Trong nuôi cá rô phi sử dụng thức ăn công nghiệp, tùy từng giai đoạn phát triển của cá mà cho ăn các loại cám có hàm lượng protein khác nhau.. Sinh trưởng Tốc độ tăng trưởng của cá rô p
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta phát triển rất nhanh và đã mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2000 là 641900 ha, đến năm 2005 đã tăng lên đạt 952600 ha, cho đến năm 2008 diện tích này đã tăng lên 1052600 ha Trong đó diện tích dành cho nuôi nước ngọt là 338800 ha chiếm 32.2% (Tổng cục thống kê, 2010), bên cạnh mở rộng về diện tích thì các đối tượng nuôi cũng ngày càng phong phú Với nhu cầu xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày một đông nhu cầu về thực phẩm ngày một nhiều, trong khi đó đất nông nghiệp ngày một thu hẹp và bệnh của gia súc, gia cầm diễn ra ngày một nhiều và phức tạp Chính vì vậy sản phẩm thuỷ sản chiếm một phần không nhỏ trên thị trường Để đáp ứng một phần cho thị trường thì loài cá rô phi được nuôi rộng rãi tại nước ta, để tăng năng xuất cho người nuôi, người ta đã thành công trong việc chuyển đổi giới tính cá rô phi
Cá rô phi có chất lượng thịt thơm ngon, giá trành phù hợp với người dân, có tốc
độ sinh trưởng nhanh, được thị trường ưa chuộng Nước ta có nhiều loài rô phi
được nuôi song loài rô phi vằn (Oreochromis niloticus) là đối tượng nuôi rất phổ
biến Hiện nay cá rô phi nuôi công nghiệp được nuôi rất rộng rãi Tuy nhiên, giá các loại cám công nghiệp ngày càng cao Sự chênh lệch giá các loại cám có cùng một hàm lượng protein của một số công ty khác nhau là chênh lệch khá nhiều Giá cá thương phẩm bán ra thị trường lại rẻ, khiến người nuôi không có lãi Bên cạnh đó các công ty cám cạnh tranh bằng phương thức tiếp thị nhiều, khiến người nuôi dao động trong việc lựa chọn loại cám nào để đem lại hiệu quả kinh
tế cao Nhằm tìm ra loại cám thích hợp cho nuôi cá rô phi cần thiết thực hiện đề
tài: “Ảnh hưởng của một số loại thức ăn công nghiệp tới sinh trưởng cá rô
phi vằn (Oreochromis niloticus) nuôi thương phẩm.”
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Chọn ra được hàm lượng protein thích hợp cho nuôi thương phẩm cá rô phi
- Tìm ra loại thức ăn công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế tốt nhất cho người nuôi
Trang 3PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân loại cá Rô phi đơn tính dòng GIFT
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi thuộc họ Cichlidae, bộ cá vược Perciformes, lá loài cá ưa nhiệt có nguồn gốc Châu Phi Dựa vào những đặc
điểm hình thái và tập tính sinh sản của chúng mà Trewavas (1983) đã chia các
loại cá rô phi có giá trị kinh tế hiện nay là 3 giống chính là Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis Trong giống Oreochromis, loài O.niloticus được
nuôi phổ biến nhất trong nuôi trồng thủy sản và phân bố rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Cá rô phi O.niloticus có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện môi trường, dễ sinh sản, tốc đọ sinh trưởng nhanh (Guerrero,1982; Balarin, 1982;
Pulin và Mc-Connel,1982)
Cá rô phi được nuôi ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Trong vài chục năm trở lại đây, chúng mới thực sự là loài nuôi công nghiệp với sản lượng lớn và giá trị kinh tế cao
Cá rô phi vằn có tên khoa học là Oreochromis niloticus, là loài cá có thịt
ngon, giá trị thương phẩm cao, nhanh lớn và dễ nuôi ở các mô hình nuôi khác nhau Kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy nuôi đơn cá rô phi hay nuôi ghép với các loài cá khác, cá sinh trưởng nhanh Cá rô phi có thể chống chịu tốt với các môi trường sống khác nhau và cho hiệu quả kinh tế cao
2.1.2 Phân loại
- Dựa vào đặc điểm sinh sản người ta chia cá rô phi làm 3 giống
+ Tilapia (cá đẻ cần giá thể).
+ Sarotherodon (cá bố ấp trứng trong miệng).
+ Oreochromis (cá mẹ ấp trứng trong miệng).
Trang 4- Hiện nay có 3 loài chính phổ biến tại Việt Nam là:
+ Cá rô phi đen Oreochromis mossambicus, được nhập vào Việt Nam
năm 1953 qua người Thái Lan
+ Cá rô phi vằn (Rô phi Đài Loan O.niloticus) được nhập vào Việt Nam
năm1974 từ Đài Loan
+ Cá rô phi đỏ (Ped Tilapia) có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm
1985 từ Malaiyia
Dòng GIFT là cá rô phi O.niloticus chọn giống của dự án “Nâng
cao chất lượng di truyền cá rô phi nuôi” gọi tắt là GIFT thuộc trung tâm Quốc tế nguồn lợi thuỷ sản (ICCLARM), Philippin
Theo Smith (1949), cá rô phi dòng GIFT thuộc:
Bộ cá vược: Perciformes
Bộ phụ: Percoidae
Họ: Cichlidae
Họ phụ: Tilapia
Loài: Oreochromis niloticus
Hình 1: Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus
Trang 52.1.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo
Loài cá rô phi vằn: Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên Đầu ngắn, miệng
rộng hướng ngang, rạch kéo dài đến đường thẳng đứng sau lỗ mũi một ít Hai hàm dài bằng nhau, môi trên dầy Lỗ mũi gần mắt hơn mõm Mắt tròn ở nửa trước và phía trên của đầu Khoảng cách hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi Khởi điểm vây lưng ngang với khởi điểm vây ngực, trước khởi điểm vây bụng Vây ngực nhọn, dài, mềm Vây bụng to cứng, chưa tới lỗ hậu môn
Toàn thân phủ vảy, ở phần lưng có màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc xanh nhạt Trên thân có từ 7-9 vạch chạy từ phía lưng xuống bụng Các vạch đậm dọc theo vây đuôi ở từ phía lưng xuống bụng rất rõ Cá rô phi vằn là loài có kích cỡ thương phẩm lớn, cá lớn nhanh và đẻ thưa hơn cá rô phi đen Ðây là loài được nuôi phổ biến nhất trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay
2.1.4 Đặc điểm về dinh dưỡng
Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, sinh sản và các chức năng sinh lý của cá thì cần đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng như protein, lipit, năng lượng, vitamin và khoáng Nhu cầu này thay đổi tùy từng loài cá và các giai đoạn phát triển của nó
Các loài cá rô phi khác nhau có nhu cầu protein khác nhau, biến động từ 23-55% và ngay trong cùng một loài nhu cầu đó cũng khác nhau tùy theo từng giai đoạn và các điều kiện môi trường khác nhau (Bảng 1)
Theo Jauncey và Ross (1982), khẩu phần tối ưu cho cá rô phi bột là 50% protein, cỡ cá 0,5-10g là 40% protein, cỡ 10-30g là 30-35% protein còn với cá
>35g khẩu phần tối ưu khoảng 25% protein như vậy cá có kích thước nhỏ có nhu cầu protein cao hơn cá lớn De Silva (1988) nhu cầu protein thô cho sự sinh
Trang 6trưởng tối ưu của cá rô phi là 28-30% và có thể giảm xuống còn 20-25% trong
ao giàu thức ăn tự nhiên Nhưng theo Wee và Tuan (1988), Luquet (1991) mức tối ưu cho sinh trưởng của cá hương và cá giống khoảng 27-35% và 35% protein thô đồng thời mức này cũng tối ưu cho đẻ trứng của cá rô phi bố mẹ trong các
bể thí nghiệm Theo Uchida và King (1962) chế độ ăn 35-40% protein là tối ưu
cho cá hương O.mossambicus Viola và Zohar (1984) cho rằng ở điều kiện ao nuôi, cá rô phi lai giữa O.niloticus và O.aureus ăn khẩu phần 30% protein phát
triển tốt còn nuôi ở trong lồng mùa hè là 25% protein Những nghiên cứu của
Macintosh (1985) cho thấy cá rô phi O.niloticus sinh snr tốt khi cho ăn thức ăn
viên của cá hồi có hàm lượng protein là 43-46% Có thể thấy được nhu cầu dinh dưỡng của một số loài cá rô phi ở Bảng 1
Trang 7Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của một số loài cá rô phi
Loài cá Cỡ cá (g)
Nhu cầu protein (%)
2,9-8,4 24 Shiau and Huang (1989)
O.aureus 0,3-0,50,4-9,7 3636 Davis, Stickney (1978)Davis, Stickney (1978)
2,5-7,5 34 Winfree, Stickney (1981)
(nguồn: Luquet, 1991; Li và ctv, 2000)
Rất khó xác định những vitamin và khoáng chất thích hợp trong chế độ dinh dưỡng của cá rô phi Do cá rô phi có thói quen ăn đa dạng nên yêu cầu về chế độ ăn của chúng cũng rất linh hoạt
Bột cá vẫn là nguồn protein động vật chủ yếu trong thức ăn của cá rô phi, ngoài ra có thể lựa chọn các loại khác như thịt gia cầm, bột tôm, nhuyễn thể Những protein thực vật được sử dụng nhiều nhất trong thức ăn cho cá rô phi là
đỗ tương, lạc, hạt bông, hạt hướng dương, hạt cải dầu
Trang 8Tuy nhiên, những protein động vật và thực vật trên chỉ có thể thay thế một phần bột cá trong thức ăn của cá rô phi Ðiều này có thể do sự thiếu cân bằng của các chất dinh dưỡng thiết yếu như các axit amin và các khoáng chất, do sự hiện diện của các nhân tố phi dinh dưỡng làm giảm tính hấp dẫn của thức ăn, giảm tính ổn định của thức ăn trong nước và độ tiêu hoá thức ăn kém Ðối với chế độ ăn không có bột cá, để đạt được mức tăng trưởng so với chế độ ăn tiêu chuẩn, phải bổ sung thêm 3% dicanxi phosphat và 2% lipit.
Để cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cá rô phi phát triển thì cần cung cấp một hàm lượng các chất và chế độ ăn như bảng 2
Bảng 2: Một số yêu cầu dinh dưỡng của cá rô phi
Protein % của chế độ ăn
(Tạp chí thủy sản Đông Nam Á 1,2/2003)
TTKHCN TS - 8/2003
Dinh dưỡng cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và môi trường nuôi Cá rô phi là loài cá ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn chủ yếu là tảo, một phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ Ở giai đoạn cá con từ cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu là động vật phù du (ÐVPD) và một ít thực vật phù du (TVPD) Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và TVPD Cá rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo lam, tảo lục mà một số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá Ngoài ra cá rô phi còn ăn được thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm nông nghiệp khác
Trang 9Ðặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như: cám gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá và các phụ phẩm nông nghiệp khác Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao (25-35% Protein)
Cá rô phi có nhu cầu dinh dưỡng gần giống với cá chép về thành phần tinh bột (dưới 40%), canxi (1,5- 2%), P (1- 1,5%), K, Na chỉ có một điều khác là thức ăn của cá rô phi yêu cầu về hàm lượng đạm thấp hơn Ðiều này rất có ý nghĩa khi chế biến thức ăn công nghiệp cho cá rô phi
Cá rô phi là loài dễ tính trong chọn lựa thức ăn nên ta có thể nuôi cá rô phi tương đối dễ Việc chế biến thức ăn cho cá cũng thuận lợi vì nguồn nguyên liệu rất sẵn có và cá có thể ăn ngay thức ăn tự chế
Trong nuôi cá rô phi sử dụng thức ăn công nghiệp, tùy từng giai đoạn phát triển của cá mà cho ăn các loại cám có hàm lượng protein khác nhau Giai đoạn nhỏ cá ăn thực vật phù du và động vật phù du Giai đoạn từ cá hương lên cá giống có thể cho cá ăn thức ăn công nghiệp với hàm lượng protein là 35%, khẩu phần ăn với 10% trọng lượng cá/ngày Hàm lượng protein giảm dần khi cá càng lớn và khẩu phần ăn cũng giảm theo tháng nuôi còn 7%, 5%,3% Không nên cho
cá ăn thức ăn có hàm lượng protein dưới 25% làm cá thiếu chất, cá bị gầy và dễ mắc bệnh
Tuy nhiên, số lần cho ăn và môi trường cũng ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của cá rô phi Ðể đảm bảo đủ lượng thức ăn, có thể cho cá rô phi chưa trưởng thành (vài tuần tuổi) ăn với tỷ lệ cao bằng 3 - 4% trọng lượng cơ thể trong một ngày Cá có trọng lượng 250-400g thì lượng thức ăn hàng ngày tốt nhất là bằng 1,5% trọng lượng cơ thể Ðối với những loài nuôi trong nước biển thì hằng ngày nên cho ăn lượng thức ăn ít hơn 2% trọng lượng cơ thể (Nguyễn thị Diệu Phương, 2001)
Trang 10Số liệu thu được từ những cuộc thử nghiệm về tần suất cho cá rô phi ăn vẫn còn khá mơ hồ Tung Shiau (1991) chỉ ra rằng cho cá rô phi lai ăn 6 lần/ngày thì cân nặng của chúng tăng nhanh hơn so với cho ăn 2 lần/ngày
Dưới đây là bảng về thành phần các chất cần thiết trong thức ăn của cá rô phi
Bảng 3: Giới hạn các thành phần trong thức ăn có giá thành ít nhất cho cá
rô phi ở các giai đoạn
Thành phần % giới hạn Khởi
điểm
Bắt đầu
Tăng trưởng
Kết thúc Protein thô Tối thiểu (Min) 40 30 25 20 Chất béo thô Tối thiểu 4 4 4 4
Sơ thô Tối đa (Max) 4 4 4 8
Canxi Tối đa 2,5 2,5 2,5 2,5 Tinh bột Tối thiểu 25 25 25 25 Năng lượng tiêu hoá
(Kcal/kg) Tối thiểu 2800 2800 2800 2800Vitamin và khoáng
(Tạp chí thủy sản Đông Nam Á 1,2/2003)
TTKHCN TS - 8/2003
2.1.5 Sinh trưởng
Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi mang đặc thù riêng đối với loài, các loài
cá khác nhau thì sự sinh trưởng và phát triển là khác nhau Loài Oreochromis
Trang 11niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, sau đó đến O.galilacus và O.aureus
(lowe, 1988)
Ngay trong cùng một loài cá, các dòng khác nhau cũng có sự khác nhau
về tốc độ tăng trưởng Nguyễn Công Dân và ctv (1996) đã tiến hành nuôi và so
sánh tốc độ tăng trưởng của 3 dòng cá rô phi O.niloticus, theo đó thì tốc độ tăng trưởng của cá O.niloticus dòng GIET chậm hơn so với dòng Việt nhưng lại
nhanh hơn so với dòng Thái Bên cạnh ảnh hưởng của yếu tố di truyền, giới tính (cá dực có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cá cái, dặc biệt trong thời kì sinh sản) tốc độ tăng trưởng của cá còn chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố như : chất lượng thức ăn, chế độ chăm sóc, mật độ nuôi,…và các yếu tố môi trường như hàm lượng ôxy, nhiệt độ, độ sâu của ao nuôi (Behrend, 1990)
2.1.6 Đặc điểm về sinh sản
2.1.6.1 Thành thục sinh dục
Tùy thuộc vào tuổi, kích cỡ cá và điều kiện môi trường sống mà
cá rô phi thành thục sớm hay muộn Các loài rô phi khác nhau thi
tuổi thành thục là khác nhau: cá rophi O Mossambicus thường thành thục ở kích cỡ nhỏ hơn so với loài O.niloticus Trong điều
kiên ao nghèo dinh dưỡng cá thành thục ở kích cỡ nhỏ hơn so với
ao giàu dinh dưỡng (Low-McConell, 1982)
2.1.6.2 Chu kỳ sinh sản của cá rô phi
Trung bình một cá rô phi cái có thể đẻ 6 đợt mỗi năm, mỗi đợt từ
vài trăm tới vài nghìn trứng (Macintosh and Little, 1995) Nếu trong điều kiện đủ dinh dưỡng, nhịp độ sinh sản của
O.mossambicus có thể là 30-60 ngày/lần Trong giai đoạn sinh sản
cá tiêu tốn nhiều năng lượng cho sự phát triển sinh dục và đặc biệt trong suốt thời gian ấp trứng, cá cái không ăn (Macintosh and
Trang 12Little, 1995) điều này làm tốc độ tăng trưởng của chúng giảm nhiều hoặc ngừng hẳn.
Hầu hết các loài cá rô phi trong giống Orechromis đều tham gia sinh sản
nhiều lần trong 1 năm Trong điều kiện khí hậu ấm áp cá rô phi đẻ quanh năm (10-11 lứa ở các tỉnh phía Nam; 5-7 lứa ở các tỉnh phía Bắc) Quan sát buồng trứng cá rô phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng có tất cả các loại trứng,
từ loại non nhất đến loại chín sẵn sàng rụng để đẻ Vì vậy trong tự nhiên ở các
ao nuôi cá rô phi chúng ta gặp rất nhiều cá con ở các cỡ khác nhau (trừ ao nuôi
cá rô phi đơn tính)
2.1.6.3 Tập tính sinh sản
Ðến thời kỳ thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp của cá rô phi rất rõ Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây ngực, vây lưng và vây đuôi, khi đó ở con cái có màu hơi vàng Ngoài ra con cái xoang miệng hơi chễ xuống Để có thể phân biệt dõ cá đực và cá cái chúng ta có thể phân biệt qua đặc điểm bên ngoài như bảng 4
Bảng 4: Phân biệt cá rô phi đực và cá cái
Ðặc điểm
Ðầu To và nhô cao Nhỏ, hàm dưới trễ do ngậm
trứng và con
Màu sắc Vây lưng và vây đuôi sặc sỡ
có màu hồng hặc hơi đỏ Màu nhạt hơn
Lỗ niệu và
lỗ sinh dục
2 lỗ: Lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu môn
3 lỗ: Lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn
Hình dạng
lỗ huyệt
Ðầu thoát lỗ niệu sinh dục dạng lồi, hình nón dài và nhọn
Dạng tròn, hơi lồi và không nhọn như ở cá đực
Trước khi đẻ cá đực đào tổ xung quanh bờ ao, nơi có nền đáy cứng, độ sâu mực nước 50-60 cm Hố hình lòng chảo, đường kính tổ đẻ từ 30 - 40 cm, sâu
Trang 137-10 cm Cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực tiến hành thụ tinh, sau khi thụ tinh cá cái nhặt hết trứng vào miệng để ấp
- Ở nhiệt độ 280C thời gian ấp khoảng 4 ngày
- Ở nhiệt độ 300C thời gian ấp khoảng 2-3 ngày
- Ở nhiệt độ 200C thời gian ấp khoảng 6 ngày
Cá sau khi nở lượng noãn hoàng lớn, cá rất yếu, cá mẹ tiếp tục ấp trong miệng từ 4- 6 ngày, cá mẹ nhả con và vần tiếp tục bảo vệ ở phía dưới trong 1-2 ngày đầu Cá bột khi còn nhỏ thường bơi thành đàn xung quanh ao, có thể quan sát được vào lúc sáng sớm
2.1.7 Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của
cá rô phi
2.1.7.1 Ngưỡng nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản Cá
là động vật biến nhiệt nên nhiệt độ cơ thể cá biến đổi theo nhiệt độ môi trường nước Khi nhiệt độ nước thay đổi thì thân nhiệt của cá cũng thay đổi theo (Boyd, 1990) Nguồn cung cấp nhiệt độ cho thủy vực chủ yếu là từ năng lượng bức xạ mặt trời, do vậy sự biến động của nhiệt độ nước cũng tuân theo quy luật ngày đêm và theo mùa Thường thì nhiệt độ của thủy vực ban ngày cao hơn ban đêm, mùa hè cao nhất và thấp nhất vào mùa đông Nhờ đặc tính giữ nhiệt tốt nên sự biến động của nhiệt độ nước bao giờ cũng ít hơn nhiệt độ không khí trong cùng một điều kiện Các loài cá nhiệt đới nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng phát triển nằm trong khoảng 25 - 300C (Nguyễn Đức Hội, 1999)
Cá rô phi là loài cá nhiệt đới có thể chịu đựng nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt
độ thấp (Stickney, 1986); giới hạn gây chết thấp là 110C và cao là 420C; nhiệt độ
Trang 14thích hợp cho cá rô phi phát triển là 20-350C và tối ưu là 28-300C (Balarin và Haller, 1982) Ở nhiệt độ thấp (dưới 100C) khả năng kháng bệnh kém và gây chết ngay trong một vài ngày (Lowell, 1989) khi nhiệt độ thấp hơn 130C cá hoàn toàn ngừng ăn (Chenvinski, 1982) và 240C cá tiêu hóa thức ăn chứa hàm lượng protein cao tốt hơn ở 210C.
Ngưỡng nhiệt độ của cá rô phi thay đổi tùy thuộc vào giống loài Theo
Behrends và ctv (1990) O.aureus chịu lạnh tốt nhất, tiếp đến là O.niloticus và cuối cùng là O.hornorum (trính từ Ngô Thị Thúy Hường, 1996) Theo Phạm
Anh Tuấn (2000) đối với cá rô phi nuôi thương phẩm, khi nhiệt độ hạ thấp xuống dưới 250C sinh trưởng của cá rô phi chậm lại
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới sự phát riển của trứng cá và cá con sau khi
nở, biên độ thích hợp cho sự phát triển của phôi cá rô phi là 28oC – 30oC Thời gian ấp trứng thay đổi tuỳ thuộc vào nhiệt độ của nước Ở nhiệt độ nước 20oC thời gian ấp nở là 6 ngày, và thời gian giảm xuống khi nhiệt độ là 28oC (Wataebe và ctv 1984; Rna 1990)
2.1.7.2 Ngưỡng Oxy hoà tan
Hàm lượng DO trong nước là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của các loài cá nói chung và cá rô phi nói riêng Nguồn cung cấp DO chính trong thủy vực là từ khí quyển, quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh DO trong ao mất đi do quá trình hô hấp hiếu khí trong thủy vực, do sự khuếch tán ra khí quyển, và do hô hấp của sinh vật trong thủy vực Trong ngày DO có sự biến động, đạt cao nhất lúc 14 - 15h chiều và thấp nhất vào lúc 5 - 6h sáng (Nguyễn Đức Hội, 1999) Theo nhiều tác giả khi DO < 1mg/l ảnh hưởng lớn tới hô hấp của hầu hết các loài động vật thủy sản Cũng theo các tác giả thì khi DO < 2mg/l thì một số loài cá giảm ăn và hoạt động Nhiều loài cá có thể bị chết nếu DO < 0,3mg/l kéo dài trong vài giờ (Trích dẫn bởi Lê Trần Minh Hiếu, 2004) DO quá cao cũng ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng
Trang 15và phát triển của cá Njoku (1997) cho rằng DO cao trên 15mg/l cũng không có lợi cho cá Theo tiêu chuẩn ngành thủy sản thì DO thích hợp cho cá nằm trong khoảng 3 - 8mg/l
Cá rô phi chịu được ngưỡng oxy thấp dưới 1mg/l Nhưng ở hàm lượng oxy thấp cá rô phi chậm lớn
Hàm lượng DO thấp vào lúc bình minh được coi là một nguyên nhân làm chậm lại sự phát triển của tuyến sinh dục và làm giảm số lần đẻ của cá Do ban đêm không có ánh sáng tảo quang hợp, chính vì vậy dẫn tới thiếu oxy Mặt khác một phần tảo còn lấy oxy ngoài môi trường nước
2.1.7.3 Ngưỡng pH
pH là chỉ số đặc trưng về độ axit hoặc độ kiềm, pH thấp nước có tính axit
và ngược lại nước có tính kiềm pH = 7 là mức trung tính Trong vùng axit quá thấp hoặc quá cao đều ảnh hưởng tới sinh trưởng của các loài cá, cá có thể bị chết do trúng độc Ảnh hưởng trực tiếp của pH thường không quan trọng bằng ảnh hưởng gián tiếp của nó pH ảnh hưởng tới mọi cân bằng hóa học, sinh học trong thủy vực
pH tốt nhất cho động vật thủy sinh nước ngọt trong khoảng 6,5 - 9 Thường khi pH < 4 và pH > 11 thì các loài thủy sinh vật bị ảnh hưởng nặng và
có thể bị chết Điểm cực thuận đối với cá nước ngọt là 7,5 - 8,2 (Swingle, 1961)
Cá rô phi có khả năng sống ở pH 5 – 11 ngoài khoảng pH trên ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cá Khoảng pH thích hợp nhất là từ 6,5 – 8,5
2.1.7.4 Ngưỡng độ mặn
Trang 16Cá rô phi là nhóm cá thích ứng với độ muối rộng Chúng được nuôi đầu tiên ở ao nước ngọt (Pullin, 1988) hoặc nuôi lồng ở các thủy vực lớn (Cache, 1982) Tuy nhiên, sau đó việc nuôi rô phi phát triển trong môi trường nước lợ ngày càng tăng, thậm chí cá còn nuôi ở biển (Watanabe, Wicklund và Olla, 1992).
Một vài loài cá rô phi như O.mosambicus có sức chịu cao với điều kiện nước mặn, sinh trưởng tốt trong nước biển (Kuwaye và ctv, 1993) Loài Tilapia zilli có thể sinh trưởng tốt ở độ mặn cao thậm chí lên tới 42‰ Tuy nhiên trong
môi trường nước ngọt và nước lợ thì thích hợp hơn với những loài có tốc độ sinh
trưởng nhanh vá ít chịu đựng với độ muối như O.niloticus
(linnaeus) hoặc O.aureus (Steindachner) (Pullin,1988) Cá rô phi O.niloticus và
con lai của nó chịu mặn kém hơn các loài rô phi khác, cá bột và cá trưởng thành
có thể chịu đựng được độ mặn tương ứng là 15 và 30 – 35 ‰
Khả năng chịu mặn của các loài cá rô phi phụ thuộc vào cỡ cá, tuổi, nhiệt
độ và sự thích nghi về khí hậu cá nhỏ thì khả năng chịu đựng độ mặn kém hơn
so với các loài cá lớn (Tilapia culture, 1994)
2.1.8 Một số hình thức nuôi cá rô phi
Nuôi ao bán thâm canh có bón phân và cung cấp thức ăn: là hình thức
nuôi năng suất ở mức khá, kết hợp cả thức ăn tự nhiên với thức ăn công nghiệp nhằm hạ giá thành sản xuất và phù hợp với điều kiện nuôi của nhiều địa phương Hình thức nuôi này không cần sử dụng máy quạt khí và yêu cầu chi phí không cao
Nuôi thâm canh trong bể: hệ thống nuôi này đòi hỏi kỹ thuật cao và
thức ăn là thức ăn công nghiệp hoàn toàn Đồi hỏi đầu tư nhiều hình thức này chỉ có nước ngoài như Nauy, Trung Quốc v.v
động thấp hơn nhiều so với nuôi ao và nuôi bể Cụ thể là cá được nuôi với mật
Trang 17độ cao và được cho ăn toàn bộ Mật độ nuôi phải tuỳ theo lượng ôxy có trong nước nuôi Ở Ðông Nam Á, khi nuôi thâm canh cá rô phi những người nuôi sử dụng thức ăn chứa 20 - 32% protein
2.1.9 Một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị
2.1.9.1 Một số bệnh thường gặp
Cá rô phi là một trong những loài cá có khả năng chịu đựng cao với môi trường xấu, ít bị bệnh Tuy nhiên khả năng thích ứng của cá cũng có giới hạn khi nuôi thâm canh với mật độ dày vẫn gặp một số bệnh mà trước đó không gặp
* Bệnh do virus, vi khuẩn
Cá rô phi bị bệnh do virus, vi khuẩn thường có biểu hiện:
+ Bơi phân tán, không định hướng trên mặt nước, khi chết thường chìm dưới đáy
+ Mang, xung quanh mắt và da xuất huyết, toàn thân có màu xám đen Những chỗ viêm có nhiều chất nhầy
+ Mắt lồi, mang nhợt nhạt, các tia mang kết lại với nhau, có thể hậu môn bị chảy máu
+ Trong xoang bụng xuất huyết, chứa nhiều chất nhờn, gan thận đều xuất huyết
* Bệnh do trùng bánh xe (Trichodina), trùng quả dưa (Ichthyophthyrius multifiliis)
Cá mắc bệnh có các biểu hiện sau:
+ Nếu bệnh trùng bánh xe: thân tiết nhiều nhờn màu trắng đục, da có màu xám Cá bơi nổi trên mặt nước hoặc dạt vào bờ, bơi không định hướng Mang bị loét, tiết đầy dịch màu trắng
+ Nếu bị bệnh trùng quả dưa: thân cá có những đốm trắng, màu sắc cá nhợt nhạt, bơi lờ đờ trên mặt nước, đuôi bất động và cắm đầu xuống dưới
* Bệnh do sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus), sán lá 18 móc (Gyrodactylus)
Trang 18Sán lá đơn chủ thường ký sinh ở mang, da, hốc mắt cá để hút máu Các vết thương do sán lá gây ra sẽ là điều kiện cho các vi khuẩn tấn công tạo bệnh khó chữa.
* Bệnh nấm thuỷ mi
Sau khi bị lạnh cá thường chìm xuống bùn để trú ẩn và bị nấm thuỷ mi
Saprolegnia tấn công Cá vừa bị rét lại bị nấm, ngừng ăn và chết.
Ngoài ra có thể gặp một số bệnh không lây lan hoặc mức độ lây lan chậm như: Bệnh viêm bóng hơi, các bệnh thiếu dinh dưỡng, thiếu kẽm làm cho cá bị đục nhãn mắt
Cá nuôi nước lợ nếu độ mặn cao trên 25o/oo kéo dài ở nhiệt độ 23-24oC có thể
bị bệnh lở loét
2.1.9.2 Biện pháp phòng trị
Phòng ngừa bệnh là biện pháp quan trọng quyết định đến kết quả nuôi, trong
dó chủ yếu áp dụng biện pháp tổng hợp: Cải tạo ao tạo môi trường nuôi tốt Ao nuôi phải được tẩy dọn sạch, bốc vét bùn và dùng vôi với liều lượng 7-10kg/100m2 để diệt mầm bệnh và các sinh vật gây bệnh cho cá Chọn cá giống
đủ tiêu chuẩn không nhiễm bệnh, chăm sóc quản lý tốt trong quá trình nuôi Trong quá trình nuôi phải theo dõi thường xuyên sự biến đổi các yếu tố môi trường, thông qua theo dõi hoạt động bơi lội của cá, mức độ bắt mồi để có biện pháp xử lý kịp thời
Khi phát hiện cá bị bệnh không nên tự chữa trị, không nên dùng thuốc bừa bãi Đối với bệnh do virus, ngày nay chưa có biện pháp chữa trị hữu hiệu Do đó biện pháp phòng ngừa vẫn là chủ yếu Đặc biệt là biện pháp tẩy dọn ao theo đúng quy trình kỹ thuật, cho ăn đủ lượng và chất, nước ao sạch, đầy đủ dưỡng khí Tuy nhiên nếu phát hiện cá bị một số bệnh thông thường có thể xử lý như sau:
+ Đối với trùng quả dưa: dùng nước vôi phun xuống ao cho đến khi pH nước đạt 7,5-8,5 Lượng vôi 2-4kg/100m2 mặt nước
Trang 19+ Đối với trùng bánh xe: Dùng muối ăn (NaCl) với nồng độ 2-3% tắm cho cá 5-10 phút Hoặc dùng Sulphat đồng (CuSO4) nồng độ 3-5 ppm (3-5g/m3) tắm cho cá 5-10 phút, cũng có thể dùng CuSO4 nồng độ 0,7-1,5ppm phun trực tiếp xuống ao.
+ Đối với sán lá đơn chủ : Dùng thuốc tím (KMnO4) nồng độ 20ppm phun trực tiếp xuống ao
+ Đối với bệnh thiếu kẽm, calcium: Cần cho cá ăn thức ăn đầy đủ dinh dưỡng , khoáng vi lượng để tăng cường sức khỏe
+ Đối với bệnh nấm thuỷ mi: Cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp
2.2 Tình hình nuôi và nghiên cứu về cá rô phi trên thế giới, Việt Nam
2.2.1 Trên thế giới
Hiện nay cá rô phi được nuôi trên 100 quốc gia và được xem như loài nuôi quan trọng nhất trong các loài cá nuôi trong thế kỷ 21 (Fitzsimmons, 2000) Theo báo cáo của Tổ chức Nông lâm Thế giới (1989) sản lượng cá rô phi tăng nhanh từ 280.000 tấn năm 1986 và lên tới 500.000 tấn năm 1989 Sản lượng cá
rô phi năm 1995 là 700.000 tấn trong đó 473.000 tấn là rô phi nuôi từ các trang
trại (Shelton, 2000) Cá rô phi O.niloticus là loài phổ biến nhất chiếm 64% sản
lượng cá rô phi trên thế giới và được nuôi rộng rãi ở nhiều nước tiêu biểu như Trung Quốc, Philippines, các nước châu Mỹ, Caliornia, Thái Lan, Indonexia, Aicập, đã góp phần làm tăng sản lượng rô phi trên thế giới từ 33% (66.000 tấn) năm 1984 lên 72% (474.000 tấn) năm 1995 (Shelton, 2000)
Trung Quốc dẫn đầu về sản lượng nuôi cá rô phi với 18.000 tấn năm 1984 lên 315.000 tấn năm 1995 (Theo báo cáo của Tổ chức Nông lâm Thế giới, 1997) đặc biệt ở tiến bộ nuôi cá bè nhỏ mật độ cao đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của nghề nuôi cá nước ngọt (Schmittous và ctv 1998) Ở các nước châu
Mỹ, cá rô phi là loài thực phẩm mới được quan tâm để xuất khẩu từ những năm 1980-1990 Năm 1998 tổng sản lượng cá rô phi ở các nước châu Mỹ là 204.267
tấn trong đó các loài Oreochromis spp Chiếm 43%, O.niloticus chiếm 37% và 3
Trang 20nước sản xuất nhiều nhất châu Mỹ là Mexico (94.279 tấn), Brazil (30.000 tấn),
Cuba (35.000 tấn) Trong tương lai dự đoán cá rô phi O.niloticus sẽ được phát
triển thành nuôi công nghiệp và sản lượng sẽ tăng gấp đôi trong 10 năm tới (Fitzsimmons, 2000)
Các số liệu thực tế trong nuôi lồng ở sông Ratchburi (Thái Lan) cho thấy,
cá rô phi đỏ dòng Chitralada có trọng lượng ban đầu 58 - 89g, nuôi với mật độ khác nhau và cho ăn thức ăn công nghiệp chứa 20 - 32% protein thô Sau 120 ngày cá đạt cân nặng 650 - 700g với năng suất thu hoạch 50kg/m3 Các số liệu tương tự cũng thu được từ nuôi cá rô phi ao (Malaixia) và nuôi lồng (hồ chứa nước Jatiluhur, Inđônêxia)
Ở Thái Lan đã có một số cuộc thử nghiệm cho cá rô phi ăn các thức ăn chế biến sẵn chứa 20 - 32% protein thô Các cuộc thử nghiệm nhằm xác định hiệu suất nuôi cá rô phi lồng (100m3/lồng) trong điều kiện độ mặn 15 - 20‰ và nhiệt độ 28 - 320C, với năng suất 20,4; 20,9 và 21,2 tấn/ha/vụ tương ứng với thời gian nuôi là 143; 154 và 167 ngày Mật độ thả 16300; 16500 và 15300 tương ứng với trọng lượng cá là 127g; 149g và 145g Các ao nuôi được lắp đặt các guồng quạt nước
2.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã nghiên cứu thành công việc xử
lý giới tính tạo cá rô phi đơn tính đực song tỷ lệ đực mới đạt 70-80% có một số
ít cơ sở đạt 95-97% Tỷ lệ cá cái còn lại 3-5% thì ít đẻ, nếu tỷ lệ này tăng lên 30% thì cá cái đẻ nhiều, cá con sinh ra ăn tranh mồi trong ao, cá sẽ phát triển chậm, mật độ cá trong ao sẽ tăng nhanh, năng suất sẽ giảm
20-Cho đến nay ở nước ta đã có công nghệ sản xuất con giống đơn tính và có công nghệ nuôi cá rô phi đạt tiêu chuẩn thương phẩm với năng suất 23-26 tấn/ha/vụ Dòng cá rô phi chất lương tương đối tốt, làm cơ sở cho việc tạo ra con giống tốt phục vụ cho các trại nuôi phía Bắc Thực tế hiện nay chưa có một nơi nào ở Miền Bắc sản xuất được cá rô phi phục vụ cho thị trường trong và ngoài
Trang 21nước – đó là một trong những nguyên nhân cản trở việc sản xuất cá rô phi tập trung Phần lớn ở Miền Bắc quy mô nuôi thuỷ sản ở cấp độ gia đình với diện tích ao từ 300-1500 m2, phân tán lại gặp phải mùa đông lạnh nên đòi hỏi phải cung cấp giống tập trung, đầu vụ.
Ngày 30/10/2009, Trung tâm Khuyến ngư phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống Thuỷ sản Thanh Hoá tổ chức hội nghị tổng kết
mô hình nuôi cá rô phi lai xa tại khu nuôi tôm công nghiệp Trường Giang (xã Trường Giang, huyện Nông Cống)
Nhằm đưa con nuôi mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, đồng thời đa dạng các đối tượng nuôi, từ tháng 5/2009, Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống Thuỷ sản Thanh Hoá đã tiến hành nuôi thả cá rô phi lai xa tại 3 ao, mật độ 1,8-2con/m2, kích cỡ cá ban đầu 8-9gr/con trên tổng diện tích 20ha Thức ăn cho cá rô phi lai xa là thức ăn viên nổi CP với hàm lượng đạm khoảng 20% và thức ăn tự chế Môi trường ao nuôi được kiểm tra nghiêm ngặt từ khâu bón phân chuồng ủ mục gây màu nước, định kỳ thay nước, sử dụng vôi bột hạn chế mầm bệnh Sau 5 tháng cho thu hoạch, có 65% cá đạt 500-600g/con, 25% cá đạt 300-450g/con Đến thời điểm hiện tại, sản lượng cá thu hoạch được gần 8 tấn/ha Với giá bán trên thị trường 16.500 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, ước tính nguồn lãi thu về đạt trên 30 triệu đồng
Trang 22PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
1.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Hợp tác xã NTTS Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ 03/2010 đến 7/2010
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá rô phi, trọng lượng trung bình 147,22 ± 0,02 g/con Cá có nguồn gốc từ Hợp tác xã NTTS Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
2.2 Thức ăn sử dụng
Trong quá trình tiến hành đề tài cá thí nghiệm được cho ăn thức ăn là cám viên nổi của 3 công thức khác nhau có độ đạm tương đương bán trên thị trường với giá thành chênh lệch khá nhiều là:
Thức ăn 1 là thức ăn Green Feed có chứa 25% protein, thức ăn 2 là thức
ăn CP có chứa 25% Pr, thức ăn 3 là thức ăn Cargill có chứa 26% Pr Nhưng với sự tế nhị khi sử dụng cám của các công ty trên thị trường tôi thây thức ăn 1, 2 và 3 bằng công thức 1, 2, và 3 (CT 1, CT2, CT3) Thành phần của thức ăn thí nghiệm được tóm tắt ở Bảng sau
Trang 23Bảng 5: Một số chỉ tiêu của thức ăn sử dụng trong nghiên cứu
Trang 24+/ Các dụng cụ cho ăn
- Thước kẹp panme độ chính xác 0,01mm
- Cân điện với độ chính xác 0,01g
- Các thiết bị đo điều kiện môi trường: Nhiệt kế thuỷ ngân, các test pH, test Oxy
Trang 25Bảng 6: Tóm tắt bố trí thí nghiệm
NT
TA sử dụng (%Pr)
Giai
Mật độ
cá thả (con/m2)
Tổng số
cá thả (con/giai)
Kích cỡ cá thả (g/con)
Trang 26Thí nghiệm được bố trí ở 3 công thức như sau:
- Công thức 1: Gồm giai 1, giai 4 và giai 7, cho ăn thức ăn 25% Protein
- Công thức 2: Gồm giai 2, giai 5 và giai 8, cho ăn thức ăn 25% Protein
- Công thức 3: Gồm giai 3, giai 6 và giai 9, cho ăn thức ăn 26% Protein
Cả ở 3 công thức đều thả ở cùng mật độ là 5con/m2 (60 con/giai)
3.2 Phương pháp quản lý và chăm sóc
Hàng ngày cho cá ăn 2 lần, cho ăn vào một thời gian cố định Sáng cho cá
ăn vào 8 giờ, chiều cho cá ăn vào 16 giờ Theo dõi lượng thức ăn cá ăn mỗi bữa
để điều chỉnh cho phù hợp tránh lãng phí Vệ sinh giai nuôi luôn sạch sẽ và thoáng, ra cố góc giai tránh cá vượt giai ra ngoài
Lượng thức ăn sử dụng cho cá được tính theo phần trăm khối lượng cơ thể
cá giảm dần theo giai đoạn cá ăn của từng thời điểm
3.3 Thu thập và xử lý số liệu
- Sau 15 ngày nuôi tiến hành cân khối lượng, mỗi lần cân ngẫu nhiên 30 mẫu /giai
- Cuối đợt thí nghiệm tiến hành đếm toàn bộ cá trong giai, tính tỷ lệ sống
- Phương pháp đo mẫu: Khối lượng (P) được xác định bằng cân điện có
độ chính xác 0,01g
- Nhiệt độ nước, oxy hoà tan và pH được đo hàng ngày vào lúc 6 giờ sáng
và 14 giờ chiều cả trong và ngoài giai
3.4 Xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm Excel để phân tích và xử lý số liệu
- So sánh kết quả về sinh trưởng dựa trên kết quả tính toán của bảng số liệu kết hợp với phân tích phương sai (ANOVA) để tìm ra sự ảnh hưởng của các loại cám tới sinh trưởng, tỷ lệ sống, hệ số thức ăn và hiệu quả kinh tế giữa các công thức thí nghiệm với mức ý nghĩa α
4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày)
Trang 27Pn + 1 - Pn C : Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày)
C = Pn + 1 và Pn là khối lượng cá tại lần đo thứ
Khối lượng tăng trọng của cá
Số cá còn lại trong giai
Trang 28PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi
Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi thí nghiệm trong giai được tiến hành từ tháng 5 – 7 /2010 Các yếu tố môi trường giữa các giai thí nghiệm và ngoài ao nuôi chưa thấy có sự sai khác và tương đối ổn định trong thời gian thí nghiệm Nhiệt độ giao động từ (24 - 34oC, buổi sáng) và (29 –
37oC, buổi chiều) Oxy hòa tan giao động từ (1,28 – 5,47mg/l, buổi sáng) và (7,89 – 11,23 mg/l, buổi chiều) pH từ 6,57 – 7,61 buổi sáng và 7,76 – 8,51 vào buổi chiều Tất cả các chỉ tiêu về môi trường đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá (Boyd & Tucker., 1992) Do các giai nuôi thường xuyên được vệ sinh nên qua theo dõi các yếu tố môi trường trong
và ngoài các giai thí nghiệm không có sự sai khác Kết quả phân tích các yếu tố môi trường nước được trình bày ở Bảng 7
Tuy nhiên, một số thời điểm môi trường có biến động như nhiệt độ không khí đo được lên 43°C khi đó nhiệt độ nước đo được lên đến 37°C tại thời điểm 14h Nhiệt độ cao vượt quá giới hạn thích hợp cho cá phát triển làm cá ăn giảm
rõ dệt, ảnh hưởng tới sinh trưởng của cá Hàm lượng oxy thường xuyên ở mức khá cao, thích hợp với nhu cầu oxy của các loài cá nói chung, một số thời điểm khi oxy hòa tan trong giai đạt nhỏ nhất là 1,28 mg/l do thời tiết âm u làm hàm lượng oxy thấp vào sáng sớm Các yếu tố môi trường là các nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng của cá và làm hao tốn thức ăn trong quá trình nuôi Chính
vì vậy, trong quá trình nuôi chúng ta phải có các biện pháp để khác phục sự tác động của các yếu tố môi trường làm ảnh hưởng tới cá và sự lãng phí thức ăn trong quá trình nuôi Biện pháp khác phục hiện tượng cá thiếu oxy vào buổi sáng hay những hôm thời tiết âm u bằng cách dùng máy phun mưa hoặc máy quạt nước để làm tăng oxy trong ao
Trang 29Bảng 7: Các yếu tố môi trường nước trong và ngoài các giai thí nghiệm
Trang 30Hình 5: Ảnh hưởng của các loại cám tới tốc độ tăng trọng cá rô phi
Dựa vào những kết quả được thể hiện trên hình 4 cho thấy, trong giai đoạn đầu tiến hành thí nghiệm, cá rô phi nuôi trong giai ở các công thức sử dụng các loại cám khác nhau có tốc độ tăng trưởng tương đối đồng đều về khối lượng như trên hình 4 đã thể hiện Từ khi bắt đầu đến thời điểm thu mẫu lần thứ 2, cả 3 đường thể hiện tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá rô phi gần như một đường thẳng tương đồng nhau và không có sự khác biệt
Về cuối giai đoạn nuôi, giữa các công thức sử dụng các loại cám khác nhau đã quan sát thấy có sự chênh lệch đôi chút về tốc độ tăng trưởng khối lượng của cá rô phi Điều này được thể hiện rõ trên đồ thị về tăng trưởng khối lượng, khi đoạn thẳng thể hiện khối lượng của cá ở công thức 3 ở phía trên khá
rõ ràng so với 2 đoạn thẳng thể hiện khối lượng của cá ở 2 công thức 1 và 2 gần như trùng nhau Tăng trưởng khối lượng của cá rô phi ở công thức 3 giai đoạn này là cao hơn ở mức có ý nghĩa so với 2 công thức 1 và 2 Nhưng để chọn loại cám nào là phù hợp còn phải xét đến hiệu quả của quá trình nuôi trong một đơn
vị diện tích