1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang

98 535 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu, lai tạo các giống vật nuôi có năng suất, chất lượng sản phẩm cao, ổn định đồng thời xây dựng những khẩu phần ăn cân đối, đầy đủ các chất dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh

Trang 1

Phần I

MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Các

sản phẩm chăn nuôi đã và đang đóng vai trò không nhỏ trong đời sống sinh hoạt

hàng ngày, vừa cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng (thịt, trứng, sữa), vừa là

nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

Để có thể phát triển chăn nuôi bền vững thì giống và thức ăn là hai cơ sở

quan trọng Nghiên cứu, lai tạo các giống vật nuôi có năng suất, chất lượng sản

phẩm cao, ổn định đồng thời xây dựng những khẩu phần ăn cân đối, đầy đủ các

chất dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh học của vật nuôi và có giá cả hợp lý

là mục tiêu mà các nhà khoa học, các nhà sản xuất cùng người chăn nuôi cần

hướng tới

Thức ăn là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả

kinh tế trong chăn nuôi Thức ăn không những giúp vật nuôi duy trì sự sống,

sinh trưởng và phát triển bình thường mà còn giúp vật nuôi có thể phát huy hết

tiềm năng di truyền giống vốn có Theo Shimada (1984) và Phạm Quang Hoán

(1992), thức ăn chiếm 70 – 80% tổng chi phí trong chăn nuôi gia cầm Vì vậy

chất lượng thức ăn chăn nuôi (TACN) luôn là một yếu tố được quan tâm hàng

đầu Những năm gần đây sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi nói chung

và ngành chăn nuôi gia cầm theo hướng công nghiệp nói riêng đã kéo theo sự ra

đời của hàng loạt các cơ sở sản xuất và chế biến thức ăn chăn nuôi Bên cạnh ưu

điểm về sự cạnh tranh, các hãng sản xuất thức ăn chăn nuôi tích cực nghiên cứu

các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, còn có những nhà máy, công ty

sản xuất thức ăn vì lợi nhuận mà không quan tâm đến chất lượng Vấn đề quản

lý, kiểm tra, đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi đang rất khó khăn chưa

tương xứng yêu cầu thực tế

Trang 2

Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang Với đặc điểm đất đai

đa dạng, huyện có khả năng phát triển chăn nuôi cũng như cây lương thực và

các loại cây ăn quả, cây màu, cây công nghiệp có giá trị Thực hiện chương trình

sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát huy lợi thế vùng, hiện nay huyện đang tập

trung phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà với thương hiệu “gà đồi Yên

Thế” Do vậy, Yên Thế đã trở thành địa phương có tổng đàn gà lớn nhất miền

Bắc (Trà My, 2008) với rất nhiều hộ chăn nuôi gà quy mô lớn từ 1000 - 5000

con/lứa và nhiều lứa/năm Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp với quy mô

lớn đang ngày càng tăng, cùng với sự phát triển của nó việc sử dụng thức ăn

công nghiệp cũng tăng theo Vậy việc sử dụng thức ăn công nghiệp trong chăn

nuôi gà hiện nay trên địa bàn huyện Yên Thế như thế nào? Các công ty sản xuất

thức ăn đã cung cấp cho con vật những loại thức ăn tốt nhất chưa? Loại thức ăn,

khẩu phần ăn đã hợp lý chưa? vẫn đang là những câu hỏi mà các nhà quản lý

địa phương đang rất quan tâm

Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài “ Bước đầu

đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi

công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện Yên Thế - tỉnh Bắc

Giang”.

1.2 MỤC ĐÍCH

- Đánh giá thực trạng tình hình sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gà trên địa

bàn huyện Yên Thế

- Đánh giá thực trạng chất lượng thức ăn công nghiệp (chỉ tiêu: Protein thô, lipit

thô, xơ thô, Ca, P, NaCl, năng lượng) hiện đang được sử dụng trong chăn nuôi gà

- Kết quả nghiên cứu bước đầu sẽ cho thấy được những điểm mạnh, điểm

yếu trong việc sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gà từ đó đề ra các giải pháp

thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả và tính kinh tế nhất trong việc sử dụng thức

Trang 3

ăn trong chăn nuôi nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi gà trên địa bàn huyện ngày

càng phát triển bền vững

Phần IITỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI TRONG CHĂN

NUÔI GÀ

2.1.1 Một số khái niệm

 Thức ăn chăn nuôi

Trong chăn nuôi, thức ăn là một tronh những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp

đến kết quả chăn nuôi và có vai trò quyết định đến giá thành sản phẩm

Có nhiều quan điểm định nghĩa về thức ăn, năm 1995, Pond và cs đã đưa ra

khái niệm về chất dinh dưỡng là một nguyên tố hay một hợp chất hoá học mà có

thể duy trì được sự sinh trưởng, sinh sản, cho sữa một cách bình thường hoặc

duy trì sự sống nói chung Theo đó, thức ăn được định nghĩa là: một vật liệu có

thể ăn được nhằm cung cấp chất dinh dưỡng Wohlbien (1997) định nghĩa rằng

tất cả những gì mà gia súc ăn vào hoặc có thể ăn được mà có tác dụng tích cực

đối với quá trình trao đổi chất thì gọi là thức ăn gia súc Một định nghĩa khác

cũng được nhiều người đồng thuận đó là “Thức ăn là những sản phẩm của thực

vật, động vật, khoáng vật và các chất tổng hợp khác mà động vật có thể ăn, tiêu

hoá, hấp thu để duy trì sự sống, phát triển và tạo ra sản phẩm” (dẫn theo Lê Đức

Ngoan và cs, 2004)

Trang 4

Như vậy, thức ăn chăn nuôi là những nguyên liệu có nguồn gốc thực vật,

động vật, vi sinh vật và hóa học mà nó có chứa các chất dinh dưỡng ở dạng cơ

thể hấp thu được, không gây ra những tác động có hại đến sức khỏe vật nuôi và

chất lượng sản phẩm của chúng Những nguyên liệu này phải chứa các chất dinh

dưỡng ở dạng có thể hấp thu để trong quá trình tiêu hóa sẽ được vật nuôi sử

dụng cho nhu cầu duy trì, cấu trúc các mô, cơ quan và điều hòa trao đổi chất

Những nguyên liệu có chứa các chất độc, những chất có hại cũng có thể được sử

dụng làm thức ăn sau khi đã khử hoặc làm vô hoạt hoàn toàn các yếu tố gây độc,

gây hại cho sức khỏe vật nuôi, cho thế hệ sau và cho sản phẩm của chúng (Bùi

Quang Tuấn, 2010)

Theo nghị định số 08/NĐ-CP ngày 5 tháng 2 năm 2010 của Chính Phủ thì

thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống

hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay

thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ

gia thức ăn chăn nuôi, premix, hoạt chất và chất mang

 Thức ăn chăn nuôi công nghiệp

Thức ăn chăn nuôi công nghiệp (TACN) là thức ăn chăn nuôi được chế

biến và sản xuất bằng các phương pháp công nghiệp Định ngữ “công nghiệp”

ám chỉ phương pháp sản xuất có liên quan đến máy móc, thiết bị, dây chuyền

sản xuất ở quy mô công nghiệp

TACN chủ yếu là thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn đã được chế biến sẵn, từ

sự phối hợp một số nguyên liệu thức ăn Thức ăn hỗn hợp hoặc có đầy đủ tất cả

các chất dinh dưỡng thỏa mãn nhu cầu của con vật hoặc chỉ có một số chất dinh

dưỡng nhất định để bổ sung cho con vật Thức ăn hỗn hợp gồm có 2 loại chính

Trang 5

đó là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn hỗn hợp đậm đặc; ngoài ra còn có

thức ăn hỗn hợp bổ sung (Lê Hồng Mận, 2003)

 Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh

Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (hay còn gọi là thức ăn tinh hỗn hợp, thức ăn

hỗn hợp) là hỗn hợp thức ăn hoàn toàn cân đối các chất dinh dưỡng Sử dụng

thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, người chăn nuôi không cần thêm bất kỳ loại thức

ăn nào khác (trừ nước uống) mà vật nuôi vẫn có khả năng duy trì sức sống cũng

như sức sản xuất ổn định Tuỳ loại vật nuôi, tuỳ giai đoạn sinh trưởng mà ta sử

dụng các loại thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh khác nhau

Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh được sản xuất dưới 2 dạng: Thức ăn hỗn hợp

dạng bột và thức ăn hỗn hợp dạng viên, mỗi loại thức ăn có những ưu nhược

điểm riêng

Thức ăn hỗn hợp dạng bột sẽ tiết kiệm được chi phí và thời gian sản xuất,

do đó năng suất lao động cao hơn, giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn so với sản

xuất thức ăn hỗn hợp dạng viên Hạn chế của thức ăn hỗn hợp dạng bột là gây

bụi trong quá trình sản xuất, vận chuyển, cho ăn… dẫn đến hao hụt và không vệ

sinh Vật nuôi, đặc biệt là gia cầm khi cho ăn thức ăn ở dạng bột dễ mắc các

triệu chứng về mắt và bệnh đường hô hấp

Theo Vũ Duy Giảng và cộng sự (1997), sử dụng thúc ăn hỗn hợp dạng viên

trong chăn nuôi gia súc, gia cầm sẽ có nhiều ưu thế hơn so với thức ăn hỗn hợp

dạng bột Thứ nhất, giảm được lượng thức ăn rơi vãi từ 10- 15%, ít sinh bụi nên

giảm được hao hụt Thứ hai vật nuôi không có sự chọn lựa thức ăn nên đảm bảo

cân bằng các chất dinh dưỡng Thứ ba, giảm thời gian ăn, vật nuôi sẽ ít bị tiêu

hao năng lượng

Trang 6

Bên cạnh đó, chất lượng của thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng được nâng

cao hơn qua quá trình chế biến Dưới tác dụng cơ giới, nhiệt độ và áp suất trong

khi ép viên, kết cấu lignin và cellulose có trong thức ăn sẽ bị phá vỡ, từ đó làm

tăng khả năng tiêu hoá tinh bột và chất xơ ở vật nuôi Ép viên làm chậm khả

năng oxy hoá của các vitamin tan trong dầu mỡ Ngoài ra phần lớn vi sinh vật,

nấm mốc và một số mầm bệnh cũng bị tiêu diệt

Denixov (1971) cùng nhiều tác giả khác cho rằng, thức ăn hỗn hợp dạng

viên có lợi cả về quy trình chế biến và hiệu quả kinh tế Sử dụng thức ăn hỗn

hợp dạng viên để vỗ béo gia súc, gia cầm cho kết quả tăng trọng cao hơn

Chính vì những ưu điểm nổi bật hơn hẳn so với thức ăn hỗn hợp dạng bột

mà tỷ lệ sử dụng thức ăn viên trên thế giới hiện nay chiếm tới 60 - 70% tổng

lượng thức ăn hỗn hợp (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997)

Tuy nhiên, thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng có những nhược điểm nhất

định Giá thành thức ăn hỗn hợp dạng viên thường cao hơn thức ăn hỗn hợp

dạng bột do tăng thêm chi phí cho quá trình ép viên Hơn nữa, nhiệt độ khi ép

viên đã làm phân huỷ một số vitamin có trong thức ăn Sử dụng thức ăn hỗn hợp

dạng viên làm tăng tỷ lệ mổ cắn nhau ở gà nuôi công nghiệp (khắc phục bằng

cách cắt mỏ) Người chăn nuôi cũng cần lưu ý cung cấp đầy đủ nước vì theo Vũ

Duy Giảng và cộng sự (1997) thì lượng nước tiêu thụ khi cho ăn thức ăn hỗn

hợp dạng viên cao hơn so với thức ăn hỗn hợp dạng bột

 Thức ăn hỗn hợp đậm đặc

Thức ăn hỗn hợp đậm đặc là hỗn hợp thức ăn giàu dinh dưỡng, đặc biệt là

protein, chất khoáng và các vitamin Nồng độ các chất dinh dưỡng trong thức ăn

hỗn hợp đậm đặc thường cao hơn so với nhu cầu của vật nuôi

Trang 7

Thức ăn hỗn hợp đậm đặc thường được sử dụng nhiều trong chăn nuôi gia

súc, gia cầm với quy mô nhỏ (chăn nuôi hộ gia đình, gia trại…) Người chăn

nuôi sẽ tiến hành trộn thức ăn hỗn hợp đậm đặc với các nguồn thức ăn tinh có

sẵn như ngô, cám, sắn… để tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Tỷ lệ pha

trộn theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm hoặc tùy thuộc

vào các nguồn thức ăn tận dụng

 Thức ăn bổ sung

Thức ăn bổ sung chủ yếu cung cấp các thành phần thường thiếu trong khẩu

phần ăn hàng ngày của vật nuôi như axit amin, vitamin, nguyên tố khoáng vi

lượng… Ngoài ra, thức ăn bổ sung còn có các chất kích thích sinh trưởng, thuốc

kháng sinh, chất tạo màu, tạo mùi…

Trong điều kiện chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiện nay, thức ăn bổ

sung ngày càng được sử dụng rộng rãi bởi những ưu điểm như tăng khả năng lợi

dụng thức ăn, tăng khả năng phòng bệnh và kích thích sinh trưởng…Tuy nhiên,

chúng ta không nên quá lạm dụng thức ăn bổ sung, đặc biệt là các chất kích

thích sinh trưởng và thuốc kháng sinh vì những ảnh hưởng không tốt của chúng

đến con người Dư lượng của hormon kích thích sinh trưởng trong thịt sẽ gây

nguy hiểm đối với sức khỏe con người Sử dụng kháng sinh liều thấp trong thức

ăn làm tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc, gây khó khăn trong công tác điều trị

bệnh

Vì vậy cần loại bỏ kháng sinh trong thức ăn và kiểm soát chặt vệ sinh an

toàn thực phẩm chăn nuôi Các nhà sản xuất phải thực hiện đúng những quy

định của Nhà nước nhằm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng và nâng cao tính

cạnh tranh của sản phẩm, nhất là sản phẩm xuất khẩu

2.1.2 Vai trò của TACN

Trang 8

Thức ăn là vật chất chứa đựng chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn và

hấp thu được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc cơ

thể Thức ăn cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình TĐC của động vật Nếu

không có thức ăn thì không có trao đổi chất, khi đó quá trình đồng hóa và dị hóa

trong cơ thể sẽ bị ngừng lại, cơ thể động vật sẽ chết Thức ăn có vai trò quyết

định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả của nghề chăn nuôi (Trịnh Khắc Vinh,

2001)

TACN ra đời đã tạo bước ngoặt lớn, góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ

trong công cuộc nâng cao hiệu quả năng suất cho ngành chăn nuôi

Dù là dạng bột hay dạng viên, TACN đều đã mang lại hiệu quả rõ rệt cho

người chăn nuôi, nhất là đối với các trang trại có quy mô chăn nuôi trung bình

và lớn Ngay cả những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khi sử dụng TACN cũng đã mang lại

hiệu quả kinh tế cao Bởi vì thức ăn này không những được phối trộn và cân đối

đầy đủ các chất dinh dưỡng vitamin và chất khoáng, thích hợp cho từng giai

đoạn phát triển của con gà mà còn được bổ sung các chất hấp phụ độc tố nấm

mốc, các chất chống oxy hóa, các men tiêu hóa và các chất phòng bệnh…

(Nguyễn Thiện và Cs, 2005) Kết quả thực tế cho thấy việc sử dụng TACN hoàn

chỉnh và thức ăn bổ sung đã tăng năng suất các sản phẩm chăn nuôi, đồng thời

hạ mức chi phí thức ăn trên một đơn vị sản phẩm Chăn nuôi bằng TACN sản

xuất theo các công thức được tính toán có căn cứ khoa học là đưa các thành tựu

phát minh về dinh dưỡng động vật vào thực tiễn sản xuất một cách nhanh nhất

và hiệu quả nhất (Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, 2003) TACN giúp cho con

giống có đặc điểm di truyền tốt thể hiện được tính ưu việt về phẩm chất giống

mới Sử dụng TACN tận dụng hết hiệu quả đầu tư trong chăn nuôi (Lê Đức

Ngoan và cs, 2004)

Trang 9

Sử dụng TACN thuận tiện, giảm chi phí sản xuất trong các khâu cho ăn,

chế biến, bảo quản và giảm lao động, sử dụng ít thức ăn nhưng cho năng suất

cao, đem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Ngoài việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng của vật nuôi mà nó còn đóng vai

trò quan trọng trong công việc làm tăng hiệu quả cho ngành chăn nuôi, cụ thể là

giảm công lao động chăn nuôi trên một khối lượng sản phẩm chăn nuôi nhất

định Vì theo phương thức chăn nuôi truyền thống thì nguồn thức ăn của vật

nuôi phải được nấu chín, lượng thức ăn tiêu tốn nhiều nên mất nhiều thời gian

cho việc phục vụ chăn nuôi Thay vào đó ngày nay sử dụng TACN thì các công

đoạn đó đã được loại bỏ cho nên lượng lao động được sử dụng ít hơn Như vậy,

năng suất lao động đã tăng lên cả về số lượng sản phẩm tao ra và hiệu quả của

việc sử dụng lao động

TACN có giá trị dinh dưỡng phù hợp với tuổi gia súc, phù hợp với hướng

sản xuất của gia súc, gia cầm thỏa mãn các yêu cầu về quản lý và kinh tế chăn

nuôi góp phần thay đổi cơ cấu nông nghiệp, hiện đại hóa nền sản xuất nông

nghiệp (Lê Đức Ngoan và cs, 2004) Từ khi thức ăn chăn nuôi công nghiệp ra

đời thì hình thức chăn nuôi truyền thống với số lượng ít, nhỏ lẻ (tận dụng các

nguồn thức ăn sẵn có, phế phẩm của ngành chế biến, sinh hoạt…để chăn nuôi)

đã giảm xuống rất nhiều thay vào đó là hình thành ngày càng nhiều hơn các

trang trại, gia trại, các hộ chăn nuôi có quy mô lớn, các khu chăn nuôi tập trung

Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Nhờ có TACN mà lượng lao động

được sử dụng trong ngành chăn nuôi đã giảm đi rất nhiều, từ đây đã tạo ra một

nguồn lực lớn cho các ngành khác Như đã biết, ngành nông nghiệp nói chung

có tính đặc thù là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, chiếm một diện

tích rộng cho nên khả năng gặp rủi ro là rất lớn và đây chính là nguyên nhân dẫn

Trang 10

đến lao động chỉ mang tính thời vụ và không đảm bảo ổn định Cho nên việc

phát triển chăn nuôi có vai trò rất lớn để đảm bảo ổn định lao động, tránh được

thời gian nông nhàn và nâng cao mức thu nhập cho người lao động

2.2 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHO GIA SÚC, GIA CẦM

2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp

TACN thường có hai dạng là thức ăn bột và thức ăn viên nhưng dù ở dạng

nào ngoài các chỉ tiêu đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn thông thường được

tính cho 1kg như: Độ ẩm (%), protein thô (%), năng lượng trao đổi (Kcal/kg thức

ăn hỗn hợp), xơ thô (%), Ca (%), P (%), NaCl (%)… còn có các chỉ tiêu về cảm

quan, độ an toàn (nấm mốc, kim loại nặng, vi sinh vật…)

Hình dạng, màu sắc, mùi vị

Hình dạng bên ngoài phải đồng nhất, không có hiện tượng mối, nhiễm

sâu, mọt Màu sắc phải phù hợp với thành phần nguyên liệu, phải có màu sáng

Mùi thức ăn phụ thuộc vào nguyên liệu phối trộn Thức ăn tốt phải có mùi thơm,

dễ chịu Trái lại thức ăn không tốt có màu đã ngả, có mùi mốc, chua là thức ăn

kém phẩm chất (Vũ Duy Giảng và Cs, 1997)

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, đặc biệt ở miền Bắc vào mùa

xuân và những ngày mưa ngâu của mùa hè – thu độ ẩm của không khí đôi khi 90

– 98% Trong điều kiện nếu thức ăn hỗn hợp không được bảo quản tốt, độ ẩm

trong thức ăn sẽ tăng lên, tạo điều kiện tốt cho nấm phát triển và sản sinh ra độc

tố nấm mốc có hại cho vật nuôi Do đó nhiều hãng thức ăn chăn nuôi quy định

sản phẩm của họ phải đạt độ ẩm dưới 13% để đề phòng hút ẩm từ không khí,

thức ăn sẽ bị mốc Tại nhiều nước Châu Âu chỉ tiêu này có thể cho phép tới

Trang 11

thấp (30 – 60%) Khi độ ẩm trong thức ăn cao hơn 15-16% sẽ tạo điều kiện cho

nấm mốc phát triển và ngay cả khi các enzyme sinh học vốn chứa sẵn trong các

nguyên liệu thức ăn cũng hoạt động, kích thích các phản ứng sinh học diễn ra với

tốc độ nhanh hơn Cả hai loại hoạt động sinh học này đều phân hủy chất hữu cơ

tạo nhiệt năng, CO2 và nước Do đó làm tăng độ ẩm và nhiệt độ của thức ăn, càng

kích thích hai quá trình trên hoạt động mạnh mẽ hơn Vì vậy, việc kiểm tra và

theo dõi độ ẩm trong thức ăn là rất quan trọng trong bảo quản thức ăn Để làm tốt

công việc này điều cần thiết là kiểm tra chặt chẽ nguyên liệu đầu vào như: ngô,

sắn, cám, bột cá, khô đậu tương,… phải đạt độ ẩm quy định, mặt khác phải luôn

kiểm tra nguyên liệu trong kho và thực hiện tốt nguyên tắc hàng nào nhập kho

trước dùng trước (dẫn theo Lê Thanh Hà, 2007)

Độ nghiền nhỏ và độ đồng đều

Độ nghiền nhỏ của nguyên liệu đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng tới

mức độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng Theo Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, 2003

thì độ mịn hợp lý của thức ăn hỗn hợp là 0,6mm – 0,8mm

Đối với gia cầm tùy theo lứa tuổi mà sản xuất thức ăn với độ mịn khác nhau:

nghiền mịn, nghiền trung bình và nghiền thô Căn cứ vào lượng thức ăn không lọt

qua mắt sàng để kiểm tra (sàng chuyên dùng) để xác định độ nghiền nhỏ:

- Nghiền mịn: Lượng thức ăn còn lại trên mặt sàng 2mm không quá 5%

hoặc lọt hết qua mắt sàng 3mm

- Nghiền trung bình: Lượng thức ăn còn lại trên mặt sàng 3mm không quá

12% hoặc lọt hết ở mắt sàng 5mm

- Nghiền thô: lượng thức ăn còn lại trên mặt sàng 3mm không quá 35% và

còn lại trên mặt sàng 5mm không quá 5% (Vũ Duy Giảng và Cs, 1997)

Trang 12

Độ nghiền nhỏ của thức ăn cũng là một vấn đề cần được quan tâm Nếu

thức ăn không được trộn đồng đều sẽ có vật nuôi ăn phải khẩu phần thức ăn có

nhiều tinh bột nhưng lại thiếu protein, hay thiếu vitamin,… và chắc chắn dẫn

đến hiệu quả chăn nuôi thấp Vì lẽ đó nên phải kiểm tra độ đồng đều sau khi

trộn Độ đồng đều phụ thuộc vào đặc điểm nguyên liệu thức ăn, vào kiểu máy

trộn và thời gian trộn Trong thực tế sản xuất thường có các loại máy trộn như

máy trộn nằm ngang, máy trộn đứng và máy trộn tua - bin Nhưng máy trộn nằm

ngang có những “dao động” đảo ngược đang được coi là máy trộn ưu việt nhất

Ở nhiều nhà máy thức ăn thường kiểm tra độ đồng đều khi thay đổi nguyên liệu

hay định kỳ kiểm tra độ đồng đều để xác định được thời gian trộn ngắn nhất mà

đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật về độ đồng đều (Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng,

2003)

Độ bền vững của viên thức ăn

Độ bền vững của viên thức ăn cũng là một chỉ tiêu cần quan tâm khi đánh

giá chất lượng TACN Muốn cho thức ăn viên kết dính tốt, người xây dựng công

thức thức ăn cần quan tâm phối chế các nguyên liệu để có tỷ lệ ngô, sắn, tấm,

ngô đậu tương,… thích hợp, tạo ra quá trình genlatin hóa tốt khi xử lý nhiệt

trong quy trình sản xuất thức ăn viên Nhiều nghiên cứu cho rằng độ bền vững

của thức ăn viên cho gia cầm cần có 10,0% - 20,0% viên vụn và một chút bột sẽ

kích thích con vật ăn ngon miệng hơn (Theo Nguyễn Thiện và cs, 2005)

Độc tố nấm mốc (Mycotoxin)

Độc tố nấm mốc do các loại nấm mốc phát triển trên thức ăn gây ra, gây tác

động có hại cho vật nuôi và làm ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi Khi độ ẩm

không khí cao hơn 70% và nhiệt độ môi trường 35 – 400C là điều kiện tốt nhất

cho nấm mốc phát triển (Cockere, Francis, Halliday D, 1971) Nấm mốc phân

Trang 13

hủy chất dinh dưỡng trong thức ăn tạo ra nhiệt năng, nước và CO2… càng làm

cho độ ẩm và nhiệt độ của nguyên liệu cũng như thức ăn hỗn hợp tăng lên, kích

thích nấm mốc phát triển mạnh hơn

Độc tố nấm mốc có động lực mạnh nhất thuộc nhóm aflatocxin (Dương

Thanh Liêm, 2003), chúng không chỉ làm suy giảm miễn dịch mà còn phá hủy tế

bào gan, gây ung thư cho gia súc gia cầm, giảm khả năng sinh trưởng, gây sẩy

thai ở lợn nái, qua đó làm giảm rõ rệt năng suất chăn nuôi và gây thiệt hại lớn về

kinh tế nhưng lại khó nhận diện (Miller, 1991) Một số tác giả ví nấm mốc như

một “kẻ cắp” vô hình và là kẻ thù số một của thức ăn chăn nuôi (Dương Thanh

Liêm, 2003) Nhiều nghiên cứu ở Châu Á cho thấy phần lớn nguyên liệu thức ăn

ở những vùng nóng ẩm này ít nhiều đều bị nhiễm độc tố nấm mốc (Dawson,

1991) Do đó việc kiểm soát và hạn chế tác hại của độc tố nấm mốc trong thức

ăn là một vấn đề rất được quan tâm Hiện nay trên thực tế đã sản xuất một số chế

phẩm trộn vào thức ăn hỗn hợp nhằm mục đích hấp thụ aflatocxin tạo thành các

phần tử có kích thước lớn, không thể đi qua thành ruột non theo cơ chế hấp thụ

và sau đó chúng được thải ra ngoài theo phân (Edwards A, 2002)

Ngoài tác hại nêu ở trên, nấm mốc còn làm giảm giá trị dinh dưỡng của

thức ăn và gây ra vị đắng, làm giảm tính ngon miệng khi chúng phân hủy chất

béo trong thức ăn Như vậy nấm mốc là một tác nhân có hại, do đó các biện

pháp kiểm tra độ ẩm của thức ăn và đảm bảo các điều kiện tốt của kho tàng,

cũng như thực hiện tốt các quy trình bảo quản và thời gian dự trữ nguyên liệu

hợp lý là những vấn đề cực kỳ quan trọng

2.2.2 Các phương pháp đánh giá chất lượng TACN

Có nhiều phương pháp để đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi, mỗi

phương pháp có những ưu, nhược điểm riêng Vì vậy, để đánh giá chất lượng

Trang 14

thức ăn một cách chính xác nhất, thường áp dụng kết hợp các phương pháp khác

nhau

 Phương pháp thử cảm quan

Thử cảm quan là phương pháp dùng các giác quan (thị giác, khứu giác, vị

giác, xúc giác…) của con người để kiểm tra nhanh chất lượng của thức ăn thông

qua màu sắc, mùi, vị, độ nghiền, độ nhiễm mốc, mọt, tạp chất…

Một loại thức ăn được đánh giá là tốt phải có dạng đồng nhất, màu sắc,

mùi, vị đặc trưng, độ nghiền phù hợp, không bị ướt, vón cục, không bị mốc,

mọt, không lẫn các tạp chất gây ảnh hưởng đến chất lượng của thức ăn

Thức ăn kém phẩm chất là những loại thức ăn không đảm bảo các điều kiện

trên Thức ăn đã bị mất màu hay biến đổi màu sắc (xanh, vàng, nâu…) có thể do

sự phát triển của nấm mốc hoặc do để quá lâu Thức ăn có mùi lạ (ôi, chua,

thối…) do bảo quản lâu ngày, quá trình oxy hoá xảy ra làm mất mùi đặc trưng

Các loại thức ăn này không những đã bị giảm chất lượng mà còn có khả năng

gây hại tới vật nuôi, cụ thể làm mất tính ngon miệng, giảm khả năng sinh

trưởng, phát triển, từ đó làm giảm năng suất của vật nuôi Trường hợp vật nuôi,

đặc biệt là gia cầm ăn phải thức ăn bị nhiễm mốc lâu ngày có thể gây ngộ độc

dẫn đến chết

Phương pháp thử cảm quan cho phép đánh giá nhanh chất lượng của thức

ăn nhưng thiếu chính xác do kết quả không mang tính khách quan, phụ thuộc

nhiều vào kinh nghiệm của người đánh giá

 Phương pháp hoá học

Sử dụng các hoá chất để phân tích thành phần hoá học của các loại thức ăn

như hàm lượng nước, protein thô, xơ thô, lipit thô, canxi, photpho, muối ăn, axit

Trang 15

amin, vitamin, độc tố… Thông qua đó ta có thể đánh giá chất lượng thức ăn theo

giá trị dinh dưỡng và năng lượng trao đổi

Hiệp hội hạt cốc Hoa Kỳ (USGC, 1998) quy định các chỉ tiêu phân tích

theo từng nhóm nguyên liệu như sau:

- Hạt ngũ cốc và phụ phẩm hạt: độ ẩm, protein thô, tro thô

- Bột cỏ: độ ẩm, protein thô, tro thô, xơ thô

- Thức ăn bổ sung protein: độ ẩm, protein thô, nitơ phi protein

Trong thực tế phương pháp này được áp dụng khá phổ biến Ngày nay với

sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật, nhiều máy móc hiện đại ra đời đã làm cho

việc đánh giá chất lượng thức ăn được chính xác hơn và đi sâu vào các thành

phần, nguyên tố vi lượng Tuy nhiên phương pháp hoá học có hạn chế là không

phát hiện được chất dinh dưỡng đó có nguồn gốc từ đâu, từ thức ăn hay từ các

tạp chất lẫn trong thức ăn Do đó để có kết quả chính xác, cần kết hợp với

phương pháp thử cảm quan nói trên

 Phương pháp sinh học

Phương pháp sinh học là phương pháp đánh giá chất lượng của thức ăn trực

tiếp trên cơ thể vật nuôi Động vật thí nghiệm được chia làm hai lô: lô thí

nghiệm và lô đối chứng Lô thí nghiệm sử dụng loại thức ăn cần đánh giá chất

lượng Lô đối chứng sử dụng loại thức ăn hiện có Điều kiện chăm sóc, nuôi

dưỡng ở hai lô là như nhau

Sau thời gian nuôi nhất định, tiến hành khảo sát khả năng sản xuất của vật

nuôi ở 2 lô Nếu lô thí nghiệm cho kết quả khảo sát tốt hơn lô đối chứng thì có

thể kết luận, thức ăn đem thí nghiệm có kết quả tốt hơn so với thức ăn ở lô đối

chứng và ngược lại

Trang 16

Phương pháp sinh học cho phép đánh giá chất lượng thức ăn một cách

chính xác và tổng quát nhất Chất lượng của thức ăn được phản ánh đầy đủ

thông qua sức sản xuất của vật nuôi Tuy nhiên phương pháp này cần thời gian

dài, đầu tư công sức và vật chất khá lớn Do đó ta thường chỉ áp dụng để đánh

giá chất lượng của một loại thức ăn mới trước khi đưa vào sản xuất đại trà

2.2.3 Các công đoạn kiểm tra chất lượng của thức ăn hỗn hợp cho gia cầm

Theo Jones (1995), Arbor Acres Farm (1999) thì một chương trình kiểm tra

chất lượng thức ăn tốt bao gồm 4 công đoạn:

- Kiểm tra chất lượng nguyên liệu

- Kiểm tra trong quá trình sản xuất thức ăn hỗn hợp (phối trộn)

- Kiểm tra chất lượng thành phẩm

- Kiểm tra chất lượng thức ăn hỗn hợp trên cơ thể động vật nuôi

Kiểm tra chất lượng nguyên liệu

Jones (1989) cho biết, chi phí cho nguyên liệu chiếm 70 – 90% giá thành

của thức ăn hỗn hợp Để thu lợi nhuận cao ta phải chú ý đến chất lượng và giá

thành của nguyên liệu Kiểm tra nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm

giúp ta đánh giá được chất lượng của thức ăn hỗn hợp, thức ăn bổ sung hay

premix Phần lớn sự biến động của thành phần dinh dưỡng trong thức ăn hỗn

hợp sản xuất ra liên quan đến nguyên liệu Đối với gia cầm thì 40 – 70% sự biến

động thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp liên quan đến nguyên liệu

Kiểm tra trong giai đoạn phối trộn

Kết quả điều tra của Wicker và Poole (1991) cho biết, hơn một nửa trong

tổng số 145 mẫu thức ăn hỗn hợp kiểm tra là trộn không đều Nguyên nhân có

thể do:

- Thời gian trộn chưa đủ

Trang 17

- Nạp nguyên liệu vào máy trộn quá nhiều, vượt công suất của máy

- Các chi tiết của máy trộn bị mòn, vỡ…

Theo Jones (1991), nếu hệ số biến động (CV) của các lần kiểm tra dưới

hoặc bằng 10% thì thức ăn được trộn đều, Wicker và Poole (1991) cũng cho biết

nếu thiết bị hoạt động tốt thì CV có thể đạt được 4 – 7%

Kiểm tra chất lượng thành phẩm

Thức ăn hỗn hợp sau khi sản xuất ra có khi được sử dụng ngay cho gia súc,

gia cầm mà không phải qua khâu kiểm tra chất lượng Tuy nhiên tại các nhà máy

sản xuất TACN, thức ăn hỗn hợp được sản xuất ở các ca khác nhau cần được lấy

mẫu và lưu lại Nên lấy bao nhiêu mẫu để kiểm tra? Câu trả lời này do các nhà

máy sản xuất thức ăn gia súc quyết định Thông thường ta lấy 1 mẫu/ 1 công

thức/ 1 tuần (USGC, 1998)

Trường hợp phát hiện một chỉ tiêu dinh dưỡng nào đó có vấn đề thì cần giải

quyết ngay trong thời gian sớm nhất Trình tự kiểm tra lại như sau:

- Kiểm tra lại kết quả phân tích

- Mẫu phân tích đã được lấy đúng chưa? Mẫu đã đại diện chưa? Ta có thể

lấy lại mẫu phân tích nếu lô hàng còn

- Chỉ một chất dinh dưỡng có vấn đề hay nhiều chất dinh dưỡng? Có thể có

nguyên liệu nào đó thiếu trong công thức?

- Kiểm tra sự hoạt động của máy trộn

- Kiểm tra lại thời gian trộn và công thức phối chế

- Kiểm tra chất lượng nguyên liệu trước đó, nếu không đúng nguyên liệu thì

phải yêu cầu người cung cấp nguyên liệu cấp lại

Ngoài ra cần kiểm tra kỹ bao bì, trọng lượng bao thành phẩm…

Kiểm tra chất lượng thức ăn trên cơ thể vật nuôi

Trang 18

Đây là công đoạn cuối cùng trong quy trình kiểm tra chất lượng của thức ăn

hỗn hợp Qua đó ta có thể kiểm tra được sự thích hợp của thức ăn hỗn hợp (mùi

vị, màu sắc, kích thước viên hay hạt bột…) đối với từng loại gia súc, gia cầm

Điều này được phản ánh bởi sự ngon miệng hay khả năng sử dụng thức ăn của

vật nuôi

Tóm lại, chất lượng nguyên liệu có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng

của thức ăn hỗn hợp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gia súc, gia

cầm Đánh giá chất lượng nguyên liệu và chất lượng của thức ăn hỗn hợp là một

việc làm cần thiết đối với tất cả các cơ sở sản xuất và chế biến TACN Đặc biệt

trong tình hình hiện nay, sự biến động và sự phong phú về chủng loại nguyên

liệu cũng như thức ăn hỗn hợp trên thị trường thì việc làm đó lại càng quan

trọng Chất lượng thức ăn được đảm bảo và ổn định mới nâng cao được năng

suất và hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi

2.3 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI GÀ

2.3.1 Phương thức chăn nuôi truyền thống

Chăn thả tự nhiên, hình thức chăn nuôi truyền thống hiện vẫn tồn tại và

phát triển hầu hết ở các vùng nông thôn đặc biệt ở các nước đang phát triển và

các nước chậm phát triển Việt Nam với gần 80% dân số sống ở nông thôn thì

chăn nuôi gà theo hình thức quảng canh vẫn là chủ yếu Phương thức chăn nuôi này

có đặc điểm: vốn đầu tư ban đầu ít, đàn gà được thả rông, tự do tìm kiếm thức ăn, tự

ấp và nuôi con Thời gian nuôi gà thịt từ 4 - 5 tháng mới đủ trọng lượng giết thịt Tùy

thuộc giống gà trọng lượng lúc đủ tuổi giết thịt có thể giao động chủ yếu trong

khoảng 1,3 – 1,5kg

Do chăn nuôi thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh khiến

Trang 19

cao Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi này cho chất lượng thịt rất thơm ngon,

đầu tư thấp, không thích hợp với quy mô chăn nuôi lớn vì yêu cầu vườn thả

rộng

Các giống gà phù hợp với phương thức chăn nuôi truyền thống là giống gà

Ri, Đông Tảo, Hồ, Mía,… là những giống cần cù chịu khó kiếm ăn, sức chống

chịu với thời tiết, bệnh tật cao, thịt có hương vị thơm ngon

Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2004 có tới 62% hộ gia

đình nông thôn chăn nuôi gà theo phương thức này (trong tổng số 7,9 triệu hộ

chăn nuôi gia cầm) với tổng số gà theo thời điểm ước tính khoảng 110-115 triệu

con (chiếm khoảng 50-52% tổng số gà xuất chuồng của cả năm)

2.3.2 Phương thức chăn nuôi công nghiệp

Phương thức này dựa trên cơ sở thâm canh tăng năng suất trên một đơn vị

diện tích chuồng nuôi, dùng các giống gà cao sản để tạo ra sản lượng thịt, trứng

nhiều nhất, hiệu quả cao trong thời gian ngắn nhất, cùng với sự đầu tư về trang

thiết bị, chuồng trại tiên tiến, tự động hoá thao tác, quy trình chăn nuôi, thức ăn

hỗn hợp được chế biến theo phương pháp công nghiệp, điều kiện, môi trường

chăn nuôi đều theo ý muốn chủ quan của con người Hình thức chăn nuôi này

còn gọi là chăn nuôi theo phương thức công nghiệp

Phương thức chăn nuôi này có ưu thế là cho sản phẩm nhanh với năng suất

cao, dễ được người chăn nuôi chấp nhận Các nhà khoa học đã tạo ra một bước

đột phá trong công nghệ sản xuất con giống, thức ăn hỗn hợp để phù hợp với

phương thức chăn nuôi này Kết quả là rút ngắn ngày nuôi, sản phẩm được sản

xuất ra nhiều hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn cho một đơn vị sản phẩm

Chăn nuôi gà công nghiệp phát triển mạnh, nhất là từ 2001 đến nay Các

giống nuôi chủ yếu là các giống cao sản (Isa, Lomann, Ross, Hiline, ), sử dụng

Trang 20

hoàn toàn thức ăn công nghiệp, ứng dụng các công nghệ tiên tiến như chuồng

kín, chuồng lồng, chủ động điều khiển nhiệt độ, ẩm độ, cho ăn uống tự

động Năng suất chăn nuôi cao: gà nuôi 42-45 ngày tuổi đạt 2,2-2,4 kg/con, tiêu

tốn 2,2-2,3 kg TA/kg tăng trọng, tuy nhiên ở Việt Nam gà đẻ đạt 270-280 trứng/

năm, tiêu tốn 1,8-1,9 kg TA/10 quả trứng Chăn nuôi công nghiệp đạt khoảng

18-20% trong tổng sản phẩm chăn nuôi gà cả nước

Chăn nuôi công nghiệp chủ yếu là hình thức gia công, liên kết của các trang

trại với các doanh nghiệp nước ngoài như CP Group, Japfa, Cargill, Proconco

Ngoài ra, rất nhiều hộ nông dân, trang trại có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm

chăn nuôi cũng tư chủ đầu tư chăn nuôi theo phương thức công nghiệp này

2.3.3 Phương thức chăn nuôi gà bán công nghiệp (chăn nuôi gà thả vườn có

áp dụng tiến bộ kỹ thuật)

Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm nuôi gà

truyền thống với chăn nuôi theo quy trình có áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến

qua các giai đoạn Phương thức chăn nuôi này xuất hiện từ nhu cầu thực tế của

xã hội đòi hỏi càng nhiều về số lượng sản phẩm nhưng chất lượng sản phẩm cao,

hương vị sản phẩm thơm ngon Đây là sự kết hợp của hai phương thức chăn

nuôi truyền thống và công nghiệp

Phương thức chăn nuôi này là sự kết hợp tiến bộ kỹ thuật về con giống nuôi

năng suất cao và chất lượng thịt thơm ngon với thức ăn sử dụng là thức ăn hỗn

hợp, kết hợp với thức ăn sẵn có ngoài tự nhiên Khi chăn nuôi gà theo phương

thức này, thời gian 1,5 - 2 tháng đầu gà được nuôi nhốt hoàn toàn và cho ăn thức

ăn công nghiệp Ở giai đoạn 1 tháng trước khi xuất chuồng, gà được thả vườn,

đồi, cho ăn thức ăn hỗn hợp cùng với thức ăn sẵn có như ngô, cám gạo, cám

mạch, rau xanh… để nâng cao chất lượng, làm cho thịt chắc, giảm bớt mỡ, nước

Trang 21

do nuôi công nghiệp trong giai đoạn đầu Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trong

môi trường tự nhiên, có sự can thiệp hợp lý của con người nhằm đảm bảo tỷ lệ

nuôi sống cao, đàn gà phát triển tốt, hiệu quả chăn nuôi cao hơn hình thức chăn

nuôi quảng canh Thời gian nuôi một lứa gà theo phương thức này cho đến khi

xuất chuồng là 65 – 70 ngày với trọng lượng xuất chuồng từ 1,8 – 2,4kg

Mục tiêu phương thức này mang đậm tính sản xuất hàng hóa chứ không

thuần tuý là sản xuất tự cấp tự túc Gần đây, phương thức chăn nuôi này được áp

dụng tại nông thôn đồng bằng, trung du, ven đô và được nuôi dưới các hình thức

chăn nuôi: tập trung, bán công nghiệp, thả vườn với con giống phù hợp với điều

kiện khí hậu, cơ sở vật chất, phong tục tập quán từng vùng, tạo ra sản phẩm có

chất lượng cao, duy trì được hương vị truyền thống và đáp ứng được nhu cầu, thị

hiếu của người tiêu dùng

2.4 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GÀ NUÔI THEO PHƯƠNG THỨC

CHĂN THẢ

Khi nuôi theo phương thức chăn thả, gà thường tốn nhiều năng lượng cho

các hoạt động hơn mà năng suất lại thấp hơn nuôi thâm canh Vì thế hiệu quả sử

dụng thức ăn kém hay tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là cao hơn Vì vậy,

với gà thả vườn cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp Như vậy các chất dinh

dưỡng tiêu thụ để sản xuất một đơn vị sản phẩm chăn nuôi gà theo phương thức

chăn thả là cao hơn phương thức nuôi thâm canh Do thời gian nuôi dài hơn, tiêu

tốn thức ăn nhiều hơn, nên hàm lượng các chất dinh dưỡng trong 1kg thức ăn

nuôi gà chăn thả cũng thấp hơn Nếu giữ nguyên mức năng lượng trong thức ăn

theo nhu cầu cho gà nuôi thâm canh thì tương ứng với các giai đoạn nuôi, hàm

lượng protein thường thấp hơn khoảng 2 - 3% Các chất dinh dưỡng khác như

vitamin và khoáng giảm thấp hơn khoảng 10%

Trang 23

Gà thịt công nghiệp 0 – 2 tuần tuổi 3100 22,5 1,20 0,46 0,86 0,89 0,22 1,00 0,60 0,45 0,50

Gà thịt công nghiệp 2 – 5 tuần tuổi 3200 20,0 1,10 0,42 0,79 0,81 0,20 0,90 0,50 0,35 0,50

Gà thịt công nghiệp > 5 tuần tuổi 3200 19,0 0,95 0,36 0,68 0,70 0,17 0,90 0,50 0,35 0,50

Gà ta thả vườn 0 – 2 tuần tuổi 3200 20,0 1,10 0,42 0,79 0,81 0,20 0,90 0,50 0,35 0,50

Gà ta thả vườn 2 – 6 tuần tuổi 3200 18,0 0,95 0,36 0,68 0,70 0,17 0,90 0,50 0,35 0,50

Gà ta thả vườn > 6 tuần tuổi 3200 16,0 0,80 0,28 0,58 0,64 0,16 0,90 0,50 0,35 0,50

Gà hậu bị trứng 0 – 6 tuần tuổi 2900 19,0 0,90 0,32 0,66 0,72 0,18 0,90 0,65 0,40 0,50

Gà hậu bị 6 – 12 tuần tuổi 2900 16,0 0,75 0,26 0,55 0,60 0,15 0,80 0,60 0,35 0,50

Gà hậu bị 12 – 18 tuần tuổi 2900 15,0 0,65 0,23 0,47 0,52 0,13 0,80 0,60 0,35 0,50

Trang 24

Mọi nhu cầu đưa ra chỉ là tài liệu tham khảo Phải tính nhu cầu dinh

dưỡng cho các đàn gà trong từng điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở chăn nuôi Bởi

vì nhu cầu các chất dinh dưỡng của gia cầm không những phụ thuộc vào bản

thân đàn gia cầm mà còn bị phụ thuộc bởi điều kiện môi trường nhất là nhiệt độ

Trang 25

Phần IIIĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại thức ăn chăn nuôi công nghiệp

sử dụng trong chăn nuôi gà đồi Yên Thế

3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện ở 3 xã đại diện: Tiến Thắng, Đồng Tâm, Xuân

Lương thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

- Phòng thí nghiệm trung tâm của khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thủy sản

– Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: 04 tháng (T02/2012 – T06/2012)

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.3.1 Một số đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Yên Thế - Bắc

Giang

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện địa lý: địa hình, thổ nhưỡng…

- Điều kiện thời tiết khí hậu: Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm…

- Tài nguyên nước, sông ngòi

- Điều kiện kinh tế xã hội: dân số, lao động…

Trang 26

3.3.2 Tình hình chăn nuôi gà đồi tại huyện Yên Thế - Bắc Giang

- Điều tra cơ bản về số lượng gà đồi của huyện Yên Thế, số lượng hộ gia

đình nuôi, quy mô, cơ cấu về giống, lứa tuổi

- Phương thức chăn nuôi gà đồi, công tác phòng trừ dịch bệnh tại các hộ

chăn nuôi trên địa bàn huyện Yên Thế

- Tình hình tiêu thụ sản phẩm gà đồi

- Tình hình phát triển chăn nuôi gà tại huyện Yên Thế trong những năm gần

đây

3.3.3 Tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp trong chăn nuôi gà đồi

- Tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở các cơ sở chăn nuôi

gà đồi

- Hệ thống phân phối thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên địa bàn huyện

3.3.4 Đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp được sử dụng trên

địa bàn nghiên cứu

Đánh giá các chỉ tiêu về cảm quan, vật lý như: độ ẩm, màu sắc, mùi vị,

hình dạng, độ đồng đều và độ bền vững của thức ăn.

Xác định hàm lượng và thành phần hóa học các chất có trong các mẫu

thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi gà đồi.

- Thành phần hóa học: Độ ẩm, protein, xơ, khoáng TS, lipit, Ca, P

- Giá trị năng lượng: ME

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu

+ Số liệu thứ cấp: Các số liệu thứ cấp được thu thập thông qua báo cáo của

sở Nông nghiệp, sổ sách ghi chép tại các trang trại điều tra

Trang 27

+ Số liệu sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi được thiết kế

sẵn về hiện trạng chăn nuôi và tình hình sử dụng thức ăn

3.4.2 Phương pháp chọn xã nghiên cứu

Do phạm vi nghiên cứu trên địa bàn trên toàn huyện là khá rộng nên chúng

tôi chỉ chọn một số xã điển hình, có mật độ chăn nuôi gà cao, tập trung nhiều đại

lý thức ăn chăn nuôi của các công ty để tiến hành điều tra, lấy mẫu đánh giá

phân tích một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn

Trên mỗi xã thì chúng ta chọn các trang trại có số lượng gà lớn (quy mô >

1000 con/trang trại/lứa) để lấy mẫu thức ăn đánh giá chất lượng

3.4.3 Phương pháp lấy mẫu

Tại các trang trại chăn nuôi, tiến hành lấy mẫu thức ăn chăn nuôi để tiến

hành phân tích, đánh giá Mẫu thức ăn gia súc lấy theo tiêu chuẩn Việt nam

TCVN 4325: 2007

Để lấy mẫu phân tích thường theo các bước:

 Bước 1: lấy mẫu ban đầu:

Mẫu được lấy từ một đối tượng vật phẩm cần phân tích Cần phải lấy mẫu

ở nhiều điểm khác nhau

 Bước 2: lấy mẫu bình quân:

Rải mỏng mẫu ban đầu, lấy mẫu ở nhiều điểm trên đó gộp lại sẽ được mẫu

bình quân

 Bước 3: Lấy mẫu phân tích

- Rải mẫu bình quân (đã được trộn đều) lên khay men thành lớp mỏng

- Vạch bề mặt mẫu thành các ô bằng nhau

- Lấy khoảng 50-200 g (vật chất khô) mẫu từ các ô so le, đối xứng Nếu

chưa đủ mẫu thì lặp lại, rồi lấy đến đủ mẫu

Trang 28

Khi lấy mẫu cần tuân thủ 2 nguyên tắc

 Đồng đều

 Ngẫu nhiên

3.4.5 Phương pháp phân tích thành phần hóa học

Các chỉ tiêu phân tích:

- Xác định hàm lượng nước theo TCVN 4326: 2001

- Xác định hàm lượng protein thô theo TCVN 4328-1: 2007

- Xác định hàm lượng xơ thô theo TCVN 4329:2007

- Xác định hàm lượng Canxi theo TCVN 1526-1:2007

- Xác định hàm lượng Photpho tổng số theo TCVN 1525: 2001

- Xác định hàm lượng Năng lượng trao đổi trong thức ăn theo TCVN 4806:

2007

Xác định hàm lượng nước

Nguyên lý:

Hàm lượng nước trong thức ăn gia súc là khối lượng nước mất đi khi sấy

mẫu theo qui trình nhất định, được biểu thị bằng phần trăm khối lượng mẫu đưa

vào thí nghiệm

Cách tiến hành:

- Sấy hộp lồng ở nhiệt độ 103±20C khoảng 30 phút, lấy ra, để nguội trong

bình hút ẩm và cân để xác định khối lượng Lặp lại quá trình sấy, để nguội, cân

đến khối lượng không đổi

- Cân khoảng 10g mẫu đã nghiền nhỏ cho vào hộp lồng

- Đặt hộp lồng chứa mẫu đã cân vào tủ sấy và sấy mẫu ở nhiệt độ 103±20C

trong thời gian 2 giờ

- Lấy ra làm nguội trong bình hút ẩm (khoảng 20 – 30 phút) và cân

Trang 29

- Lặp lại quá trình sấy trong 30 phút Để nguội, cân đến khối lượng không

đổi (kết quả giữa hai lần cân liên tiếp chênh lệch không quá 0,3mg)

Tính kết quả:

 Hàm lượng nước (X) tính bằng pần trăm:

Trong đó:

m1 là khối lượng hộp lồng + mẫu trước khi sấy (g)

m2 là khối lượng hộp lồng + mẫu sau khi sấy (g)

m là khối lượng mẫu dùng vào định lượng (g)

- Cất amoniac vào dung dịch axit

- Xác định hàm lượng nitơ tổng số bằng chuẩn độ amoniac

- Tính hàm lượng protein thô bằng cách nhân lượng Nitơ với hệ số 6,25

Trang 30

 Mẫu đã cân

 Hỗn hợp chất xúc tác (3g chất xúc tác /1g mẫu)

 Axit sunfuric đậm đặc (10cm3 axit /1g mẫu)

- Đem chưng trong hệ thống công phá mẫu

- Khi đun cứ khoảng 15 phút lắc bình một lần đến khi mẫu không còn sủi

bọt thì thôi

- Tăng nhiệt độ cho sôi đều Chưng đến khi mẫu trở nên có màu xanh

 Cất mẫu:

- Cho 15cm3 dung dịch H2SO4 0,1 N vào bình nhận (bình tam giác 100cm3) – V1

- Thêm 2 giọt chỉ thị màu (Methyl đỏ);

- Đưa bình nhận vào cuối ống sinh hàn sao cho đầu cuối ngập trong dung

dịch axit;

- Chuyển bình Kjeldahl có chứa mẫu đã chưng vào máy cất;

- Đặt chương trình cho máy chạy

- Tiến hành cất khoảng 5 phút

- Sau đó, hạ thấp bình nhận xuống sao cho đầu cuối ống sinh hàn không

tiếp xúc với dung dịch

 Chuẩn độ:

- Đem bình nhận đi chuẩn độ bằng dung dịch NaOH 0,1N đến khi dung

dịch chuyển từ màu hồng tím sang màu vàng rơm

- Lượng dung dịch NaOH 0,1N dùng để chuẩn độ đó là V2

Song song với thí nghiệm trên cần làm với mẫu trắng sau đó hiệu chỉnh

lượng NaOH 0,1N của thí nghiệm chính

 Tính kết quả:

Trang 31

 Hàm lượng Nitơ tính bằng % theo công thức:

Trong đó:

V1: thể tích H2SO4 0,1N được lấy vào bình nhận(cm3)

V2: thể tích NaOH 0,1N được dùng trong chuẩn độ (cm3)

m: khối lượng mẫu, tính bằng g

T: hệ số hiệu chỉnh của dung dịch NaOH 0,1N

 Tính % protein thô:

Trong đó:

N: hàm lượng nitơ tổng số có trong mẫu thức ăn

Xác định hàm lượng xơ thô

Nguyên lý:

Dưới tác dụng của axit nóng, tinh bột và một phần hemicelluloz sẽ bị thuỷ

phân thành các loại đường đơn hoà tan; các hợp chất amin và alcaloid tan trong

dung dịch; một phần chất khoáng sẽ tách ra

Bazơ chuyển các chất protein, tách một phần mỡ bằng cách nhũ tương hoá

và xà phòng hoá, ngoài ra còn hoà tan phần lớn hemixelluloz

Cồn và ête hoà tan những phần còn lại trong mẫu như chất béo, sáp và

keo… Phần còn lại là xơ thô và một phần khoáng nhỏ

Cách tiến hành:

- Nghiền mẫu

- Cân khoảng 1g mẫu cho vào cốc chiết (m)

- Lắp cốc chiết vào hệ thống

Trang 32

- Thêm 20 – 25ml petroleum ete Sau đó ra nhiệt đến sôi (thời gian ra nhiệt

khoảng 15 phút), giữ sôi 30 phút Rửa bằng nước cất nóng 3 lần (10 phút)

- Thêm 100ml axit H2SO4 1,25% cho 3 – 4 giọt n – octanol Sau đó ra nhiệt

đến sôi (thời gian ra nhiệt khoảng 15 phút), giữ sôi 30 phút Rửa bằng nước cất

nóng 3 lần (10 phút) Làm tương tự với NaOH 1,25%

- Thêm axeton đến ngập mẫu, đặt thời gian khoảng 10 phút rồi xả

- Đặt cốc chiết ra ngoài không khí cho bay hơi hết axeton

- Lấy cốc cho vào tủ sấy đến trọng lượng không đổi khoảng 4 giờ, để nguội

rồi cân

- Cho cốc vào lò nung và nung ở 5500C trong 3 giờ

- Lấy cốc ra, để nguội rồi cân

Tính kết quả:

Hàm lượng xơ thô (X), tính bằng phần trăm theo công thức:

Trong đó:

m1: khối lượng xơ + chén sau khi sấy (g)

m2: khối lượng xơ + chén sau khi nung (g)m: khối lượng mẫu dùng vào định lượng (g)

Định lượng hàm lượng lipid thô

Nguyên lý:

Chất béo được chiết ra khỏi mẫu bằng ête dầu hoặc ête êtylic

Cách tiến hành:

- Cân khoảng 3g mẫu khô, cho vào cốc giấy (đã biết khối lượng), gói lại

- Đặt cốc mẫu vào bộ phận chiết của bình Soxhlet

Trang 33

- Đổ ête dầu vào cho tới khi ête có thể qua ống cong nhỏ xuống bình cầu.

Lượng ête trong bình cầu chiếm khoảng 1/3 dung tích của bình là được

- Cho nước lạnh luôn chảy qua bộ phận làm lạnh, tiến hành chiết từ 6-10

giờ Điều chỉnh nhiệt độ nước trong nồi cách thủy (khoảng 60-70oC) sao cho ête

tuần hoàn từ 4-6 lần / giờ

- Sau khi đã kiểm tra và thấy hết mỡ, lấy mẫu ra khỏi bình

- Để mẫu ngoài không khí cho bay hết ête

- Thu hồi lượng ête etylic còn lại

- Đem bình chiết có chứa lipid vào sấy trong vòng 2 giờ đến khối lượng

không đổi Để nguội rồi cân

- Lặp lại quá trình sấy và cân cho đến khi khối lượng không thay đổi

m : khối lượng mẫu (g)

Định lượng hàm lượng tro thô ( hàm lượng khoáng toàn phần)

Nguyên lý:

Mẫu sau khi đốt ở nhiệt độ cao hay xử lý bằng những chất oxy hóa mạnh,

chất hữu cơ sẽ bị phân hủy hết còn lại là khoáng toàn phần.

Cách tiến hành:

- Sử dụng chén sứ chịu nhiệt đã biết khối lượng

- Cân khoảng 3g mẫu vào chén

Trang 34

- Đưa chén vào lò nung, nung mẫu ở nhiệt độ 550 - 5700C trong vòng 3 giờ

đến khi mẫu đã bị tro hóa hoàn toàn (mẫu có màu trắng xám hoặc xanh xám)

- Để nguội rồi đem cân

Định lượng hàm lượng canxi (phương pháp thể tích)

Nguyên lý:

Sau khi mẫu đã được tro hóa, canxi có trong mẫu ở dạng ôxit canxi

(CaO) Các phản ứng hóa học xảy ra như sau:

CaO + 2 HCl → CaCl2 + H2OCaCl2 + (NH4)2C2O4 → CaC2O4↓ + 2NH4ClCaC2O4 + H2SO4 → H2C2O4 + CaSO4

Cách tiến hành:

- Thực hiện tro hóa m(g) mẫu (khoảng 3g)

- Tạo dung dịch số 1:

+ Hòa tan tro bằng 50 - 60ml dung dịch axit HCl 1:2, chuyển vào cốc

100ml Đun cốc trên bếp điện đến sôi, giữ sôi 5 – 10 phút

+ Lọc dung dịch qua giấy lọc định lượng vào bình định mức 250ml

+ Rửa sạch cốc và lượng axit trên giấy lọc bằng nước cất

Trang 35

Dung dịch số 1 dùng để phân tích Ca, P, Mg và một số nguyên tố khoáng khác.

- Dùng pipet hút 5ml dung dịch số 1 từ bình định mức 250ml sang bình tam

giác 250ml, sau đó tia nước cất đến vạch 100ml

- Thêm vào bình tam giác 250ml:

 5ml dung dịch KOH 20%

 3mg HONH3Cl

 3mg C6H5Na3O7 2H2O

 3mg chất chỉ thị màu

- Đem bình tam giác đi chuẩn độ bằng dung dịch EDTA 0,02N đến khi

dung dịch có màu hồng (màu hồng bền trong 30 giây)

Tính kết quả:

Hàm lượng Canxi (X), tính bằng phần trăm theo công thức:

Trong đó:

V: Thể tích EDTA dùng để chuẩn độm: Khối lượng mẫu dùng vào định lượng

Định lượng hàm lượng photpho ( phương pháp so màu)

Nguyên lý:

Trong môi trường axit, axit photphoric có khả năng tạo một phức chất màu

vàng, bền vững, đó là phức photpho – vanado – molipdat Ở gới hạn nồng độ từ

1 – 20mg/l, cường độ màu dung dịch tỷ lệ với hàm lượng photpho

Cách tiến hành:

- Tro hóa m (g) mẫu (khoảng 3g) và tạo dung dịch số 1 theo các bước như

phương pháp định lượng hàm lượng canxi

- Hỗn hợp thuốc thử phot pho:

Trang 36

+ Dung dịch axit HNO3 1: 2+ Dung dịch Amoni meta vanadat 0,25%

+ Dung dịch Amoni molipdat 5%

→ trộn lẫn 3 dung dịch trên theo tỷ lệ 1:1:1 ta được hỗn hợp thuốc thử

photpho

- Tạo mẫu trắng: 15ml hỗn hợp thuốc thử photpho, thêm nước cất đến định

mức 50ml

- Tạo dung dịch đo:

 Hút 5ml (V) dung dịch số 1 (tùy theo định lượng photpho trong mẫu)

Trang 37

Ước tính giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn

Năng lượng của thức ăn hỗn hợp cho gà được ước tính theo Moir, Jule và

Connor, 1980 (dẫn theo Fisher, 1982)

ME (Kj/kgVCK) = 35,6×X1 + 21,2×X2 + 15,8×(X3 + X4) – 27,9×(X3/(X3 + X4)) –

2,13

Trong đó: X1,X2,X3,X4 lần lượt là số gam lipid thô, protein thô, xơ thô và

dẫn xuất không nitơ có trong 1kg thức ăn hỗn hợp

3.5.6 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu phân tích được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên

chương trình Excel

Trang 38

Phần IVKẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN YÊN THẾ

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Điều kiện địa lý

Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, nằm ở vùng trung du

và miền núi phía Bắc Trung tâm huyện cách thủ đô Hà Nội 75 km về hướng

Đông Bắc Yên Thế gồm 21 xã, thị trấn, có vị trí tiếp giáp với các địa phương

của tỉnh Bắc Giang và các tỉnh khác như sau:

- Phía Đông giáp huyện Lạng Giang - Bắc Giang

- Phía Tây giáp huyện Hợp Tiến, Võ Nhai, Phú Bình – Thái Nguyên

- Phía Nam giáp với huyện Tân Yên - Bắc Giang

- Phía Bắc giáp với huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn

Với vị trí địa lý như vậy, Yên Thế rất thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế

với các huyện khác trong và ngoài tỉnh Đặc biệt, trên địa bàn huyện có 3 Thị

trấn Cầu Gồ, Bố Hạ và thị trấn Nông Trường là ba trung tâm tập trung dân cư

đông đúc, tiềm năng phát triển to lớn chắc chắn sẽ thúc đẩy kinh tế toàn huyện

tiến bước vững chắc trong thời gian tới

Yên Thế là huyện thuộc vùng núi thấp, nhiều sông suối, độ chia cắt địa

hình đa dạng Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông nam Có thể phân chia

ra 3 dạng địa hình chính như sau:

+ Địa hình đồng bằng: Ven các sông suối và các dải ruộng nhỏ kẹp giữa

các dãy đồi Độ dốc bình quân 0-8o Toàn vùng có diện tích 12.686 ha (chiếm

Trang 39

42,02% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện) Trên địa hình này có khả năng

phát triển cây lương thực cây rau, màu

+ Địa hình đồi núi thấp: Phân bố rải rác ở các xã trong huyện, có độ chia

cắt trung bình, địa hình lượn sóng, độ dốc bình quân 8-15o Độ phì của đất trung

bình, chủ yếu là đất sét pha sỏi, độ che phủ rừng trung bình Loại địa hình này

có diện tích 8.255 ha (chiếm 27,42% tổng diện tích tự nhiên) Trên loại địa hình

này cho khả năng phát triển cây lâu năm (Vải thiều, Hồng…)

+ Địa hình vùng núi: Phân bố chủ yếu ở phía bắc của huyện, thường bị chia

cắt bởi độ dốc khá lớn, hướng dốc chính từ Bắc xuống Nam Độ cao trung bình

so với mặt nuớc biển từ 200- 300 m Dạng địa hình này có diện tích 9.200 ha

(chiến 30,56 % diện tích tự nhiên của toàn huyện) Vùng này đất đai có độ phì

khá, khả năng phát triển rừng còn rất lớn Điều kiện địa hình và đất đai thích

hợp với các loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp và chăn nuôi gia

súc

Đất đai huyện Yên Thế chủ yếu phát triển trên nền đất sa thạch hoặc sa

phiến thạch màu đỏ Đất chủ yếu có thành phần cơ giới nhẹ, mực nước ngầm

trong đất cao làm cho quá trình Ferarit phát triển mạnh

Hiện trạng sử dụng đất trên toàn huyện:

Toàn huyện có 30.141,31 ha trong đó các loại đất chủ yếu là:

- Đất sản xuất nông nghiệp là 9.057,83 ha chiếm 30,05% tổng DTTN

- Đất Lâm nghiệp là 14.599,16 ha chiếm 48,44% tổng DTTN

- Diện tích phi nông nghiệp có 5139,66 chiếm 17,05% DTTN

- Đất chưa sử dụng 1.103,54 ha

Trang 40

Bảng 4.1.1: Diện tích tự nhiên chia theo xã, thị trấn

Đơn vị Tổng số

Chia ra Đất nông nghiệp Đất phi nông

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 huyện Yên Thế)

4.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu

Nhiệt độ bình quân cả năm là 23,4oC Nhiệt độ trung bình cao nhất năm là

26,9oC, nhiệt độ trung bình thấp nhất năm là 20,5oC, Tháng có nhiệt độ cao nhất

là tháng 6, 7, 8; tháng có nhiệt độ thấp nhất là các tháng 12, 1, 2 (có khi xuống

tới 0 – 1oC) Tổng tích ôn trong năm đạt 8500-9000oC Bức xạ nhiệt trung bình,

có trung bình 1729,7 giờ nắng /năm

Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.518,4 mm thuộc vùng mưa trung bình

Ngày đăng: 18/12/2014, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Trà My, 2008, “Nỗi lo ở địa phương có đàn gà lớn nhất miền Bắc”, Báo nhân dân ngày 18/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi lo ở địa phương có đàn gà lớn nhất miền Bắc
6. Dương Thanh Liêm (2003), “Ảnh hưởng của thời gian và cách bảo quản đến chất lượng một số nguyên liệu thức ăn cơ bản của gia súc, gia cầm”, Tập san Thức ăn chăn nuôi, Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, Hà Nội tr.14- 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thời gian và cách bảoquản đến chất lượng một số nguyên liệu thức ăn cơ bản của gia súc, gia cầm
Tác giả: Dương Thanh Liêm
Năm: 2003
21. Dawson R.J (1991), “Global view of the mycotoxin problem”, Proceedings: Fungi and mycotoxins stored products, pp: 22 – 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global view of the mycotoxin problem
Tác giả: Dawson R.J
Năm: 1991
22. Edwards A (2002), “Ingredient quality and performance” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ingredient quality and performance
Tác giả: Edwards A
Năm: 2002
1. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn (1997), Dinh dưỡng và thức ăn gia súc, NXB Nông nghiệp Khác
2. Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, Hà nội Khác
3. Denixov N.I (1971), Sản xuất và sử dụng thức ăn hỗn hợp cho gia súc, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác
5. Vũ Duy Giảng (2001), Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc, NXB Nông nghiệp Khác
7. Phạm Thị Thu Hà (2011), Đánh giá tình hình sử dụng và chất lượng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩNông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
8. Lê Thanh Hà (2007), Đánh giá sử dụng thức ăn công nghiệp đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn thịt trong các hộ nông dân tại huyện Phú Xuyên – Hà Tây, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
9. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc, Dương Duy Đồng (2005), Thức ăn và dinh dưỡng động vật, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
10. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2003), Thức ăn và nuôi dưỡng lợn, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Khác
11. Tiêu chuẩn Việt Nam (2005), tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn chăn nuôi, Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Khác
14. Viện chăn nuôi quốc gia (1995), Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm Việt Nam, NXB Nông Nghiệp Khác
15. Lê Đức Ngoan, Nguyễn Thị Hoa Lý, Dư Thị Thanh Hằng (2004), Giáo trình thức ăn gia súc, Trường Đại học Nông Lâm Huế Khác
16. Nguyễn Thiện, Trần Đinh Miên, Võ Trọng Hốt (2005), Con lợn Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
17. Niên giám thống kê năm 2011, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.II. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI Khác
18. Pond, W.G., Church, D.C., Pond, K.R. (1995). Basic Animal Nutrition and Feeding. John Wiley & Sons. 4 th Edition Khác
19. Jones F.T. (1989), Feed quality control in poultry production, Korean J. Anim. Nutrition Feedstuffs 13 (1): 25 – 37 Khác
20. Jones F. T. (1995), Quality control feedstuff, July 19: 135 – 139 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4.1: Nhu cầu dinh dưỡng cho gà các loại (%) - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho gà các loại (%) (Trang 23)
Bảng 4.1.1: Diện tích tự nhiên chia theo xã, thị trấn - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.1.1 Diện tích tự nhiên chia theo xã, thị trấn (Trang 40)
Bảng 4.1.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Thế qua 3 năm (2009 – 2011) - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.1.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Thế qua 3 năm (2009 – 2011) (Trang 43)
Bảng 4.1.3: Tình hình phát triển kinh tế của huyện Yên Thế - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.1.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Yên Thế (Trang 45)
Hình 4.2.1: Kênh tiêu thụ sản phẩm gà thịt tại huyện Yên Thế - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Hình 4.2.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm gà thịt tại huyện Yên Thế (Trang 49)
Bảng 4.2.1: Số lượng gia cầm qua các năm - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.2.1 Số lượng gia cầm qua các năm (Trang 51)
Hình 4.2.2: Số lượng gia cầm qua các năm - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Hình 4.2.2 Số lượng gia cầm qua các năm (Trang 52)
Bảng 4.2.2: Số lượng gia cầm tháng 6 năm 2012 ( ĐVT: Con) - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.2.2 Số lượng gia cầm tháng 6 năm 2012 ( ĐVT: Con) (Trang 53)
Hình 4.2.3: Số lượng gà tháng 6 năm 2012 - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Hình 4.2.3 Số lượng gà tháng 6 năm 2012 (Trang 54)
Bảng 4.3.1: Thông tin chung về các hộ điều tra T - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.3.1 Thông tin chung về các hộ điều tra T (Trang 55)
Bảng 4.3.2: Trình độ học vấn, giới tính và nghề nghiệp của chủ hộ - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.3.2 Trình độ học vấn, giới tính và nghề nghiệp của chủ hộ (Trang 59)
Bảng 4.4.1: Sự đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp của các hộ chăn nuôi (% tốt) - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.4.1 Sự đánh giá chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp của các hộ chăn nuôi (% tốt) (Trang 62)
Bảng 4.4.2a: Chất lượng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.4.2a Chất lượng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn (Trang 63)
Bảng 4.4.2b: Chất lượng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi Yên Thế - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
Bảng 4.4.2b Chất lượng một số loại thức ăn công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi Yên Thế (Trang 64)
Câu 12: Hình thức chăn nuôi gà thịt của hộ: - bước đầu đánh giá tình hình sử dụng và một số chỉ tiêu chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp dùng trong chăn nuôi gà đồi ở huyện yên thế - tỉnh bắc giang
u 12: Hình thức chăn nuôi gà thịt của hộ: (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w