện nay thí nghiệm trên các chủng chuột chuyển gene là: Hội chứng Down dùng dòng chuột - Ts65Dn; bệnh
xơ cứng Cystic Fibrosis (CF) – dùng chuột The Cftr knockout ; ung thư: p53 knockout; tăng nhãn áp gây mù (Glaucoma): DBA/2J; tiểu đường týp 1 bệnh tự miễn; tiểu đường týp 2 do rối loạn chuyển hoá sau 40 tuổi; bệnh động kinh ở trẻ em; bệnh tim mạch; bệnh mất dinh dưỡng cơ; ung thư cổ tử cung; HIV-ADIS…
cứ mỗi loại bệnh sẽ tương ứng một đến vài dòng chuột chuyển gene
* Chuột thí nghiệm tại Việt Nam
Khu vực chăn nuôi chuột thí nghiệm tại Viện Vệ sinh dịch tễ học TW, Hà Nội là nơi đầu tiên tại Việt Nam chuẩn hoá động vật thí nghiệm phục vụ y tế, chủ yếu là chuột dùng kiểm nghiệm Viện Pasteur TP.HCM, Viện Vaccine Nha Trang… cũng có các khu nuôi chuột thí nghiệm
Trang 8Xét về chuyên sâu và phục vụ nghiên cứu đặc biệt thì các trung tâm nuôi chuột thí nghiệm của Việt Nam còn rất xa mới có thể hội nhập cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dòng chuột và nhân sự.[10]
Trại Chăn nuôi Suối Dầu - Viện Vắc xin và các Sinh phẩm Y tế, Nha Trang, là một trong những nơi nuôi chuột thí nghiệm lớn nhất, cả chuột nhắt trắng và chuột lang
Hàng năm trại cung cấp cho công tác thí nghiệm, kiểm định vắc xin, sinh phẩm y tế, sinh phẩm sử dụng trong thú y Trong đó gần 100.000 con chuột nhắt trắng (11g-23g); 3.000-5.000 con chuột lang (250g trở lên) và từ 150.000-200.000 chuột nhắt 1-2 ngày tuổi
Tại đây, chuột đến từ nhiều nguồn Đối với chuột nhắt trắng, trại có giống chuột gốc là Swiss, chuột DDY của Nhật Để tránh việc phối giống đồng huyết, chuột thường được luân chuyển và đổi giống với các trại chăn nuôi khác ở Hà Nội hay TP.HCM [7]
* Những tiến bộ trong việc tạo giống chuột trong phòng thí nghiệm
Mặc dù chuột được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu y sinh học nhưng không phải tất cả các loại chuột đều dùng được Các chủng chuột dùng trong nghiên cứu y sinh hiện đại đều phải có cấu trúc di truyền xác định rõ Các chủng chuột đã xác định về mặt di truyền đều phải có cấu trúc giống hệt hoặc rất sát nhau để có thể tái sinh sản theo cách cho lai thuần chủng các thế hệ trong thực nghiệm và để cho có thể biết được kiểu hình và kiểu gen Những thập niên gần đây, các nhà khoa học đã có thể tạo ra những con chuột thí nghiệm có cấu trúc di truyền hoặc có kiểu hình bệnh lý theo ý muốn qua các phương thức chuyển hoặc tách gen Chuyển và tách bỏ gen trong chuột để phục vụ cho mục đích nghiên cứu là một cuộc cách mạng trong công nghệ sinh học Chuột chuyển gen là chuột được cấy vào cơ thể một gen ngoại lai và chuột tách gen là tách bỏ hoặc bất hoạt một hay một đoạn gen đặc hiệu nào đó
Trang 9Chuột nhắt trắng, tên khoa học là Mus musculus domesticus, được lựa
chọn là mô hình nghiên cứu chuẩn trong phòng thí nghiệm y sinh do khả năng thích nghi cao và khả năng có thể lai tạo các dòng gen thuần chủng tiện lợi cho nghiên cứu các bệnh có liên quan mật thiết với bệnh lý ở người Đặc biệt từ khi công nghệ chuyển và tách gen kỹ thuật cao ra đời, chuột càng chứng tỏ là một sự lựa chọn đúng đắn của con người trong nghiên cứu khoa học Chẳng hạn một chủng chuột đặc hiệu, chủng 129 và các chủng phụ của nó được coi là đặc biệt giá trị do chúng có thể tạo các bào gốc phôi có khả năng thay đổi được cấu trúc
di truyền trong quá trình nuôi cấy và rồi được đưa trở lại vào trong tử cung của chuột vật chủ Các nghiên cứu sử dụng biện pháp biến đổi gen trực tiếp của các chủng phụ nhóm 129 đã cho phép công nghệ tạo đột biến gen theo ý muốn để tạo ra các giống chuột có các đặc tính bệnh lý đặc hiệu, hay còn gọi là chuột chuyển gen (transgenic mouse) hoặc chuột tách bỏ gen (knockout mouse) cũng như các giống chuột có mang gen bệnh lý của người (chuột chuyển gen người, humanized mouse) Ngày nay việc sử dụng chuột chuyển gen trong phòng thí nghiệm y sinh đã trở nên phổ biến.[8]
2.3 HIỂU BIẾT VỀ CHUỘT NHẮT TRẮNG
Chuột nhắt trắng được biết đến từ thế kỷ thứ 18, ban đầu nó chỉ được biết như một loài động vật cảnh, ít được sử dụng trong nghiên cứu và bước đầu chỉ là khảo sát Đến thế kỷ 19, chúng bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu gen, sinh sản Thế kỷ 20, chuột nhắt trắng được sử dụng trong nghiên cứu di truyền, dinh dưỡng và nghiên cứu phôi, từ đây vai trò của chuột nhắt trắng trong khoa học được nâng dần và sử dụng rộng rãi hơn Cho tới nay, chuột nhắt trắng
là loài được sử dụng rộng rãi nhất đặc biệt trong nghiên cứu sinh – y học, nghiên cứu các tính năng, độc tính của thuốc, hiệu quả và độ an toàn của vắc xin và sinh phẩm y học, sản xuất vắc xin [14]
Chuột nhắt trắng (tên khoa học Mus musculus) là một loài sử dụng rất phổ
biến Chúng là thành viên bộ gặm nhấm, gia đình Muridae, chi Mus Các nhà
Trang 10khoa học gọi chuột thí nghiệm là Mus dometicus dometicus (hay Mus musculus domesticus) Chúng có vóc dáng nhỏ, sinh sản nhanh tạo ra số lượng lớn trong thời gian ngắn, dễ chăm sóc, giá thành rẻ và có vị trí quan hệ cao trong thang tiến hóa cùng với nhiều đặc điểm thuận lợi khác, chuột nhắt trắng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu.
Chuột nhắt trắng là loài gặm nhấm với bộ răng mọc dài liên tục Răng của động vật nói chung mọc đến thời kỳ nhất định thì dừng lại, nhưng ở chuột lại không như vậy Hàm trên và hàm dưới của nó có một đôi răng cửa có thể mọc dài ra liên tục, một tuần có thể dài ra mấy milimét Chuột phải dùng răng mài vào vật cứng để nó cùn đi Vì thế với chuột nuôi trong phòng thí nghiệm thức ăn phải có độ cứng chắc nhất định Chúng là loài rất ưa hoạt động về đêm, ăn nhiều hơn vào thời gian chuyển từ tối sang sáng và từ sáng sang tối
Mắt của chuột không tinh lắm, nhưng chúng rất nhạy với mùi Ban ngày chuột cũng rất lanh lợi, mặc dù chúng thường hoạt động về đêm, đó là chiến lược để sống sót Ngay cả với chiến lược này thì hàng triệu con chuột vẫn là mồi của nhiều loài thú săn khác, trong lưới thức ăn tự nhiên, ngày cũng như đêm Người ta cho rằng chuột không phân biệt được màu sắc mà chỉ có 2 màu đen và trắng
Chuột nhắt trắng rất nhạy cảm với mùi, tiếng động và thay đổi thời tiết
Tuy nhiên, loài vật này lại kém nhạy cảm với màu sắc đặc biệt là màu đỏ Vì thế, đối với phòng nuôi chuột nhắt trắng cần đảm bảo luôn sạch sẽ, thoáng mát
và tránh tiếng động mạnh
Ria chuột thường dài và rất nhạy cảm với các rung động trong không khí
Vì thế chuột có thể phát hiện các thứ xung quanh nó Một số lông cũng nhạy cảm với các rung động
2.3.1 Sinh trưởng của chuột nhắt trắng Swiss
Chuột nhắt trắng có kích thước nhỏ, khi trưởng thành chiều dài chỉ đạt 15cm tính từ mũi tới đuôi, chiều dài của đuôi dài tương đương chiều dài của cơ
Trang 1112-thể Chuột đực thường có kích thước lớn hơn so với chuột cái Tuy nhiên, kích thước và trọng lượng của chuột phụ thuộc nhiều vào giới tính, độ tuổi, chế độ
ăn, số lượng chuột được nuôi trong mỗi lồng và đặc biệt là điều kiện môi trường nuôi dưỡng Chuột nhắt trắng động dục sớm từ khoảng 5-7 tuần tuổi ở chuột đực
và 4-6 tuần tuổi ở chuột cái, tuổi thành thục sinh dục ở chuột đực là 10 tuần và chuột cái khoảng 8-10 tuần, chuột cái có thể có chu kỳ động dục lần đầu khi mới 25-28 ngày tuổi Thời gian mang thai của chuột ngắn khoảng 20 ngày, số lượng con sinh ra mỗi lứa từ 4-15 con, đây là đặc điểm rất thuận lợi để tạo ra một số lượng động vật thí nghiệm lớn trong một khoảng thời gian ngắn[14]
Cũng bởi vì kích thước nhỏ cho nên các đặc tính sinh lý của chuột nhắt trắng dễ bị ảnh hưởng và thay đổi rất nhanh khi điều kiện môi trường xung quanh thay đổi (nhiều nhất là nhịp tim và hô hấp) Nếu nhiệt độ phòng nuôi tăng hoặc giảm đi 2-30C có thể làm thay đổi đặc tính sinh lý của con vật
Nhiệt độ thích hợp nuôi chuột nhắt trắng tốt nhất trong khoảng 20-240C,
độ ẩm trong khoảng 45-75% Chuột nhắt trắng khi mới sinh có trọng lượng trung bình khoảng 0,5-1,5g Tuy rất nhỏ nhưng chúng phát triển rất nhanh, dứt sữa sau 18-21 ngày tuổi, lúc đó chuột có thể đạt trọng lượng từ 11-14g Chúng phát triển nhanh trong khoảng 3-8 tuần tuổi và chậm dần cho tới khi đạt 6 tháng tuổi thì gần như không phát triển.[14]
Chuột trưởng thành ăn khoảng 3 đến 4 gam thức ăn mỗi ngày Chuột sẽ
ăn hầu hết mọi thứ, nhưng chúng thích các loại ngũ cốc hay các hạt hơn Thịt, đậu phộng, bơ đậu phộng và nhiều loại chất lỏng ngọt khác và kẹo cũng được chúng lấy đi Chuột nhắt thậm chí còn ăn thịt lẫn nhau Đặc biệt là khi nguồn thức ăn khan hiếm hay những khi khó khăn Điều này các chuyên gia thường thấy khi họ đi kiểm tra các bẫy bắt sống chuột mà có vài con đồng thời bị mắc chung một bẫy, một con (con khỏe nhất) thường giết và ăn thịt những con kia Trong các tòa nhà mà nhiễm nhiều gián Đức, chuột nhắt sẽ bắt và ăn thịt gián (vì gián có thể cung cấp một lượng protein và độ ẩm phong phú)
Trang 12Chuột nhắt cần một lượng thức ăn và nước uống rất nhỏ để tồn tại Khi chúng gặp nguồn nước nhiều, chúng sẽ uống một cách nhiệt tình khoảng 3 đến 9
mm mỗi ngày Chuột nhắt có thể sống mà không cần có nguồn nước bởi vì chúng có thể lấy đủ nguồn nước cần thiết từ nguồn thức ăn của chúng Hơn nữa, chuột nhắt có chức năng cơ thể đặc biệt giúp chúng có khả năng giữ nước khi nguồn nước hiếm hoặc khi hạn hán
* Cơ chế sinh lý điều tiết quá trình sinh sản
Cơ thể động vật có cấu tạo hết sức phức tạp Sự điều hòa hoạt động của
cơ thể có mối quan hệ qua lại nghiêm khắc với ngoại cảnh Theo I.P Paplôp thì mỗi cơ thể động vật là một bộ phận tự nhiên, nó là một phức hệ riêng biệt, nội lực của mỗi một pha trong khi nó tồn tại được giữ thăng bằng với ngoại lực của môi trường bên ngoài Cơ thể càng phức tạp thì yếu tố giữ thăng bằng càng tinh
vi và đa dạng
I.P Paplôp là người đầu tiên chỉ ra mối quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau tồn tại giữa cơ thể và ngoại cảnh Mối quan hệ này cho phép xác định các quy luật sống chủ yếu của cơ thể động vật
Học thuyết của Paplop về phản xạ không điều kiện và có điều kiện cũng như sự hình thành kiểu hình thần kinh ở động vật đã tạo ra cơ sở khoa học để tìm cách tăng khả năng sinh sản của đàn gia súc và tăng sản phẩm của chúng
Trang 13Nghiên cứu sinh học sinh sản từ nguyên sinh động vật đến động vật bậc cao đã chỉ ra sự thống nhất của phôi từ hai tế bào tính khác nhau để sinh ra một
cơ thể sống mới
Phản xạ sinh dục bẩm sinh tác động từ khi động vật tiêu biểu sống dưới nước và trên cạn được biểu hiện muôn hình muôn vẻ, ứng với sự hình thành và phát triển của mỗi loài Trong quá trình sinh sản, những phản xạ có điều kiện xuất hiện là các phản ứng trả lời đối với những tác động kích thích nhất định của điều kiện ngoại cảnh
Phản xạ sinh dục bẩm sinh tác động khi động vật bắt đầu thành thục về tính, nó quyết định hoạt tính sinh dục, mang thai và sau đó là chăm sóc, nuôi dưỡng đời sau, đảm bảo sự duy trì nòi giống đã được hình thành và tiếp thu những đặc điểm tốt
Những tín hiệu bên ngoài như mùi, tiếng kêu, màu sắc … được thu nhận thông qua các cơ quan cảm thụ của con vật bằng mũi, tai, mắt… cũng có tác động trong quá trình sinh sản
Hocmon của các tuyến nội tiết và các yếu tố thể dịch khác cũng như hệ thống thần kinh tham gia vào quá trình điều tiết đảm bảo cho chức năng sinh sản Tuyến nội tiết và chức năng nội tiết của nó được hình thành trong thời gian bào thai Hocmon của thai gây ảnh hưởng nhất định đến các tổ chức của cơ quan của thai và của cơ thể mẹ Tác dụng của nó là trực tiếp hoặc gián tiếp qua hệ thống thần kinh, mà hệ thống này cũng được hình thành sớm trong thời kỳ phát triển của thai.[4]
* Chu kỳ tính ở động vật có vú
+ Sự thành thục về tính: thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản
xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Tuổi thành thục về tính được ghi nhận bằng các biểu hiện:
(lần đầu) con đực sinh tinh Tinh trùng và trứng gặp nhau có thể thụ thai
Trang 14• Các đặc tính sinh dục thứ cấp phát triển.
giao phối
Thời gian thành thục về tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Giới tính: con cái thường sớm hơn con đực
Thời tiết khí hậu: gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn đới
Giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau
Chế độ dinh dưỡng
+ Thành thục về thể vóc: thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc đạt tới mức độ hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định Thời gian thành thục về thể vóc thường chậm hơn thời gian thành thục về tính, nghĩa là sau khi thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý, trong chăn nuôi không nên cho con vật sinh sản quá sớm
Đối với con cái: nếu cho sinh sản sớm khi cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc sẽ có ảnh hưởng xấu như: trong thời gian có chửa có sự phân tán chất dinh dưỡng, ưu tiên cho sự phát triển bào thai, ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cơ thể mẹ do đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả mẹ yếu con nhỏ, mặt khác khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp làm con vật đẻ khó
Đối với con đực: nếu cho sinh sản quá sớm chất lượng tinh trùng kém, ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ thai.[4;5]
*Quan hệ dinh dưỡng với tỉ lệ thụ thai ở gia súc cái
Tỉ lệ thụ thai ở gia súc cái phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kỹ thuật phối giống, thời điểm phối giống, phẩm chất tinh dịch, số lượng trứng rụng trong một lần động dục, lứa đẻ Trong các yếu tố trên, phẩm chất tinh dịch và số lượng trứng rụng phụ thuộc chủ yếu và chế độ dinh dưỡng Nếu khẩu phần của con
Trang 15đực được cung cấp đầy đủ cả về số lượng và chất lượng protein, đủ các chất khoáng và vitamin, phẩm chất tinh dịch sẽ tốt, nâng cao tỉ lệ thụ thai và sức sống đời con Ngoài ra số lượng trứng rụng trong mỗi lần động dục cũng phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng.
b.Sinh sản của chuột nhắt trắng
* Lứa tuổi sinh sản
Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi nhận định về lứa tuổi sinh sản của chuột
Chuột có thể có thai sớm nhất khi 4 tuần tuổi Tuy nhiên, sẽ rất khó khăn
để thực hiện điều đó Không nên cho chuột sinh sản khi còn quá non Ngoài ra, phải tách riêng đực và cái trước 4 tuần tuổi khi đó việc sinh sản ở 4 tuần tuổi sẽ không xảy ra Các nhà khoa học khuyến cáo chỉ nên cho chuột sinh sản khi đạt
12 tuần tuổi trở lên, cho sinh sản quá sớm sẽ ảnh hưởng tới chất lượng cả chuột
mẹ và chuột con Chuột mẹ và chuột con sẽ có sức sống yếu và vòng đời của chuột sẽ rút ngắn
Tùy thuộc vào dòng chuột, một con cái không nên nhân giống qua 8 tháng tuổi, sau 8 tháng tuổi chuột đã trở nên già Tuy nhiên, có một số dòng chuột có thể nhân giống lâu hơn.[17]
Chuột cái có chu kỳ động dục dài 4-6 ngày Nếu nhốt những con chuột cái với mật độ lớn, tất cả chúng sẽ không động dục, nhưng sau khi cho tiếp xúc với nước tiểu chuột đực, chúng sẽ động dục sau 72 giờ.[18]
Chuột có tuổi thành thục sinh dục khoảng 5-8 tuần (con đực có xu hướng thành thục sớm hơn con cái), chu kỳ động dục 4-5 ngày, chuột cái có thể động dục lần đầu khi 25-28 ngày tuổi, thời gian chịu đực khoảng 14 giờ, thời gian mang thai 19-21 ngày, số con mỗi lứa từ 4-12 con Chuột con có trọng lượng sơ sinh khoảng 0,5-1,5g Có thể dứt sữa (cai sữa) chuột khi 18-21 ngày tuổi.[14]
Chuột có thể bắt đầu sinh sản ở độ tuổi rất sớm Cả 2 giới đều có thể bắt đầu sinh sản ở 6 tuần tuổi và tiếp tục cho đến khi chúng khoảng 12 tháng tuổi
Trang 16Một con cái đẻ lứa đầu có số lượng con sinh ra ít hơn cũng như khi con cái sau 9 tháng tuổi[18].
Chuột cái sinh sản khảng 4-7 con mỗi lứa và giai đoạn mang thai là 19 ngày Con con sinh ra chưa mở mắt và không có lông Con cái chỉ đẻ khoảng 8 lứa trong suốt quãng đời Mặc dù thế, nếu các điều kiện thuận lợi, chúng có khả năng cứ 24-28 ngày sẽ đẻ một lứa Khoảng 5-8 tuần thì cơ quan sinh dục của con con sẽ phát triển hoàn chỉnh (thành thục về tính).[6]
Chuột sinh sản nên có thời gian nghỉ giữa mỗi lứa đẻ, không nên cho chuột sinh sản liên tiếp Một con chuột có thể thụ thai ngay sau khi sinh (động dục sau đẻ) Vì thế, không nên nhốt chung một con đực với một con cái khi chuột cái sinh con Một con chuột mẹ nên có 3-4 tuần phục hồi sau khi cai sữa Nếu không có thời gian nghỉ, ở chu kỳ sinh sản sau rất dễ xảy ra biến chứng, các biến chứng có thể bao gồm như: khó sinh, chuột con sinh ra có trọng lượng nhỏ, chuột con và chuột mẹ không khỏe, tuổi thọ của con mẹ ngắn hơn có khi cả chuột mẹ và chuột con bị chết và nhiều vấn đề khác
Một con cái không nên có nhiều hơn 3 lứa trong quá trình sinh sản Một
số chuột có thể đẻ nhiều hơn 3 lứa nhưng cũng có một số không thể đẻ được 3 lứa Nếu cho sinh sản quá dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng chuột con.[17]
* Giao phối và ghép đôi
Tốt nhất là ghép thành cặp một đực và một cái Tuy nhiên, phải đảm bảo lồng chuồng phải đủ rộng trong quá trình ghép đôi, ngoài ra phải đảm bảo chất lượng và số lượng chất lót chuồng [17]
Cho thấy rằng với 2-4 con cái ghép cùng một con đực trong 1 lồng cho kết quả sinh sản tốt
Nếu đặt một con đực và một con cái trong 1 cái lồng liên tục, chúng có thể sinh sản liên tiếp trong vòng 18-28 ngày[18]
Đối với loài chuột từ khi thành thục về tính sau khi ghép đôi chuột đực thường xảy ra hiện tượng đánh nhau Đặt một con cái vào một lồng đực (hoặc
Trang 17ngược lại) có thể dễ dàng gây ra hiện tượng chuột cắn nhau Nếu đặt một con cái
và một lồng đực thì toàn bộ số chuột đực sẽ tập trung vào con cái đó Chuột là loài có thị lực kém nhưng lại có khứu giác rất phát triển, do đó chuột không nhìn thấy mà chỉ ngửi thấy mùi lạ trong nơi ở của chúng Vì thế, khi ghép chuột phải đúng cách để tránh tình trạng đánh nhau Với bất kỳ cách ghép đôi nào, chuột đực và chuột cái nên được tiếp xúc một khoảng thời gian nhất định trước khi ghép đôi thực sự Có một số con đực hung hăng sẽ cắn con cái trường hợp này thường hiếm gặp Cũng có khi con cái cắn lại con đực, điều này thường xảy ra hơn vì một số trường hợp con đực quá hung hăng trong khi đó con cái không trong chu kỳ động dục, chúng sẽ cắn lại như một phản xạ phòng vệ Điều này thường liên quan tới rất nhiều tiếng kêu và việc vận động bất thường sau quá trình ghép sinh sản Tuy nhiên, nếu việc đánh nhau vẫn tiếp diễn, thì nên tách riêng các cặp sinh sản này, nếu không tách riêng có thể chuột sẽ cắn nhau đến chết Trong quá trình chọn sinh sản không nên chọn những con có đặc tính quá hung hăng để làm giống [17]
Chu kỳ động dục của chuột khoảng 4-5 ngày, rất hiếm khi lâu hơn, và được chia làm 4 giai đoạn; trước động dục, động dục, sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi.[18]
Chu kỳ động dục của con cái khoảng 3-5 ngày Do đó, một con cái thường
sẽ mang thai trong vòng 1-5 ngày kể từ thời gian ghép đực Có thể để con đực
và con cái cùng với nhau càng lâu càng tốt để tăng hiệu quả thụ thai nhưng không nên để quá 16 ngày kể từ ngày đầu ghép Một con chuột có thể có con sau sớm nhất là 19 ngày từ ngày ghép và muộn nhất là 24 ngày tính đến ngày ghép cuối cùng
Việc theo dõi chu kỳ động dục của chuột là rất khó, chuột chỉ chịu đực trong vòng 12 giờ Khi cho sinh sản, biết chu kỳ động dục sẽ giúp ta chủ động được kết quả sinh sản, nó cũng giúp ta biết được chuột có thai Chuột có thai sẽ không động dục cho đến sau khi sinh Để biết chắc chắn chuột có thai có thể
Trang 18kiểm tra cơ quan sinh dục của con cái Nếu không có thai âm hộ sẽ mở cũng có khi sưng và đỏ.
Khi một con đực giao phối với một con cái xong, sẽ tạo thành một màng mỏng chặn ở âm hộ con cái giúp ngăn cản con đực khác giao phối tiếp theo Màng mỏng này ban đầu là dạng nhày trắng sau đó cứng lại, màng mỏng này có khi nhìn thấy có khi không do nó nằm sâu bên trong Việc quan sát thấy lớp màng mỏng này giúp ta có thể khẳng định con đực đã giao phối với con cái Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là con cái đã mang thai mà chỉ giúp khẳng định con đực đã giao phối với con cái tại thời điểm đó
Có thể sử dụng quy trình kiểm soát cân nặng của chuột cái để đánh giá chuột mang thai hay không nhưng nó không đảm bảo hiệu quả 100% Con cái sẽ mất một/vài gam trong vòng một hoặc 2 ngày sau khi giao phối diễn ra, sau đó bắt đầu tăng dần khi chuột mang thai Một số trường hợp chuột tăng cân nhưng không phải là do chuột mang thai hoặc ngược lại có một số chuột không tăng cân nhiều trong suốt thời kỳ mang thai
Một số chuột có thể ăn con sơ sinh của mình nếu có mùi của con khác Điều này là rất hiếm đối với chuột nhà Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy một con chuột cái có thể tự hủy bỏ và hấp thụ bào thai của mình bất cứ lúc nào sau khi mang thai 2 ngày nếu có mùi của con đực khác so với con đực đã ghép Nguyên nhân của vấn đề này là do kích thích tố Những kích thích tố này gửi tín hiệu đến khi có con chuột đực khác Trong trường hợp này là do con đực mới có sức sống mạnh hơn, có khả năng tốt hơn trong việc duy trì nòi giống, con cái có thể hủy bỏ thai để chuẩn bị cho một chu kỳ động dục mới.[13]
Chuột có thời gian mang thai vào khoảng 19-21 ngày, với chu kỳ động dục 3-4 ngày, nếu sau ghép 1 tháng không có kết quả thì nên thay thế những con chuột mang ghép Nguyên nhân có thể do vô sinh hoặc do hậu quả của việc biến đổi gen ở con cái hoặc con đực.[16]
Trang 19* Mang thai và sinh con
Chửa là quá trình hình thành, sinh trưởng và phát triển của bào thai trong
cơ thể mẹ, do đó có ảnh hưởng và quan hệ hữu cơ với những thay đổi về trao đổi chất và về tất cả các hoạt động chức năng của cơ thể mẹ Trong thời gian có chửa cơ thể mẹ có những biến đổi sinh lý sau đây:
+ Duy trì thể vàng tiết progesteron → an thai và ức chế động dục
+ Hình thành nhau thai đảm bảo trao đổi chất giữa mẹ và bào thai Nhau thai còn tiết hocmon góp phần vào cơ chế điều hòa thể dịch quá trình chửa
+ Tử cung phát triển, niêm mạc tăng sinh dày lên, máu đến nhiều để cung cấp dinh dưỡng và năng lượng
+ Trao đổi chất tăng nhanh, đồng hóa tăng, dị hóa giảm.[5]
Chuột nhắt trắng có thời gian mang thai dao động trong khoảng 19-21 ngày tối đa là 24 ngày sau khi ghép ngày cuối cùng Khi mang thai chuột tăng trọng lượng rất nhanh Chuột cái sắp đẻ, bụng to quan sát giống như nuốt một quả bóng Tuy nhiên, một số trường hợp chuột không thay đổi hình dạng trong suốt quá trình mang thai
Một số chuột cái khi mang thai bụng rất to nhưng khi sinh lại được ít con, một số khác nhìn nhỏ hơn nhưng lại mang thai với số lượng lớn Một số mang thai số lượng ít nhưng kích thước con lớn và một số trường hợp mang thai với số lượng nhiều nhưng kích thước con nhỏ nên rất khó phân biệt Kích thước mang thai của chuột mẹ không quyết định số con chuột mẹ có khả năng sinh ra
Theo Johan van der Gim, (1990), số lượng chuột con đẻ ra trong một lứa trong khoảng từ 3 đến 14 con[13]
Số lượng con con được sản xuất phụ thuộc vào điều kiện môi trường, chế
độ nuôi dưỡng và lứa sinh sản của chuột Thường thì chuột đẻ khoảng 3-12 con con mỗi lứa Có một số chuột nuôi trong phòng thí nghiệm có thể đẻ lên đến 25 con con trong 28 ngày Tuy nhiên, những con chuột sinh sản trong phòng thí nghiệm làm được điều này là rất khó.[17]
Trang 20Ở chuột nhắt trắng mỗi lứa có thể đẻ số lượng trung bình 6-8 chuột con, tuổi dứt sữa sớm nhất 19-21 ngày[18].
Chuột chửa 18-21 ngày, đẻ 4-8 con và đẻ 6-8 lần trong một năm Con non sau 35-42 ngày đã trưởng thành (South- wick, 1969)[1]
Theo “Mouse breeding suggestions”[12], chuột mang thai 19-21 ngày, tuổi tách mẹ là 3 tuần Tuổi thành thục 6-8 tuần, trọng lượng trung bình con non lúc sinh khoảng 1g, cai sữa đạt 8-12g Trọng lượng trưởng thành khoảng 30-40g (con đực thường lớn hơn con cái) Vòng đời trong phòng thí nghiệm vào khoảng 1,5-2,5 năm Mỗi con cái trong cuộc đời có thể đẻ 6-8 lứa với số con giao động
từ 4-8 con mỗi lứa Độ tuổi sinh sản khoảng 6-8 tháng, con đực có thể dùng lên tới 24 tháng
Số lượng con sinh ra mỗi lứa phụ thuộc vào số lượng trứng giải phóng ở mỗi chu kỳ động dục, số lượng, chất lượng tinh trùng của con đực và tỉ lệ chết trước sinh Điều đó có thể thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi của chuột và điều kiện môi trường bên ngoài (chế độ ăn, stress, sự hiện diện của con đực lạ) và chủng (phản ánh các yếu tố di truyền) Tỉ lệ chết trước sinh ở các dòng cận giao có thể lên tới 10-20%
Trang 21PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu:
* Chuột nhắt trắng giống Swiss trong độ tuổi giao thí nghiệm (từ 21-30 ngày tuổi)
* Chuột nhắt trắng giống Swiss trong độ tuổi sinh sản.[12]
không dị tật
• Chuột lứa 2: tách hết con lứa 1 sau 1-2 tuần, khỏe mạnh
• Chuột lứa 3: tách hết con lứa 2 sau 1-2 tuần, khỏe mạnh
qua 1-2 lần ghép
* Chuột nhắt trắng giống Swiss trong thời gian nuôi hậu bị( 8-12 tuần tuổi)
- Địa điểm nghiên cứu
Khoa thực nghiệm, Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế
- Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2 năm 2012 đến hết tháng 7 năm 2012
3.2 NỘI DUNG
Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của chuột
- Theo dõi trọng lượng chuột nhắt trắng giống Swiss trong độ tuổi giao thí nghiệm (từ 21-30 ngày tuổi)
- Theo dõi trọng lượng chuột nhắt trắng giống Swiss trong thời gian hậu bị( 8-12 tuần tuổi)
Trang 22 Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản
- Theo dõi số lượng chuột chửa, đẻ
- Số con sinh ra còn sống
- Số con thu được sau dứt sữa
Đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của chuột cái ghép lứa 1:
- Theo trọng lượng chuột cái ghép
- Theo tuần tuổi của chuột cái ghép
3.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Chuột nhắt trắng giống Swiss
Lồng, nắp, giá kê lồng, thức ăn viên tổng hợp, mầm thóc, chai, nút, ống hút, nước lọc khử trùng, điều hòa 2 chiều
Cân điện tử, nhiệt kế, dụng cụ mổ động vật
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a Thiết kế nghiên cứu:
- Nuôi trong điều kiện cùng một phòng, các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng như nhau
* Theo dõi chuột Swiss ở độ tuổi 21-30 ngày tuổi
- Chuột dứt sữa ở 21 ngày tuổi nuôi riêng đực, cái mật độ 15con/ lồng
kích thước 30x40cm
- Số lượng: 75 cái, 75 chuột đực
* Theo dõi sinh sản
Thiết kế nghiên cứu
- Ghép 1 chuột đực + 2 chuột cái, thời gian ghép 12 ngày[12]
- Theo dõi 5 loạt ghép
- Số lượng:
+ Tiến hành khảo sát trên 242 chuột cái lứa 1, 130 chuột cái lứa 2,
184 chuột cái ghép lứa 3
Trang 23- Chuột hậu bị theo dõi trọng lượng trên 60 đực và 60 cái, nuôi số lượng 15 con/lồng kích thước 30x40cm.
- Chuột lứa 1 theo dõi thí nghiệm mỗi loại 60 con
b Phương pháp: Trực tiếp tham gia theo dõi các chỉ tiêu dùng phương pháp
cân, đếm
* Cân theo dõi trọng lượng chuột trong độ tuổi giao thí nghiệm và chuột trong thời gian hậu bị chờ ghép
+ Chuột độ tuổi thí nghiệm: cân 1 lần/ngày cùng một thời gian
+ Chuột hậu bị cân 1 lần/ tuần cùng một thời gian ở 8, 9, 10, 11, 12 tuần tuổi
* Theo dõi sinh sản
+ Theo dõi số lượng chuột chửa, đẻ, tỉ lệ chửa
+ Thống kê số con sinh ra còn sống
+ Số con để nuôi theo mẹ 8 con, những ổ có số con đẻ ra nhiều hơn
8 con thì loại bỏ bớt, những ổ có số con ít hơn 8 con ghép bổ sung
đủ 8 con con/ổ
+ Theo dõi số con sau dứt sữa đạt tiêu chuẩn giao thí nghiệm
+ Thời gian theo dõi mỗi thí nghiệm tính trên 1 loạt ghép (từ khi ghép đến khi dứt sữa con hoàn toàn)
Chuột đực sử dụng thí nghiệm: chuột từ 10 tuần đến 8 tháng tuổi, trọng lượng >= 35g, không quá béo, khỏe mạnh, không dị tật, đã qua 1-2 lần ghép
c Kết quả
Thu thập theo phương pháp mô tả và thống kê, tính toán trên phần mềm exel, minitab 14.0
Trang 24PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 KẾT QUẢ THEO DÕI SINH TRƯỞNG CỦA CHUỘT SWISS TỪ 21-
30 NGÀY TUỔI
chuột Swiss cái từ 21- 28 ngày tuổi chúng tôi thu được kết quả theo bảng sau
Bảng 4.1 Tăng trọng của chuột Swiss 21-30 ngày tuổi
Ngày
21
Ngày 22
Ngày 23
Ngày 24
Ngày 25
Ngày 26
Ngày 27
Ngày 28
Ngày 29
Ngày 30
có trọng lượng trung bình là 13,63g tăng trung bình 1,46g/ngày Ở ngày 23 chuột đực có trọng lượng trung bình là 15,26g tăng trung bình 1,60g/ngày, chuột cái có trọng lượng trung bình là 14,85g tăng trung bình 1,22g/ngày Tới ngày 24 chuột đực có trọng lượng trung bình là 16,57g tăng trung bình 1,31g/ngày, chuột cái có trọng lượng trung bình là 15,66g tăng 0,81g Theo dõi
ở ngày 25 chuột đực có trọng lượng trung bình là 17,35g tăng 0,78g/ngày, chuột cái có trọng lượng trung bình là 15,66g tăng 0,81g/ngày Tăng trọng trung
Trang 25bình trong các ngày từ 21 tới 30 của chuột đực là 1,185g/ngày, của chuột cái là 1,072g/ngày Trọng lượng chuột đực tăng mạnh nhất ở ngày 30 tăng trung bình 1,66g/ngày, tăng thấp nhất ở ngày 25 tăng trung bình là 0,78g/ngày Trọng lượng chuột cái tăng mạnh nhất ở ngày 29 tăng trung bình 1,89g/ngày, tăng thấp nhất ở ngày 28 tăng trung bình là 0,63g/ngày Chuột giao thí nghiệm trong khoảng 11,5-22g khi chuột >22g thì loại bỏ Các chuột trong quá trình theo dõi có biểu hiện bệnh lí, gầy yếu, còi cọc, lông xơ, đuôi khô cũng được loại bỏ Kết quả theo dõi thấy ở 150 chuột theo dõi không có chuột bị loại do kém chất lượng
Từ kết quả theo dõi trên có đồ thị so sánh trọng lượng chuột đực và chuột cái
Biểu đồ 4.1: Sinh trưởng của chuột Swiss 21-30 ngày tuổi
Qua đồ thị cho thấy, tại các thời điểm theo dõi, chuột đực luôn có trọng lượng trung bình lớn hơn chuột cái Các chuột tăng trọng tốt theo chiều tăng dần đều, chất lượng chuột tốt đảm bảo giao thí nghiệm Chuột đực có tốc độ tăng đều hơn chuột cái
Trang 264.2.KẾT QUẢ SINH SẢN Ở LOẠT THEO DÕI SỐ 1
Tiến hành theo dõi 111 chuột cái sinh sản với 42 cái ghép lứa 1, 45 cái ghép lứa 2, 24 cái ghép lứa 3 thu được kết quả như sau:
Bảng 4.2: Kết quả sinh sản ở loạt theo dõi số 1
Lứa
Số cái ghép (con)
Số cái chửa (con)
Tỉ lệ chửa (%)
Số con đẻ còn sống tb/ổ
Số con dứt sữa tb/ổ
ra còn sống trung bình lớn hơn 8 con/ổ Chuột lứa 3 có tỉ lệ chửa và số con sinh
ra còn sống cao nhất, đạt tỉ lệ chửa là 79,17% và số con sinh ra trung bình là 11,05 con con/ổ Đối với chuột lứa 1 có tỉ lệ chửa thấp, số con sinh ra ít, trong tổng số 27 chuột mang thai và chửa thì có tới 11 chuột mẹ có số con con đẻ ra còn sống đạt ≤ 7 con