1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du - bắc ninh và biện pháp phòng trị

58 2,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 10,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản củađàn lợn nái là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỉ lệcao.. Với mục đích góp phần nâng cao năng suấ

Trang 1

Phần I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn công nghiệp đang ngày càngphát triển Trang trại được xây dựng ngày càng nhiều với quy mô chăn nuôilớn và được trang bị ngày càng hiện đại

Để chăn nuôi đàn lợn ngoại đạt hiệu quả cao bên cạnh các yếu tố vềthức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì một trong những yếu tố hết sứcquan trọng cần được đảm bảo là phải có đàn giống tốt Điều này phụ thuộc rấtlớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại

Tuy nhiên một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản củađàn lợn nái là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỉ lệcao Bệnh này không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sảncủa lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm tăng cao tỉ lệ mắcbệnh tiêu chảy ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ, do đó chất lượngcủa đàn giống bị ảnh hưởng

Những vấn đề nêu trên chỉ ra rằng việc nghiên cứu về bệnh viêm tửcung ở đàn lợn nái ngoại và tìm ra phương pháp phòng trị bệnh là một việc làcần thiết

Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn náingoại đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của

giống lợn nái ngoại chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bệnh viêm tử

cung trên đàn lợn nái ngoại tại Công ty TNHH Giống Lợn DABACO – Tân Chi – Tiên Du - Bắc ninh và biện pháp phòng trị”

Trang 2

1.2 Mục đích của đề tài

- Xác định được thực trạng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại

Công ty TNHH Giống Lợn DABACO – Tân Chi – Tiên Du - Bắc ninh

- Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợncon theo mẹ

- Đề xuất quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoạinuôi tại Công ty

Trang 3

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nghiên cứu về bệnh viêm tử cung trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Theo A.Vtrekaxova (1983) trong số các nguyên nhân dẫn tới ít sinh đẻ

vá vô sinh của lợn thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm từ 5-15%.A I.Sobko và N.I.GaDenKo (1987) cho rằng nguyên nhân của bệnh viêm tửcung là do tử cung bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là

do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kíchthích đẻ, chúng phá hủy hoặc là kết tủa chất nhày ở bộ phận sinh dục

Theo F.Madec và C.Neva (1995), hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéodài từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể giải thích nguyên nhânlàm giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản Tác giả cũng chobiết, khi tiến hành ngiên cứu trên đàn lợn nái ở xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp) năm

1991 thì phát hiện thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung Viêm tử cung thườngbắt đầu bằng sốt ở một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vào ngày hôm sau và bệnhthường kéo dài từ 48 đến 72 giờ

Thông tin tin từ website www.sciencedirect.com, công ty Bayer

nghiên cứu 828 lợn nái đẻ thuộc 4 nhóm: nhóm không được điều trị; nhóm 2được điều trị bằng 25g hỗn hợp Furazolidone và Sulphadimidine sodiumsulfattheo tỉ lệ phối hợp tương ứng là 1,25g :5g; nhóm 3 điều trị bằng Enrofloxacin(2,5mg/kg) và nhóm 4 điều trị bằng Enrofloxacin (5mg/kg) Kết quả cho thấyEnrofloxacin làm giảm tỷ lệ tử vong ở lợn con, giảm hiện tượng sốt và hiệntượng tăng pH sữa của lợn mẹ

Ở Cuba các bác sĩ thú y sử dụng dung dịch Lugol 5% điều trị đạt kếtquả cao và dung thuốc Neometrina đặt trong tử cung đạt kết quả điều trị cao

Trang 4

Theo Popkov (Liên xô) đã sử dụng phương pháp tiêm các kháng sinh sauvào mang treo tử cung của lợn nái vị viêm tử cung đạt kết quả điều trị cao:

Streptomycin 0,25g

Penicilline 500.000 UI

Dung dịch MgSO4 1% 40ml + VTMC

2.1.2 Tại Việt Nam

Nguyễn Văn Thanh (2002) tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái sau khi sinh là42,4% trong đó tỷ lệ bệnh trên đàn lợn thuần là 25,48%, trên nhóm lợn laichiếm 50,84% Viêm tử cung xảy ra cao nhất ở lứa 1 và 2 Tỉ lệ chậm độngdục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bịviêm tử cung có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi,lứa đẻ, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi… Nhưng sự hiện diện của

vi sinh vật được phát hiện trong hầu hết các trường hợp viêm tử cung Cácnguyên nhân gây bệnh khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạođiều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây ra các triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), tỷ lệ mắc viêm tử cung ở đàn náingoại hướng nạc đang được nuôi tại các địa phương vùng đồng bằng châu thổSông Hồng là tương đối cao (7,1%) và có sự khác nhau giữa các địa phương.Bệnh viêm tử cung thường tập trung ở những lợn nái mới đẻ lứa đầu và đã đẻnhiều lứa

The Trần Tiến Dũng (2004), bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỉ

lệ cao từ 30-50%, trong đó bệnh viêm tử cung chiếm tởi 80%, các bệnh đườngsinh dục khác chiếm 20% Tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái ngoại cũngcao, từ 1,82-23,33%

Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cungtương đối cao, tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa, khi thửnghiệm điều trị tác giả nhận thấy dùng PGF2α liều 25mg tiêm dưới da kết hợpvới dung dịch Lugol 0,1 % thụt rửa tử cung cho kết quả điều trị cao

Trang 5

2.1.3 Mối quan hệ giữa viêm tử cung và viêm vú và mất sữa

Theo Frank và Friton Gabriele (Boehringer Ingelheim GmbH, CHLBĐức), trong thời hạn sản xuất heo con, hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mấtsữa (MMA) và rối loạn vận động là những nguyên nhân gây ảnh hưởng lớnđến sức sản xuất của đàn lợn nái và sinh trưởng của lợn con MMA làm tăng

tỷ lệ tử vong của đàn lợn con từ 4-5%; kéo dài thời gian cai sữa trung bình,giảm tỷ lệ thụ thai của đàn nái

2.2 Cơ quan sinh sản và một số đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn cái

2.2.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài

* Âm môn (Vulva).

Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm ở dưới hậu môn Bên ngoài chứa 2

môi (labia vulva), bờ trên của 2 môi có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn

màu trắng và tuyến tiết mồ hôi

Trang 6

* Âm vật (clitoris).

Âm vật của con cái giống như dương vật của con đực thu nhỏ lại, bên

trong có thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm vật (praeputium

clitoridis), ở giữa âm vật xuống là chỗ tập trung của nhiều đầu mút thần kinh.

* Tiền đình (vestibulum vaginae sinusinogenitalis).

Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ bao gồm:

- Màng trinh: là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phíasau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lániêm mạc gấp lại thành một nếp

- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh

- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thểhổng ở bao dương vật của con đực

Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hang chéo, hướngquay về âm vật

2.2.2 Bộ phận sinh dục bên trong

* Âm đạo (vagina)

Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầusau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi làmàng trinh

Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồngthời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải cácchất dịch từ tử cung, gồm 3 lớp (1) lớp liên kết ở ngoài , (2) lớp cơ trơn có cơdọc bên ngoài, cơ vòng bên trong và (3) lớp niêm mạc âm đạo, trên bề mặt cónhiều thượng bì gấp nếp dọc Âm đạo là cơ quan giao cấu, nơi tinh dịch đượcphóng ra và đọng lại ở đó Âm đạo lợn dài 10 – 12cm

* Tử cung (uterus)

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang vàniệu đạo trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu Tử cungđược cố định trong xoang chậu do 4 yếu tố

Trang 7

- Sự bám của âm đạo vào cổ tử cung.

- Dây chằng của các nếp phúc mạc tạo thành

- Dây chằng tròn (Ligamentum teres uteria) là do một dây chằng nhỏ

từ sừng tử cung đến vùng bẹn, bên trong có nhiều mạch quản, cơtrơn

- Dây chằng rộng(Ligamentum latum) là do nếp phúc mạc trùm lên tử

cung ở mặt trên, mặt dưới và kéo dài tới 2 thành của chậu hông Dây chằngrộng ở giữa hai lá phúc mạc, nên rất quan trọng và có nhiều mạch quản, thầnkinh

Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm các phần:

- Hai sừng thông với ống dẫn trứng ở phía trước và than tử cung ở phíasau Sừng tử cung dài 50-100cm, hình ruột non,

- Thân tử cung dài 3-5cm

- Cổ tử cung: dài 10-18cm, có thành dầy, hình trụ, có các cột thịt xếptheo kiểu cài răng lược, thông với âm đạo

Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: Lớp tương mạc, lớp cơtrơn và lớp nội mạc

- Lớp tương mac: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung vànối tiếp vào các hệ thống các dây chằng

- Lớp cơ trơn: gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài.Giữa hai tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt lànhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọihướng làm thành mạng vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dầy và khoẻ nhấttrên cơ thể Do vậy, nó có đặc tính co thắt

- Lớp nội mạc tử cung: Là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi mộtlớp tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung.Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung, khi lông rung động thì gạtnhững chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung Trên niêm mạc có các nếp gấp

Trang 8

Lớp niêm mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian dichuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của estrogen, các tuyến tử cungphát triển từ lớp màng nhầy xâm nhập vào lớp dưới màng nhầy và cuộn lại.Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụngcủa progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạncủa chu kỳ lên giống.

* Ống dẫn trứng (oviductus)

Còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng Một đầu củaống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có hình loa kèn,trên loa kền hình thành một cái tán rộng và lô nhô không đều Đầu kia thôngvới mút sừng tử cung là một cái ống nhỏ ngoằn ngoèo Cấu tạo ống dẫn trứnggồm 3 lớp (1) ngoài cùng là lớp sợi liên kết, (2) lớp cơ trơn ở giữa và (3) lớpniêm mạc bên trong có các tế bào thượng bì tạo thành nhung mao Khi tế bàotrứng chín rơi vào loa kèn, nhờ nhung mao rung động và cơ trơn co bóp trứng

sẽ đi vè phía tử cung Đường kính ống dẫn trứng từ 0,2-0,4 mm, chia làm haiđoạn: đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng: phần đầu trên thông với xoangbụng ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu để hứng tếbào trứng, loa kèn phủ toàn bộ buồng trứng Loa kèn có nhiều tua, nhung maorung động để hứng tế bào trứng Quá trình thụ tinh thường xảy ra khi trứng vàtinh trùng gặp nhau ở đoạn 1/3 phía trên ống dẫn trứng Đoạn ống dẫn trứngphía sừng tử cung gắn với mút sừng tử cung Đoạn này phía ngoài là lớp liênkết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng Ở giữa là 2 lớp cơ, cơ vòngphía trong và cơ dọc phía ngoài Trong cùng là lớp niêm mạc được cấu tạobằng lớp tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết niêm dịch Phía trênlớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn luôn rung động để đẩy tế bào trứng hayhợp tử xuống tử cung làm tổ

Trang 9

* Buồng trứng (ovarium).

Gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng và nằm trong xoangchậu Buồng trứng bên ngoài là một lớp màng liên kết sợi chắc như màng baodịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy,hai miền đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra cho buồng trứng

một chất đệm (Stromaovaris) Ở miền tủy có nhiều mạch máu và tổ chức tươi

xốp cũng dày hơn Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trìnhtrứng chín và rụng trứng

Buồng trứng như một tuyến nội tiết của con cái, làm nhiệm vụ nuôidưỡng cho trứng chín và tiết ra những hoocmon sinh dục, tác động đến chứcnăng của tử cung và thay đổi tính biệt giữa con đực và con cái

Bên dưới lớp màng của buồng trứng là tế bào trứng nguyên thủy hay

còn gọi là tế bào trứng non (Follicunlin ovocyt primario) Khi noãn bao chín

thì các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tầng tế bào

có hình hạt(Stratum granulosum).

Lúc noãn bao đã thành thục thì màng bọc nang, màng bao liên kếtbuồng trứng tách ra, tế bào trứng được rời khỏi buồng trứng,cùng với dịchnang, tế bào hạt đi vào loa kèn Màng noãn bao rách xong liền lại ngay, các tếbào hạt trong xoang phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín

xoang noãng bao và trở thành thể vàng (Corpus luteum).

Thể vàng tồn tại phụ thuộc vào tế bào trứng được thụ tinh hay khôngđược thụ tinh Nếu tế bào trứng không được thụ tinh thì thể vàng tồn tạikhông lâu, rồi tiêu tan mất Còn trứng đã được thụ tinh thì thể vàng tồn tại tớikhi sinh đẻ.Trong suốt thời gian có thai thể vàng tiết ra hooocmonProgesteron

Buồng trứng của lợn hình chùm dâu, có màu hồng vân, vị trí nằm ở 2bên hốc bụng Noãn bao thành thục có kích thước 0,8-1,2cm

Trang 10

2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêngđặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó đựoc duy trìqua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc ngoài ra,còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ngoại cảnh điều kiện nuôi dưõng,chăm sóc, sử dụng… Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người

ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:

2.2.1 Sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạsinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như:Buồng trứng, tử cung, âm đạo… Đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầuphản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục

Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt

và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưõng

+ Giống

Theo Phạm Hữu Dân và cộng sự (1985) , tuổi thành thục về tính củalợn nái ngoại và lợn nái lai cũng muộn hơn lợn nái nội thuần chủng (Ỉ, Móngcái, mường khương…) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào 4– 5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi) Lợn ngoại là 6 – 8 tháng tuổi, lợn lai F1(ngoại x nội) thường động lần đầu ở 6 tháng tuổi

+ Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý

Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợnnái Cùng một giống nhưng nếu đựơc nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, giasúc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngựơc lại

+ Điều kiện ngoại cảnh

Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc.Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục vềtính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới

Trang 11

Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cáihậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của nhữngcon cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng TheoPaul(1996), nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày, với thời gian15-20 phút thì 83% lợn cái( ngoài 90 kg) động dục lúc 165 ngày tuổi.

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dàihơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường traođổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổiđộng dục lần đầu sớm hơn

2.1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp

* Chu kỳ tính

Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn

ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớndần, chin và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nangGraaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái cónhững biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳnên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005)

Chu kỳ tính ở các loài khác nhau là khác nhau ở giai đoạn đầu mớithành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2-3 chu kỳ tiếp theo mới

ổn định Một chu kỳ tính của lợn nái dao động trong khoảng 18-22 ngày,trung bình la 21 ngày và đựơc chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước độngdục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi

* Giai đoạn trước động dục

Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1-2 ngày, là thời gianchuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cái đón nhận tinh trùng, cũngnhư đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai

Trong giai đoạn này, có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng nhưtrạng thái thần kinh: ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục

Trang 12

và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh,đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao

có đường kính 10-12mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinhtrưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh,

hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm

cổ tử cung hé mở Các noãn bao chin, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tửcung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy ra Con vật bắt đầu xuấthiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở có màu hồng tươi, cuối giai đoạn códịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên convật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không chocon khác nhảy lên lưng mình

* Giai đoạn động dục

Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2-3 ngày, tính từ khi tếbào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinhdục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sangmàu mận chin, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âmđạo tăng từ 0.3- 0.7 oC, pH hạ xuống trước Con vật biểu thị tính hưng phấncao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hoặc bỏ ăn, kêu rốngtrong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khácnhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này lợn thích gần đực, khi gần đực thì luônđứng ở tư thế sẵn sang chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chânsau dạng ra và hơi khuỵ xuống sẵn sàng chịu đực

Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụtinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở giai đoạn cóthai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu kỳ sinhdục mới bắt đầu lại Nếu không xảy ra quá trình trên thị lợn cái sẽ chuyểnsang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính

Trang 13

* Giai đoạn sau động dục

Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơquan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồngtrứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7-8 mm và bắt đầutiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điềuhoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh,con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạctoàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiếtdịch, cổ tử cung đóng lại

* Giai đoạn nghỉ ngơi

Giai đoạn này kéo dài từ 10-12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khirụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây làgiai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạngthái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắtđầu phát dục, nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinhdục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo

2.1.2.3 Sinh lý đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), gia súc cái mang thai trongmột thời gian nhất định tuỳ từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ,duới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện nhữngcơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quátrình này gọi là quá trình đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có nhừng triệu chứng biểu hiện: truớc khi đẻ 1 -2tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy rangoài Trước khi đẻ từ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có nhữngthay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm to, bầu vú căng

to, sữa bắt đầu tiết

Trang 14

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định giasúc đẻ:

+Trước khi đẻ 3 ngày, hang vú giữa vắt ra sữa trong

+Trước khi đẻ 1 ngày hang vú giữa vắt được sữa đầu

+Trước khi đẻ ½ ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu

+Trước khi để 2-3 h, hàng vú sau vắt được sữa đầu

* Cơ chế đẻ: Đẻ là một quá trính sinh lý phức tạp chịu sự điều hoà của cơ chế

thần kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục:

- Về mặt cơ giới: thai sinh trưởng và phát triển một cách tối đa trong

tử cung mẹ Ở thời kỳ cuối, thai tăng kích thước, chèn ép các cơ quan trongxoang bụng và các cơ quan trong hệ tiết niệu - sinh dục, ép các mạch máuvùng chậu hông và chèn lên đám rối thần kinh hông – khum Các tác độngcủa thai tạo kích thich truyền về thần kinh trung ương, tác động đến quá trìnhsản sinh các hóc-môn gây đẻ Mặt khác tác động cơ giới của thai làm tăng tần

số và cường độ co bóp cơ trơn tử cung dẫn đến mở cổ tử cung và tạo điềukiện để thai ra ngoài

- Nội tiết: trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra

Progesterone Hàm lượng cao của progesterone trong máu tạo nên trạng thái anthai Đến cuối thai kỳ, thể vàng teo dần và mất hẳn nên hàm lượng Progesteronegiảm (chỉ còn 0,22%) Tuyến yên tiết oxytocin, nhau thai tăng tiết Relaxin làmgiãn khớp bán động hang và bán động ngồi và mở cổ tử cung; tăng tiêtOestrongen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi để

- Biến đổi trong mối quan hệ giữa cơ thể mẹ và thai: khi thai đã

thành thục thì sự phụ thuộc về dinh dưỡng với cơ thể mẹ không còn cần thiết,lúc này thai đã trở thành một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoàibằng động tác đẻ

Thời gian đẻ dài hay ngắn tuỳ từng loại gia súc, ở lợn thường từ 2-6 giờ,được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

Trang 15

Sơ đồ cơ chế điều khiển quá trình đẻ

Ngoại cảnh kích

thích

Ngoại cảnh ức chế

Trang 16

2.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái (Metritis)

2.3.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), viêm tử cung là một quá trìnhvật lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các

tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súccái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo các tác giả Đào Trọng Đạt và cộng sư (2000), bệnh viêm tử cung

ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thu tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tửcung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc

tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn tới viêm tửcung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm,phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiệnxâm nhập và gây viêm

Ngoài các nguyên nhân trên viêm tử cung còn có thể là biến chứngnhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian độngđực ( vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường

Trang 17

máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Theo

Lê Văn Năm và cộng sự,1997)

Theo F.Madec và C.Neva (1995), bệnh viêm tử cung và các bệnh ởđường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng pháttriển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra

2.3.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung.

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quansinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình vật lý nào thì đềuảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, pháttriển của lợn con

Đánh giá được hậu quả của viêm tử cung nên đã có rất nhiều nhà khoahọc nghiên cứu về bệnh và đưa ra những nhân xét có ý nghĩa rất lớn cho quátrình chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), Trần Thị Dân (2004) khi lợnnái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau

- Khi lợn vị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự cothắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi cóthể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tửcung tiết nhiều Prostaglandin, PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứngbằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạchhoặc thoái hoá các mao quản ở tế bào nên giảm lưu lượng máu đi đến thểvàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượngProgesterone sẽ giảm làm cho tính trường lực co của cơ tử cung tăng nên giasúc cái có chửa dễ bị sảy thai

Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển, khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượngProgesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung

Trang 18

giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ

mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiểm trùng tử cung,trong đường sinh dục thường có mặtcủa vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra độc tố làm ức chế sự phân tiết kíchthích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa.Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêuchảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trởlại

Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thểvàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thuỳtrước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trongbuồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứngđược

Theo F.Madec và C.Neva (1995), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng màngười chăn nuôi và bác sỹ thú y nhân thấy ở lợn viêm tử cung lúc đẻ là: chảy

mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra trong khi đẻảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giốngkhông đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi đẻ Hiện tượng viêm tửcung kéo dài tử lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn

đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhan đẫn đến hội chứngMMA, từ đó làm giảm tỷ lệ nuuoi sống Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theoviêm bàng quang sẽ ảnh hưởng đến chức năng của buồng trứng

Tóm lại, viêm tử cung có ảnh hưởng rất lớn Để hạn chế bệnh, ngườichăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp đểphòng và điều trị hiệu quả

Trang 19

2.3.3 Các thể viêm tử cung

Theo Đặng Đình Tín (1985), bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể:viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

2.3.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)

Theo NguyễnVăn Thanh (1999), viêm nội mạc tử cung là viêm lớpniêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năngsinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trongcác bệnh của viêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi giasúc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tửcung bị tổn thương, tiếp đó là các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus,E.Coli, Salmonella, C.Pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus….Xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), bệnh viêm nội mạc

tử cung có thể chia 2 loại…

- Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ởniêm mạc tử cung

- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổnthương lan sâu xuống duới tầng cở của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử

*Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ(Endomestritis Puerperalis)

Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm Con vật

có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh

Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn nhữngmảnh tổ chức chết,… khi con vật nằm xuống dịch viêm thải ra ngày càngnhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịchviêm, có khi nó khô lại thành từng đám vẩy màu trắng xám Kiểm tra qua âmđạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủchảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

Trang 20

*Viêm nội mạc tử cung thể màng giả

Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vếtthương đã ăn sâu và tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn náimắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rỡ: thân nhiệt tăng cao,lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảmxuống Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dụcluôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chứchoại tử, niêm dịch……

2.2.3.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis)

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), Viêm cơ tử cungthường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bịthấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làmniêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm baquản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếubệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễmtrùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung

bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ : thânnhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn.Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súcbiểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải rangoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên

có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mac

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lầnsau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

2.2.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali)

Theo Đặng Đình Tín (1985), viêm tương mạc tử cung thường kế phát

từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện

Trang 21

những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màuhồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bong Sau đó các tế bào

bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm

có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tìnhtrạng viêm mô tử cung (thể Perimetritis), thành tử cung dầy lên, có thể kếphát viêm phúc mạc

Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: Nhiệt độ tăng cao, mạchnhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ

ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểuhiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộthải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mầu nâu và mùithối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn,rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng củatương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện đượctrạng thái thay đổi vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy mộthoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêmmãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụtinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thểviêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.2.4 Chuẩn đoán viêm tử cung

Theo F.Madec và C.Neva (1995), xuất phát từ quan điểm lâm sàng thìbệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vìđây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng

mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũngkhác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng,đen nhu kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kỳ sau sinh đẻ hayxuất hiện viêm tử cung cấp tính, viên tử cung mạn tính thường gặp trong thời

kỳ cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc

tử cung

Trang 22

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kếttinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra.

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủchảy ra thì có thể là do viêm bang quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vây, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậuquả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đóđưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gianđiều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân, có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảngsau:

Bảng 2.1 Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung

STT Các chỉ tiêu để phân biệt Viêm nội mạc Viêm cơ tương mạc Viêm

Trắng xám, trắng sữa

Hồng, nâu

đỏ Nâu rỉ sắt

4 Phản ứng co của cơ tử cung Phản ứng co

Trang 23

 Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:

+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ năm sau khi sinh, 1 ngày

+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: Lợn không bị viêm tử cung

+ Tổng số điểm từ 2 – 5 điểm: lợn bị viêm tử cung ở thể viêm nội mạc+ Tổng số điểm trên 6 điểm: Lợn bị viêm tử cung ở thể viêm cơ vàviêm tương mạc

Tóm lại: Chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận phải theo dõi thườngxuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi bị viêm

tử cung nhưng không sinh mủ và có thể nhầm với bệnh viêm đường tiết liệu

Trang 24

Phần III NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát tình hình dịch bệnh tại Công ty giống lợn DABACO – TânChi - Tiên Du - Bắc Ninh

- Một số bệnh sinh sản thường gặp ở đàn lợn nái

- Điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôitại Công ty

+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái qua các năm

+ Ảnh hưởng của mùa vụ đến bệnh viêm tử cung

+ Ảnh hưởng của lứa đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung

- Xác định ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ đến bệnh tiêuchảy ở lợn con

- Theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn mắc bệnh viêm tử cung

- Thử nghiệm quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái,điều trị phối hợp bệnh tiêu chảy ở đàn lợn con đang trong thời kỳ theo mẹ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Đàn lợn nái ngoại đang trong giai đoạn sinh sản nuôi tại Công ty

- Đàn lợn con đang trong giai đoạn theo mẹ

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp xác định các đại lượng

- Thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: tổng hợp từ sổ theo dõi của công ty

Số liệu sơ cấp: theo dõi trực tiếp trong thời gian tiến hành đề tài

- Các chỉ tiêu đánh giá

Trang 25

3.3.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng

Để theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng chính như: thân nhiệt, màu sắcdịch viêm, mức độ thu nhận thức ăn chúng tôi đã sử dụng những phươngpháp thường quy:

+Thân nhiệt: Dùng nhiệt kế thuỷ ngân để đo thân nhiệt, một ngàyđêm đo 2 lần: Sáng: 7 – 9h; Chiều: 16 -18h

+Màu sắc dịch viêm: Theo dõi, quan sát bằng mắt thường và ghichép

+Bỏ ăn: Kiểm tra lượng thu nhận thức ăn và ghi chép

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý bằng phần mềm excel; sai khác có ý nghĩa đượckiểm định bằng phép thử Khi bình phương (χ2 – test)

Trang 26

Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1.TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TẠI CÔNG TY GIỐNG LỢN DABACO

4.1.1 Giới thiệu chung về trại chăn nuôi

Công ty TNHH Giống lợn DABACO trực thuộc tập đoàn DABACOViệt Nam có tổng diện tích là 5,94 ha nằm ở xã Tân chi - Tiên Du - Bắc Ninh,đươc xây dựng năm 2009, gần đường giao thông, cách xa khu dân cư nên rấtthuận tiện cho việc sản xuất

Công ty nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chấtnhiệt đới gió mùa, mùa hè thường nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông lạnh vàkhô hanh Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa lên tới 150C Về xây dựng,công ty gồm 2 khu hành chính và sản xuất Khu hành chính gồm các phònggiám đốc, phó giám đốc, phòng hành chính, phòng kế toán, nhà ăn và khu nhà

ở cho công nhân

Hệ thống phòng sát trùng tự động trước khi vào khu vực sản xuất, cóphòng thay quần áo của công nhân và khu sản xuất gồm 2 dãy nhà gồm có 10chuồng với mỗi chuồng đều có diện tích là 1800 m2, riêng chuồng lợn đực có240m2 Trong đó chuồng được phân thành: chuồng đẻ (các chuồng 1,2,9),chuồng chờ phối (4), chuồng hậu bị (6,7), chuồng cai sữa, chuồng chửa(3,10), chuồng đực (6) và phần còn lại của Công ty là hệ thống chăn nuôi thuỷsản

Tất cả các chuồng đều là hệ thống chuồng kín với mái tôn, cửa kính,

có hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và quạt thông gió ở cuối chuồng Các ôchuồng được lắp bằng khung sắt, sàn được lát bằng nhựa và tấm xi măng, có

hệ thống xilô xả cám tự động vào các máng ăn

Trang 27

Quy mô trang trại

Xi lô cám

Trang 28

Hệ thống quạt hút gió

Dàn làm mát

Trang 29

4.1.2 Tình hình chăn nuôi ở Công ty

Quy mô đàn của Công ty tăng từ năm 2009, cuối năm Công ty có 2419con trong đó có 2000 nái sinh sản, 395 lợn nái hậu bị, 24 lợn đực nhưng chỉxuất được 32311 con lợn giống thưong phẩm thịt Đến năm 2010, số lượnglợn của xí nghiệp được tăng lên 2927 con trong đó có 2400 lợn nái sinh sản,

500 lợn nái hậu bị, 27 lợn đực và đã xuất được 42000 lợn giống thương phẩmthịt Trong 5 tháng đầu năm 2011, Công ty đã có 3049 con trong đó có 2500lợn nái sinh sản, 520 lợn nái hậu bị, 29 lợn đực và đã xuất được 18500 lợngiống thương phẩm thịt

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của Công ty qua các năm

Ngày đăng: 18/12/2014, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
2. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
3. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), Bệnh sinh sản gia súc, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
4. Nguyễn Xuân Bình. Phòng, trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt. NXB Nông nghiệp-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp-2005
16. Trang we http://www.pigpalssanctuary.com27. trang web http://www.thepigsite.com Link
5. PGS.TS. Võ Trọng Hốt, GS. Trần Đình Miên, TS. Võ Văn Sự, MSC Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 2.1. Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung (Trang 22)
Bảng 4.1  Cơ cấu đàn lợn của Công ty qua các năm - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của Công ty qua các năm (Trang 29)
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung sau đẻ trong năm 2010 (n =120) - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung sau đẻ trong năm 2010 (n =120) (Trang 40)
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các lứa đẻ (n = 75) - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các lứa đẻ (n = 75) (Trang 41)
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy giữa lợn con của nái bình thường và - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy giữa lợn con của nái bình thường và (Trang 43)
Bảng 4.8 Kết quả thử nghiệm phòng bệnh viêm tử cung - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.8 Kết quả thử nghiệm phòng bệnh viêm tử cung (Trang 48)
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của (Trang 49)
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh tiêu chảy lợn con - bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại công ty tnhh giống lợn dabaco – tân chi – tiên du -  bắc ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh tiêu chảy lợn con (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w